Luận văn Việc huy động vốn và sử dụng vốn thế nào cho có hiệu quả

Nhà nước có chính sách khuyến khích và trợ giúp việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới của doanh nghiệp như hỗ trợ vốn cho các trung tâm khoa học nghiên cứu chuyển giao công nghệ, thông tin công nghệ. cho doanh nghiệp. Khuyến khích phát triển các Hiệp hội ngành nghề, câu lạc hộ các nhà kinh doanh để trao đổi thông tin, kinh nghiệm.

pdf47 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 08/11/2013 | Lượt xem: 1477 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Việc huy động vốn và sử dụng vốn thế nào cho có hiệu quả, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
mõi hình đó đều thực hiện một vòng tuần hoàn của mình như vậy, sự vận động liên tục của tư bản công nghiệp không những là sự thống nhất của 3 hình thái tuần hoàn của tư bản. Tất cả lần lượt của tư bản đều lần lượt thông qua quá trình tuần hoàn và xuất hiện cùng một lúc ở các giai đoạn khác nhau của quá trình ấy. Do sự liên tục của tuần hoàn của nó mà tư bản công nghiệp đồng thời tồn tại ở tất cả các giai đoạn của nó và trong tất cả hình thái chức năng tương ứng. Tỷ lệ phận chia tư bản thành 3 hình thái phụ thuộc nhiều yếu tố làm quy mô của tư bản đương đại có những yếu tố làm quy mô của tư bản ứng trước ngày càng tăng như: Do cạnh tranh, do công nghệ hiện đại, do khó khăn về tiêu thụ và việc vươn tới những thị trường ngày càng xa với yêu cầu chất lượng cao. Nhưng cũng có những yêu cầu làm giảm quy mô yêu cầu ứng trước như công nghệ mới tổ chức quản lý, khoa học, quan hệ tín dụng... II. Chu chuyển của tư bản. Sự tuần hoàn của tư bản nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới lập lại chứ không chứ không phải là một quá trình lập riêng bao gồm chu chuyển của tư bản. Khi nghiên cứu tuần hoàn của tư bản vấn đề thời gian và tốc độ vận động, những yếu tố ảnh hưởng tới tốc độ thời gian vận động và ý nghĩa của chúng chưa được đề cập đến, nhưng các vấn đề đó lại có ý nghĩa quan trọng đến hiệu kinh tế tư bản chủ nghĩa như một nền kinh tế thị trường phát triển cao. Đó chính là những nội dung trong lý luận chu chuyển tư bản. 1. Thời gian chu chuyển và số vòng chu chuyển của tư bản. 1.1. Thời gian chu chuyển của tư bản. Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gian kể từ khi tư bản ứng ra đời dưới một hình thái nhất định cho đến khi nó trở về tay nhà tư bản cũng dưới hình thái như thế nhưng đã có thêm giá trị thặng dư. Thời gian chu chuyển của tư bản là thước đo khoảng cách giữa một giai đoạn tuần hoàn định kỳ tiếp theo, là thước đo tính chu kỳ trong quá trình sinh sống của tư bản hay có thể nói nóp là thước đo thời gian đổi mới, thời hạn lập lại của quá trình làm tăng thêm giá trị hay quá trình sản xuất ra giá trị tư bản. Nếu không có sự ngẫu nhiên có thể đẩy nhanh hay rút ngắn thời gian chu chuyển của một tư bản cá biệt thì thời gian chu chuyển ấy dài hay ngắn khác nhau là tuỳ theo các lĩnh vực đầu tư khác nhau của các tư bản. Thời gian chu chuyển của tư bản là thời gian tư bản thực hiện một vòng tuần hoàn. Muốn chu chuyển một vòng thì tư bản phải trải qua hai giai đoạn đó là lưu thông và sản xuất. Nên thời gian chu chuyển của tư bản cũng do thời gian lưu thông và thời gian sản xuất cộng lại. 1.1.1. Thời gian sản xuất. Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất. Thời gian sản xuất lại bao gồm thời gian lao động, thời gian giai đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất. a- Thời gian lao động: Thời gian lao động là thời gian người lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm, đây là thời gian hữu ích nhất vì nó tạo ra giá trị cho sản phẩm, thời gian lao động dài hay ngắn là tuỳ theo những điều kiện cụ thể của từng ngành của từng xí nghiệp như tính chất công việc, điều kiện trang bị thiết bị kỹ thuật... chẳng hạn như thời kỳ làm việc để sản xuất đầu máy xe lửa nhất định dài hơn thời kỳ việc để kéo sợi. b- Thời gian giai đoạn lao động. Đây không phải là sự gián động trong quá trình lao động mà do giới hạn tự nhiên của bản thân sức lao động gây nên, thời gian gián đoạn lao động là thời gian đối tượng lao động phải chịu anh hưởng của của quá trình tự nhiên, ở đây nói lên một sự gián đoạn không phụ thuộc vào thời gian của quá trình lao động, một sự gián đoạn do tính chất của bản thân sản phẩm và tính chất của quá trình chế biến sản phẩm đòi hỏi và trong thời gian gián đoạn ấy đối tượng lao động phải qua những quá trình tự nhiên hoặc dài hoặc ngắn và phải trải qua những biến hoá vật lý, hoá học, sinh lý... trong lúc đó quá trình lao động bị đình chỉ toàn bộ hoặ từng bộ phận chẳng hạn như rượu nho ra khỏi máy ép thì phải được để lên mem một thời gian rồi được cất đi một thời gian thì mới có thể đạt đến trình độ hoàn thiên jnhất định. trong nhiều ngành công nghiệp như ngành làm đồ gốm, sản phẩm phải trải qua quá trình phơi khô, lúa mì mùa đông phải trải qua chín tháng mới chín giữa khoảng thời gian thì mới có thể đạt được đến một trình độ hoàn thiện nhất định. Trong nhiều ngành công nghiệp như ngành đồ gốm, sản phẩm phải trải qua quá trình phơi khô, lúa mì mùa đồng phải trải qua chín tháng mới chín giữa khoảng thời gian giao và thời gian thu hoạch quá trình kinh doanh gần như bị gián đoạn hoàn toàn. Thời gian gián đoạn lao động có thể xen kẽ với htời gian ngắn khác nhau thuỳ thuộc vào các ngành sản xuất, các sản phẩm chế tạo và phụ thuộc vào nghệ sản xuất. c- Thời gian sản xuất. Thời gian dự trữ sản xuất là thời gian các yếu tố sản xuất đã được mua về sẵn sàng tham gia vào quá trình sản xuất, nhưng chưa thật sự được sử dụng vào quá trình sản xuất, còn ở dạng trữ. Sự dự trữ đó là điều liện cho quá trình sản xuất liên tục, quy mô dự trữ phụ thuộc vào nhiều yếu tố; đặc điểm của các ngành, tình hình của thị trường và năng lực tổ chức quản lý sản xuất. Trong kinh doanh phải có một lượng nhất định, hoặc lớn, hoặc nhỏ về tư bản sản xuất trong trạng thái tiềm thể: nghĩa là một lượng nhất định về tư liệu sản xuất được dành riêng để dùng vào sản xuất, phải được dự trữ lại thành những khối lượng hoặc lớn, hoặc nhỏ, để dần dần đưa vào quá trình sản xuất. Trong một công việc lao động nhất định, đối với một kinh doanh tư bản chủ nghĩa có quy mô nhất định thì lượng của dự trữ sản xuất này lớn hay nhỏ là tuỳ theo khó khăn nhiều hay ít mà người ta gặp phải trong khi đổi mới nó, tuỳ theo sự xa cách tương đối của thị trường cung cấp, tuy nhiên