Luận văn Xã hội hoá hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ tại Văn phòng đăng ký đất đai, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Dương

XHH dịch vụ công ở nước ta đã mang lại nhiều thay đổi trong quá trình cung ứng dịch vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi tiếp cận dịch vụ và giảm gánh nặng chi của ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, quá trình XHH mặc dù đã được triển khai gần 20 năm nhưng vẫn diễn ra rất chậm, phần lớn các DVC ở nước ta vẫn chủ yếu do các cơ quan nhà nước cung ứng. Mức độ XHH diễn ra không đồng đều ở các ngành, lĩnh vực và giữa các vùng khác nhau. Các cá nhân và tổ chức ngoài Nhà nước chỉ chú trọng đầu tư vào các khu vực thuận lợi như các thành phố lớn, nơi đông dân cư và có thu nhập cao, ít quan tâm tới các khu vực chậm phát triển. Mức độ XHH các dịch vụ công cũng chỉ tập trung vào các ngành nghề có thể thu hồi vốn nhanh và dễ tạo ra lợi nhuận kinh tế. Phần lớn các hoạt động đo đạc và bản đồ hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Dương đều do Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh đảm nhận, đặc biệt là đo đạc phục vụ cấp giấy chứng nhận QSDĐ chiếm đến 99%. Văn phòng ĐKĐĐ vừa là cơ quan đo đất, vừa là cơ quan cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Đây là tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Do đó, XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ hiện nay tại Văn phòng ĐKĐĐ là một nhu cầu mang tính cấp thiết. Tỉnh Bình Dương có tốc độ phát triển KT-XH cao. Do đó, tỉnh hoàn toàn có điều kiện để đẩy mạnh XHH các loại dịch vụ, trong đó có hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ. Điều cấp thiết hiện nay là tỉnh cần có phương hướng đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh đặc dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và sự quản lý của UBND tỉnh. Xây dựng các giải pháp thực hiện XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ cần nhấn mạnh vào các nội dung: hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ; xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp và cá nhân có thể tham gia cung ứng dịch vụ; kiện toàn Văn phòng ĐKĐĐ một cấp; củng cố, nâng cao CSDL về đất đai mà cốt lõi là CSDL về đo đạc và bản đồ; tăng cường hình thức PPP trong đo đạc và bản đồ trước hết nhằm huy84 động các nguồn vốn của tư nhân tham gia vào cùng với Nhà nước trong hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ đáp ứng các yêu cầu của xã hội, giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách của tỉnh; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và quản lý chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ bảo đảm công bằng và an sinh xã hội, trợ giúp những đối tượng yếu thế. Qua thời gian học tập, nghiên cứu, thu thập số liệu, tài liệu, phân tích, đánh giá, học viên đã nỗ lực thực hiện đề tài “Xã hội hóa hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ tại Văn phòng Đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương” với mong muốn hoàn thành luận văn ở mức tốt nhất. Tuy nhiên, do bản thân còn có những hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Học viên rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô, đồng nghiệp và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.

pdf115 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Ngày: 20/08/2021 | Lượt xem: 172 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Xã hội hoá hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ tại Văn phòng đăng ký đất đai, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Dương, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
rình độ kinh tế và khả năng thực tế. Với tốc độ XHH ngày càng phát triển, vai trò của Văn phòng ĐKĐĐ trong việc cung ứng DVC thực hiện các hồ sơ dịch vụ kỹ thuật về đo đạc và bản đồ đòi hỏi phải xử lý hồ sơ nhanh, tính chính xác cao. Bên cạnh đó, hồ sơ dịch vụ về đo đạc và bản đồ mức độ khó cao hơn, các sự vụ, sự việc ngày càng phức tạp đòi hỏi cán bộ đo đạc phải đầu tư nhiều thời gian và công sức hơn, tăng cường sự phối hợp của các Sở, Ngành. 68 Cơ chế tài chính của Văn phòng ĐKĐĐ một cấp được thực theo quy định của Pháp luật về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Do đó, cần ban hành cơ chế tài chính phù hợp. 3.2.2. Giải pháp cụ thể 3.2.2.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xã hội hóa hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ Một số hoạt động đo đạc và bản đồ lại được điều chỉnh trong một số Luật khác như: Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Biển, Luật Biên giới Quốc gia, Luật Tổ chức chính quyền địa phương... Điểu này dẫn đến nhiều khó khăn trong việc thực thi pháp luật và không thực hiện được thống nhất quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ. Nghị định số 45/2015/NĐ-CP về hoạt động đo đạc và bản đồ trên thực tế cũng chỉ có ý nghĩa tạm thời thay thế cho Nghị định 12/2002/NĐ-CP đã quá lạc hậu. Vì vậy, đề xuất cần sớm nâng tầm quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ thành văn bản pháp luật cao nhất, sự cần thiết của Luật đo đạc và bản đồ là một đòi hỏi cấp thiết hiện nay ở nước ta, điều này cũng phù hợp theo kết quả điều tra có đến 61,68% khách hàng cho biết hiện nay ở nước ta “đã có” Luật Đo đạc và Bản đồ, điều này cho thấy mức độ tuyên truyền pháp luật về đo đạc và bản đồ chưa cao vì hiện nay Quốc hội chưa ban hành Luật đo đạc và Bản đồ; bên cạnh đó có đến 38,32% khách hàng cho rằng cần ban hành Luật Đo đạc và Bản đồ (xem phụ lục 2). UBND tỉnh cần sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về XHH đo đạc và bản đồ: Một là, các văn bản này của UBND tỉnh phải hạn chế được triệt để tình trạng đo đạc chồng chéo, lãng phí. UBND tỉnh cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa Sở TN&MT với các Sở, ngành và địa phương trong xây dựng, quản lý quy hoạch, kế hoạch, dự án liên quan tới đo đạc và bản đồ. Vì hiện nay, trên cùng một khu vực có thể có nhiều đơn vị tiến hành đo đạc nhiều lần; sản phẩm cuối cùng không được giao nộp để quản lý thống nhất. Kiến nghị cần thực hiện được mục tiêu chia sẻ, dùng chung thông tin, dữ liệu về một đầu mối duy nhất. 69 Hai là, cần xây dựng chính sách quản lý thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ, nhằm đáp ứng được yêu cầu sử dụng, chia sẻ thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Các sản phẩm, thông tin, dữ liệu đo đạc và bản đồ hiện nay được lưu giữ và quản lý phân tán ở nhiều cơ quan, kiến nghị nên quy về một đầu mối là Văn phòng ĐKĐĐ trực thuộc Sở TN&MT sẽ thuận lợi hơn trong công tác quản lý. Qua đó, Sở TN&MT cần xây dựng phương thức cung cấp sản phẩm, thủ tục cung cấp về CSDL đo đạc và bản đồ. Đảm bảo việc khai thác, tiếp cận của người dân, của tổ chức, cũng