Luận văn Việc làm cho người lao động ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá

Việc làm cho người lao động là một vấn đề quan trọng vì nó đem lại sự phát triển ổn định và bền vững của một đất nước. Với những quốc gia trong giai đoạn đầu của công cuộc CNH,HĐH thì vấn đề này càng cấp bách. Với đặc thù của một quốc gia có trên 80% dân số sống ở khu vực nông thôn, ngoại thành như Việt Nam thì nhiệm vụ này lại càng quan trọng hơn bao giờ hết.

pdf188 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 17/11/2013 | Lượt xem: 1819 | Lượt tải: 13download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Việc làm cho người lao động ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hủ yếu chỉ còn hình thức chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng tập trung, xa khu dân cư, được đầu tư hạ tầng và kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt theo hướng hiện đại. Khuyến khích đầu tư kết hợp chăn nuôi với giết mổ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản, đến năm 2010 tập trung ở Thanh Trì và các xã vùng trũng 140 của huyện Sóc Sơn. Kết hợp nuôi trồng thuỷ sản với phát triển du lịch sinh thái. Phát triển lâm nghiệp cùng với du lịch sinh thái tại vùng Sóc Sơn theo nhiều mô hình như: mô hình vườn quả du lịch; mô hình nuôi thả cả- cây ăn quả - dịch vụ câu cá giải trí; mô hình cây ăn quả - cây lâu năm- nuôi gia cầm theo phương thức công nghiệp kết hợp chăn thả sinh thái ở vùng đồi núi... * Phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT), chú trọng công nghiệp chế biến để tạo việc làm Trong lĩnh vực công nghiệp, với đặc thù của khu vực ngoại thành thì giải pháp phải đề cập đến một nội dung quan trọng đó là phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT), trong đó trú trọng phát triển công nghiệp chế biến để giải quyết việc làm cũng như tạo ra những chỗ làm mới, gắn với nền sản xuất nông nghiệp và đặc biệt gắn với lực lượng lao động chưa qua đào tạo về trình độ tay nghề, lao động giản đơn ở khu vực ngoại thành, khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Đây còn là một giải pháp để giảm sức ép di dân từ nông thôn, ngoại thành vào khu vực thành thị, là giải pháp phù hợp cho điều kiện của những nước đang phát triển trong đó có Việt Nam CNNT thường gồm nhiều hoạt động với những hình thức chủ yếu sau:Sản xuất công nghiệp; Chế biến nông sản; Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Thương mại và dịch vụ 141 Các hoạt động công nghiệp trên có thể trong khuôn khổ hộ gia đình hoặc là các doanh nghiệp có địa bàn tại khu vực nông thôn, ngoại thành. Với việc phát triển công nghiệp nông thôn là một trong nhiều chính sách để phát triển các hoạt động phi nông nghiệp nhằm hướng tới mục tiêu: tạo công ăn việc làm; giảm đói nghèo; đóng góp vào tăng tưởng kinh tế; đa dạng hoá thu nhập tăng dự phòng rủi ro; giảm sức ép di cư thành thị. Nhờ việc phát triển CNNT nó có thể thu hút một lượng lớn lao động ở khu vực này vào làm việc, giải quyết được vấn đề lao động dôi dư. Trong điều kiện chúng ta khẳng định CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ trung tâm trước mắt trong toàn bộ nội dung CNH,HĐH đất nước để phát triển nông nghiệp, nông thôn nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn sang theo hướng sản xuất hàng hoá lớn và lao động nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Chính điều này đòi hỏi chúng ta phải không ngừng đầu tư máy móc, kỹ thuật để từng bước hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp, phát triển ở khu vực ngoại thành những nhà máy chế biến các loại sản phẩm từ nông nghiệp qua đó góp phần mở ra một hướng phát triển sản xuất vừa nâng cao giá trị sản phẩm và tạo thêm việc làm cho người lao động. Với lợi thế về các sản phẩm nông nghiệp, ngoại thành Hà Nội cần tiếp tục phát 142 triển, xây dựng một số cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm tập trung, hình thành những cơ sở sơ chế, chế biến rau, hoa quả tập trung với quy mô hiện đại. Nguồn vốn cho vay để xây dựng, đổi mới thiết bị công nghệ từ Quỹ hỗ trợ phát triển với lãi suất ưu đãi. * Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) ở nông thôn Trong giải pháp này cũng còn một nội dung cần được đề cập đến đó là với đặc thù ở nông thôn, do cơ sở vật chất chưa thực sự phát triển cao và quy mô sản xuất chủ yếu là quy mô nhỏ vì vậy việc chúng ta phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) ở khu vực này cũng là một giải pháp quan trọng để tạo thêm việc làm. Theo một số tác giả thì đây thực sự là một giải pháp phù hợp với nông thôn, ngoại thành của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Chỉ tính từ khi đổi mới đến nay, đội ngũ DNN&V ở nông thôn có khoảng 40.500 cơ sở sản xuất kinh doanh. Trong đó doanh nghiệp nhà nước 14,6%, hợp tác xã là 5.76%, doanh nghiệp tư nhân là 80,08%; theo lĩnh vực hoạt động có 18,62% doanh nghiệp chế biến nông - lâm- thuỷ sản, 32,5% sản xuất tiểu thủ công nghiệp và xây dựng, 49,8% doanh nghiệp dịch vụ. Hiện nay, theo số liệu thống kê thì bình quân một DNN&V ở nông thôn sử dụng khoảng 30 lao động, tuy số lượng 143 không lớn nhưng do có số lượng lớn doanh nghiệp nên khả năng giải quyết việc làm cho nguời lao động là rất khả quan (khoảng 97%). DNN&V ở nông thôn đã giải quyết việc làm cho khoảng 1,215 triệu người chiếm khoảng 3,85% tổng số lao động làm việc của nông thôn, trong đó số lao động thường xuyên là 71,43% và 28,57% lao động thời vụ. Ngoài ra, DNN&V còn là khu vực năng động và thích ứng nhanh với những thay đổi của thị trường, góp phần giữ gìn và phát triển các làng nghề truyền thống. Để tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của khu vực này để góp phần tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động ngoại thành theo chúng tôi Nhà nước cần: - Tiếp tục có sự hỗ trợ về kinh tế, pháp lý và ưu đãi: cho vay vốn với lãi suất thấp, hỗ trợ lãi suất đầu tư thông qua Quỹ trợ giúp DNN&V, luật khuyến khích đầu tư trong nước, - Ưu đãi về cung cấp mặt bằng phục vụ cho sản xuất. Qua đó, doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới về kỹ thuật - công nghệ. Đối với khu vực ngoại thành Hà Nội, để thực hiện giải pháp này thành phố phải đẩy mạnh sự phát triển hơn nữa của khu công nghiệp vừa và nhỏ: Vĩnh Tuy, Từ Liêm, Cầu Giấy, Gia Lâm, Thanh Trì, Đông Anh để thu hút các nhà đầu tư tham gia sản xuất kinh doanh những sản phẩm gắn với quy mô nhỏ nhờ đó có 144 những điều kiện để thu hút lao động, tạo thêm việc làm. - Tạo điều kiện cho các DNN&V tiếp cận được nhiều nguồn vốn và sự trợ giúp từ trong nước và nước ngoài. * Phát triển ngành nghề thủ công truyền thống So với các địa phương khác trong cả nước, Hà Nội có những nét đặc trưng văn hoá đồng thời có các nghề truyền thống với các sản phẩm cổ truyền nổi tiêng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt như: Dệt Yên Thái, Vàng Định Công, đúc đồng Ngũ Xã…Trong lịch sử phát triển của Thủ đô những ngành, nghề truyền thống đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế cũng như tạo nhiều việc làm người lao động. Việc khôi phục và phát triển những làng nghề thủ công truyền thống, cụm sản xuất làng nghề tập trung như: gốm sứ Bát Tràng; đồ gỗ cao cấp Vân Hà, Liên Hà, dự án xây dựng cụm sản xuất làng nghề tập trung Kiêu Kỵ… đây là những sản phẩm có giá trị kinh tế cao để cung ứng sản phẩm cho thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu. Nhờ có sự phát triển các làng nghề đã góp phần hình thành những thị trấn, thị tứ bao quanh khu vực nội thành, trở thành nơi đáp ứng cầu về lao động ở đây. Tuy nhiên, do còn mang tính nhỏ lẻ, hoạt động sản xuất còn manh mún, công nghệ lạc hậu vì thế để tiếp tục duy trì sự tồn tại và phát triển hơn nữa 145 đòi hỏi những làng nghề này phải được đổi mới nên Thành phố cần: + Tập trung phát triển một cách hiệu quả những cụm công nghiệp làng nghề để thu hút các hộ kinh doanh gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở làng nghề; mở rộng mặt bằng cho sản xuất từ đó tăng cường áp dụng tiến bộ về kỹ thuật, công nghệ trong một số khâu để mở rộng quy mô sản xuất... nhờ đó nó sẽ góp phần biến đổi cơ cấu lao động, tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phi nông nghiệp và hơn hết là giải quyết được nhiều việc làm cho lao động nông thôn. Theo một số thống kê, thì việc phát triển các cụm công nghiệp làng nghề ngoài tạo việc làm cho lao động địa phương còn thu hút khoảng 1/3 lao động từ các địa phương khác tới. + Tạo dựng những cơ sở, điều kiện qua đó thiết lập mối quan hệ và phát triển mối quan hệ sản xuất gia công công nghiệp giữa khu sản xuất tiểu công nghiệp với khu sản xuất đại công nghiệp. Qua đó, tạo ra sự bổ xung cho nhau giữa hai khu vực này, góp phần để tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, nhất là lao động ở khu vực ngoại thành. + Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bình đẳng tiếp cận mọi nguồn lực và cơ hội đầu tư: công khai quy hoạch sử dụng đất cho các khu công nghiệp vừa và nhỏ, danh mục các dự án đầu tư theo hướng xã 146 hội hoá; tạo điều kiện để các doanh nghiệp được tiếp cận nguồn vốn vay từ các quỹ, ngân hàng. + Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo để nâng cao nhận thức cho người lao động về an toàn, vệ sinh lao động. Làm cho người lao động nhận thức rõ tác hại của sự ô nhiêm môi trường đến sức khoẻ con người và chất lượng cuộc sống. Đi cùng với đó là công tác kiểm tra, đánh giá tác hại và những hình thức xử lý nghiêm minh đối với những cơ sở sản xuất không tuân thủ nghiêm túc về an toàn và vệ sinh lao động. + Khuyến khích, ưu đãi về thuế, pháp lý.. với các doanh nghiệp có quan hệ làm ăn, ký hợp đồng bao thầu các sản phẩm từ các làng nghề. 3.3.4. Mở rộng sự liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân Công nghiệp hoá, đô thị hoá không có nghĩa là không còn sản xuất nông nghiệp nữa, không còn đất đai cho sản xuất nông nghiệp nữa. Chính vì vậy, ngành nông nghiệp vẫn phải tiếp tục tồn tại những trên cơ sở hiện đại hơn, năng suất lao động cao hơn, hướng vào sản xuất nông nghiệp sạch, gắn với bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, do trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự phát triển của sự phân công lao động xã hội nên hoạt động sản xuất nông nghiệp đang được phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, tập trung vì vậy cần thiết phải có sự cam kết, liên kết giữa doanh nghiệp với hộ 147 nông dân, giữa nhà sản xuất lớn với các nhà cung cấp vệ tinh để đảm bảo các khâu của quá trình phân công này. Sự liên kết này cho phép thống nhất phối hợp giữa lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn với các ngành sản xuất khác có có năng suất lao động, công nghệ cao hơn thuộc các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ để khai thác hết năng lực nguyên liệu, lao động nhờ đó mà những việc làm mới được tạo ra. Đây là một mô hình cần thiết để phát huy tính kết dính giữa khu vực sản xuất, nơi cung cấp nguyên liệu với tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp. Lúc này những hộ nông dân là những vệ tinh có mối quan hệ gắn bó với các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, có nhiệm vụ trở thành nơi cung cấp nguyên liệu, lao động phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm. Trong sự liên kết này, doanh nghiệp đầu tư vốn, hướng dẫn kỹ thuật cho hộ nông dân trong việc canh tác hoặc nuôi trồng một số cây, con nào đấy. Sau đó, tổ chức thu mua sản phẩm ở một mức giá hợp lý để đảm bảo lợi ích cho cả hai bên. Còn hộ nông dân chính là nơi cung cấp sản phẩm cũng như đảm bảo cả về số lượng lao động làm việc cho mô hình liên kết này. Sự liên kết này thực chất là phương thức “hợp đồng” thoả mãn ba điều kiện về cung cấp vốn, công nghệ và tạo lập thị trường cho hộ nông dân sản 148 xuất nhỏ nhờ đó mà tạo ra và duy trì được khả năng tái sản xuất mở rộng của nông hộ và đóng góp tái sản xuất mở rộng cho cả doanh nghiệp. Như vậy, khi lợi ích của hai bên được thoả mãn sẽ góp phần tạo việc làm cả trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và cả lực lượng lao động làm việc trong các xí nghiệp chế biến sản phẩm. Đây chính là sự thể hiện của mô hình liên kết giữa bốn nhà: nhà nông, nhà khoa học, nhà nước và nhà doanh nghiệp để đảm bảo làm sao có những sản phẩm nông nghiệp phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, có chất lượng nhằm cung cấp cho các đơn vị chế biến. Quan hệ liên kết này tạo thêm việc làm mới trong lĩnh vực nông nghiệp, những chỗ làm mới được tạo ra từ các doanh nghiệp chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp, nông thôn. Muốn có được điều này, đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu xem thị trường cần những loại sản phẩm nào, số lượng, chất lượng và giá cả như thế nào, trên cơ sở đó đưa ra những quy hoạch phát triển vùng sản xuất và quy hoạch kết cấu hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống. Tuy nhiên, muốn phát triển được mô hình liên kết này thì ngoài sự chủ động trong việc tìm tòi về thị trường, về xây dựng vùng nguyên liệu của những doanh nghiệp cũng như sự đảm bảo là một cơ sở cung cấp sản phẩm của hộ nông dân thì cần thiết phải có những chính sách vĩ mô của Nhà nước. 149 Thành phố cần có chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với những doanh nghiệp làm ăn và có ký kết hợp đồng với hộ nông dân về tiêu thụ sản phẩm. Khi đó, sẽ kêu gọi được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào khu vực này qua đó vừa thúc đẩy sự phát triển của kinh tế ngoại thành vừa tạo được nhiều việc làm cho người lao động. Như vậy, nếu phát huy được giải pháp này một cách hiệu quả nó sẽ góp phần làm cho người lao động ở khu vực ngoại thành vẫn có thể sản xuất nông nghiệp nhưng với những yêu cầu cao hơn về quy mô sản xuất, về trình độ tay nghề… hay cũng có thể chuyển đổi sang làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, nhưng với tư cách là vệ tinh, là những chân rết cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất chính là nó vẫn góp phần to lớn vào tạo việc làm tại chỗ, làm cho người lao động có việc làm đầy đủ trong khi họ vẫn sống ở khu vực ngoại thành không phải di chuyển vào khu vực nội thành để tìm kiếm việc làm mới. Hơn nữa nó còn phù hợp với điều kiện, đặc điểm của quy mô sản xuất nhỏ ở khu vực ngoại thành. 3.3.5. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ Đây là một giải pháp để tạo việc làm mới được nhắc đến nhiều trong những năm gần đây. Do đặc điểm, một số quốc gia thiếu một đỗi ngũ lao động 150 vì vậy họ có nhu cầu nhập khẩu lao động từ các quốc gia khác để tham gia làm việc trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế: công nghiệp xây dựng, điện tử, cơ khí…và bao gồm cả những công việc giản đơn và cả những công việc đòi hỏi lao động trí tuệ. Vì vậy, căn cứ và nhu cầu và đặc điểm công việc mà chúng ta thực hiện xuất khẩu lao động để đáp ứng yêu cầu của họ. Trong thời gian qua, hoạt động xuất khẩu lao động đã thu được những thành tựu đáng quan trọng. Chỉ tính riêng từ năm 2001- 2005 ta đã đưa trên 295.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, gấp 3 lần so với giai đoạn 1996- 2000 (95.000 người). Hiện nay, đã có trên 400.000 lao động Việt Nam đang làm việc ở hơn 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề thuộc nhiều lĩnh vực, với nguồn thu nhập của người lao động gửi về nước bình quân khoảng 1,5 tỷ USD/năm [27, tr.9-10]. Trong đó, những thị trường đang thu hút nhiều lao động sang làm việc là Đài Loan, Malaixia, Hàn Quốc, Nhật Bản…và một số thị trường khác. Tuy nhiên, so với yêu cầu chúng ta vẫn chưa thực sự đáp ứng được cả về số lượng cũng như chất lượng của lực lượng lao động được đưa ra làm việc ở nước ngoài. Hà Nội xác định xuất khẩu lao động cũng là một hướng mới quan trọng để tạo việc làm cho lực lượng lao động, trong đó có hướng tới lao động ở địa bàn nông thôn, ngoại thành bị tác động của quá trình 151 đô thị hoá, với phương châm: “ chú trọng các vấn đề liên quan đến chuyển đổi nghề nghiệp, giảm thất nghiệp, tạo việc làm”. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này Hà Nội và các tỉnh đều nhận thấy lực lượng lao động ở ngoại thành đa phần là lực lượng lao động chưa qua đào tạo về trình độ chuyên môn, tay nghề cũng như chưa có tác phong công nghiệp. Do đó trong thời gian tới, để thực sự tạo ra nhiều chỗ làm mới thông qua con đường xuất khẩu lao động Thành phố cần phải: + Tích cực tìm kiếm những thị trường mới để tăng số lượng lao động lao động được xuất khẩu, phù hợp với đặc điểm của lao động ngoại thành. + Tiếp tục ban hành những chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu lao động tập trung vào đào tạo tay nghề, ngoại ngữ cho người lao động ở ngoại thành. Có như vậy, mới làm tăng về số lượng và chất lượng lao động, đảm bảo giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động qua con đường này; cũng cần hỗ trợ đối với bản thân người lao động, để họ có một phần kinh phí đáp ứng cho yêu cầu học tập nhằm đạt được ở mức nhất định về trình độ chuyên môn và ngoại ngữ, đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng + Đối với các xã, phường giới thiệu được nhiều lao động xuất khẩu thì cũng phải có những chính sách khuyến khích. Những giải pháp cụ thể là: 152 + Thành phố hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp khi tuyển chọn lao động Hà Nội đi xuất khẩu lao động với mức phù hợp. Tuỳ từng thị trường xuất khẩu và yêu cầu về chất lượng lao động mà Hà Nội đưa ra những mức hỗ trợ khác nhau. Thông qua đó, khuyến khích doanh nghiệp dành các thị trường có ngành, nghề phù hợp và thu nhập cao cho lao động Hà Nội, đặc biệt là ở các xã, phường. Nhờ đó, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Nguồn kinh phí này do quỹ hỗ trợ việc làm địa phương thanh toán trên cơ sở hợp đồng đào tạo và danh sách lao động Hà Nội đã được xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Trong thời gian tới Thành phố phải tiến hành chấn chỉnh, sắp xếp, qui hoạch các doanh nghiệp làm công tác xuất khẩu lao động, tiến hành xây dựng và phát triển từ 3 đến 4 doanh nghiệp mạnh trong lĩnh vực này. Đặc biệt là cung cấp mặt bằng, để các doanh nghiệp tiến hành công tác đào tạo, định hướng cho đội ngũ lao động từ 3 đến 4 tháng trước khi xuất cảnh theo qui định. + Đối với người lao động Thành phố cũng phải có những chính sách khuyến khích hỗ trợ cho người lao động, trong đó chủ yếu là lao động ở các huyện ngoại thành Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm... về một số mặt như tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục họ được vay vốn đi xuất khẩu lao động với mức vay đáp ứng phần lớn số chi phí đối với từng thị trường và 153 đơn vị đứng ra bảo lãnh, tín chấp trực tiếp là UBND xã nơi người lao động cư trú. Đối với những người lao động nghèo của Thành phố có chủ trương là: Hỗ trợ kinh phí đào tạo, giáo dục định hướng với mức tương xứng để đảm bảo cho người lao động nghèo có thể đi xuất khẩu lao động hoặc hỗ trợ một phần kinh phí để họ làm hộ chiếu. Nguồn kinh phí này được cấp từ quỹ hỗ trợ việc làm địa phương của Thành phố và chuyển cho Sở Lao động Thương binh và Xã hội để quyết toán theo danh sách lao động nghèo thực tế tham gia xuất khẩu lao động của các quận, huyện cũng như danh sách của các doanh nghiệp. + Chính sách khuyến khích về tài chính đối với những xã, phường giới thiệu được nhiều lao động đi xuất khẩu theo nhiều phương án khác nhau, tuỳ thuộc vào số lượng người lao động mà các địa phương này đã đưa đi được. Ngoài ra, Thành phố còn có phương án thưởng về tài chính cho các xã, phường khi họ giới thiệu được một người lao động Hà Nội đi xuất khẩu lao động cho các doanh nghiệp tuyển dụng. Thông qua những chính sách khuyến khích, cho tất cả các đơn vị và cho cả bản thân người lao động thể hiện chủ trương của thành phố là tập trung tất cả các nguồn lực để đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động với mục tiêu: tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao 154 động ngoại thành. Chủ trương này, góp phần tạo ra sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện, ổn định và bền vững trên các lĩnh vực, từ kinh tế đến chính trị và xã hội của thủ đô trong những năm tới Ngoài ra, Thành phố cần phải chú trọng xuất khẩu lao động tại chỗ. Thông qua việc tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài các khu công nghiệp đã có: Thăng Long, Sài Đồng B, Nội Bài... và hình thành những KCN, khu chế xuất mới qua đó góp phần phát triển sản xuất, kinh doanh và thu hút nhiều lao động vào làm việc. Giai đoạn 2006- 2010, theo tính toán sẽ có khoảng 20.000 lao động làm việc tại khu vực này[ 13, tr.95]. Trong đó, thành phố cần chú trọng tới tạo việc làm cho lao động tại những nơi bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất. Đây cũng là một bước đi quan trọng, để đảm bảo giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động bị thất nghiệp do tác động của quá trình đô thị hoá. Muốn vậy cần: - Khuyến khích người lao động tự nâng cao trình độ tay nghề của mình trên cơ sở có sự đảm bảo sẽ được nhận vào làm việc thông qua thoả thuận giữa UBND xã, phường với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất. Nếu đảm bảo được điều này thì người lao động sẽ có động cơ để học tập. Qua đó góp phần tạo thêm nhiều việc làm cho lực lượng lao động, đặc biệt là người lao động ngoại thành. 155 - Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động phải đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tay nghề cho người lao động bằng cách tự tổ chức hoặc hợp đồng đào tạo kỹ năng nghề. Doanh nghiệp phải đảm bảo đóng góp kinh phí đối với quỹ hỗ trợ đào tạo nghề của nhà nước và thành phố. Ngược lại, doanh nghiệp được thu kinh phí của cở dạy nghề theo hợp đồng đưa học sinh vào thực tập. Kinh nghiệm của một số tỉnh và thực tiễn ở các địa phương ở khu vực ngoại thành Hà Nội đã làm đó là mỗi 1 ha đất thu hồi phục vụ cho dự án, chủ dự án phải đào tạo tại chỗ và tuyển dụng ít nhất 10 lao động địa phương. Với doanh nghiệp thuê 100m2 đất phải nhận một lao động địa phương. Thành phố cũng cần phải có những cơ chế để làm sao tạo dựng được mối quan hệ tương trợ, giúp đỡ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các vùng đất quy hoạch với địa phương nơi doanh nghiệp đặt cơ sở và người lao động để từng bước giải quyết vấn đề lao động và việc làm tại đây một cách hiệu qủa nhất. Trên cơ sở thực hiện chủ trương này và đảm bảo tính hiện thực của những cam kết trên, thì thành phố cần có những chế tài để xử lý những doanh nghiệp không thực hiện các cam kết trên một cách đúng đắn tránh tính trạng ký để đấy, ký để xong việc của mình. Vì giải quyết việc làm là trách 156 nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp, của toàn xã hội. Ngoài những nội dung đã được trình bày của giải pháp trên thì chúng tôi kiến nghị thêm: Thành phố cần có chiến lược để phân bổ, sử dụng và sắp xếp hoặc định hướng những doanh nghiệp nên sử dụng những lao động đã hoàn thành thời hạn xuất khẩu về nước vì họ là những lao động đã được đào tạo, có trình độ và đã được làm việc trong môi trường có tác phong công nghiệp, được sử dụng và vận hành những máy móc kỹ thuật hiện đại. Do đó. nếu không tận dụng lợi thế này thì là một sự lãng phí về nguồn lực lao động có chất lượng. 3.3.6. Tăng cường đào tạo nghề cho người lao động Để đảm bảo cho người lao động đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng cả trong và ngoài nước từ đó tạo thêm nhiều việc làm thì cần thiết phải nâng cao trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lực lượng lao động, đặc biệt là lao động ngoại thành. Điều này chỉ có thể có được khi chúng ta phải không ngừng tập trung phát triển hệ thống giáo dục đào tạo, trong đó nhấn mạnh đến việc phát triển hệ thống trường dạy nghề cho người lao động. Hà Nội có lợi thế là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước. Vì vậy, nơi đây tập trung dày đặc các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề có chất lượng, có thể 157 đáp ứng nhu cầu học tập cho hàng vạn sinh viên trong một năm, nơi cung cấp một số lượng lớn về lao động có trình độ cao cho đất nước. Hiện nay, với tổng số khoảng 49 trường Đại học và Cao đẳng trên địa bàn cùng với 22 trường CNKT và 42 trường trung học chuyên nghiệp chưa kể đến môt hệ thống các trung tâm dạy nghề trực thuộc Sở LĐ -TBXH cho phép chúng ta có điều kiện để đào tạo, xây dựng được một đội ngũ lao động thủ đô có trình độ. Bên cạnh việc tập trung phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo để đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô và cả nước cũng như là nòng cốt để xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, xây dựng xã hội học tập và tạo tiền đề phát triển kinh tế tri thức thì việc phát triển hệ thống các trường nghề của thủ đô cũng là một yêu cầu cấp thiết. Chủ trương của Thành phố là: Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề, đào tạo nghề dài hạn có địa chỉ, đào tạo theo nhu cầu thị trường, đào tạo phục vụ xuất khẩu lao động, nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo đến năm 2010 đạt 55- 65% [23, tr 