sự phát triển của các phương tiện vận tải của giao thông... tất cả những điều kiện này ảnh hưởng đến số tư bản tối thiếu cần thiết phải tồn tại dưới hình thái dự trữ sản xuất. Do đó ảnh hưởng đến thời gian ứng trước và đến khối lượng trung bình căn ứng ra trong cùng một lúc. Khối lượng này cũng ảnh hưởng đến sự chu chuyển và bản thân nó được quyết định bởi thời gian dài hay ngắn trong đó tư bản, bị giữ lại đuôi hình thái dự trữ sản xuất, với tư cách là tư bản sản xuất trong trạng thái tiền thế. Cả thời gian lao động và thời gian dự trữ sản xuất đều không tạo ra giá trị cho sản phẩm. Sự tồn tại của các thời gian này là không tránh khỏi những thời gian của chúng ngày càng dài, hay sự chênh lệch giữa thời gian sản xuất và thời gian lao động càng lớn thì hiệu quả của tư bản càng thấp. Rút ngắn thời gian này là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả của tư bản. Trong chủ nghĩa tư bản đương đại, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, việc sử dụng các giống mới, các công nghệ sản xuất mới, việc tổ chức sản xuất một cách khoa học... đã rút ngắn được đáng kể thời gian gián đoạn lao động, thời gian dự trữ sản xuất, do đó làm tăng hiệu quả của tư bản. 1.1.2. Thời gian lưu thông. Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông, nó chính là khoảng thời gian mà tư bản chuyển từ hình thái tiền tệ sang hình thái sản xuất và từ hình thái sản xuất trở về hình thái tiền tệ. Đó là thời gian mua hàng và bán hàng của nhà tư bản. a- Thời gian bán hàng Một trong các giai đoạn của thời gian lưu thông - giai đoạn tương đối quyết định nhất - là thời gian bán hàng. Tức là thời kỳ mà tư bản nằm trong trạng thái tư bản hàng hoá. Thời gian chu chuyển kéo dài hay rút ngắn lại tuỳ theo thời gian bán hàng ấy dài hay ngắn. Một nguyên nhân thường xuyên làm cho thời gian bán hàng nói riêng và thời gian chu chuyển nói chung có sự khác nhau đó là khoảng cách giữa thị trường bán hàng hoá và nơi sản xuất hàng hoá ấy. Trong suốt thời gian người ta vận chuyển tư bản ra thị trường, tư bản bị ghìm giữ trong trạng thái hàng tư bản hoá và nơi sản xuất hàng hoá. Nếu sản xuất theo đơn đặt hàng thì tư bản phải chờ cho đến lúc giao hàng, và nếu không sản xuất theo đơn đặt hàng thì còn phải đem thời gian chờ đợi trên thị trường cộng thêm thời gian vân chuyển bữa. Sự phát triển của các phương tiện giao thông vận tải khong những làm tăng tốc độ di chuyển về mặt thời gian mà còn làng tăng khối lượng các phương tiện giao thông. Nếu một mặt sự tiến bộ của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự phát triển của các phương tiện giao thông làm giảm bớt thời gian lưu thông đối với lượng hàng hoá nhất định thì chính sự tiến bộ ấy và khả năng do sự phát triển ấy tao nên sẽ dẫn đến sự cần thiết phải làm việc cho những thị trường ngày càng xa hơn. Khối lượng hàng hoá cho đến nhưng nói xa xôi tăng lên một cách phi thường, kết quả làm bộ phận tư bản xã hội thường xuyên lưu lại trong những thời gian khá dài ở giai đoan tư bản hàng hoá. Tức là ở trong giai đoạn lưu thông sẽ tăng lên một cách tuyệt đối hoặc tương đối. Đồng thời cũng sẽ tăng lên các bộ phận tư bản xã hội đáng lẽ bỏ bào tư liệu sản xuất trực tiếp thì lại bỏ vào phương tiện giao thông vận tải và bị bỏ ra ngoài làm tư bản cố định và tư bản lưu động cần thiết để kinh doanh về vận tải và giao thông. Chỉ riêng thời gian tương đối của quá trình vận chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi bán hàng cũng không những tạo nên một sự khác nhau trong bộ phận thứ nhất của thời gian lưu thông tức là thời gian bán, mà còn tạo nên một sự khác nhau trong bộ phận thứ hai, tức là sự chuyển hoá tiến thành các yếu tố của tư bản sản xuất tức là thưòi gian mua, khối lượng các giao kèo cung cấp hàng là sự giao dịch giữa kẻ mua và người bán, nên nó là một công việc thuộc phạm vi thị trường, thuộc lĩnh vực lưu thông nhưng sự khác nhau về mặt thời gian chu chuyển do việc giao lưu thông nên những sự khác nhau về mặt thời gian chu chuyển do việc giao dịch ấy gây ra cũng là những sự khác nhau xẩy ra trong lĩnh vực lưu thông. b- Thời gian mua hàng Đây là giai đoạn trong đó tư bản chuyển hoá trở lại từ hình thái tiến thành yếu tố của tư bản sản xuất, ở giai đoạn này nó phải giữ hình thái tư bản tiền tệ trong một thời gian hoặc dài hoặc ngắn, do đó một bộ phận nhất định của tổng tư bản ứng trước phải tồn tại không ngừng ở trạng thái tư bản tiền tệ, mặc dù bộ phận đó gồm các yếu tố biến đổi, vậy là một phận nhất định của tư bản ứng trước tồn tại thường xuyên trong trạng thái tư bản tiền tệ tức là dưới một hình thái không thuộc lĩnh vực sản xuất mà thuộc lĩnh vực lưu thông của nó. Như chúng ta đã thấy sự vượt xa cách thị trường đã kéo dài thời gian trong đó tư bản bị giữ dưới hình thức tư bản hàng hoá nên trực tiếp làm chậm trễ sự chuyển hoá tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất. Về vấn đề mua hàng chúng ta còn thấy rằng: Do thời gian mua hàng, do sự xa cách nhiều hay ít các thị trường chủ yếu cung cấp nguồn nguyên liệu nên người ta bắt buộc phải mu các nguyên liệu ấy cho những thời kỳ dài và dự trữ những nguyên liệu ấy lớn sẵn sàng dưới hình thái dự trữ sản xuất, dưới hình thái tư bản cần phải ứng ra trong một lúc và thời gian ứng trước tư bản đều sẽ lớn hơn mặt dù quy mô sản xuất như cũ, nếu không nói tới một sự đầu cơ thì khối lượng hàng hoá mua vào để thường xuyên làm dự trữ sản xuất nhiều hay ít là tuỳ theo loại nguyên liệu khác nhau, cho nên thỉnh thoảng lại phải ứng trước những số tiền lớn trong một lúc. Tuỳ theo sự chu chuyển của tư bản, tiền tệ sẽ quay về hoặc nhanh hoặc chậm nhưng bao giờ cũng quay về từng bộ phận một. Một bộ phận ngắn, tức là bộ phận được chuyển hoá trở lại thành nguyên liệu... thì cần được tích luỹ lại, trong những thời kỳ khác dài, làm quỹ dự trữ để mua lại để thanh toán. Do đó bộ phận này tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, tuy khối lượng tiền tệ này thường xuyên biến đổi. Do chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như vậy nên thời gian chu chuyển của các tư bản khác nhau (trong cùng một ngành và trong các ngành khác nhau) là rất khác nhau. Để so sánh cần tính tốc độ chu chuyển của tư bản bằng số vòng chu chuyển thực hiện được trong một khoảng thời gian nhất định chẳng hạn một năm. 2- Tư bản cố định và tư bản lưu động. Tư bản sản xuất gồm nhiều bộ phận với thời gian chu chuyển khác nhau, do ảnh hưởng tới thời gian chu chuyển của toàn bộ tư bản. Căn cứ vào sự khác nhau trong phương thức chu chuyển về mặt giá trị của các bộ phận, tư liệu sản xuất được chia thành tư bản cố định và tư bản lưu thông. 