như việc chia sẻ dùng chung giữa các cơ quan trên địa bàn tỉnh. Ba là, UBND tỉnh cần có chính sách quản lý và bảo vệ công trình xây dựng đo đạc, tránh lãng phí tài sản quốc gia. Quản lý và bảo vệ các công trình xây dựng đo đạc thực chất là quản lý và bảo vệ các dấu mốc đo đạc trên thực địa. Các dấu mốc đo đạc là tài sản quốc gia, gắn liền với hệ thống tọa độ, độ cao, trọng lực quốc gia. Tình trạng dấu mốc đo đạc bị mất, bị hư hỏng còn xảy ra nhiều (Sở TN&MT cho biết hiện trên địa bàn tỉnh chỉ còn khoảng 30% mốc địa chính cơ sở, số lượng còn giảm dần do tốc độ đô thị hóa của tỉnh). Cần xây dựng chính sách đền bù phù hợp, xử phạt đủ mạnh khi vi phạm làm hư hại các mốc đo đạc. Bốn là, Kiến nghị cần xây dựng chính sách quản lý nguồn lực và năng lực chuyên môn chưa phù hợp với nhu cầu phát triển và hội nhập quốc tế. Chính sách quản lý năng lực chuyên môn của cá nhân đáp ứng nhu cầu XHH và hội nhập quốc tế. Việc cấp phép hoạt động đo đạc và bản đồ theo qui định tại hai Nghị định nêu trên (Nghị định 12/2002/NĐ-CP và 45/2015/NĐ-CP) cho tổ chức thời gian qua mới chỉ giúp cho cơ quan quản lý nhà nước có thông tin về quy mô của các đơn vị hoạt động đo đạc và bản đồ mà chưa nắm được cụ thể về năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên làm công tác đo đạc và bản đồ. Quy định này cần thiết để thúc đẩy việc XHH hoạt động đo đạc và bản đồ, tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm, thực hiện cam kết mà Việt Nam đã ký trong thỏa thuận khung ASEAN thừa nhận lẫn nhau về trình độ đo đạc và bản đồ là điều kiện cần thiết để lĩnh vực đo đạc và bản đồ Việt Nam hội nhập khu vực và quốc tế, đặc biệt là yêu cầu về việc xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia, trong đó CSDL đo đạc và bản đồ là cốt lõi[20]. 70 3.2.2.2. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút vốn đầu tư để xã hội hoạt động cung ứng dịch vụ công về vụ đo đạc và bản đồ Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách, chiến lược để phát triển lĩnh vực đo đạc và bản đồ của tỉnh; rà soát lại các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của tỉnh ban hành về các vấn đề liên quan hay hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên còn thiếu, để xem xét và ban hành cho đầy đủ, tạo hành lang pháp lý thông suốt cho công tác quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ. Các văn bản cần phải xây dựng như: chiến lược phát triển dài hạn, quy hoạch phát triển lĩnh vực đo đạc và bản đồ, quy định về cung cấp thông tin, tư liệu bản đồ, quy định về bảo mật đối với các sản phẩm đo đạc và bản đồ của tỉnh. Làm rõ trách nhiệm thực hiện các loại sản phẩm về đo đạc và bản đồ và sự phối, kết hợp giữa các tổ chức có liên quan để thực thi nhiệm vụ đó; bảo đảm không chồng chéo về đầu tư; khuyến khích sử dụng thông tin đo đạc và bản đồ vào quản lý, quy hoạch phát triển và trợ giúp quyết định; tạo điều kiện để XHH đo đạc và bản đồ. XHH đo đạc và bản đồ nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước thực hiện thông qua cơ chế đấu thầu, thực hiện công trình, sản phẩm. Tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng với tất cả các thành phần kinh tế, làm tăng chất lượng sản phẩm trong khi giá thành hạ, tiết kiệm cho ngân sách nhà nước khi đầu tư thực hiện công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ. Hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật về XHH về đo đạc và bản đồ, xác định rõ ràng cơ chế hoạt động, vị trí pháp lý của các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài Nhà nước. Để thống nhất về định hướng và xác lập niềm tin của các nhà đầu tư khu vực tư nhân, trong tương lai nên xây dựng một Luật chuyên về XHH[2]. Ngày 01/11/2016, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 44/2016/QĐ-UBND trong đó quy định cụ thể về phạm vi, đối tượng điều chỉnh, điều kiện được hưởng chính sách khuyến khích phát triển XHH; thủ tục và chính sách về miễn, giảm tiền thuê đất; quy định chuyển tiếp, điều khoản thi hành; cũng như quy định chi tiết về trách nhiệm của các Sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố và trách nhiệm của cơ sở thực hiện XHH. Đây là một căn cứ pháp lý quan trọng của tỉnh để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh về Bình Dương để thực các hoạt động XHH. Để 71 làm được điều này, kiến nghị từng Sở, Ngành phải xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện chủ trương XHH của UBND tỉnh. So với chế độ miễn, giảm tiền thuê đất theo Quyết định số 46/2010/QĐ- UBND, thì chế độ theo Quyết định số 44/2016/QĐ-UBND có mức ưu đãi cao hơn. Cụ thể tại khoản 1 Điều 4 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 44/2016/QĐ-UBND quy định: “Cơ sở thực hiện XHH được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm hoặc thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và được xem xét miễn, giảm tiền thuê đất” tùy theo khu vực như sau: - Đối với các xã, thị trấn: miễn tiền thuê đất cho toàn bộ thời gian thuê đất. - Đối với địa bàn các phường: số năm miễn tiền thuê đất được tính bằng 50% thời gian thuê đất. Tuy nhiên, nếu ranh giới khu đất của doanh nghiệp thực hiện XHH nằm trên hai địa phận hành chính có mức ưu đãi thuế khác nhau (ví dụ: một phần nằm trên địa phận xã được miễn thuế, phần còn lại nằm trên địa phận phường phải đóng thuế 50%) thì Quyết định 44/2016/QĐ-UBND chưa quy định cụ thể. Vì vậy, kiến nghị Sở TN&MT tham mưu UBND tỉnh quy định cụ thể áp dụng trong trường hợp này. Để được hưởng chính sách này của tỉnh Bình Dương, cơ sở thực hiện XHH phải thực hiện đúng cam kết về việc đáp ứng quy định về tiêu chí, quy mô, tiêu chuẩn XHH theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Trường hợp sau khi dự án hoàn thành đi vào hoạt động nhưng không đáp ứng quy định về tiêu chí, quy mô tiêu chuẩn XHH theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ như đã cam kết thì cơ sở XHH phải nộp lại số tiền thuê đất đã được miễn, giảm theo chính sách và giá đất tại thời điểm được hưởng ưu đãi và tiền chậm nộp tính trên số tiền thuê đất được miễn, giảm theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Tóm lại, định hướng các chính sách cải cách của tỉnh đối với khu vực sự nghiệp công chủ yếu là giao quyền tự chủ nhiều hơn cho các đơn vị sự nghiệp; khuyến khích các đơn vị sự nghiệp chuyển sang loại hình doanh nghiệp; phân bổ ngân sách theo định hướng đầu ra và giảm dần bao cấp của Nhà nước đối với giá dịch vụ mà Văn phòng ĐKĐĐ thực hiện hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ[31]. 72 3.2.2.3. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức Văn phòng Đăng ký đất đai một cấp Văn phòng ĐKĐĐ một cấp trực thuộc Sở TN&MT được thành lập trên cơ sở hợp nhất Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh và 09 Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2015. Một là, kiện toàn chức năng, nhiệm vụ. Kiện toàn chức năng, nhiệm vụ theo quy định tại Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04/4/2015 của Bộ TN&MT – Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng ĐKĐĐ. Văn phòng ĐKĐĐ có chức năng tham mưu, giúp Sở TN&MT thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau: - ĐKĐĐ và tài sản khác gắn liền với đất. - Xây dựng, quản lý, cập nhật, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính và CSDL đất đai. - Thống kê, kiểm kê đất đai. - Cung cấp thông tin đất đai cho tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật. - Thực hiện các dịch vụ chuyên môn kỹ thuật về đất đai và đo đạc bản đồ. Hai là, kiện toàn tổ chức, bộ máy. Tổ chức bộ máy Văn phòng ĐKĐĐ được kiện toàn, sắp xếp theo nhóm chuyên môn và theo từng vị trí công việc chuyên sâu, gồm có 05 Phòng và 09 Chi nhánh trực thuộc (xem phụ lục 3, hình 2.3), các Chi nhánh thành lập các Tổ trực thuộc: Tổ Hành chính, Tổ Đăng ký cấp giấy chứng nhận, Tổ Kỹ thuật đo đạc bản đồ và Tổ Lưu trữ. Trong công tác về đo đạc và bản đồ thì yếu tố nguồn gốc lịch sử thửa đất đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành hồ sơ pháp lý thửa đất, điều này có nghĩa là Văn phòng ĐKĐĐ cần chú trọng vào công tác lưu trữ hồ sơ địa chính. Tuy nhiên, tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh hiện nay chỉ thành lập “Tổ thông tin - lưu trữ” trực thuộc Phòng Kỹ thuật Đo đạc và Bản đồ, chưa đáp ứng được nhu cầu sao lục hồ sơ tài liệu của nội bộ ngành cũng như của yêu cầu của tổ chức, cá nhân bên ngoài. Kiến nghị Văn phòng ĐKĐĐ cần nâng cấp “Tổ thông tin - lưu trữ” lên thành “Phòng thông tin - lưu trữ” mới đủ khả năng đáp ứng nhu cầu tra 73 cứu, sao lục hồ sơ như hiện nay, điều này cũng phù hợp với quy định tại điểm d khoản 2 điều 3 Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC. Tổng số CCVCNLĐ thời điểm hợp nhất là 536 người (năm 2014), trong đó có 36 biên chế sự nghiệp và 500 lao động hợp đồng. Đến năm 2015, có 580 người, trong đó 36 biên chế sự nghiệp và 544 lao động hợp đồng, tăng 44 người so với thời điểm hợp nhất. Tỷ lệ có trình độ Đại học, Cao đẳng chiếm trên 85%; số CCVCNLĐ đang theo học chương trình sau Đại học chiếm khoảng 5%. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra có 55,14% khách hàng cho biết rằng không hài lòng về trình độ chuyên môn của cán bộ đo đạc và bản đồ (xem phụ lục 2). Vì vậy, kiến nghị thay đổi chương trình đào tạo chuyên ngành đo đạc và bản đồ tại các trường Đại học theo hướng bám sát yêu cầu của thực tế, đồng thời cơ quan TN&MT nói chung và Văn phòng ĐKĐĐ nói riêng cần phối hợp chặt chẽ với các trường Đại học phía Nam trong công tác đào tạo nguồn nhân lực đo đạc và bản đồ. Ba là, cung cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc. Trụ sở chính của Văn phòng ĐKĐĐ được bố trí tại số 99, đường 30/4, phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một; ngoài ra, còn được bố trí thêm địa điểm làm việc tại tầng 5, tháp B, Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương. Hai điểm này cách nhau hơn 10km gây khó khăn trong quá trình điều hành, quản lý của Văn phòng ĐKĐĐ, kiến nghị di dời toàn bộ Văn phòng ĐKĐĐ vào trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương. Trụ sở làm việc của Các Chi nhánh Thủ Dầu Một, Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Bắc Tân Uyên được bố trí trong khuôn viên Trung tâm hành chính các huyện, thị xã, thành phố; Chi nhánh Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo tiếp tục quản lý và sử dụng trụ sở làm việc đã được bố trí xây dựng; Chi nhánh Bàu Bàng tạm thời thuê ngoài để làm việc. Kiến nghị bố trí Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ vào Trung tâm Hành chính huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh sẽ thuận lợi cho người dân cũng như công tác điều hành, quản lý của Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ. Tăng cường trang thiết bị làm việc hiện đại phục vụ công tác kiểm tra, thẩm định chất lượng sản phẩm, hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ. Ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào hoạt động đo đạc và bản đồ của Văn phòng ĐKĐĐ, kỹ thuật đo đạc bằng công nghệ RTK là một ví dụ (xem phụ lục 3, hình 74 3.1). Kỹ thuật đo đạc này có ưu điểm là đo đạc kể cả ngày và đêm, với mọi điều kiện thời tiết, thời gian đo xa 10km trong vòng vài giây, trong khi đó kỹ thuật đo đạc truyền thống không thể làm được điều này. Phù hợp với các quy định của pháp luật về đo đạc và bản đồ khi mà chỉ kiểm tra kiểm tra, thẩm định chất lượng sản phẩm, hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ mang tính xác suất. Bốn là, ban hành cơ chế tài chính phù hợp. Cơ chế tài chính của Văn phòng ĐKĐĐ một cấp được thực theo quy định của Pháp luật về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Tạo sự chủ động trong việc triển khai thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, đảm bảo trang trải được chi phí hoạt động và đời sống cho CCVCNLĐ. Hệ thống kế toán được thực hiện đồng bộ từ tỉnh đến các huyện, thị xã, thành phố trên phần mềm kế toán MISA, thuận tiện việc theo dõi, phát hiện sai sót để chấn chỉnh kịp thời. Năm là, tăng cường sự phối hợp của các Sở, Ngành - Đối với Sở TN&MT Tham mưu UBND tỉnh theo hướng giao lại cho UBND các huyện, thị xã, thành phố quyết định thành lập Hội đồng tư vấn giải quyết các trường hợp cá biệt có nhu cầu tách thửa đối với đất ở (thay vì giao cho Sở TN&MT như hiện nay). Văn phòng ĐKĐĐ chuyển chức năng thực hiện DVC về đo đạc và bản đồ cho các đơn vị bên ngoài Văn phòng ĐKĐĐ thực hiện tạo sự cạnh tranh lành mạnh. - Đối với Sở Tài chính, Cục thuế Thực hiện nghiêm Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND ngày 14/4/2015 về phối hợp và thực hiện công tác ĐKĐĐ, cấp giấy chứng nhận QSDĐ, Quyết định số 1517/QĐ-UBND ngày 17/6/2015 về trình tự, thủ tục luân chuyển hồ sơ thực hiện nghĩa vụ tài chính. Phối hợp với Sở TN&MT vận hành tốt phần mềm điện tử luân chuyển hồ sơ để xác định nghĩa vụ tài chính. Phát hành thông báo nộp các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai đảm bảo thời gian quy định. Đối với các hồ sơ phức tạp hoặc các Dự án lớn, thông báo cho chủ sử dụng đất bằng Văn bản (về tình trạng hồ sơ và thời gian giải quyết) thông qua Văn phòng ĐKĐĐ hoặc mời chủ sử dụng đất đến hướng dẫn, giải quyết. 