88] Để thực hiện được những chỉ tiêu trên trong thời gian tới cần thiết phải có sự đầu tư của Nhà nước cũng như sự hỗ trợ của các doanh nghiệp: * Yêu cầu đối với phía nhà nước: 158 - Quy hoạch lại mạng lưới đào tạo nghề theo hướng xã hội hoá. Nhà nước sẽ chỉ tập trung đầu tư xây dựng những trường CNKT cao đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cho những ngành kinh tế mũi nhọn. Còn sẽ thu hút sự tham gia đông đảo của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nghề. Dự kiến đến năm 2010, có 240 cơ sở dạy nghề với 03 cấp độ đào tạo. - Đa dạng hoá các hình thức, nội dung và chương trình dạy nghề, tăng đào tạo nghề có địa chỉ và liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp để nâng cấp chất lượng đào tạo và giải quyết việc làm cho lao động sau khi học nghề. - Đầu tư cho xây dựng mới trung tâm dạy nghề tại các huyện nông thôn ngoại thành trong giai đoạn 2006- 2010. Do hiện nay hầu hết các trung tâm dạy nghề vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực nội thành còn ở khu vực ngoại thành vẫn chưa có nhiều các trung tâm dạy nghề - Đầu tư cho củng cố, nâng cấp và mở rộng các cơ sở dạy nghề hiện có theo mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động dạy nghề. - Đa dạng hoá nguồn vốn đào tạo nghề, đặc biệt trong đào tạo nghề cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Cấp thẻ học nghề cho người lao động trong diện này trên cơ sở mức hỗ trợ từ thu hồi đất nông nghiệp. * Về phía doanh nghiệp: 159 Hiện nay, khu vực ngoại thành có tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp, chính vì thế hoạt động dạy nghề, hướng nghiệp cho người lao động nhất là lao động ngoại thành được đánh giá là một giải pháp quan trọng. Thực tế là doanh nghiệp nào thu hút được lao động có trình độ thì người lao động đã tìm được việc làm cho mình theo đúng ngành đào tạo, khi đó họ sẽ có thu nhập tương xứng. Và điều này sẽ góp phần không nhỏ vào quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động ngoại thành theo hướng hiện đại. Trong thời gian tới đây, hoạt động dạy nghề phải tạo được sự gắn kết với doanh nghiệp, chúng tôi cho rằng đào tạo nghề chính là cung cấp một loại hàng hoá đặc biệt đó là sức lao động của con người. Hàng hoá đó có chất lượng tức là người lao động được đào tạo bài bản nhưng nếu mua về không sử dụng được hay không đáp ứng được yêu cầu về nghề nghiệp do đào tạo không “trúng” với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp thì sẽ gây ra sự lãng phí, càng làm tăng tỷ lệ thất nghiệp. Vì vậy, đòi hỏi các trung tâm dạy nghề phải nghiên cứu về nhu cầu của thị trường hoặc tăng cường liên kết đào tạo theo địa chỉ. * Về phía người lao động: - Người lao động phải nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của mình trong vấn đề việc làm của bản thân 160 mình, tự tìm kiếm việc làm, nuôi sống được bản thân và giảm gánh nặng đối với xã hội. - Bản thân người lao động phải tích cực, năng động tự tìm kiếm công việc phù hợp, không ngừng học hỏi, tự nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật cho mình. Nhờ đó nắm bắt lấy cơ hội việc làm ở trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế hoặc cũng có thể tự tạo việc làm cho mình thông qua những công việc trong khu vực phi chính thức. 3.3.7. Đa đạng nguồn vốn để huy động sức mạnh của tất cả mọi người dân thành phố đầu tư cho sự phát triển của khu vực ngoại thành, qua đó tạo thêm được nhiều việc làm cho người lao động tại đây Trong thời gian qua nguồn vốn đầu tư cho khu vực ngoại thành nói chung và cho vấn đề tạo việc làm cho người lao động ở này đây vẫn còn thiếu. Đây là một trong những lý do làm cho số lượng người lao động được tạo việc làm ở đây có tăng lên, nhưng vẫn chưa tương xứng với nhu cầu. Theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố, giai đoạn 2006- 2010, diện tích đất nông nghiệp giảm xuống, trung bình sẽ có 20.000 người bị mất việc/ năm buộc phải chuyển sang các ngành khác. Đây thực sự là trở ngại lớn đối với thành phố. Vì thế để phát huy sức mạnh, thu hút tập trung mọi nguồn lực trong và ngoài nước vào sự 161 phát triển của khu vực ngoại thành cũng như tạo thêm nhiều việc làm cho lao động ở đây, đòi hỏi thành phố phải có những chính sách ưu đãi, khuyến khích, tạo môi trường thông thoáng cho các nhà đầu tư yên tâm đầu tư vào đây. Để làm được điều đó, trước tiên Thành phố phải không ngừng đầu tư về mọi mặt để làm cho bộ mặt nông thôn ngoại thành có sự chuyển biến. Trong đó, tập trung vào phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở đây một cách hoàn chỉnh. Nâng cấp hệ thống trường, lớp các cấp, tăng nhanh lực lượng lao động qua đào tạo trình độ chuyên môn, đáp ứng cho yêu cầu của thị trường lao động nông thôn. Ngoài nguồn vốn đầu tư trên thì để huy động được một cách rộng rãi nguồn vốn từ nhân dân, thành phố có thể phát hành công trái xây dựng thủ đô. Qua đó, tập trung thêm được nguồn vốn lớn để đầu tư, tạo bước phát triển cho khu vực ngoại thành. Nhờ đó, tạo thêm được việc làm cho người lao động ở đây. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp về khuyến khích đầu tư nước ngoài cũng như trong nước. Qua đó, thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia xây dựng nhà máy, xí nghiệp hoặc đầu tư vào những công trình phục vụ du lịch, dịch vụ ở khu vực ngoại thành. Từ đó thu hút thêm lao động tại chỗ, tạo việc làm cho họ. 162 3.3.8. Hoàn thiện hệ thống chính sách sử dụng đất Theo tác giả, để cho khu vực ngoại thành có sự phát triển ổn định rất cần thiết phải có một quy hoạch thống nhất về số lượng diện tích sử dụng đất để sản xuất và đất thu hồi giữa các ban, ngành của thành phố. Có vậy, thì chúng ta mới có những tính toán một cách tương đối hoàn chỉnh về số lượng đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi thuỷ sản hay đất để phục vụ cho phát triển đô thị, hình thành các khu công nghiệp. Từ đó, để có kế hoạch sử dụng đúng mục đích. Vì đất đai là một yếu tố quan trọng của quá trình lao động, nó là tư liệu sản xuất quan trọng của sản xuất nông nghiệp và việc mở rộng hay thu hẹp diện tích đất đều làm ảnh hưởng đến số lượng việc làm. Do đó, để hoàn thiện hệ thống chính sách sử dụng đất cần phải: + Đẩy nhanh việc xây dựng một quy hoạch sử dụng đất thống nhất và lâu dài giữa các