2.1. Tư bản cố định Tư bản cố định là bộ phận tư bản sản xuất mà bản thân nó tham gia hoàn toàn vào quá trình sản xuất nhưng giá trị thì laị không chuyển hết một lần mà chuyển dần từng phần vào một sản phẩm . Đặc điểm nổi bật của tư bản cố định là về hiện vật, nó luôn bị cố định trong quá trình sản xuất. Tư bản này lưu thông không phải dưới hình thái sử dụng mà chỉ có giá trị của nó tham gia vào quá trình lưu thông cùng sản phẩm, hơn nữa nó chỉ lưu thông dần dần từng phần một theo nhịp độ mà giá trị đó được chuyển vào lưu thông dưới hình thức hàng hoá. Trong suốt quá trình hoạt động độc lập với hàng hoá mà nó góp phần sản xuất ra. Phần này không ngừng giảm xuống cho tới khi nó chuyển hết vào sản phẩm. Thời gian mà tư bản cố định chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm bao giờ cũng dài hơn một vòng tuần hoàn. Một bộ phận của giá trị tư bản ứng ra dưới hình thái tư liệu sản xuất có tính chất là tư bản cố định hay không đều do đó phương thức lưu thông đặc biệt của bộ phận giá trị ấy quyết định. Phương thức lưu thông đặc biệt ấy là kết quả của phương thức đặc biệt nhờ đó mà tư liệu lao động chuyển giá trị của nó vào sản phẩm là do vai trò đặc biệt mà tư liệu lao động với tư cách là yếu tố hình thành giá trị dùng trong quá trình sản xuất và đặc tính sau cùng này động lại do sự đặc biệt của tư liệu lao động trong quá trình lao động mà ra. Chúng ta đã biết rằng giá trị sử dụng bước ra khỏi một quá trình lao động thành một sản phẩm, thì lại gia nhập một quá trình lao động khác với cương vị là tư liệu sản xuất, chính vì hoạt động làm tư liệu lao động trong quá trình sản xuất. nên sản phẩm trở thành tư bản cố định. Trái lại chừng nào nó mới chỉ bước ra khỏi một quá trình thì nó không phải là tư bản cố định, chỉ khi nào nó ở trong tay người mua nó, trong taynhà tư bản dùng nó để sản xuất thì nó mới trở thành tư bản cố định. 2.2. Tư bản lưu động. Tư bản lưu động là một bộ phận tư bản sản xuất mà giá trị của nó sau một thời kỳ sản xuất, có thể hoàn lại hoàn toàn cho nhà tư bản dưới hình thức tiền tệ, sau khi hàng hoá đã bán xong. Đó là bộ phận tư bản dưới hình thức sức lao động và những tư liệu sản xuất khác, ngoài bộ phận tư bản cố định như nguyên liệu, vật liệu, vật liệu phụ. Nguyên liệu, vật liệu phụ bị tiêu dùng toàn bộ vào sản xuất và cũng chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm mới. Còn sức lao động thì sau một thời gian hoạt động, không những thêm vào sản phẩm mới toàn bộ giá trị của nó mà còn thêm cả giá trị thặng dư vào sản phẩm, giá trị thặng dư này là hiện thân của lao động không công. Giá trị thặng dư này không ngừng được thành phẩm đưa vào lưu thông và chuyển hoá thành tiền giống như các yếu tố khkác của giá trị sản phẩm. Như vậy xét theo nguồn gốc tạo ra giá trị và giá trị thặng dư thì tư bản được chia thành tư bản khả biến và tư bản bất biến. Còn khi xem xét về phương thức chu chuyển giá trị thì tư bản được chia thành tư bản lưu động và tư bản cố định. căn cứ để phân chia không phải do đặc tính tự nhiên của chúng lâu bền hay không lâu bền, có di chuyển giá trị được quyết định bởi chức năng của các bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất. Trong thực tế sự phân biệt giữa tư bản cố đinh và tư bản lưu động đôi khi rất khó. Hơn nữa, vì các mục tiêu thực tiễn, đôi khi người ra sử dụng các tiêu chuẩn quy đổi khác cho việc phân chia giữa tư bản cố định và tư bản lưu động như quy mô tư bản, thời hạn tồn tại, chi phí sửa chữa thường xuyên hoặc định kỳ . Tư bản cố định chu chuyển chậm hơn tư bản lưu động, trong khi tư bản cố định quay được mộtvòng thì tư bản lưu động đã quay được nhiều vòng. Ngay trong tư bản cố định, thưòi gian chu chuyển của các yếu tố khác nhau là khác nhau. Ví dụ như: nhà xưởng, máy móc... có thời gian hoạt động dài ngắn khác nhau nghĩa là hao mòn khác nhau. Vậy thế nào là hao mòn của tư bản cố định. Có hai hình thức hao mòn của tư bản cố định đó là hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình: Hao mòn vô hình là hao mòn ảnh hưởng của sự tiến bộ khoa học và công nghệ. Hao mòn vô hình là nói về những trường hợp máy móc tuy còn tốt nhưng lại mất giá trị vì nó có những máy móc tốt hơn xuất hiện. Những máy móc này không có những năng suất caohơn mà có khi còn rẻ hơn, làm cho máy cũ mất giá, thậm chí tự đào thải. Để tránh hao mòn vô hình, nhà tư bản còn tìm cách nâng cao tỷ suất khấu hao tư bản cố định. Hao mòn hữu hình là do sự sử dung và do tác động của thiên nhiên gây ra làm cho tài sản cố định, mặt giá trị sử dụng. Trong quá trình hoạt động tư bản cố định còn cần được bảo quản, cần phải có các chi phí bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế các bộ phận... sử dụng một cách đúng đắn là cách bảo quản tốt nhất. Ngoài ra, vẫn cò các chi phí bảo dưỡng khác nhau (lau chùi, vệ sinh công nghiệp, bôi trơn) những chi phí bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế có thể thực hiện định kỳ hay đột xuất. Tất cả các chi phí đó được xác địng chung theo kinmh nghiệm của xã hội, việc bổ sung vào tư bản hoạt động và được phân bổ theo tỷ lệ vào giá trị sản phẩm được chế tạo gắn với toàn bộ cuộc đời hoạt động của tư bản cố định. Để hạn chế sự phát huy tự nhiên, tránh hao mòn vô hình, tiết kiệm các chi phí bảo quản, sửa chữa, các nhà tư bản tìm cách để thu hồi nhanh tư bản cố định như nâng cao tỷ lệ khấu hao, ngày làm việc, thực hiện chế độ làm việc ba ca để máy móc làm việc 24/24 giờ một ngày, tăng cường độ lao động các chi phí cải thiện vệ sinh và điều kiện nơi làm việc. Trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, tư bản cố định có quy mô rất lớn, riêng việc thu hồi nhanh tư bản cố định lại càng có ý nghĩa quan trọng trong cạnh tranh. Do tác động của cách mạng, của khoa học và công nghệ hiện đại, tư bản cố định càng có nguy cơ hao mòn cô hình, vì vậy các nhà tư bản phải tìm cách để khấu hao tư bản cố định. Tỷ lệ hao mòn thường được tính rất cao ngay từ những năm đầu chế độ sản phẩm mới, lợi dụng giá sản phẩm cao của đầu chu kỳ sản phẩm, sau đó giảm dàn khấu hao cùng với việc giảm giá sản phẩm cuối chu kỳ của nó. Quy mô sản lượng ban đầu càng lớn, càng có lợi cho việc thu hồi đầu tư bản cố định. Muốn vậy các nhà tư bản, một mặt phát triển hệ thống tự động