75 - Đối với Sở Xây dựng Nâng cao vai trò trách nhiệm trong công tác kiểm tra, giám sát, cấp phép xây dựng tại địa phương. Phát hiện, xử lý hoặc tham mưu kịp thời các trường hợp xây cất trái phép nhà ở, công trình xây dựng. Kiến nghị khi cấp giấy phép xây dựng nên tách các hạng mục công trình ra các hạng mục cụ thể, không tiến hành cấp gộp như hiện nay (ví dụ: không gộp diện tích nhà xưởng và diện tích văn phòng cấp thành diện tích tổng). - Đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố Chỉ đạo các Phòng chức năng có liên quan, UBND cấp xã kiểm tra việc sử dụng đất trên địa bàn, kiên quyết xử lý vi phạm theo quy định (buộc khôi phục tình trạng ban đầu trước khi vi phạm đối với các hành vi sử dụng đất sai mục đích, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất không đúng quy định của pháp luật,). Theo kết quả điều tra có đến 62,62% khách hàng cho biết rằng không hài lòng về tác phong giao tiếp của cán bộ đo đạc và bản đồ (xem phụ lục 2). Do đó, cần nghiên cứu lập “Tổ hỗ trợ pháp lý” tại Bộ phận “Một cửa”; bố trí cán bộ có trình độ chuyên môn, tác phong đạo đức để kịp thời hướng dẫn, tư vấn, hỗ trợ cho các tổ chức và cá nhân đến liên hệ và thực hiện các thủ tục hành chính trên các lĩnh vực. 3.2.2.4. Triển khai thực hiện mô hình hợp tác công - tư trong đo đạc và bản đồ Hợp tác công - tư là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung ứng DVC. Theo PGS.TS. Đặng Khắc Ánh PPP trong bài viết “PPP và vận dụng vào cải cách khu vực công ở Việt Nam”[1] có những điểm đáng chú ý sau: Nhiều nước đã chuyển một số DVC trước kia do Nhà nước độc quyền cung ứng sang cho khu vực tư nhân đảm nhận. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực mang tính phục vụ là chính nên mặc dù đã chuyển giao cho khu vực tư nhân, Nhà nước vẫn có trách nhiệm kiểm soát để đảm bảo người dân được cung ứng các dịch vụ một cách tốt nhất. Trong khi nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước còn hạn chế thì việc tìm kiếm các nguồn đầu tư ngoài Nhà nước rất quan trọng để thực hiện chiến lược này. 76 Trong tương lai đây sẽ phải trở thành định hướng chính để phát triển hạ tầng cơ sở và cung ứng DVC về đo đạc và bản đồ. Thiếu đầu tư khu vực tư nhân, Nhà nước sẽ phải giữ vai trò nhà đầu tư lớn duy nhất và do đó không cải thiện được tình hình. Mặt khác do chuyển những dịch vụ này cho khu vực tư nhân nên bộ máy hành chính gọn nhẹ hơn để tập trung vào việc hoạch định và thực thi chính sách[19]. Trong quá trình triển khai PPP trong đo đạc và bản đồ trong thực tế, vai trò của Nhà nước rất quan trọng. Hợp tác trên tinh thần chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa các bên tham gia đòi hỏi phải có niềm tin giữa các bên. Trong bối cảnh đó, Nhà nước phải tạo lập được niềm tin cho các nhà đầu tư khu vực tư nhân thông qua những cam kết thể hiện trong hệ thống pháp lý và hợp đồng, đồng thời khẳng định các cam kết cả về mặt định hướng. Việc đảm bảo có được một cam kết lâu dài từ phía các nhà hoạch định chính sách đối với hình thức PPP trong đo đạc và bản đồ cũng sẽ làm tăng thêm tính hấp dẫn của các dự án triển khai theo hình thức này đối với khu vực tư nhân và khuyến khích họ đầu tư mạnh mẽ hơn. Việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi chủ trương của Nhà nước cam kết triển khai PPP trong đo đạc và bản đồ để tăng cường nhận thức cho các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà đầu tư khu vực tư nhân và toàn xã hội để tạo sự đồng thuận là nền tảng để thực hiện PPP trong đo đạc và bản đồ thành công trên thực tế[1]. Trong bối cảnh chung của nền kinh tế thị trường, PPP trong hoạt động cung ứng dịch vụ sẽ là một giải pháp quan trọng nhằm hoàn thiện hoạt động cung ứng DVC. PPP trong đo đạc và bản đồ thực chất là sự liên kết giữa các chủ thể của khu vực công với khu vực tư (tư nhân, tổ chức phi Chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, nhóm cộng đồng) nhằm cung ứng các loại DVC về đo đạc và bản đồ. PPP trong hoạt động cung ứng DVC về đo đạc và bản đồ, không phải là sự chuyển trách nhiệm cung ứng DVC từ Nhà nước sang cho các khu vực khác. Trong mô hình đối tác này, trách nhiệm đối với việc cung ứng DVC vẫn thuộc về Nhà nước. Mô hình PPP trong đo đạc và bản đồ chỉ nhằm tạo ra những cách thức để Nhà nước có thể cung ứng DVC về đo đạc và bản đồ tốt hơn[19]. Hợp tác công - tư trong đo đạc và bản đồ không những không làm giảm vai trò của Nhà nước mà đòi hỏi Nhà nước phải thực hiện việc kiểm soát chặt chẽ hơn để 77 duy trì mục tiêu cung ứng dịch vụ của mình. Vai trò của Nhà nước về mặt quản lý trước hết cần thể hiện ở việc Nhà nước phải xây dựng khung pháp lý để triển khai hoạt động PPP trong đo đạc và bản đồ sao cho đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, đồng thời xác định chính xác danh mục các dự án cần thu hút đầu tư theo định hướng phát triển của Nhà nước. Ngoài ra, vai trò của Nhà nước cũng rất quan trọng trong từng dự án cụ thể, từ việc đề xuất xây dựng cơ cấu vốn, tiếp thị, triển khai hoạt động đấu thầu hay lựa chọn nhà đầu tư, thỏa thuận các điều kiện về hợp đồng với các đối tác tư nhân[1]. Tăng cường vai trò giám sát của Nhà nước, của các cơ quan Chính phủ, cơ quan thực hiện rất quan trọng để đảm bảo dự án đi đúng hướng cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện một cách kịp thời. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đều thống nhất rằng đây là hình thức hợp tác mang lại lợi ích cho cả Nhà nước và người dân vì tận dụng được nguồn lực tài chính và năng lực quản lý từ phía tư nhân, giảm gánh nặng đầu tư của Nhà nước trong khi vẫn bảo đảm lợi ích cho người dân và xã hội. Hợp tác công - tư trong đo đạc và bản đồ đã được triển khai mạnh mẽ trên thế giới và mang lại nhiều thành công nhưng cũng có không ít thất bại và hạn chế. Để thực hiện thành công mô hình này ở Việt Nam, việc học tập kinh nghiệm các nước là yêu cầu cấp bách và khách quan. Để triển khai áp dụng rộng rãi mô hình PPP trong đo đạc và bản đồ cũng cần bắt đầu từ sự thay đổi nhận thức của các cấp lãnh đạo, các cơ quan quản lý trong việc xác định mối quan hệ giữa Nhà nước với doanh nghiệp, thể hiện được sự bình đẳng giữa Nhà nước với tư nhân trong đầu tư và khi đó, tách quản lý nhà nước ra khỏi hoạt động đầu tư kinh tế của Nhà nước là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi chiến lược lôi cuốn tư nhân tham gia cùng với Nhà nước trong việc thực hiện hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của xã hội. Cũng cần lưu ý rằng PPP trong đo đạc và bản đồ không phải là giải pháp “vạn năng” để giải quyết mọi vấn đề phát triển mà chỉ là một giải pháp trong số những giải pháp cần áp dụng để nâng cao chất lượng đầu tư cho quá trình phát triển của tỉnh cũng như của quốc gia[1]. 78 Tóm lại, tỉnh Bình Dương cần mở rộng quan hệ PPP với các nước và các tổ chức quốc tế trong quản lý nhà nước trên lĩnh vực hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ. Nước ta đi chậm hơn các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới về XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ. Do vậy, việc hợp tác quốc tế sẽ tạo điều kiện cho chúng ta học hỏi được kinh nghiệm của các nước đi trước để đẩy nhanh XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ. 