ngành có liên quan. Từ đó, có chính sách phân bổ đất một cách hợp lý cho phát triển kinh tế để tăng chất lượng việc làm hoặc số lượng việc làm. + Đẩy nhanh việc giao quyền sử dụng đất lâu dài cho người nông dân để họ yên tâm canh tác, tăng cường đầu tư chăm sóc cho đất để tăng độ màu mỡ và cũng là đảm bảo ổn định về việc làm. + Thực hiện chuyển đổi những diện tích đất bạc màu, đất xấu theo hướng làm tăng giá trị của đất, 163 tạo thêm việc làm bằng cách chuyển đổi sang các nông sản, lâm sản, hoặc thuỷ sản kết hợp với du lịch sạnh thái. + Phát triển kinh tế trạng trại như ở Đông Anh, Sóc Sơn, qua đó để vừa đảm bảo môi trường sinh thái và tạo thêm việc làm cho người lao động tại chỗ. + Thực hiện dồn điền, đổi thửa để phát triển nền sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn. Tăng cường áp dụng máy móc kỹ thuật vào những khâu nặng nhọc còn những khâu khác vẫn có thể sử dụng nhiều lao động nông nghiệp. Nhờ đó mà tạo thêm việc làm cho người lao động. Chương trình 05 của Thành uỷ đã nêu lên: Có giải pháp, chính sách thúc đẩy nhanh quá trình dồn điền, đổi thửa, tổ chức sản xuất tập trung trong nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, bảovệ môi trường sinh thái [43, tr.5] 3.3.9. Phát triển mạnh các trung tâm dịch vụ việc làm theo hướng nâng cao chất lượng để thu hút người lao động Sự ra đời và phát triển của các trung tâm dịch vụ việc làm (TTDVVL) là hết sức cần thiết. Người lao động có nhu cầu làm việc và người sử dụng lao động có nhu cầu tuyển dụng không thể gặp nhau nếu như thiếu các trung tâm này. Vì vậy TTDVVL có vai trò là cầu nối, là trung gian để cho cung lao động và cầu lao động gặp nhau, nhờ đó mà việc làm được 164 xuất hiện nhiều hơn và thường xuyên hơn khi doanh nghiệp tự đăng ký tuyển dụng. Với phương châm giải quyết việc làm là trách nhiệm của tất cả mọi người. Thấy được vị trí quan trọng của TTDVVL nên thành phố đã cung cấp những cơ sở pháp lý để tồn tại song song hai hệ thống cung cấp dịch vụ việc làm: trung tâm dịch vụ việc làm của Nhà nước bao gồm các đoàn thể, hội và của tư nhân. Nhờ vậy, các trung tâm này đã thu hút một lượng không nhỏ lao động đi học nghề, trang bị về trình độ chuyên môn kỹ thuật cho họ; đảm bảo hoạt động tư vấn hướng nghiệp và cung cấp thông tin cho người lao động và người sử dụng lao động về những yêu cầu của nhau như với bên cầu: yêu cầu về chất lượng, độ tuổi, số lượng và mức lương đối với bên cung, với bên cung về lao động: là điều kiện làm việc, mức lương, công việc, các chế độ khác... nếu khi họ thống nhất được thì có nghĩa là việc làm đã xuất hiện. Thành phố cần có những giải pháp cụ thể là: - Với các TTDVVL được thành lập theo Nghị định 72/CP mà đại diện quản lý là thành phố đang tiếp tục được cơ cấu lại về các mặt theo hướng tập trung vào chất lượng DVVL, tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất kỹ thuật để đáp ứng được tốt nhất mọi yêu cầu về tư vấn, dạy nghề và cung cấp lao động vào làm việc theo yêu cầu của các doanh nghiệp từ các thành phần kinh tế. - Đối với các TTDVVL của các thành phần kinh tế khác thì thành phố cần tiếp tục nâng cao chất 165 lượng công tác quản lý nhà nước về hoạt động, tập trung nâng cao chất lượng chứ không phải là số lượng và đưa ra những tiêu chuẩn để cấp phép hoạt động cho các trung tâm này như phải đảm bảo về địa điểm, trụ sở, diện tích và các trang thiết bị cùng với đội ngũ nhân viên. - Tăng cường hoạt động tổ chức các hội chợ việc làm trên cơ sở có sự kết hợp của các cơ quan có thẩm quyền của thành phố, của quận, huyện với cácdoanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động qua đó có thể tiếp nhận và thu hút được nhiều lao động vào làm việc, trong đó có quan tâm đến lao động ở khu vực ngoại thành Đối với các doanh nghiệp cần phải: - Coi các trung tâm này là một cầu nối quan trọng để cung cấp lao động yêu cầu của công việc cả về mặt chất lượng và số lượng. - Tạo mối liên kết chặt chẽ với các trung tâm, trong việc đào tạo theo yêu cầu của doanh nghiệp, đào tạo theo địa chỉ để từ đó tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. - Có chính sách tự đào tạo lao động làm việc cho mình, trên cơ sở thông qua sự tư vấn, hướng dẫn của các trung tâm dịch vụ việc làm. 3.3.10. Liên kết với các tỉnh khác để tạo việc làm cho người lao động nhằm giảm di dân vào Hà Nội Đây là một giải pháp cần thiết, vì Hà Nội là một trong những địa bàn có tốc độ đô thị hoá cao, 166 đi cùng với đó là tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của lao động cả nội thành và ngoại thành là hết sức gay gắt. Trong khi khả năng giải quyết việc làm của Thành phố còn hạn chế. Do đó, nếu lực lượng lao động ở các địa phương khác lại di chuyển vào Hà Nội để tìm việc làm thì vô hình chung, sẽ làm cho tình trạng thất nghiệp của lực lượng lao động của Thành phố không giảm đi mà còn có chiều hướng tăng lên.( ở đây chúng tôi chỉ muốn đề cập đến khía cạnh lực lượng lao động giản đơn vì lao động của khu vực ngoại thành Hà Nội chiếm phần lớn là lao động chưa qua đào tạo, do đó cần nhiều việc làm sử dụng lao động giản đơn). Vì thế, để hạn chế số lượng lao động giản đơn ở các tỉnh khác di chuyển vào Hà Nội, chúng ta không thể sử dụng biện pháp hành chính mà hiệu quả nhất chính là tạo sự liên kết với các tỉnh có nhiều lao động di cư để tạo việc làm tại chỗ cho họ. Bằng biện pháp: + Hỗ trợ các tỉnh lân cận phát triển kinh tế- xã hội tạo thêm việc làm cho người lao động ở tại địa phương . + Liên kết đào tạo nghề cho người lao động ở ngay tại địa phương đó, để họ có thể tìm được công việc ngay tại quê hương. + Tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa các cơ quan về lao động- việc làm của Hà Nội với các địa phương lân cận để có thể cung cấp thông tin lao động một cách kịp thời. Qua đó, Thành phố có thể truyền tải 167 những thông tin trên, cho các lao động di cư để họ di chuyển đến những địa phương đang có nhu cầu tuyển dụng để tìm kiếm việc làm phù hợp. 168 Kết luận Việc làm cho người lao động là một vấn đề quan trọng vì nó đem lại sự phát triển ổn định và bền vững của một đất nước. Với những quốc gia trong giai đoạn đầu của công cuộc CNH,HĐH thì vấn đề này càng cấp bách. Với đặc thù của một quốc gia có trên 80% dân số sống ở khu vực nông thôn, ngoại thành như Việt Nam thì