hoá linh hoạt cùng với những máy móc thiết bị nhất định có thể chế tạo được nhiều dạng sản phẩm, thậm chí có thể sản xuất những sản phẩm cá biệt theo đơn đặt hàng khác nhau, mặt khác phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ để dễ dàng đổi mới tư bản trong điều kiện cách mạng công nghệ hiện đại và canh tranh gay gắt. Đồng thời các nhà tư bản vẫn tiếp tục sử dụng các biện pháp cổ điển như tăng cường độ lao động, tổ chức lao động ca kíp, tiết kiệm chi phí bảo quản và cải thiện điều kiện lao động của người công nhân. Vậy tóm lại để khôi phục lại tư bản cố định đã hao mòn, nhà tư bản phải lập quỹ khấu hao được dùng vào việc sửa chữa cơ bản, một phần khác được đem gửi ngân hàng chờ đến kỳ hạn mua máy móc mới, hoặc xây nhà xưởng mới. 3- Tác dụng của việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản và phương pháp làm tăng tốc độ ấy. Tốc độ chu chuyển của tổng tư bản ứng trước được trính bằng tốc độ chu chuyển trung bình của tư bản cố định và tư bản lưu động. Công thức tính tốc độ chu chuyển của tổng tư bản ứng trước được tính bằng giá trị chu chuyển của tư bản cố định và giá trị chu chuyển của tư bản lưu động trong năm chia cho tổng tư bản ứng trước. Tốc độ chu chuyển của tổng tư bản là tỷ lệ thuận với tổng giá trị chu chuyển của tư bản cố định và tư bản lưu động và tỷ lệ nghịch với giá trị của tổng tư bản ứng trước. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản thì sẽ tăng được hiệu suất sản xuất và mang lại giá trị thặng dư nhiều hơn cho nhà tư bản. Tăng tốc độ chu chuyển và còn có thể tăng cường sử dụng được quỹ khấu hao và mở rộng và cải tiến kỹ thuật sản xuất. Đặc điểm đối với tư bản lưu động, tăng tốc độ chu chuyển sẽ có tác dụng rất lớn. Đối với bộ phận tư bản bất biến lưu động, tức là bộ phận tư bản bỏ ra nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu... Nếu chu chuyển nhanh thì sẽ tiết kiệm mở rộng được sản xuất. Đối với tư bản khả biến lưu động, tác dụng của việc tăng tốc độ ch chuyển càng hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong việc tăng thêm giá trị thặng dư. Giả định có hai tư bản A và B, có lượng tư bản khả biến ứng ra như nhau là 20.000đ, có tỷ suất bóc lột như nhau là 100% nhưng tốc độ chu chuyển của tư bản A mỗi năm chỉ một lần, còn tư bản B được hai lần thì số lượng x 100% = 20.000đ. Còn tư bản B thu được 20.000đ x 2 x 100% = 40.000đ. Do đó mà tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm của hai tư bản cũng sẽ khác nhau. Tư bản A đạt tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư là: 20.000 20.000 x 100 = 100% Tư bản B đạt tỷ suất bóc lột là: 40.000 20.000 x 100 = 200% Sở dĩ có tình hình đó là vì tuy hai tư bản khả biến ứng trước với nhau nhưng do chu chuyển khác nhau nên tư bản khả biến thực tế sử dụng lại khác nhau, và do đó tuy tỷ suất giá trị thặng dư thực tế như nhau lại dẫn đến tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm khác nhau. Thời gian chu chuyển các tư bản gồm có thời gian sản xuất và thời gian lưu thông nên muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản thì phải ra sức rút ngắn các khoảng thời gian này lại. Phương pháp rút ngắn thời gian sản xuất được thực hiện bằng cách áp dụng kỹ thuật mới, cải tiến cách thức sản xuất, mở rộng phạm vi phân công hợp tác, cải tiến tổ chức và quản lý lao động, kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động... tất cả các cách đó đều nhằm việc rút ngắn thời gian lao động, rút ngắn quá trình chịu ảnh hưởng tự nhiên của vật sản xuất cũng như rút ngắn và giảm bớt được dữ trữ sản xuất kinh doanh. Song các phương pháp đó lại buộc các nhà tư bản phải tăng thêm tư bản ứng trước, và nhất là phải tăng thêm bóc lột cho nên lại làm tăng thêm mâu thuẫn trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Phương pháp rút ngắn thời gian lưu thông có thể thực hiện bằng cách cải tiến chất lượng hàng hoá, cải tiến mặt hàng cải tiến mạng lưới và phương pháp thương nghiệp, đặc biệt là phát triển ngành giao thông vận tải... Song viểcút ngắn thời gian lưu thông của tư bản gặp rất nhiều trở ngại. sản xuất càng phát triển phạm vi thị trường cần mở rộng thì càng làm thêm tính chất cạnh tranh vô Chính phủ trong xã hội tư bản khiến hàng hoá lưu thông hỗn loạn, có nhiều hiện tượng bất hợp lý, lãng phí do đầu cơ mù quáng và quảng cáo phô trường, hình thức gây ra. Mặt khác, đông đảo quần chúng lao động bóc lột thậm tệ, thu thập ngày càng giảm nên sức mua ngày càng giảm sút. Như vậy là do mâu thuẫn đối kháng của tư bản thân chủ nghĩa tư bản, việc rút ngắn thời gian, sản xuất và thời gian lưu thông của tư bản, do đó đẻ ra cả việc tăng tốc độ cạnh tranh, giành giật gay gắt thị trường giữa các nước này hiện nay càng xác minh rõ điều đó, tăng tốc độ chu chuyển và tìm mọi nền sản xuất. Vậy nên, nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng yêu cầu và có đầy đủ khả năng để thực hiện tốt vấn đề đó. Để quản lý tốt nền kinh tế, phát huy hiệu quả cao của đồng vốn các doanh nghiệp nước ta đang phải biết vận dụng nhưng nguyên lý trên một cách linh hoạt và sáng tạo. c- Sự vận dụng ở nước ta trong việc quản lý các doanh nghiệp. 1- Việc huy động vốn. a- Huy động vốn trong nước. Đây là nguồn vốn đóng vai trò quyết định. Trong khi đất nước còn nghèo, khả năng tích luỹ còn thấp thì tiết kiệm những chi tiêu có thể tiết kiệm được không chỉ là quốc sách mà cần phải có giải pháp đi thẳng vào thực tế, tức là phải có biện pháp khuyến khích tiết kiệm ở tất cả các khu vực: Nhà nước, doanh nghiệp, hộ gia đình, các tổ chức tài chính... phải gắn tiết kiệm với tích luỹ dưới tác động của các nhân tố kích thích về lợi ích kinh tế đã huy động tối đa các nguồn vốn trong nước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cụ thể là: + Đổi mới và kiện toàn hệ thống các tổ chức trung gian tài chính: Phải đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống bao gồm các ngân hàng thương mại, các Công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng, quỹ bảo hiểm, quỹ trợ cấp và hưu trí, các Công ty đầu tư... hệ thống này phải là những nhân tố tích cực kích thích tiết kiệm và huy động tối đa các nguồn vốn trong nước. Muốn vậy cần khẩn trương: - Mở rộng mạng lưới hoạt động của các tổ chức nói trên đến mọi khu vực thành thị và nông thôn, kể cả các xã vùng sâu, vùng xa và hải đảo trong nước. - Đa dạng hoá việc huy động vốn thông qua mở rộng và phát triển nhiều hình thức như: phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu có mục đích, có khả năng chuyển nhượng và thanh toán linh hoạt, phổ cập hình thức gửi tiền một nơi rút nhiều nơi: thực hiện cá nhân mở tài khoản, phát triển các hình thức tiết kiệm giáo dục, tiết kiệm bậc thang... phát triển các loại cổ phiếu, trái phiếu ở các cấp: chính phủ địa phương và Công ty; mở rộng hoạt động của các Công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư... kết hợp các hình thức huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. - Cải tiến chất lượng hoạt động của các trung gian tài chính bằng cách đa dạng hoá, hiện đại hoá các công cụ thanh toán, đảm bảo tính tiện lợi nhanh chóng, bí mật, an toàn cho người có vốn. - Thực hiện chế độ bảo toàn các loại tiền gửi, trước hết là tiền gửi có kỳ hạn của nhân dân tại Ngân hàng thương mại. + Nâng cao hiệu quả huy động vốn qua ngân sách: Thu ngân sách đặc biệt là th từ thuế có độ nhạy cảm rất cao đối với sản xuất kinh doanh, cho nên điều chỉnh thuế suất làm tăng nguồn vốn cho ngân sách và định hướng các hoạt động kinh tế phải được coi là một nội dung quan trọng để nâng cao ngân sách. Phương hướng thực hiện điều chỉnh thuế xuất là nâng cao tỷ suất thu trong GDP với mức phổ biến của nước ta hiện nay, chống thất thu mà mở rộng diện thu. Để thực hiện phổ biến của nước ta hiện nay, chống thất thu mà mở rộng diện thu. Để thực hiện phương hướng này cần phải: - Đổi mới sắc thuế: phải trên cơ sở tỷ lệ động viên GDP chung của nền kinh tế để thiết kế hệ thống thuế và mức độ động viên của từng sắc thuế. Hệ thống thuế phải bao quát mọi nguồn thu phát sinh trong kinh tế thị trường, chồng chép và quá phức tạp của các sắc thuế suất, khắc phục tình trạng thiếu rõ ràng, chồng chéo và quá phức tạp của các sắc thuế hiện hành. Đổi mới cơ chế quản lý thuế để thống nhất nguồn thu vào một đầu mối - tổng kết thí điểm và triển khai rộng rãi việc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước nếu xét thấy không cần phải giữ lại 100% vốn thuộc sở hữu Nhà nước... - Đổi mới cơ chế quản lý ngân sách và hoạt động chi trên ngân sách đảm bảo cho ngân sách thực sự đóng vai trò điều chỉnh có hiệu quả nền kinh tế phát triển theo định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Kiên quyết không tham nhũng và lãng phí trong sử dụng ngân sách. Tiếp tục cơ cấu một cách hợp lý bộ máy Nhà nước, giảm biên chế hành chính. - Khuyến khích các doanh nghiệp tạo vốn: Tạo điều kiện cho mọi doanh nghiệp đều có quyền huy động đảm bảo cho doanh nghiệp phải có mức vốn cần thiết trước khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Phát hiện đa dạng hoá nguồn vốn trong các doanh nghiệp. Nhà nước cần đảm bảo nhưng điều kiện về cơ sở hạ tầng và những nguyên vật liệu thiết yếu để các doanh nghiệp hoạt động. Tài trợ mức cần thiết để kích thích và hướng hoạt động của các doanh nghiệp vào các ngành, lĩnh vực cần ưu tiên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chấn chỉnh công tác kế toán doanh nghiệp theo luật kế toán mới, tổ chức thi tuyển giám đốc, tìm người có đủ năng lực điều hành doanh nghiệp. b- Thu hút vón từ nước ngoài. + Đô'i với đầu tư trực tiếp: Do quyền quản lý và sử dụng không tách rời quyền sở hữu về vốn của các chủ đầu tư nước ngoài, nên việc thu hút nguồn này không chỉ tuỷ thuộc vào sự hoàn thiện môi trường đầu tư của nước ta mà còn tuỳ thuộc vào sự tính toán của chủ đầu tư nước ngoài. Mặt khác để thu nhận một lượng vốn nước ngoài, chí ít trong nước phải có một lượng vốn tương đương. Hơn nữa chúng ta lại bị khác nhiều đối thủ trong khu vực và trên thế giới cạnh tranh nguồn vốn này. Vì vậy, cần phải chủ động các dự án để giới thiệu và gọi vốn đầu tư nước ngoài. Các dự án phải có tính chất khả thi cao. Mở rộng các hình thức đầu tư trong cả nước. Đối với các dự án liên doanh đầu tư với nước ngoài, phải phấn đấu: ngoài phần đóng góp về đất cần phải huy động liên kết nhiều đơn vị thuộc một thành phần kinh tế, nâng tỷ lệ suất góp vốn trong nước bằng 50% số vốn trong cả sự án, cùng với chính sách ưu đãi có biện pháp giới thiệu hướng dẫn, cung cấp thông tin để người Việt Nam sống ở nước ngoài đầu tư từ nước mình. Đối với đầu tư gián tiếp, giải pháp để thu hút mạnh mẽ nguồn vốn này không chỉ ở chỗ cần làm tốt hơn nữa công việc vận động cá nhân, các tổ chức tiền tệ quốc tế và chính phủ các nước giúp đỡ với yêu cầu của nước ta, mà còn phải hết sức coi trọng việc quản lý và nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn, phải tính đến khả năng trả nợ đúng hạn và những yêu cầu khác về việc đảm bảo độc lập, chủ quyền về kinh tế và chính trị. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, hoạt động dịch vụ, thực hiện tỷ giá hối đoái linh hoạt từ người và các tổ chức nước ngoài vào ta hợp tác đầu tư trực tiếp cácmặt hoạt động này ở nước ta vừa qua còn nhiều yếu kém, cần khẩn trương khắc phục. 2- Nâng cao việc sử dụng vốn đối với các doanh nghiệp Trog mối quan hệ nhân quả nó của, để huy động mạnh mẽ các nguồn vốn đòi hỏi phải sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động được. a- Lựa chọn hướng đầu tư. Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giải pháp quan trọng trước tiên là lựa chọn đúng hướng đầu tư. Việc lựa chọn này theo kinh nghiệm các nước, không thể thoát ly chiến lược công nghiệp hoá trong từng thời kỳ và không thể xa rời yêu cầu sử dụng và khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước. Trong những năm gần đây, nhiều nước còn sử dụng phương pháp lượng họ thông qua tính toán chỉ số ICOR - chỉ số phản ánh tỷ lệ vốn đầu tư trong GDP chia cho tỷ lệ gia tăng của GDP hàng năm để làm căn cứ lựa chọn hướng ưu tiên đầu tư. Kết hợp các phương pháp trên thì trong giai đoạn đầu, nước ta cần hướng đầu tư vào những ngành và những dự án sử dụng nhiều lao động tức là hướng đầu tư vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, phát triển công nghiệp chế biến và làm hàng xuất khẩu sử dụng nhiều lao động. Đồng thời cần phân bổ một lượng vốn đáng kể vào các lĩnh vực, dự án có khả năng tranh thủ "đi tát" và "đón đầu" công nghệ để chuẩn bị những điều kiện chuyển dần tư việc sản xuất sản phẩm sử dụng nhiều vốn, đâm bảo giữ mức tăng trưởng kinh tế liên tục và bền vững. Song, cần nhận thức một vấn đề rất quan trọng là để đảm bảo cho việc lựa chọn và thực hiện các hướng đaàu tư như trên, chúng ta phải ưu tiên tạo nền tảng cho sự giao lưu vốn giao lưu hàng hoá, tạo điều kiện để các chủ kinh doanh trong và ngoài