3.2.2.5. Tăng cường quản lý chất lượng hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ Đo đạc và bản đồ là ngành khoa học kỹ thuật công nghệ lâu đời trên thế giới và ở Việt Nam, các sản phẩm được sử dụng vào các công việc nghiên cứu, khảo sát và quản lý của hầu hết các lĩnh vực KT-XH. Trong thời gian tới, với sự ra đời của Luật Đo đạc và Bản đồ, công tác quản lý chất lượng sản phẩm sản phẩm, công trình đo đạc và bản đồ được hoàn thiện cả thể chế lẫn cơ cấu tổ chức. Để nâng cao chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ nhằm đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong quá trình hội nhập sâu rộng như hiện nay, Bộ TN&MT, UBND tỉnh cũng như Sở TN&MT cần thực hiện các giải pháp đồng bộ cấp bách sau: Thứ nhất, rà soát lại các quy định, quy phạm kỹ thuật không phù hợp với công nghệ, thực tế quản lý; xây dựng Dự án quy hoạch, kế hoạch hoàn thiện tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật đo đạc và bản đồ giai đoạn từ nay đến 2020 và định hướng đến năm 2025 phù hợp với điều kiện tỉnh, hài hòa với tiêu chuẩn của các nước trong khu vực và quốc tế. Tạo lập hành lang pháp lý (ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế độ, thể lệ...), đảm bảo sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của hệ thống trong hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ cho toàn xã hội. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển mạng lưới cung ứng DVC về đo đạc và bản đồ cho toàn xã hội, đồng thời tổ chức chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển hệ thống cung ứng DVC về đo đạc và bản đồ; kiểm tra, giám sát việc tuân thủ luật pháp, chính sách trong lĩnh vực này. Để làm được việc này, ngoài trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, cần tăng cường sự tham 79 gia, giám sát của người dân trong việc hoạch định chính sách và hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ[29]. Thứ hai, với xu hướng XHH ngành đo đạc và bản đồ cùng với việc chưa xây dựng được hệ thống kiểm định máy móc thiết bị đo đạc hiện đại đáp ứng được các yêu cầu của xã hội, hiện nay, Cục đo đạc và bản đồ Việt Nam đã cấp phép cho một số đơn vị ngoài Cục được phép thực hiện các công việc về kiểm định máy móc thiết bị đo đạc thông dụng (máy toàn đạc điện tử, GNSS, máy thủy chuẩn) cho các đơn vị thi công có nhu cầu. Trong kế hoạch tăng cường năng lực của Ngành đo đạc và bản đồ giai đoạn 2016-2020. Bộ TN&MT nên lên kế hoạch xây dựng 02 phòng kiểm định, hiệu chuẩn thiết bị đo đạc hiện đại, tiên tiến tại miền Nam và miền Bắc nhằm đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi về tăng cường công tác quản lý chất lượng máy móc thiết bị đo đạc hiện nay. Cần phân định rõ những hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ do các cơ quan, tổ chức nhà nước trực tiếp cung ứng, từ đó cơ cấu lại chi tiêu ngân sách theo hướng tập trung đầu tư thích đáng cho việc cung ứng các dịch vụ cơ bản, thiết yếu nhất; đáp ứng các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia, phục vụ người dân các vùng khó khăn, hỗ trợ người nghèo, đối tượng chính sách. Thứ ba, đa dạng hóa phương thức quản lý đối với hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ của các đơn vị thuộc sở hữu Nhà nước như: đổi mới phương thức phân bổ ngân sách theo hướng chuyển từ cấp phát kinh phí theo đầu vào cho đơn vị cung ứng sang hỗ trợ kinh phí theo đầu ra tùy thuộc số lượng, chất lượng dịch vụ. Đẩy mạnh phân cấp quản lý và hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ cho chính quyền địa phương các cấp, nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương đối với việc thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của người dân trên địa bàn tỉnh. Thứ tư, cùng với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tiến tới khi thực hiện công tác kiểm định chất lượng dịch vụ, cán bộ thực hiện phải là người được cấp Giấy chứng nhận kiểm định viên về nội dung thực hiện. Đây vừa là bước đột phá nhằm nâng cao và làm rõ vai trò trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của người thực hiện công tác kiểm định. Đây cũng là tiền đề để tiến tới việc thực hiện cấp 80 chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ cho cá nhân trên toàn quốc, đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới. Thứ năm, về cơ chế giám sát. Một vấn đề có liên quan đến hoạt động của Văn phòng ĐKĐĐ là kiểm soát chất lượng và giá thành dịch vụ. Nhà nước giao quyền tự chủ cho Văn phòng ĐKĐĐ như hiện nay, nhưng vẫn thiếu một cơ chế kiểm tra và đánh giá chất lượng dịch vụ. Điều này, có thể dẫn đến sự bất bình đẳng của tổ chức, cá nhân trong việc tiếp cận các hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ khi mà Văn phòng ĐKĐĐ có thể bỏ qua trách nhiệm xã hội và chỉ tập trung vào hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ cho những người có khả năng chi trả[31]. Tăng cường hoạt động kiểm soát của các cơ quan nhà nước và xử lý các vi phạm trong hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ của các tổ chức cung ứng dịch vụ một cách nghiêm minh. Để làm tốt điều này, cần sớm ban hành hệ thống tiêu chuẩn về chất lượng đối với hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ để làm căn cứ đánh giá chất lượng dịch vụ được cung ứng, qua đó so sánh chất lượng hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ của các đơn vị cung ứng khác nhau [2]. Văn phòng ĐKĐĐ cần tiếp tục xây dựng và vận hành CSDL về đất đai (xem phụ lục 3, hình 3.2), CSDL về đo đạc và bản đồ đủ mạnh, cập nhật thường xuyên để phục vụ mục đích giám sát hiệu quả hơn hoạt động đo đạc và bản đồ. Tuyên truyền rộng rãi các gương cơ quan, tổ chức, cá nhân tốt trong bảo vệ các công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ. Thông tin trên báo, đài các trường hợp vi phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ, tạo thành dư luận xã hội lên án các hành vi vi phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ. Thứ sáu, hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức ngoài Nhà nước tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ cho cộng đồng và xã hội trên cơ sở giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và của tổ chức, công dân. Bằng việc ký kết hợp đồng với khu vực ngoài Nhà nước (tư nhân, các tổ chức phi Chính phủ...) thông qua đấu thầu có cạnh tranh về cung ứng dịch vụ, Nhà nước khuyến khích cạnh tranh giữa các tổ chức cung ứng để nâng cao 81 chất lượng hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ, từ đó phát huy các nguồn lực xã hội và ưu thế của thị trường trong cung ứng dịch vụ nhưng không làm giảm vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực này. 3.3. Kiến nghị Tỉnh ủy Bình Dương cần sớm có Nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo công tác XHH nói chung và XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ nói riêng nhằm chỉ đạo thực hiện một cách thống nhất trên địa bàn tỉnh, chỉ đạo và kiểm tra chặt chẽ các cấp ủy Đảng ở địa phương trong việc xây dựng Nghị quyết, lãnh đạo thực hiện XHH và quản lý Nhà nước về XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ. Xây dựng và ban hành cơ chế đặc thù đối với XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ đặc thù của tỉnh nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia. Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ, kỹ thuật đo đạc và bản đồ với lộ trình thích hợp, ưu tiên các chương trình, đề tài thiết thực phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH, quản lý đo đạc và bản đồ. Lựa chọn, tiếp thu các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới phù hợp với điều kiện tỉnh, tăng tiềm lực khoa học công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động đo đạc và bản đồ. Có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ khoa học công nghệ về đo đạc và bản đồ có trình độ cao, có đóng góp tích cực vào hoạt động đo đạc và bản đồ của tỉnh. Đặt yêu cầu hàm lượng công nghệ cao trong các công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ do ngân sách nhà nước tỉnh đầu tư thực hiện. Tiểu kết chƣơng 3 Trên cơ sở mục tiêu và định hướng về XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ, học viên đã đề xuất năm giải pháp đẩy mạnh XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ tại Văn phòng Đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường. Năm giải pháp này tập trung vào các vấn đề về đổi mới tư 82 duy về XHH dịch vụ công. Khi đó bộ máy Văn phòng ĐKĐĐ của tỉnh sẽ được tinh gọn hơn, góp phần vào công cuộc CCHC của tỉnh trên địa bàn tỉnh. 83 KẾT LUẬN XHH dịch vụ công ở nước ta đã mang lại nhiều thay đổi trong quá trình cung ứng dịch vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi tiếp cận dịch vụ và giảm gánh nặng chi của ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, quá trình XHH mặc dù đã được triển khai gần 20 năm nhưng vẫn diễn ra rất chậm, phần lớn các DVC ở nước ta vẫn chủ yếu do các cơ quan nhà nước cung ứng. Mức độ XHH diễn ra không đồng đều ở các ngành, lĩnh vực và giữa các vùng khác nhau. Các cá nhân và tổ chức ngoài Nhà nước chỉ chú trọng đầu tư vào các khu vực thuận lợi như các thành phố lớn, nơi đông dân cư và có thu nhập cao, ít quan tâm tới các khu vực chậm phát triển. Mức độ XHH các dịch vụ công cũng chỉ tập trung vào các ngành nghề có thể thu hồi vốn nhanh và dễ tạo ra lợi nhuận kinh tế. Phần lớn các hoạt động đo đạc và bản đồ hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Dương đều do Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh đảm nhận, đặc biệt là đo đạc phục vụ cấp giấy chứng nhận QSDĐ chiếm đến 99%. Văn phòng ĐKĐĐ vừa là cơ quan đo đất, vừa là cơ quan cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Đây là tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Do đó, XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ hiện nay tại Văn phòng ĐKĐĐ là một nhu cầu mang tính cấp thiết. Tỉnh Bình Dương có tốc độ phát triển KT-XH cao. Do đó, tỉnh hoàn toàn có điều kiện để đẩy mạnh XHH các loại dịch vụ, trong đó có hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ. Điều cấp thiết hiện nay là tỉnh cần có phương hướng đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh đặc dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và sự quản lý của UBND tỉnh. Xây dựng các giải pháp thực hiện XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ cần nhấn mạnh vào các nội dung: hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ; xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp và cá nhân có thể tham gia cung ứng dịch vụ; kiện toàn Văn phòng ĐKĐĐ một cấp; củng cố, nâng cao CSDL về đất đai mà cốt lõi là CSDL về đo đạc và bản đồ; tăng cường hình thức PPP trong đo đạc và bản đồ trước hết nhằm huy 84 động các nguồn vốn của tư nhân tham gia vào cùng với Nhà nước trong hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ đáp ứng các yêu cầu của xã hội, giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách của tỉnh; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và quản lý chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ bảo đảm công bằng và an sinh xã hội, trợ giúp những đối tượng yếu thế. Qua thời gian học tập, nghiên cứu, thu thập số liệu, tài liệu, phân tích, đánh giá, học viên đã nỗ lực thực hiện đề tài “Xã hội hóa hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ tại Văn phòng Đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương” với mong muốn hoàn thành luận văn ở mức tốt nhất. Tuy nhiên, do bản thân còn có những hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Học viên rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô, đồng nghiệp và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn. 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đặng Khắc Ánh (Chủ nhiệm 2012): Hợp tác công - tư và vận dụng vào cải cách khu vực công ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học, Học viện Hành chính. 2. Đặng Khắc Ánh (2012): Nâng cao chất lượng xã hội hóa dịch vụ công, Tạp chí Giáo dục Lý luận, số 190. 3. Đặng Khắc Ánh (2015), hợp tác công – tư trong khu vực công ở Việt Nam, tạp chí Quản lý nhà nước, số 229. 4. Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (2007): Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, Nxb. Thống kê, Hà Nội. 5. Nông Phú Bình (2000), Một số thuật ngữ hành chính, Nxb. Thế giới, Hà Nội. 6. Thanh Bình (2015), Kinh nghiệm quản lý đất đai ở Úc, tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 18. 7. Bộ TN&MT (2014), Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT quy định về bản đồ địa chính. 8. Bộ TN&MT, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính (2015), Thông tư liên lịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường. 9. Bộ TN&MT (2015), Thông tư số 63/2015/TT-BTNMT quy định về kiểm tra,thẩm định và nghiệm thu chất lượng công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ. 10. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2011), Nghị quyết số30c/NQ-CP ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020. 11. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2014), Nghị định số43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. 86 12. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2014), Nghị định số102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. 13. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2015), Nghị định số 45/2015/NĐ-CP về hoạt động đo đạc và bản đồ. 14. Ngô Thành Dương (2006), bàn về khái niệm xã hội hóa, tạp chí Cộng sản, số 103. 