nhiệm vụ này lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Khi người lao động ở khu vực ngoại thành bị mất việc làm do tác động của quá trình đô thị hoá thì Nhà nước, các tổ chức kinh tế và bản thân người lao động sẽ phải làm gì để tạo việc làm cho họ, đào tạo nghề gì để họ có thể chuyển sang những ngành nghề mới và sẽ tạo việc làm như thế nào? Đây là những câu hỏi cần phải được quan tâm và giải đáp một cách hợp lý, để vừa đảm bảo phát triển kinh tế vừa đảm bảo ổn định xã hội. Hà Nội là thủ đô của cả nước, nơi quá trình đô thị hóa đang diễn ra với tốc độ cao. Những tích cực mà nó đem lại là rất lớn nhưng những tác động tiêu cực cũng không ít, trong đó mất việc làm của người lao động ở khu vực ngoại thành khi bị thu hồi đất hoặc do chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa là mặt tiêu cực nổi bật. Đây 169 là một nhiệm vụ rất quan trọng của Thành phố vì chỉ khi nào khu vực ngoại thành có sự phát triển ổn định, bền vững thì khi đó thành phố mới thực sự đảm bảo sự phát triển toàn diện và bền vững. Trên cơ sở những phân tích về thực trạng tạo việc làm cho người lao động ở khu vực ngoại thành đã chỉ ra rằng: khu vực này hiện nay bên cạnh tỷ lệ thất nghiệp cao thì tình trạng thiếu việc làm cũng đang ngày càng gia tăng mặc dù đã có nhiều chương trình, giải pháp được đưa ra để giải quyết. Luận văn cũng cố gắng luận giải những điều kiện thuận lợi và những khó khăn mà Hà Nội sẽ gặp phải khi tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp cũng như tăng thời gian sử dụng lao động của lực lượng lao động ở đây. Trên cơ sở đó tác giả mạnh dạn đưa ra một số giải pháp mà theo tác giả là có tính khả thi cao trong thực tiễn, góp phần vào sự phát triển chung của thành phố trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực lao động - việc làm. Danh mục tài liệu tham khảo 1. Bùi Xuân An (2005), Giải quyết việc làm ở Thái Bình: thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 2. Ban Chỉ đạo điều tra lao động - việc làm Trung ương (2005), Báo cáo kết quả điều tra Lao động - Việc làm 1/7/2005, Hà Nội. 3. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2002), Số liệu Thống kê Lao động - Việc làm ở Việt Nam 2001, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội. 4. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2003), Số liệu Thống kê Lao động - Việc làm ở Việt Nam 2002, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội. 5. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2004), Số liệu Thống kê Lao động - Việc làm ở Việt Nam 2003, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội. 6. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2004), Niên giám thống kê Lao động thương binh và xã hội, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội. 7. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2004), Đánh giá việc thực hiện chiến lược việc làm giai đoạn 2001- 2005 và xây dựng chiến lược việc làm trong thời kỳ Đại hội X (2006 - 2010), Đề tài khoa học cấp Bộ. 8. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2005), Số liệu Thống kê Lao động - Việc làm ở Việt Nam 2004, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội. 9. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2006), Số liệu Thống kê Lao động - Việc làm ở Việt Nam 2005, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội. 10. Bộ Luật lao động - Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Trần Đình Chín (2003), "Giải quyết việc làm cho người lao động ở các tỉnh duyên hải trung bộ và một số vấn đề đặt ra", Tạp chí Khoa học chính trị, (4), tr.26-31. 12. Nguyễn Sinh Cúc (2003), "Giải quyết việc làm ở nông thôn và những vấn đề đặt ra", Tạp chí Con số và Sự kiện, (8). 13. Cục Thống kê Hà Nội (2005), Niên giám thống kê 2005. 14. Nguyễn Hữu Dũng - Trần Hữu Trung (1997), Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam, Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Nguyễn Hữu Dũng (2004), "Giải quyết vấn đề lao động - việc làm trong quá trình đô thị hoá nông nghiệp nông thôn", Tạp chí Lao động - xã hội, (246, 247), tr 32-35. 16. Nguyễn Hữu Dũng (2005), "Thị trường lao động: Thực trạng và giải pháp", Tạp chí Lý luận chính trị, (8), tr 79- 83, 90. 17. Phạm Bảo Dương (2004), "Xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp trong nông nghiệp, nông thôn", Tạp chí Kinh tế và dự báo, (96), tr.12- 14. 18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 22. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng bộ Thành phố Hà Nội (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XIII Đảng bộ thành phố Hà Nội. 23. Đảng Cộng sản Việt Nam -Đảng bộ Thành phố Hà Nội (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XIV Đảng bộ thành phố Hà Nội. 24. Mỹ Hạnh (2003), "Bài toán việc làm cho nông dân trước cơn lốc đô thị hoá", Tạp chí Lao động - xã hội (224 + 225), tr 33-34. 25. Phạm Thị Thu Hằng (2002), Tạo việc làm tốt bằng các chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 26. Hoàng Văn Hoa (2006), "Tác động của đô thị hoá đối với lao động, việc làm của người có đất bị thu hồi ở nước ta hiện nay", Tạp chí Kinh tế và phát triển (106), tr 3- 5. 27. Nguyễn Thanh Hoà (2006), "Xuất khẩu lao động 5 năm qua và định hướng giai đoạn 2006 - 2010", Tạp chí Lao động - xã hội, (278), tr 9-10. 28. Phạm Văn Hồng (2004), "Nhận định về việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ từ một số kết quả điều tra ban đầu của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (90), tr 43- 45. 29. Lê Mạnh Hùng (2005), "Kinh nghiệm phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn ở một số nước Châu á và bài học đối với Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (91), tr 43 - 45. 30. Nguyễn Mạnh Hùng (2005), “Công tác Lao động – Thương binh và Xã hội góp phần thúc đẩy sự phát triển của TP Đà Nẵng”, Tạp chí Lao động – xã hội (259), tr 13, 14. 31. Nguyễn Hoàng Long (2003), "Giải quyết việc làm trong thời kỳ đẩy mạnh tốc độ đô thị hoá ở Đà Nẵng", Tạp chí Lao động - xã hội, (218), tr 16-17. 32. Đinh Mẫn (1999), Tạo việc làm cho người lao động ở Thừa Thiên Huế từ nay đến 2010, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. 33. Hồng Minh (2005), "Hà Nội giải quyết việc làm cho lao động khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất", Tạp chí Lao động - xã hội, (270), tr.22- 23, 39. 