nước đầu tư. Điều đó dòi hỏi phải tạo cơ sở hạ tầng thuận lợi cho quá trình sử dụng vốn. b- Lập kế hoạch và dự án đầu tư: Để thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn cần phải sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư và điều này đòi hỏi phải có kế hoạch và dự án để chủ động đầu tư, kế hoạch đầu tư phải thật rõ ràng, phải xác định các giai đoạn đầu tư, khả năng nguồn vốn và hiệu quả bảo đảm thực hiện các dự án đầu tư phải bảo đảm tính khả thi cao. c- Thẩm định chặt chẽ các dự án đầu tư. Trước hết là đối với các dự án đầu tư lớn có tầm quan trọng quốc gia, các dự án liên doanh hợp tác và sử dụng vốn nước ngoài. Giải pháp này được coi là nguyên tắc bảo đảm sử dụng có hiệu quả vốn. Vì vậy, phải sớm só những chuyên gia hiểu biết và những tổ chức này phải hoạt động thực sự vô tư và hiệu quả đầu tư. Những người có tổ chức này phải hoạt động thực sự vô tư và hiệu quả trong khi chưa có ngay một tổ chức trên, có thể cần thiết sử dụng dịch vụ của các tổ chức thẩm định quốc tế. Khắc phục tình trạng lựa chọn những dự án đầu tư với chi phí lúc đầu khong rõ ràng và càng về sau càng phát sinh một cách không quản lý nổi. Ngoài các việc trên, cần phải thành lập Công ty tư vấn đầu tư, công ty bảo hiểm, kiểm toán... làm dịch vụ tư vấn, hướng dẫn, đảm bảo cho quá trình thực hiện kế hoạch và dự án đầu tư có hiệu quả, phải vận dụng quy luật thị trường qua việc sử dụng công cụ lãi suất và các trung gian tài chính dể dẫn vốn đến đúng các dự án cần đầu tư, khắc phục tình trạng các lực lượng trung gian tài chính can thiệp vào quá trình phân bố và sử dụng vốn làm méo mó vai trò vốn đầu tư. d- Những vướng mắc đối với doanh nghiệp + Những vướng mắc thuộc phạm vi chính sách. Viẹc vay vốn từ quỹ hỗ trợ đầu tư còn nhiều khó khăn phiền hà, vấn đề nổi cộm là sự chậm trễ trong việc giải ngân. Nguồn vốn cho vay ưu đãi vẫn còn nhỏ, lại chủ yếu tập trung cho các doanh nghiệp Nhà nước. Năm 1999, nguồn vốn cho vay từ quỹ là 510 tỷ (với 186 dự án) thì khối doanh nghiệp Nhà nước được vay tối đa là 72,2%. Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp là chính sách quan trọng mà nhà đầu tư được hưởng, song khi thực hiện không có hướng dẫn cụ thể, hoặc hướng dẫn triển khai chậm. Doanh nghiệp trong nước thiếu nhiều ưu đãi hơn doanh nghiệp FDI nhưng chịu mức thuế suất cao hơn (với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp trong nước ít hơn đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. + Những vấn đề nổi cộm trong tư vấn đều tư. Để nhận được giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư theo luật thì các doanh nghiệp phải hoàn thiện một bộ hồ sơ rất cồng kềnh, thủ tục xin phép hết sức phức tạp. Do vậy đã làm nản lòng các nhà đầu tư trong nước. Luật khuyến khích đầu tư trong nước mới chỉ tập trung khuyến khích đầu tư vào 3 tiêu chí chủ yếu là khuyến khích theo ngành nghề đầu tư, theo địa bàn đầu tư và theo số lao động mà dự án đầu tư tạo ra. Điều này chưa đủ để kích thích đầu tư. Trong bối cảnh hiện nay, đẻ huy động vốn nhiều hơn cân khuyến khích đầu tư theo tổng vốn đầu tư, tổng mức đóng góp cho ngân sách mà mỗi dứan dự kiến. + Làm trong sạch đội ngũ công chức: Phải xoá bỏ rào cản về tu duy đang chi phối một số người trong việc soạn thảo văn bản pháp quy cũng như trong hoạt động thực tiễn của bộ máy Nhà nước. Đồng thời đã có hiện tượng là văn bản pháp quy do bộ, ngành nào dự thảo thì thương nghiêng về quyền lực và lợi ích của bộ, ngành đó, không đứng về phía người thi hành là doanh nghiệp, thậm chí không đứng về lợi ích của toàn xã hội. Đang còn nhiều trường hợp bộ máy trùng lặp, nhiều cơ quan cùng làm một việc nhưng đùn đảy nhau trách nhiệm không rõ ràng. + Các biện pháp và chính tổng thể Lý do gốc dễ của tình trạng đầu tư trong nước thấp là việc kinh doanh không có lãi và thị trường tiêu thụ đang gặp khó khăn. Về tâm lý, theo truyền thông người Việt Nam không coi trọng kinh doanh mà coi trọng khoa bảng. Gần đây tình hình có được cải thiện đáng kể nhưng lối làm ăn chụp dật, vô trách nhiệm của không ít doanh nhân đã làm định kiến này có thể cơ sở để tồn tại thói quen tích trữ, tiết kiệm khi đất nước đã chọn đường lối phát triển kinh tế thị trường đã trở thành rào cản. Trong những năm qua, các chính sách kinh tế cũnh như hệ thống pháp luật của chúng ta vừa thiếu, vừa chồng chéo, vừa thay đổi quá nhanh, gây ra nhiều khó khăn cho người kinh doanh. + Những điều trở ngại quan trọng nhất: Độ trễ 7 năm giữa luật đầu tư nước ngoài (ban hành năm 1987 và luật khuyến khích đầu tư trong nước (1994) đã gây trở ngại không chỉ với đầu tư trong nước mà còn cả với đầu tư nước ngoài. hệu qả dễ thấy nhất của trở ngại này là trong 7 năm khuyến khích một chiều, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài chỉ có một chỗ gặp gỡ lớn nhất là đầu tư thành lập và đưa vào hoạt động các xí nghiệp liên doanh. Trở ngại khá nghiêm trọng đối với các nhà đầu tư trong nước hiện nay là đầu tư như thế nào vào tài sản bất động sản (đất đai) để làm mặt bằng cho sản xuất kinh doanh? Trên thực tế, sau khi xây dựng nhà xưởng và đi vào hoạt động không phải doanh nghiệp nào cũng yên tâm, bởi nếu cần phải bán hoặc phát mại toàn bộ bất động sản thì việc giải quyết hết sức phức tạp và rủi ro. Một trở ngại không dễ vượt qua đối với các nhà đầu tư trong nước là sao chậm phát triển thị trường vốn tại Việt Nam. Cho tới nay, tín dụng ngắn hạn vẫn chiếm đại bộ phận thị phần của thị trường tín dụng. Việc chậm chuyển đổi các doanh nghiệp kinh doanh không thuộc sở hữu 100% vốn Nhà nước đã ngăn cản khu vực tư nhân gia đầu tư để thực hiện sự chuyển hướng có tính chiến lược đã đặt ra. 3- Những chính sách cơ bản nhằm nâng cao vai trò chủ đạo và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Để phát huy được vai trò của các doanh nghiệp, cần phải có những chính sách về những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước cần phải có những giải pháp quan trọng nhất để luật khuyến khích đầu tư trong nước thực sự đi vào công cuộc sống và phát huy mạnh mẽ nội lực; Nhà nước tăng cường kiểm trả giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách, luật pháp về phát triển kinh tế nói chung và khuyến khích đầu tư trong nước nói riêng. Trong đó, nhiệm vụ lành mạnh hoá môi trường kinh tế, môi trường đầu tư phải đặc biệt quan tâm. Nhà nước tranh thủ và tiếp thu tôi đa đa kiến của cơ sở, nhất là các doanh nghiệp để sửa đổi luật. Để tiến tới sự