15. Phạm Thị Hồng Điệp (2013), Quản lý nhà nước đối với dịch vụ công, kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam, tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 3. 16. Võ Tấn Đinh (2015), Hà Tĩnh thành công trong xúc tiến đầu tư và XHH công tác BVMT, tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 22. 17. Đỗ Thị Hải Hà (2007), Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công (sách chuyên khảo), Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 18. Đỗ Thị Hải Hà, Mai Ngọc Ánh (2015), Cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 218. 19. Nguyễn Hữu Hải (2013), Lý luận hành chính nhà nước (tài liệu lưu hành nội bộ), Hà Nội. 20. Phan Đức Hiếu, Phạm Thị Loan (2015), Sự cần thiết ban hành Luật Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 22. 21. do/279429.vgp, Dự thảo Luật Đo đạc và Bản đồ, truy cập lúc 21 giờ 26 phút ngày 01/03/2017. 22. dong-bao-ve-moi-truong.html, Hiệu quả từ xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường, truy cập lúc 6 giờ 58 phút ngày 01/02/2017. 23. kien-dang/books-2103201511085546/index-410320151108074621.html, Hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc - sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại, truy cập lúc 15 giờ 54 phút ngày 11/03/2017. 87 24. nhung-cong-trinh-xa-hoi-hoa-giao-thong.aspx, Đồng Nai: Niềm vui từ những công trình xã hội hóa giao thông, truy cập lúc 7 giờ 49 phút ngày 01/02/2017. 25. xa-hoi-hoa-cua-tinh-binh-duong.htm, Chính sách thu hút đầu tư thực hiện xã hội hóa của tỉnh Bình Dương, truy cập lúc 19 giờ 05 phút ngày 02/02/2017. 26. a_nuoc_trong_dieu_kien_xa_hoi_hoa_dich_vu_cong, Vai trò của nhà nước trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công, truy cập lúc 19 giờ 15 phút ngày 10/02/2017. 27. bai-2-2741151/, Xã hội hóa ở bệnh viện công, truy cập lúc 6 giờ 58 phút ngày 01/02/2017. 28. https://www.vhttdlkv3.gov.vn/Tu-lieu/Xa-hoi-hoa-hoat-dong-dien-anh-o- TP-HCM-Thuc-trang-va-giai-phap.1090.detail.aspx, Xã hội hóa hoạt động điện ảnh ở thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng và giải pháp, truy cập lúc 11 giờ 14 phút ngày 31/01/2017. 29. Nguyễn Tuấn Hùng (2013), Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động đo đạc và bản đồ, tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 3+4. 30. Trương Văn Huyền (2010), Hoàn thiện quản lý dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay, đề tài cấp bộ B. 10-25, Hà Nội. 31. Bùi Huy Khiên (2016), Cải cách khu vực công: chuyển đổi một số đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế, giáo dục – đào tạo sang mô hình doanh nghiệp xã hội, Thông tin Khoa học hành chính, số 7. 32. Nguyễn Thái Lai (2015), Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành tài nguyên và môi trường, tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 22. 33. Phạm Quang Lê (2004), Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 34. Lê Chi Mai (2002), chuyển giao dịch vụ công cho các cơ sở ngoài Nhà nước vấn đề và giải pháp, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội. 88 35. Lê Chi Mai (2003), Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 36. Lê Chi Mai (2003), Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, đề tài cấp bộ 2001-54-057, Hà Nội. 37. Lê Chi Mai (2008), dịch vụ công, tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 3. 38. Nhóm Ngân hàng thế giới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), báo cáo tổng quan Việt Nam 2035 hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ. 39. Nguyễn Đình Phan (2009), Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập, đề tài cấp bộ, Hà Nội. 40. Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thu Huyền (2004), Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách một số nước trên thế giới (sách tham khảo), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 41. Nguyễn Minh Phương (2008), Đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công ở nước ta hiện nay, tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 11. 42. Bùi Đăng Quang (2016), Quản lý chất lượng công trình trong đo đạc và bản đồ, tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 8. 43. Phạm Ngọc Quang (2004), dịch vụ công - Một nội dung trong đổi mới phương thức hoạt động của Chính phủ, tạp chí Triết học, số 4. 44. Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 45. Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Đất đai. 46. Nguyễn Quang Sáng (2014), Vai trò của nhà nước trong xã hội hóa dịch vụ công, tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 12/2014. 47. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương (2014), Thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/2.000 các huyện, thị xã của tỉnh Bình Dương, thiết kế kỹ thuật - dự toán, Bình Dương. 48. Sở TN&MT tỉnh Bình Dương (2016), hướng dẫn số 332/HD-STNMT hướng dẫn về việc lập mảnh trích lục địa chính, mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý và mảnh trích đo địa chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương. 89 49. Võ Kim Sơn (2004), Phân cấp quản lý nhà nước, lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 50. Chu Văn Thành (2004), DVC - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia. 51. Nguyễn Văn Thảo (2015), Kinh nghiệm quản lý đo đạc và bản đồ của Cộng hòa Ba Lan, tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 19. 52. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2008), Quyết định số 33/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đến năm 2020. 53. Phạm Đức Trọng (chủ biên) (2014), Giáo trình xã hội học đại cương, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh. 54. Phan Đình Tuấn (2015), Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành tài nguyên và môi trường các tỉnh phía Nam, tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 21. 55. UBND tỉnh Bình Dương (2016), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm năm 2011-2015 và phương hướng , nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. 56. UBND tỉnh Bình Dương (2016), Quyết định số 1596/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp thực hiện các thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương. 57. UBND thành phố Đà Nẵng (2010), Báo cáo chuyên đề 4 – DVC “Chính quyền địa phương và quản trị địa phương”. 58. Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Dương (2017), Quyết định số 25/QĐ-VPĐKĐĐ về việc ban hành quy trình lập mảnh trích lục địa chính, mảnh trích đo địa chính, mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý và quy trình thẩm định mảnh trích đo địa chính, mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý tại Văn phòng Đăng ký đất đai (01 cấp) tỉnh Bình Dương. 