Một số vấn đề pháp lý về khuyến mại trong Luật Thương mại 2005

I. Lý luận chung về khuyến mại 1. Khái niệm, đặc điểm của khuyến mại 1.1. Khái niệm Khuyến mại là cách thức, biện pháp thu hút khách hàng thông qua việc dành lợi ích cho khách hàng, bao gồm lợi ích vật chất (tiền, hàng hóa) hay lợi ích phi vật chất (được cung cấp dịch vụ miễn phí); là một phần của hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân, được áp dụng thường xuyên ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển và phổ biến. Theo quy định tại Điều 88 Luật thương mại 2005: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.” Cách thức thực hiện xúc tiến thương mại tạo ra những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy mạnh mẽ việc bán hàng và cũng ứng dịch vụ là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Đây chính là dấu hiệu phân biệt hành vi khuyến mại với các hành vi xúc tiến thương mại khác. 1.2. Đặc điểm Ngoài những đặc điểm chung của hoạt động xúc tiến thương mại thì theo quy định của Luật thương mại, khuyến mại còn có các đặc điểm cơ bản sau: – Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại là thương nhân. Để tăng cường cơ hội thương mại, thương nhân được phép tự mình tổ chức thực hiện việc thương mại, thương nhân được phép tự chọn dịch vụ khuyến mại cho thương nhân khác để kinh doanh. Quan hệ dịch vụ này hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuyến mại giữa thương nhân có nhu cầu khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ. – Cách thức xúc tiến thương mại: Là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Tùy thuộc vào mục tiêu của đợt khuyến mại, tùy thuộc vào trạng thái cạnh tranh, phản ứng của đối thủ cạnh tranh trên thương trường, tùy thuộc điều kiện kinh phí dành cho khuyến mại, lợi ích mà thương nhân dành cho khách hàng có thể là quà tặng, hàng mẫu để dùng thử, mua hàng giảm giá hoặc là lợi ích phi vật chất khác. Khách hàng được khuyến mại có thể là người tiêu dùng hoặc các trung gian phân phối, như các đại lí bán hàng – Mục đích của khuyến mại là xúc tiến việc bán hàng và cung ứng dịch vụ. Để thực hiện mục đích này, các đợt khuyến mại có thẻ hướng tới mục tiêu lôi kéo hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ của khách hàng, giới thiệu một sản phẩm mới, kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lương hàng đặt mua thông qua đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ. 2. Các hành vi bị cấm trong hoạt động thương mại Khuyến mại là quyền của thương nhân trong hoạt động kinh doanh. Cơ hội thương mại mà thương nhân khuyến mại có được là vấn đề “nhạy cảm” vì nó có thể tạo ra những khó khăn cho thương nhân khác, có thể đụng chạm đến lợi ích của khách hàng và tính lành mạnh của môi trường kinh doanh. Để ngăn ngừa những tác động tiêu cực này, một số hoạt động khuyến mại được quy định tại Điều 100 Luật thương mại 2005 bị Nhà nước cấm thực hiện:

doc10 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/09/2013 | Lượt xem: 3178 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số vấn đề pháp lý về khuyến mại trong Luật Thương mại 2005, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I. Lý luận chung về khuyến mại 1. Khái niệm, đặc điểm của khuyến mại 1.1. Khái niệm Khuyến mại là cách thức, biện pháp thu hút khách hàng thông qua việc dành lợi ích cho khách hàng, bao gồm lợi ích vật chất (tiền, hàng hóa) hay lợi ích phi vật chất (được cung cấp dịch vụ miễn phí); là một phần của hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân, được áp dụng thường xuyên ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển và phổ biến. Theo quy định tại Điều 88 Luật thương mại 2005: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.” Cách thức thực hiện xúc tiến thương mại tạo ra những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy mạnh mẽ việc bán hàng và cũng ứng dịch vụ là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Đây chính là dấu hiệu phân biệt hành vi khuyến mại với các hành vi xúc tiến thương mại khác. 1.2. Đặc điểm Ngoài những đặc điểm chung của hoạt động xúc tiến thương mại thì theo quy định của Luật thương mại, khuyến mại còn có các đặc điểm cơ bản sau: – Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại là thương nhân. Để tăng cường cơ hội thương mại, thương nhân được phép tự mình tổ chức thực hiện việc thương mại, thương nhân được phép tự chọn dịch vụ khuyến mại cho thương nhân khác để kinh doanh. Quan hệ dịch vụ này hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuyến mại giữa thương nhân có nhu cầu khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ. – Cách thức xúc tiến thương mại: Là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Tùy thuộc vào mục tiêu của đợt khuyến mại, tùy thuộc vào trạng thái cạnh tranh, phản ứng của đối thủ cạnh tranh trên thương trường, tùy thuộc điều kiện kinh phí dành cho khuyến mại, lợi ích mà thương nhân dành cho khách hàng có thể là quà tặng, hàng mẫu để dùng thử, mua hàng giảm giá… hoặc là lợi ích phi vật chất khác. Khách hàng được khuyến mại có thể là người tiêu dùng hoặc các trung gian phân phối, như các đại lí bán hàng… – Mục đích của khuyến mại là xúc tiến việc bán hàng và cung ứng dịch vụ. Để thực hiện mục đích này, các đợt khuyến mại có thẻ hướng tới mục tiêu lôi kéo hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ của khách hàng, giới thiệu một sản phẩm mới, kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lương hàng đặt mua… thông qua đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ. 2. Các hành vi bị cấm trong hoạt động thương mại Khuyến mại là quyền của thương nhân trong hoạt động kinh doanh. Cơ hội thương mại mà thương nhân khuyến mại có được là vấn đề “nhạy cảm” vì nó có thể tạo ra những khó khăn cho thương nhân khác, có thể đụng chạm đến lợi ích của khách hàng và tính lành mạnh của môi trường kinh doanh. Để ngăn ngừa những tác động tiêu cực này, một số hoạt động khuyến mại được quy định tại Điều 100 Luật thương mại 2005 bị Nhà nước cấm thực hiện: – Khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ bị cấm kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ bị hạn chế kinh doanh, hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng; – Sử dụng hàng hóa dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hàng hóa dịch vụ bị hạn chế kinh doanh, hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng. – Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức; – Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng; – Khuyến mại để tiêu thụ hàng hóa kém chất lượng, làm phương hại đến môi trường, sức khỏe con người và lợi ích công cộng khác; – Khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân; – Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thưc hiện không đúng; – Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; – Thực hiện khuyến mại mà giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại vượt quá hạn mức tối đa hoặc giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại quá mức tối đa theo quy định của pháp luật. II. Các hình thức pháp lý của khuyến mại và thực tiễn áp dụng Các quy định về hình thức khuyến mại là cơ sở pháp lý để thương nhân dành lợi ích cho khác hàng theo những cách thức khác nhau, nhằm mục đích xúc tiến mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Pháp luật hiện hành cũng có một số quy định riêng đối với từng hình thức khuyến mại, chính vì vậy, việc nhận diện các hình thức này là rất cần thiết. 