bình đẳng về chính sách và pháp luật giữa các hình thức đầu tư, loại hình doanh nghiệp, khẩn trương, nghiên cứu và ban hành một luật chung cho khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài. Có kế hoạch rà soát lại những bất hợp lý, bất bình đẳng và thông qua các văn bản dưới luật để bổ sung, hoàn chỉnh. Cải cách thủ tục hành chính nói chung và cải cách thủ tục trong kinh tế nói riêng đang là vấn đề cấp thiết phải đẩy nhanh thực hiện... Trung bình việc đầu tư có mục tiêu làm giảm phiền hà, sách nhiễu làm này lòng các nhà đầu tư. Chính phủ cần có một bộ phân chuyên trách làm đồng bộ hoá, thống nhất hoá và giữ ổn định các văn kiện pháp luật liên quan trực tiếp đến các dự án đầu tư trong nước. Đơn giản hoá các thủ tục hành chính cho mỗi chủ đầu tư được hưởng các ưu đãi theo luật. Chính phủ trợ giúp các chủ đàu tư về các thông tin thị trường mang tính chất cân đối lớn của nền kinh tế giúp mỗi chủ đầu tư có định hướng đầu tư đúng và góp phần làm giảm một phần các thiệt hại không đáng có của mỗi chủ đầu tư do tình hình đầu tư quá thừa hoặc quá nhiều. Việc quan trọng hơn là làm sạch đội ngũ công chức, nguyên nhân gây nên khó khăn trong các thủ tục, giấy tờ mà các doanh nghiệp phải thông qua. Sở dĩ như vậy là do ba nguyên nhân chính: có những công chức thực sự không nhận thức được nọi dung đổi mới của luật doanh nghiệp và chức năng quản lý Nhà nước trong kinh tế thị trường; họ bị nhiễm nặng bệnh quyền lực; nếu đổi mới quản lý, nhất là bỏ giấy phép không cần thiết thì một số cơ quan và công chức nhân viên hành chính sẽ mất đi một nguồn thu nhập khá quan trọng. Tình trạng đó đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ và đặc biệt cấp bách. Đó là xúc tiến một cách kiên quyết việc sắp xếp lại bộ máy quản lý Nhà nước theo hướng thu gọn đầu mối, bỏ bớt những khâu trung gian cần thiết. Nhà nước đánh giá đúng vai trò của khu vực kinh tế tư nhân và khuyến khích sự phát triển của khu vực này vững mạnh, đủ sức cạnh tranh, nhận thức đúng mối quan hệ biện chứng giữa đầu tư trong nước và nước ngoài. Một số biện pháp trước mắt và lâu dài là xúc tiến luật định, giảm thuế, chống luôn lậu, cổ phần hoá doanh nghiệp, khuyến khích đầu tư trong nước và ngoài nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật... Nhà nước có các chính sách đổi mới có chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước, nòng cốt của thành phần kinh tế Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Nhà nước có thể cạnh tranh một cách công bằng và bình đẳng trên thị trường, cần phải tách mục tiêu phi thương mại ra khỏi các doanh nghiệp kinh doanh, xó bỏ các lợi thế so sánh và những phân biệt giữa doanh nghiệp Nhà nước với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác. Phân biệt rõ quyền chủ sở hữu Nhà nước và quyền của pháp nhân doanh nghiệp. Nhà nước không trực tiếp quản lý doanh nghiệp mà thông qua đại diện của mình bằng bộmáy quản lý để điều hành doanh nghiệp theo luật pháp. Mở rộng quyền tự chủ của doanh nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước có quyền tự do kinh doanh theo pháp luật. Chuyển đổi cơ chế kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp từ cơ chế kiểm soát quá trình ra quyết định sang kiểm tra hướng vào việc đánh gía kết quả thực hiện các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra. Đến nay nước ta có hơn 12 triệu đơn vị kinh tế hộ (10 triệu hộ nông nghiệp và 2 triệu hộ trong các ngành nghề khác), khoảng 23.000 doanh nghiệp tư nhân Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, gần 6.000 doanh nghiệp Nhà nước và 1.200 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chính sự ra đời và hoạt động năng động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đó đã tạo nên những thành tựu phát triển kinh tế của đất nước ta trong những năm đổi mới vừa qua. Với ý nghĩa như vậy, để phát triển kinh tế, đẻ thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000 do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đề ra. Nhiệm vụ đẩy mạnh đổi mới, phát triển và quản lý có hiệu quả các loại hình doanh nghiệp với nội dung cụ thể là: Tiếp tục đổi mới và phát triển khu vự doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp nhỏ, làm ăn thua nỗ đã được sát nhập, giải thể, chuyển hình thức sở hữu. Cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước bước đầu đã có sự phân biệt các doanh nghiệp công ích, phục vụ các mục tiễuh, các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Đã phân biệt và tách quản lý Nhà nước về kinh tế quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tôn trọng quyền tự chủ của doanh nghiệp. Do tình trạng thiếu vốn ở các doanh nghiệp khá trầm trọng nhiều doanh nghiệp hoạt động chủ yéu dựa vào vốn vay ngân hàng, vốn vay ngân hàng vượt từ 10 - 20 lần vốn của doanh nghiệp, máy móc công nghệ của các doanh nghiệp khá lạc hậu, ở nhiều doanh nghiệp máy móc đã sử dụng 20 - 30 năm, lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ so với các nước trong khu vực... những khó khăn này làm cho phải trả lãi xuất ngân hàng cao và năng xuất, chất lượng, hiệu quả kém làm giảm khả năng cạnh tranh. Vì thế Nhà nước sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước trên cơ sở đó Nhà nước điều tiết vốn. Đối với các doanh nghiệp không cần 100% vốn Nhà nước thì cấp lại kế hoạch cổ phần hoá để chuyển các doanh nghiệp thành các công ty cổ phần, tạo vốn, tạo đọng lực cho doanh nghiệp phát triển. Đối với doanh nghiệp nhỏ có vốn dưới 1 ttỷ đồng kinh doanh thua lỗ kéo dài cần được xử lý bằng các hình như: Sát nhập vào các doanh nghiệp lớn, đấu thầu công khai bán hoặc giao cho tập thể cán bộ... số tiền thu được do cổ phần, bán, thuê,.. được sử dụng giải quyết chính sách đói với số lao động dôi ra và bổ sung vốn pháp định cho các doanh nghiệp Nhà nước cần ưu tiên. Sau khi sắp sếp lại các doanh nghiệp thì phải đặt các doanh nghiệp Nhà nước trong môi trường cạnh tranh theo pháp luật, bình đẳng, với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, tiến tới áp dụng một luật kinh doanh thống nhất với mọi doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, làm rõ cơ chế đại diện chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước và quản lý của các bộ, ngành đối với doanh nghiệp. Xác định rõ phạm vi thẩm quyền quản lý Nhà nước của các Bộ Tài chính đối với doanh nghiệp. Nghiên cứu việc chuyển từ cơ chế qủn lý vốn theo phương thức hành chính như hiện