90 PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1: MẨU PHIẾU ĐIỀU TRA Ý KIẾN KHÁCH HÀNG 91 92 PHỤ LỤC 2: BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ PHIẾU ĐIỀU TRA Ý KIẾN KHÁCH HÀNG 1. Thông tin ngƣời thống kê: Họ tên: Nguyễn Thành Chương Cơ quan: Văn phòng ĐKĐĐ – Sở TN&MT tỉnh Bình Dương Địa chỉ: Tầng 5, tháp B, Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương 2. Tình hình cung cấp dịch vụ công về đo đạc và bản đồ: 1.1. Thái độ của nhân viên tiếp nhận hồ sơ như thế nào? Tổng số phiếu Hách dịch Bình thường Nhiệt tình Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 33 30.84 48 44.86 27 25.23 1.2. Thái độ của cán bộ đo đạc khi đo đạc tại thực địa như thế nào? Tổng số phiếu Hách dịch Bình thường Nhiệt tình Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 33 30.84 47 43.93 27 25.23 1.3. Thái độ của cán bộ đo đạc trong khi thực hiện hồ sơ dịch vụ như thế nào? Tổng số phiếu Hách dịch Bình thường Nhiệt tình Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 26 24.3 54 50.47 26 24.3 1.4. Trách nhiệm cơ quan quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ hiện nay như thế nào? Tổng số phiếu Rất kém Kém Bình thường Tốt Rất tốt Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 15 14.02 50 46.73 24 22.43 15 14.02 3 2.8 93 1.5. Thời gian thực hiện thủ tục về đo đạc và bản đồ hiện nay như thế nào? Tổng số phiếu Rất chậm Chậm Vừa Nhanh Rất nhanh Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 30 28.04 48 44.86 14 13.08 13 12.15 2 1.87 1.6. Ông/bà quan tâm đến sản phẩm đo đạc và bản đồ nào? Tổng số phiếu Trích đo địa chính Trích lục địa chính Tọa độ, độ cao Diện tích Giấy chứng nhận QSDĐ Khác Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 19 17.76 11 10.28 3 2.8 30 28.04 62 57.94 2 1.87 1.7. Ngành đo đạc và bản đồ có tác động như thế nào đối với sự phát triển Kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương? Tổng số phiếu Không quan trọng Quan trọng Rất quan trọng Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 5 4.67 49 45.79 53 49.53 3. Thông tin pháp luật về đo đạc và bản đồ: 1.1. Theo Ông/bà hiện nay ở Việt Nam đã có “ Luật Đo đạc và Bản đồ” không? Tổng số phiếu Có Không Số phiếu % Số phiếu % 107 66 61.68 41 38.32 Nếu chọn “không” thì có cần ban hành Luật Đo đạc và Bản đồ không? Tổng số phiếu Có Không Số phiếu % Số phiếu % 107 41 38.32 5 4.67 94 1.2. Ông/bà nhận thấy pháp luật đo đạc và bản đồ như thế nào? Tổng số phiếu Rất đơn giản Đơn giản Bình thường Phức tạp Rất phức tạp Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 2 1.87 2 1.87 17 15.89 52 48.6 34 31.78 1.3. Mức độ công khai, minh bạch về đo đạc và bản đồ là? Tổng số phiếu Rất thấp Thấp Trung bình Cao Rất cao Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 34 31.78 44 41.12 13 12.15 11 10.28 5 4.67 1.4. Dịch vụ công về đo đạc và bản đồ ở tỉnh Bình Dương là do tổ chức nào cung ứng? Tổng số phiếu (chi nhánh) Văn phòng ĐKĐĐ Công ty đo đạc Cơ quan, tổ chức khác Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 97 90.65 30 28.04 1 0.93 4. Đào tạo nguồn nhân lực: 1.1. Ông/bà có hài lòng về trình độ chuyên môn của cán bộ đo đạc và bản đồ không? Tổng số phiếu Có Không Số phiếu % Số phiếu % 107 48 44.86 59 55.14 1.2. Ông/bà có hài lòng về tác phong giao tiếp của cán bộ đo đạc và bản đồ không? Tổng số phiếu Có Không Số phiếu % Số phiếu % 107 40 37.38 67 62.62 95 1.3. Ông/bà có kiến nghị gì thêm đối với đào tạo nguồn nhân lực về đo đạc và bản đồ hiện nay ở tỉnh Bình Dương? Tổng số phiếu Chuyên môn sâu Am hiểu pháp luật ngành Đạo đức nghề nghiệp Tác phong giao tiếp Đào tạo khác Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 22 20.56 71 66.36 6 5.61 6 5.61 3 2.8 5. Những khó khăn và kiến nghị của khách hàng về đo đạc và bản đồ: 1.1. Ông/bà có gặp khó khăn trong việc thực hiện dịch vụ công về đo đạc và bản đồ không? Tổng số phiếu Có Không Nếu “có” thì khó khăn Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 70 65.42 37 34.58 1 0.93 1.2. Nguyên nhân làm cho dịch vụ công về đo đạc và bản đồ trở nên khó khăn là? Tổng số phiếu Thiếu đồng bộ giữa các cấp Pháp luật chồng chéo Thủ tục hành chính Thiếu thông tin Khác Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 34 31.78 60 56.07 15 14.02 3 2.8 2 1.87 1.3. Ông/bà tiếp cận thông tin về đo đạc và bản đồ như thế nào? Tổng số phiếu Rất dễ dàng Dễ dàng Bình thường Khó khăn Rất khó khăn Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 4 3.74 9 8.41 17 15.89 67 62.62 10 9.35 96 1.4. Ông/bà có biết đơn vị nào có chức năng về đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh Bình Dương? Tổng số phiếu Không biết đơn vị nào Duy nhất Văn phòng ĐKĐĐ Đơn vị đo đạc khác Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 5 4.67 91 85.05 19 17.76 1.5. Ông/bà có kiến nghị gì để nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ? Tổng số phiếu Xã hội hóa Nhà nước vẫn cung cấp Khác Số phiếu % Số phiếu % Số phiếu % 107 82 76.64 25 23.36 0 0.0 97 PHỤ LỤC 3: DANH MỤC BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ Nguồn: https://www.vnu.edu.vn,năm 2014 Hình 1. 1: Bản đồ số 106, quyển số 2 Atlas thế giới của Philippe Vandermaelen Nguồn: năm 2017 Hình 1. 2 Atlas điện tử tỉnh Bình Dƣơng 98 Nguồn: Sở TN&MT tỉnh Bình Dương, năm 2016 Hình 2. 1: Bản đồ Hành chính tỉnh Bình Dƣơng (tỷ lệ 1:280.000) 99 Nguồn: Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Bình Dương, năm 2016 Hình 2. 2: Bản đồ địa hình số C-48-21-(124-b) trong CSDL nền thông tin địa lý 100 Nguồn: Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Bình Dương, năm 2017 Hình 2. 3: Cơ cấu tổ chức bộ máy Văn phòng ĐKĐĐ một cấp tỉnh Bình Dương Nguồn: Học viên chụp tại Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Bình Dương, năm 2017 Hình 2.4: Hệ thống máy chủ CSDL đặt tại Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Bình Dƣơng 101 Nguồn: Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Bình Dương, năm 2016 Hình 2.5: Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất 102 Nguồn: Hình 3. 1: Kỹ thuật đo đạc bằng công nghệ RTK Nguồn: Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Bình Dương, năm 2017 Hình 3. 2: Giao diện CSDL hệ thống thông tin đất đai tỉnh Bình Dƣơng 103 Nguồn: Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Bình Dương, năm 2016 Hình 2. 6: Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số TL 07-2016 104 PHỤ LỤC 4: DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2. 1: Đồ thị chỉ số cải cách hành chính tỉnh Bình Dƣơng từ năm 2012-2015 Nguồn: báo cáo chỉ số cải cách hành chính – Par Index năm 2012, 2013, 2014, 2015 Bảng 2. 2: Biến động các loại đất giai đoạn 2010-2015 Nguồn: Sở TN&MT Bình Dương, năm 2016

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_xa_hoi_hoa_hoat_dong_cung_ung_dich_vu_cong_ve_do_da.pdf
Luận văn liên quan