1. Hàng mẫu (khoản 1 Điều 92 LTM 2005) Cung ứng hàng mẫu cho khách hàng là một hình thức khuyến mại được các thương nhân sử dụng khá phổ biến trong thời gian hiện nay. Hình thức này được quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thương Mại 2005, đó là việc “đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền”. Nghị định số 37/2006/NĐ–CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại có quy định chi tiết hơn về hoạt động khuyến mại này. Theo Điều 7 của Nghị định thì khái niệm “đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền” được hiểu là: “1. Hàng mẫu đưa cho khách hàng, dịch vụ mẫu cung ứng cho khách hàng dùng thử phải là hàng hoá, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp mà thương nhân đang hoặc sẽ bán, cung ứng trên thị trường. 2. Khi nhận hàng mẫu, dịch vụ mẫu, khách hàng không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào. 3. Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu phải chịu trách nhiệm về chất lượng của hàng mẫu, dịch vụ mẫu và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến việc sử dụng hàng mẫu, dịch vụ mẫu”. Hình thức cung ứng hàng mẫu, dịch vụ mẫu có hai đặc điểm lớn. Thứ nhất, nếu như ở hình thức khuyến mại nói chung, chủ thể thực hiện bao gồm thương nhân trực tiếp thực hiện hoạt động khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thì ở đây chủ thể chủ yếu là thương nhân có hàng mẫu, dịch vụ mẫu cung cấp cho khách hàng. Thứ hai, hàng hoá, dịch vụ dùng làm hàng mẫu, dịch vụ mẫu là các sản phẩm mới. Đang hoặc sẽ được thương nhân bán, cung ứng trên thị trường. Về phía người mua, đó có thể là các đại lý hoặc người tiêu dùng, họ được dùng thử sản phẩm mà không phải trả tiền. Mục đích của việc tung ra hàng mẫu, dịch vụ mẫu đó là thương nhân muốn quảng bá một loại sản phẩm mới của mình đến tay người tiêu dùng. Do sản phẩm mới lần đầu tiên xuất hiện, chất lượng cũng như giá thành của chúng chưa được người tiêu dùng đón nhận, vì vậy, với việc tung ra chiến lược hàng mẫu này, thương nhân kỳ vọng sản phẩm mới của họ sẽ mau chóng có một chỗ đứng trên thị trường. Cũng như các hình thức khuyến mại khác, theo quy định của pháp luật, thương nhân khi tung ra kế hoạch cung ứng hàng mẫu, dịch vụ mẫu phải tuân thủ những nghĩa vụ nhất định. Đó là, thương nhân phải có văn bản thông báo gửi đến Sở Công thương nơi cung ứng chậm nhất là 7 ngày trước khi thực hiện, hàng mẫu hay dịch vụ mẫu tung ra thị trường phải đảm bảo chất lượng như đã đăng ký, khách hàng phải được thông báo đầy đủ mọi thông tin liên quan đến việc sử dụng hàng mẫu, không được tạo ra sự so sánh trực tiếp với hàng hoá, dịch vụ của thương nhân khác nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra, thương nhân cũng không được phép sử dụng một số mặt hàng như thuốc tân dược, các loại chất kích thích như thuốc lá, rượu bia có nồng độ vượt mức quy định để làm hàng mẫu và các nghĩa vụ khác quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong thực tiễn hiện nay, do mức độ cạnh tranh giữa các thương nhân kinh doanh trên cùng một lĩnh vực ngày một khốc liệt. Mặt khác, thị hiếu người tiêu dùng cũng ngày càng tăng lên khiến việc muốn bán được hàng buộc lòng các thương nhân phải tung ra các đợt tặng hàng mẫu, dịch vụ mẫu cho khách hàng. Về cơ bản, hàng mẫu và dịch vụ mẫu thường có chất lượng đảm bảo, kiểu dáng mới lạ, bởi mục đích là chiếm được sự tin tưởng từ phía người mua hàng. Hàng dùng thử thường có giá trị không quá lớn trên một đơn vị sản phẩm, đa phần đều là những hàng tiêu dùng hàng ngày như thực phẩm, đồ gia vị, dầu gội, bột giặt… Thực tế, các thương nhân đã rất sáng tạo khi đưa ra nhiều cách thức khác nhau để áp dụng hình thức khuyến mại kiểu hàng mẫu này: đưa sản phẩm hàng mẫu tới tận nhà, thuê các tiếp thị viên đứng phân phát hàng mẫu ở các địa điểm đông người có thể là trường học, có thể là nơi công cộng có nhiều người qua lại… Từ đó, thương nhân có thể đưa được sản phẩm mới của họ tới tay người tiêu dùng, như thế việc quảng bá sản phẩm của họ sẽ rộng rãi hơn và đem lại được hiệu quả cao, bên cạnh đó, chi phí cũng sẽ đỡ tốn kém hơn so với các cách khác, như: quảng cáo trên các kênh truyền thông đại chúng,… Với hình thức khuyến mại này, người tiêu dùng được miễn phí sử dụng mà vẫn có thể tiếp cận, kiểm nghiệm được chất lượng của sản phẩm… Tuy nhiên, cái khó đối với nhà sản xuất kinh doanh đó là, hàng miễn phí thì ai cũng muốn dùng thử, nhưng những người muốn mua thì lại không có nhiều, bởi việc dùng quen một loại sản phẩm và để thay đổi thói quen phù hợp đó là không dễ dàng. Đây là một bài toán nan giải đối với thương nhân khi phải tìm ra cách thu hút sự chú ý của người tiêu dùng một cách hiệu quả. Còn đối với người tiêu dùng, vì là những sản phẩm không có thương hiệu, không có chỗ đứng trên thị trường, ít được biết đến, nếu sau khi dùng thử bị dị ứng, phản ứng tác dụng phụ hay vấn đề gì đó về sức khỏe do sản phẩm không được đảm bảo chất lượng thì biết làm gì để bảo vệ mình? Khi kiến thức pháp luật còn hạn chế và hậu quả lại xuất phát từ “món quà được tặng” chứ không mất tiền. 2. Quà tặng (khoản 2 Điều 92 LTM 2005) Quà tặng là một hình thức khuyến mại theo đó thương nhân được phép tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng không thu tiền để thực hiện mục tiêu xúc tiến thương mại. Tặng quà được thực hiện đối với khách hàng có hành vi mua sắm hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ của thương nhân. Hàng hóa dịch vụ dùng làm quà tặng có thể là hàng hóa dịch vụ mà thương nhân đang kinh doanh hoặc là hàng hóa dịch vụ của thương nhân khác. Quy định như vậy nhằm khuyến khích sự liên kết xúc tiến thương mại của các thương nhân, ngoài ra đây còn là cơ hội để các thương nhân quảng cáo, giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ của nhau. Quà tặng là một hình thức khuyến mại ta thấy rất phổ biến trên thị trường hiện nay. Quà tặng có thể được các nhà cung cấp đưa ra dưới nhiều hình thức khác nhau như: mua hai tặng một; mua một tặng một; sản phẩm có quà tặng kèm đính kèm; hay hàng có giá trị thanh toán tới một mức nhất định được lựa chọn quà tặng... Và dù tồn tại dưới hình thức nào thì nó cũng có các ưu, nhược điểm sau: – Nhờ có quà tặng mà các sản phẩm bán chạy hơn. Khách mua hàng hài lòng hơn vì chính sách hậu đãi của các nhà cung cấp. Tuy nhiên, không phải với bất kỳ khuyến mại nào dưới hình thức quà tặng cũng có lợi cho người mua hàng. – Nhược điểm của hình thức này là đôi khi quà tặng lại là hàng tồn kho. Nắm bắt tâm lý người tiêu dùng, hình thức khuyến mại tặng kèm quà được áp dụng ngày càng phổ biến trong các đợt khuyến mại. Sản phẩm khuyến mại có thể nói cũng “thượng vàng hạ cám”, chẳng hạn như: từ một bịch xả Comfort có giá vài ngàn đồng khi mua một bàn ủi giá 199.000 đồng, đến hàng chục phiếu mua hàng trị giá 1.000.000 đồng/phiếu. Các loại tủ lạnh, máy giặt có giá bán 3.500.000 – 4.500.000 đồng, đều có để khuyến mại kèm theo với nồi cơm điện, hoặc bình nấu nước hay máy ép nước trái cây trị giá 500.000 – 700.000 đồng. Không chỉ khuyến mại theo kiểu một tặng một, mà nhiều nơi còn tạo thêm sức hút với khách hàng bằng 2 – 3 món hàng khuyến mại kèm theo. Tuy nhiên, có điều mà người tiêu dùng ít biết đến là nhà kinh doanh khi sắp xếp các sản phẩm vào cùng gói hàng với nhau, họ đã tính toán rất kỹ, họ biết “dùng cái này để hấp dẫn cái kia”, “bắt” sản phẩm được ưa thích “gánh” cho sản phẩm “bán hoài không ai mua”. Chỉ với một chiêu thức cơ bản các nhà cung cấp đã có thể bán được hết các mặt hàng còn tồn đọng mà trong năm không bán được cho ai. – Một nhược điểm khác nữa là khuyến mại theo kiểu lừa khách hàng. Ví dụ thực tiễn: Ngày 10/4, Công ty Thế giới di động tung ra chương trình có tên gọi “Mua dế nào – tặng dế đó”. Trên các băng rôn quảng cáo của Thế giới di động chỉ thấy dòng chữ “Mua dế nào – tặng dế đó” cùng hình ảnh chiếc điện thoại di động