nay sang cơ chế thành lập các Công ty tài chính để quản lý và kinh doanh vốn của Nhà nước. Các Công ty tài chính này được Nhà nước giao vốn Công ty được quyền đầu tư vốn của Nhà nước dưới nhiều hình thức: cấp doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, mua cổ phần, tham gia liên quan... vào những dự án Công ty thấy có hiệu quả. Đổi mới chế độ phân phối, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hiệu quả. Phân phối phải gắn với năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh phân phối theo lao động, còn thực hiện phân phối theo các yếu tố sản xuất như: đóng góp vốn rọng rãi chế độ khoán, xây dựng chế độ thù lao cho hội đồng quản trị và giám đốc doanh nghiệp gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh và quy định rõ trách nhiệm vật chất của thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc và kế toán trưởng trong trường hợp để doanh nghiệp Nhà nước bị phá sản. Các doanh nghiệp thua lỗ không được nâng lương, tiền thưởng. Lợi nhuận của doanh nghiệp phải dành tưu tiên cho trả nợ vốn vay bảo đảm uy tín của doanh nghiệp và đẻ tái đầu tư phát triển sản xuất và lập quỹ dự phòng rủi ro. Trong đổi mới và phát triển doanh nghiệp Nhà nước phải đổi mới tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và vai trò làm chủ của người lao động trong doanh nghiệp. Đánh giá đúng đắn để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất trình độ tay nghề của người lao động, trình độ quản lý của cán bộ trong doanh nghiệp Nhà nước trước hết là các thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc phó giám đốc, kế toán trưởng của doanh nghiệp và cán bộ quản lý Việt Nam trong các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Đi đôi với việc quản lý các doanh nghiệp Nhà nước là việc phát triển quản lý các loại hình doanh nghiệp thuộc kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Nghị quyết khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần với sự đan xen nhiều hình thức sở hữu hình thành quan hệ sản xuất mới phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện sự liên kết giữa các thành phần kinh tế cùng hoạt động và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Theo tinh thần đó, Nghị quyết đề ra một số nhiệm vụ cụ thể là: Tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh doanh theo pháp luật, sửa đổi, bổ sung luật khuyết khích đầu tư trong nước và ban hành Nghị định quy định các biện pháp cụ thể thực hiện luật đã được Quốc hội thông qua. Sửa đổi bổ sung các văn bản pháp quy về các loại hình doanh nghiệp và hộ kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật cho phép, đồng thời bảo đảm sự kiểm soát của Nhà nước, tháo gỡ những trở ngại về thể chế và thủ tục hành chính gây trở ngại cho đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp mà tập trung là các lĩnh vực tài chính, hải quan, xuất nhập khẩu, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư và kinh doanh của kinh tế tư bân cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước theo pháp luật, đổi mới các thủ tục về đăng ký kinh doanh, về quản lý hộ khẩu, về xuất nhập cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh và người lao động tìm việc làm. Tạo điều kiện cần thiết cho các doanh nghiệp và nhân dân đầu tư phát triển. Bên cạnh việc xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ chung cho đời sống xã hội, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thuê đất làm mặt bằng cho sản xuất kinh doanh, khuyến khích đàu tư, giam thuế đất. Nhà nước tạo điều kiện cho việc phát triển và mở rộng thị trường vốn, tạo nhiều kênh cho việc huy động vốn đầu tư. Nhà nước có chính sách khuyến khích và trợ giúp việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới của doanh nghiệp như hỗ trợ vốn cho các trung tâm khoa học nghiên cứu chuyển giao công nghệ, thông tin công nghệ.. cho doanh nghiệp. Khuyến khích phát triển các Hiệp hội ngành nghề, câu lạc hộ các nhà kinh doanh để trao đổi thông tin, kinh nghiệm... Phát triển các hình thức hợp tác, liên kết giữa các thành phần kinh tế Nhà nước với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác, cả trong và ngoài nước để hình thành và phát triển kinh tế tư bản Nhà nước trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, bảo đảm lợi ích của các bên tham gia, từ các hình thức đại lý mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm ... tạo nên sự đan xen giữa các hình thức sở hữu trong doanh nghiệp, sự đan xen của các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Theo hướng đó Nhà nước chủ động đầu tư và gọi vốn của các thành phần kinh tế khác, của cá thể tư nhân trong nước và ngoài nước, để xây dựng doanh nghiệp mới hoặc cải tạo, mở rộng doanh nghiệp hiện có, cùng với việc cỏ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước, chuyển một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước sang hình thức sở hữu hỗn hợp, tiến hành nghiên cứu và thí điểm việc Nhà nước góp vốn, mua cổ phần của Công ty tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước thuê nhà kinh doanh tư nhân làm giám đốc điều hành, quản lý doanh nghiệp ... III Kết luận Sản xuất kinh doanh bao giờ cũng gắn với mỗi đơn vị kinh tế cụ thể bao giờ cũng diễn ra cơ sở, ở các doanh nghiệp. Sức mạnh và hiệu quả của nền kinh tế nói chung là do sức mạnh và hiệu quả của các doanh nghiệp tạo nên. Một nước có nhiều doanh nghiệp mạnh hoạt động có hiệu quả thì nền kinh tế của đất nước mạnh và ngược lại. Quản lý Nhà nước về kinh tế chính là để tạo ra môi trường cho các doanh nghiệp hoạt động, kích thích, điều tiết và hướng dẫ các hoạt động của các doanh nghiệp. Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn đối với nước ta. Vì nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường nên trong sản xuất kinh doanh đòi hỏi chúng ta phải quay vòng vốn nhanh, sử dụng vốn một cách hợp lý để đem lại hiệu quả kinh tế cao. Để đạt được mục đích kinh tế thì chúng ta phải nghiên cứu vấn đề này để đưa ra các phương thức quản lý Nhà nước về kinh tế, góp phần làm cho đất nước phát triển nhanh, mạnh trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây là lý do nghiên cứu đề tài lý luận tuần hoàn và chu chuyển của tư bản với việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong doanh nghiệp Nhà nước

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Việc huy động vốn và sử dụng vốn thế nào cho có hiệu quả.pdf
Luận văn liên quan