34. Lê Du Phong, Nguyễn Văn áng, Hoàng Văn Hoa (2002), ảnh hưởng của đô thị hoá đến nông thôn ngoại thành Hà Nội. Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 35. Trương Văn Phúc (2004), "Thực trạng Lao động - việc làm qua kết quả điều tra 1/7/2004, Tạp chí Lao động - Xã hội, (251), tr 36- 40. 36. Phạm Thị Thu Phương (2004), "Vấn đề việc làm - thất nghiệp ở khu vực thành thị thực trạng và giải pháp", Tạp chí Kinh tế và dự báo, tr 6-7. 37. Đỗ Thị Xuân Phương (2000), Phát triển thị trường sức lao động, giải quyết việc làm (Qua thực tế Hà Nội), Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 38. Nguyễn Thế Quang (2006), "Hà Nội với các biện pháp trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ", Tạp chí Lao động - xã hội, (283), tr 23-25. 39. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Nội, Phòng Lao động – Việc làm (2006): Báo cáo tổng hợp kết quả giải quyết việc làm của Thành phố Hà Nội 2001- 2005. 40. Phạm Đức Thành (2002), "Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (64). 41. Thành uỷ Hà Nội (2001), Chương trình 09 về giải quyết một số vấn đề xã hội bức xúc giai đoạn 2001 - 2005. 42. Thành uỷ Hà Nội (2001), Chương trình 12 về phát triển kinh tế ngoại thành và từng bước hiện đại hoá nông thôn (2001- 2005). 43. Thành uỷ Hà Nội (2006), Chương trình 05 về phát triển kinh tế ngoại thành và từng bước hiện đại hoá nông thôn (2006- 2010). 44. Vũ Đình Thắng (2002), "Vấn đề việc làm cho lao động ở nông thôn", Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (3). 45. Phạm Quý Thọ (2003), Thị trường lao động ở Việt Nam - Thực trạng và các giải pháp phát triển, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội. 46. Trần Thị Thu (2002), Tạo việc làm cho lao động nữ Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. 47. Bùi Thanh Thuỷ (2005), Việc làm và chính sách tạo việc làm ở Hải Dương hiện nay, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 48. Nguyễn Tiệp (2004), "Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn: Các giải pháp tạo thêm việc làm", Tạp chí Lao động và Công đoàn, (309), tr 6-7. 49. Nguyễn Tiệp (2005), "Tạo việc làm ở nước ta - Từ chính sách đến thực tiễn", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (94). 50. Nguyễn Tiệp (2005), Nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn Hà Nội, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội. 51. Nguyễn Tiệp (2006), "Một số giải pháp tạo việc làm gắn với giải quyết các vấn đề xã hội tại Hà Nội", Tạp chí Lao động - xã hội, (289), tr 39-41. 52. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2005), Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, Hà Nội. 53. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (1999), Giáo trình Luật Lao động, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. 54. Bùi Anh Tuấn (1999), Tạo việc làm cho người lao động qua vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. 55. Đỗ Thế Tùng (2002), "ảnh hưởng của nền kinh tế tri thức với vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam", Tạp chí Lao động và Công đoàn, (261). 56. Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội (2002), Đề án giải quyết việc làm Thành phố Hà Nội giai đoạn 2003- 2005. 57. Nguyễn Thị Hải Vân (2006), "Những giải pháp đột phá trong chương trình việc làm giai đoạn 2006 - 2010", Tạp chí Lao động - xã hội, (282), tr 13- 14, 17. 58. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2003), Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam, Nxb Khoa học - Kỹ thuật, Hà Nội. Phụ lục Phụ lục1 Vai trò và tác động tích cực của phát triển đô thị Phát triển Đô thị Phát triển và phân bố các ngành công nghiệp mới Tăng việc làm và dân số trong vùng Tạo ra các ngoại ứng tới các hoạt động kinh tế Cung cấp kết cấu hạ tầng tốt hơn cho sản xuất và đời sống Nâng cao trình độ của lao động công nghiệp Phát triển các ngành sản xuất đáp ứng nhu cầu đầu vào của công nghiệp Thu hút thêm vốn đầu tư và sự phân bổ các doanh nghiệp mới Tăng nguồn thu cho ngân sách Mở rộng quy mô và phát triển các ngành dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống Nâng cao phúc lợi xã hội cho các vùng Phụ lục 2 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của cả nước và các đô thị lớn năm 2004 Chỉ tiêu Cả nước Hà Nội TP HCM Hải Phòng Đà Nẵng Phần còn lại Dân số (1.000 người) 82069,8 3082,8 6063,0 1772,5 763,3 70388,2 Tỷ trọng dân số (%) 100,0 3,75 7,38 2,15 0,93 85,79 GDP (Tỷ đồng) 362092 30526,7 79121 12521,5 9564,4 230358,4 Tỷ trọng GDP (%) 100,0 8,43 21,85 3,45 2,64 63,63 Tốc độ tăng GDP (%) 7,69 11,12 11,6 11,39 13,26 …… GDP bình quân(Tr. Đ) 8,69 18,2 21,7 10,01 12,5 ……. Hệ số GDP bình quân so với cả nước (lần) 1,0 2,09 2,49 1,15 1,43 ……. GTSX công nghiệp (Tỷ đồng) 354030 35365,8 102063 18269,9 7059,5 191271,8 Tỷ trọngGTSXCN (%) 100,0 9,9 28,8 5,1 1,9 54,3 Giá trị xuất khẩu (Tr. 26003 2164,2 9816,0 700,5 310,4 13011,9 USD) Tỷ trọng GTXK (%) 100,0 8,3 37,7 2,7 1,2 50,1 Giải quyết việc làm (người) …… 78000 221600 39100 24400 ……. Nguồn: Tính từ số liệu của Niên giám thống kê Hà Nội 2004, Cục Thống kê Hà Nội. Phục lục 3 Trình độ chuyên môn kỹ thuật lực lượng lao động của thành phố [5, tr.126, 144]; [9, tr.160] Đơn vị tính: % 2003 2005 Tổng số Nữ Tổng số Nữ Toàn thành phố 100,00 ----- 100,00 100.00 Chưa qua đào tạo 49,53 ---- 38,58 43.09 CNKT không có bằng 3,98 --- 17,04 16,39 CNKT có bằng\chứng chỉ 7,91 --- 9,77 5,20 Sơ cấp 7,61 -- 1,23 1,34 Trung học chuyên nghiệp 9,05 -- 9,37 10,38 Cao đẳng, đại học 21,93 -- 24,01 23,61 Thành thị Chưa qua đào tạo 31,77 -- 25,22 26,86 CNKT không có bằng 4,85 -- 15,69 16,09 CNKT có bằng\chứng chỉ 10,14 -- 12,00 7,26 Sơ cấp 6,54 -- 1,45 1,50 Trung học chuyên nghiệp 12,16 -- 10,25 12,19 Cao đẳng, đại học 34,54 -- 35,39 35,38 Ngoại thành Chưa qua đào tạo 72,77 -- 59,69 66,82 CNKT không có bằng 2,84 -- 19,18 16,82 CNKT có bằng\chứng chỉ 4,99 -- 6,23 2,18 Sơ cấp 9,00 -- 0,88 1,09 Trung học chuyên nghiệp 4,99 -- 7,98 6,07 Cao đẳng, đại học 5,41 -- 6,04 6,39

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLuận văn- VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NGOẠI THÀNH HÀ NỘI TRONG QUÁ TRèNH ĐÔ THỊ HOÁ.pdf
Luận văn liên quan