được nhân đôi và câu ghi chú “Chương trình do Nokia tài trợ”. Quảng cáo này thu hút sự quan tâm của khá nhiều người, vì tưởng rằng đây là chương trình “mua một tặng một”. Tuy nhiên, sau khi vào tận nơi nghe nhân viên bán hàng giải thích thể lệ chương trình, không ít người đã thất vọng bỏ ra về. Bởi tiếng là mua điện thoại nào sẽ được tặng điện thoại đó nhưng thực tế chỉ có khách hàng mua điện thoại Nokia giá trên 3 triệu đồng mới được tham gia chương trình. Đồng thời, người mua không được tặng điện thoại ngay mà phải tham gia quay số trúng thưởng. Vòng quay có 36 ô nhưng chỉ một ô trúng chiếc điện thoại vừa mua, còn lại là trúng các quà tặng ít giá trị như balô, túi vải... Từ những thực tế trên có thể thấy: khách hàng – những người tiêu dùng rất hưởng ứng chương trình khuyến mại là quà tặng vì nó thực tế, đơn giản và mang lại lợi ích trông thấy, còn thương nhân thì cũng thỏa mãn được những nhu cầu xuất kho của mình. Đó là một sự kết hợp hoàn hảo. Tuy nhiên thì những mặt trái của hình thức khuyến mại quà tặng này thì những người tiêu dùng chưa thể nhìn ra được nằm ngay trong chính chất lượng hàng hóa mà họ được tặng. 3. Giảm giá (khoản 3 Điều 92 LTM 2005) Giảm giá là hành vi bán hàng, cung ứng dịch vụ trong thời gian khuyến mại với giá thấp hơn giá bán, giá cung ứng dịch vụ bình thường trước đó được áp dụng trong thời gian khuyến mại mà thương nhân đã đăng ký hoặc thông báo. Chủ thể là các thương nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa. Mặt hàng chủ yếu ở đây, thông thường là các mặt hàng điện tử, sản phẩm may mặc… Thời điểm chọn giảm giá là bất kỳ thời điểm nào với mức giảm không được vượt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại. (Điều 6 và Điều 9 Nghị định số 37/2006/NĐ–CP ngày 4/4/2006). Nếu hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Ưu điểm của hình thức này là doanh nghiệp sẽ tăng khả năng cạnh tranh, thu hồi vốn nhanh, giảm tồn đọng hàng hóa nhất là những mặt hàng chạy theo mốt… còn người tiêu dùng sẽ có cơ hội được mua những hàng hóa chất lượng với giá cả hợp lý. Hình thức này có nhược điểm là giảm giá về lâu dài sẽ chặn đứng con đường phát triển và hủy hoại tiềm năng kinh doanh, đối với những thương nhân không có thương hiệu thì việc giảm giá sẽ ảnh hưởng đến uy tín của thương nhân. Với người tiêu dùng có thể đối mặt với nguy cơ mua phải hàng kém chất lượng, hàng quá hạn sử dụng… Ví dụ thực tiễn: Trong đợt khuyến mại mừng giáng sinh và năm mới vừa qua, Pico Plaza đã tiến hành khuyến mại: Đối với các mặt hàng điện tử như ti vi, máy ảnh giảm giá từ 20 – 50%; Đồ gia dụng được yết giá: chảo chống dính 99000, nồi cơm điện 59000… Tuy nhiên, những mặt hàng này chỉ được bán theo giá khuyến mại trong giờ vàng từ 14h đến 15h và chỉ trong hai ngày thứ 6 và thứ 7 trong tuần thứ 2 tháng 11/ 2010. Mặc dù không hạn chế số lượng nhưng vì trùng vào giờ làm việc nên đã hạn chế phần nào người tiêu dùng mua sắm. Pico không những đã thành công với mục đích thu hồi vốn mà còn vượt doanh thu cao. Những mặt hàng như ti vi màn hình phẳng công nghệ mới giá thành cao không bán được trong năm thì lại bán được nhiều nhất, ngoài ra còn có những mặt hàng khác như ti vi, máy ảnh, máy giặt thương hiệu thì nay nhiều người đã có thể sở hữu được. Tuy nhiên, hầu như những mặt hàng này được nhập về từ đầu năm nên đợt xả hàng cuối năm này, các mặt hàng thường đã lỗi mốt hoặc sắp hết thời hạn bảo hành… Theo đa số ý kiến của người tiêu dùng thì họ thích hình thức khuyến mại này vì nó thực tế, nhìn thấy được và là cơ hội cho tất cả người mua hàng (không giống như bốc thăm trúng thưởng) họ chấp nhận những lỗi nhỏ để có thể sở hữu một sản phẩm hàng hiệu với giá rẻ hơn bình thường. Với thương nhân thì đó cũng là cơ hội để họ thanh lý những hàng tồn, hàng lỗi mốt hay hàng khó bán,.. nhằm thu hồi vốn nhanh chóng. 4. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ, phiếu dự thi (khoản 4 và khoản 5 Điều 92 LTM 2005) Việc bán hàng hay cung ứng dịch vụ có kèm phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ, phiếu dự thi có thể được hiểu là một hình thức khuyến mại kèm theo khi mua sản phẩm hoặc khi sử dụng dịch vụ. Trong đó, phiếu mua hàng thường có ý nghĩa giảm giá hoặc có mệnh giá nhất định để thanh toán cho những lần mua sau trong hệ thống bán hàng của thương nhân. Phiếu sử dụng dịch vụ có thể cho phép sử dụng dịch vụ miễn phí, theo điều kiện do nhà cung ứng dịch vụ đưa ra. Khác với điều này, phiếu dự thi có thể mang lại giải thưởng hoặc không mang lại lợi ích gì cho khách hàng, phụ thuộc vào kết quả dự thi của họ. Chủ thể là các thương nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa. Giá trị tối đa của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại đó trước thời gian khuyến mại (Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 37/2006/NĐ–CP ngày 4/4/2006). Nội dung của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ, phiếu dự thi phải bao gồm các thông tin liên quan được quy định tại Điều 97 Luật Thương mại 2005. Nội dung của chương trình tổ chức trong phiếu dự thi không được trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam. (Điều 10, Điều 11 Nghị định số 37/2006/NĐ–CP ngày 4/4/2006). Ưu điểm là đối với phiếu mua hàng, thương nhân có thể cho khách hàng cơ hội được mua sắm nhiều hơn. Tâm lý người tiêu dùng là khi nhận được một tờ phiếu mua hàng, ví dụ: tờ phiếu đó có giá trị là 50.000đ, thì lần sau họ cũng sẽ vẫn đến cửa hàng đó mua đồ, vì họ biết trước được rằng mình đã có thể giảm số tiền món đồ đó được 50.000đ rồi. Với phiếu sử dụng dịch vụ, người tiêu dùng sẽ được sử dụng những dịch vụ mới, đây cũng là một trong những cách quảng cáo loại hình dịch vụ của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Đối với phiếu dự thi, cũng có thể coi là một trò mang tính chất may mắn, người tiêu dùng có thể nhận được lợi ích hay không là tùy thuộc vào họ. Mục tiêu của thương nhân trong loại hình này là kích thích vào tính đông đảo của người tham dự, qua đó tăng số lượng hàng bán ra. Nhược điểm là với người tiêu dùng, sẽ phải đối mặt với những điều kiện khắt khe mới có thể sử dụng được phần dịch vụ của mình. Hoặc có thể đó là những dịch vụ kèm theo kém chất lượng, những phần thi mang tính chất lừa bịp hoặc đánh đố. Với thương nhân sử dụng một trong các hình thức khuyến mại này, nếu không đánh trúng vào tâm lý tiêu dùng của người dân sẽ dẫn đến giảm doanh thu, có khi là lỗ do người tiêu dùng sẽ không dùng sản phẩm, dịch vụ này. Ví dụ thực tiễn: Hãng thời trang NEM, có chương trình khuyến mại tặng phiếu mua hàng cho khách hàng, áp dụng đối với những vị khách mua hàng với tổng giá trị từ 2 triệu đồng trở lên, sẽ được tặng một thẻ mua hàng VIP trong thời hạn 3 năm, người sở hữu thẻ này khi đến các cửa hàng trên mọi địa điểm của toàn quốc, nếu mua hàng của hàng thời trang NEM thì sẽ được giảm giá từ 10 đến 15% và được hưởng dịch vụ khách hàng tận tình, chu đáo và chất lượng. Đây là một trong các hình thức khuyến mại được người mua rất quan tâm, vì nó cũng mang tính chất thực tế, nhìn nhận thấy, đối với thương nhân thì nó cũng mang lại những lợi nhuận lớn, vì có thể thu lợi, bán được nhiều hàng và giữ được những khách hàng truyền thống. Tuy nhiên hình thức này có điều kiện (phải mua một số lượng hàng với một giá trị nhất định). Vì thế trong điều kiện thị trường tiêu dùng ở Việt Nam thì hình thức này không hướng tới được các vị khách tầm trung. 5. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi (khoản 6 Điều 92 LTM 2005) Một hình thức khuyến mại khác mà giáo trình không đề cập nhưng luật cũng như thực tế cũng được các thương nhân áp dụng phổ biến hiện nay đó là hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hoá, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố. Do là một hoạt động mang tính may rủi, người mua hàng nếu may mắn thì sẽ được nhận quà vì vậy, hình thức khuyến mại này được pháp luật điêu chỉnh có phần chi tiết hơn so với các hình thức khuyến mại khác. Theo Điều 12 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP nói thì có một vài điều cần chú ý về hình thức khuyến mại này: Thứ nhất, nếu giải thưởng may rủi có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên, hoặc việc trúng thưởng được xác định trên cơ sở bằng chứng trúng thưởng kèm theo hàng hoá thì thương nhân phải có văn bản thông báo gửi đến Sở Công thương nơi tổ chức trước ít nhất 7 ngày kể từ ngày bắt đầu. Thứ hai, vé dự thưởng có hình thức không được giống với hình thức vé xổ số do Nhà nước phát hành, không được lấy kết quả xổ số làm kết quả cho việc trúng thưởng. Nội dung của vé dự thưởng phải có đầy đủ những thông tin giá trị, số lượng giải thưởng, số lượng vé phát hành và các nội dung tối thiểu cần thiết quy định ở Điều 97 LTM 2005. Thứ ba, một loại nhãn hàng hoá, dịch vụ không được phép thực hiện khuyến mại quá 180 ngày trong một năm và một chương trình khuyến mại không được quá 90 ngày. Nếu quá 30 ngày, kể từ ngày hết hạn trao giải, nếu không có người trúng thưởng thì thương nhân phải trích nộp cho Ngân sách Nhà nước 50% giá trị của giải thưởng. Ưu điểm là đối với thương nhân hình thức khuyến mại này cũng tương tự như các hình thức khuyến mại khác, giúp lôi kéo khách hàng đến với mình. Còn về phía khách hàng, có thể sở hữu những thứ có giá trị lớn như nhà, xe hơi, xe máy… nếu may mắn trúng thưởng. Nhược điểm là thương nhân muốn thực hiện hình thức khuyến mại này thường nhân phải đưa ra những giải thưởng có giá trị lớn, không những thế, họ còn phải chịu sự kiểm tra khắt khe từ phía cơ quan Nhà nước, tốn kém các khoản chi phí phát sinh như in vé dự thưởng, quảng cáo, tổ chức trao giải… Về phía người mua hàng, do đây là hình thức mang tính may rủi nên rất ít người được có may mắn nhận quà so với các hình thức khác và thực tế thì người tiêu dùng không thích, không hưởng ứng chương trình khuyến mại này bởi nó không mang tính thực tế. Ví dụ thực tiễn: Từ 30/04 đến ngày 30/05/2010 Công ty Viễn thông Viettel tổ chức chương trình “Vui ngày thống nhất – Trúng iPhone”. Theo đó, khi mua một trong những sản phẩm sau: giấy thẻ cào, các bộ hòa mạng Sumosim, USB, 3G và trọn bộ máy tính Combo3 internet trong các siêu thị, cửa hàng Viettel trên toàn quốc, khách hàng sẽ được tham dự chương trình rút thăm trúng thưởng trị giá giải thưởng lên đến gần 1 tỷ đồng. Đây là một trong các hoạt động của Viettel cho khách hàng nhân dịp Giải phóng miền Nam Việt Nam và Ngày Quốc tế Lao động. Người tiêu dùng cần mua thì vẫn cứ đến mua chứ thực ra hình thức này không thu hút được khách hàng vì ai cũng biết nó không thực tế, cũng chỉ là các chiêu “kinh tế” của những nhà kinh doanh. 6. Tổ chức các sự kiện thu hút khách hàng (Khoản 7 và khoản 8 Điều 92 LTM 2005) Tổ chức sự kiện là sự phối hợp ăn ý giữa các yếu tố: hoạt động bán hàng, quản lý thông tin khách hàng, quan hệ công chúng, nghiên cứu thị trường, xây dựng nhãn hiệu và thâm nhập thị trường. Ngay với nhan đề trên cũng đủ thấy mục đích lựa chọn hình thức khuyến mại này của thương nhân là nhằm “thu hút khách hàng” vì lợi ích trước mắt cũng như vì cả lợi ích lâu dài. Tổ chức sự kiện là sự phối hợp ăn ý giữa các yếu tố: hoạt động bán hàng, quản lý thông tin khách hàng, quan hệ công chúng, nghiên cứu thị trường, xây dựng nhãn hiệu và thâm nhập thị trường. Trên thực tế, trong lĩnh vực tiếp thị, tổ chức sự kiện rất gần với hoạt động bán hàng của công ty. Các sự kiện này được tổ chức gắn liền hoặc tách rời với việc mua hàng, sử dụng dịch vụ của khách hàng, ví dụ như các chương trình mang tính may rủi mà khách hàng trúng thưởng hoàn toàn do sự may mắn. Bốc thăm cào số trúng thưởng, bóc, mở sản phẩm trúng thưởng, vé số dự thưởng… là các sự kiện tổ chức gắn liền với hoạt động mua sắm. Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí,… có thể là lợi ích phi vật chất mà thương nhân giành khuyến mại cho khách hàng, cũng có thể nhằm hướng tới khách hàng mục tiêu của thương nhân. Ngoài các sự kiện trên đây, thương nhân có thể tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, tri ân khách hàng thân thiết,… các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại. Để đạt được những mục đích trong việc sử dụng hình thức khuyến mại này thì các thương nhân thường xác định rất rõ: đối tượng nhận thông điệp; khách mời; thời gian, địa điểm, nội dung, trình tự cơ bản, ngân sách, cơ quan báo chí,… Từ đó sẽ có những động thái phù hợp trong sự kiện mà mình tổ chức. Không thể chỉ dựa vào việc điều hành, thực hiện một cuộc triển lãm sản phẩm mà doanh nghiệp có thể nắm bắt được tất cả các cơ hội tiềm năng. Quá trình quảng bá trước khi tổ chức sự kiện có thể nói là việc cần thiết và quan trọng nhất của hoạt động tiếp thị hiện đại, nhờ đó doanh nghiệp có thể xác định được đối tượng khách hàng mục tiêu và thu hút họ tham gia. Đối với những sự kiện thương mại có sự góp mặt của nhiều công ty khác nhau, doanh nghiệp thường tổ chức hoạt động xúc tiến và quảng bá rộng rãi nhằm tranh thủ sự ưu tiên quan tâm của những khách hàng tham dự. Tổ chức thực hiện một sự kiện thương mại là một hoạt động cực kỳ phức tạp: nó vừa phải là một cuộc triển lãm hàng hoá hấp dẫn và thu hút, vừa phải tạo được tinh thần hiếu khách, đồng thời bảo đảm các yêu tố hậu cần cũng như vô số những công việc lặt vặt khác. Ví dụ thực tiễn: Siêu thị Big C tiến hành tổ chức sự kiện “thời trang tóc” vào tối ngày 22/07/2008 để thu hút khách hàng đến với siêu thị, dù là chỉ tham quan, tham dự thế nhưng, đó cũng là cơ hội để Big C quảng bá sản phẩm, giới thiệu các thương hiệu dầu gội và các loại thương hiệu khác đến với khách hàng, mục đích là thu hút khách hàng cho siêu thị. Hay công ty May 10 (một trong những công ty may có thương hiệu ở Việt Nam và luôn có tỉ trọng hàng dệt may xuất khẩu cao của cả nước) họ đã tổ chức sự kiện khai trương siêu thị May 10 để giới thiệu, quảng bá sản phẩm và thu hút khách hàng. Trong sự kiện này thì họ đã có các chương trình văn nghệ, thời trang, giải trí,… không mang lại lợi ích trước mắt, thậm chí còn lỗ, tuy nhiên nó lại có tác dụng lâu dài, hướng tới những khách hàng tiềm năng trong và ngoài nước của công ty. Với các sự kiện này, thương nhân có thể quảng bá sản phẩm của mình (đối với thương nhân mới gia nhập thị trường) hay mở rộng phạm vi khách hàng của mình hoặc là giữ khách hàng truyền thống…. Còn những người tiêu dùng thì có nhiều lợi ích khi tham gia sự kiện, họ có thể được thưởng thức nghệ thuật, được giải trí, miễn phí, có cơ hội may mắn trúng thưởng, hoặc có thể được nhận những quà tặng của thương nhân. Tuy nhiên, bài toán kinh tế cũng khiến nhiều thương nhân “tiền mất tật mang” vừa mất tiền, mất của, mất thời gian tổ chức các sự kiện mà lại không thu được những lợi nhuận hoặc ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu nếu như các “nhà kinh tế” không có khả năng tổ chức. Trên thực tế, nền kinh tế biến động từng ngày, cho nên có thể sẽ phát sinh ra những hình thức khuyến mại khác tuy nhiên, tất cả đã nằm trong dự trù của các nhà lập pháp. Ngoài những hình thức pháp lý được pháp luật quy định trong Luật thương mại thì khoản 9 Điều 92 LTM 2005 là một điều khoản mở nhằm áp dụng đối với những hình thức khuyến mại phát sinh sau này mà có thể các nhà làm luật chưa kịp đưa ra quy phạm điều chỉnh.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMột số vấn đề pháp lý về khuyến mại trong Luật Thương mại 2005.doc
Luận văn liên quan