Nâng cao chất lượng đội ngũ Đảng viên xã Pả Vi - Huyện Mèo Vạc - tỉnh Hà Giang

Trong những năm thực hiện đường lối đổi mới, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có nhiều chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, phát triển đội ngũ đảng viên. Thực tiễn phong phú và những thành tựu đạt được qua 25 năm đổi mới đã chứng minh rằng: sự phát triển lớn mạnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã góp phần quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong thời gian qua, công tác xây dựng đội ngũ đảng viên còn những hạn chế, yếu kém. Do đó, chất lượng đội ngũ đảng viên chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Đó là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ chủ chốt ở các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; tính chiến đấu, tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình yếu; một bộ phận chưa thể hiện vai trò tiền phong gương mẫu, còn nói nhiều làm ít, hoặc nói nhưng không làm, trung bình chủ nghĩa, thờ ơ, vô cảm và thiếu trách nhiệm trước những vụ việc tiêu cực, muốn làm theo cách cũ, không chịu đổi mới, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gia tăng, tình thương yêu đồng chí trong Đảng giảm sút; tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy vị trí công tác, chạy tội, chạy bằng cấp, còn xảy ra ở nhiều nơi, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Trong lúc đó, công tác kiểm tra, giám sát đảng viên thiếu chặt chẽ, cấp uỷ, chi bộ chưa nắm chắc tình hình tư tưởng và phẩm chất đạo đức của đảng viên, nhất là những đảng viên hoạt động phân tán, công tác ở nơi xa. Nhiều đảng viên có khuyết điểm, vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước nhưng tổ chức đảng không biết, hoặc phát hiện chậm, việc giáo dục, xử lý đối với đảng viên vi phạm ở nhiều nơi thiếu kịp thời và chưa nghiêm túc. Trong từng lĩnh vực hoạt động, đội ngũ đảng viên cũng có những hạn chế, khuyết điểm như: ở xã, phường, thị trấn, trình độ năng lực của một bộ phận không nhỏ đảng viên, nhất là đảng viên giữ chức vụ trong Đảng, chính quyền, đoàn thể còn thấp, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên gặp nhiều khó khăn, chất lượng hạn chế, tư tưởng cục bộ địa phương, dòng họ còn nặng. Trong các đơn vị sự nghiệp, nhiều đảng viên còn thờ ơ, chưa coi trọng việc học tập lý luận chính trị. Nhiều đảng viên trong các doanh nghiệp, nhất là ở các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước chỉ quan tâm, chú ý đến sản xuất kinh doanh, lợi ích kinh tế, chưa quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của đảng viên. Ngày nay, đất nước đang trong thời kỳ CNH, HĐH với nhiều khó khăn, thử thách đã và đang đòi hỏi con người phải năng động, sáng tạo hơn đặc biệt là đối với lực lượng trẻ. Tuy nhiên do mặt trái của kinh tế thị trưởng đã tác động không nhỏ đến một bộ phận tâm lý đảng viên, một bộ phận đảng viên sống buông thả, đua đòi, thực dụng, chay lười, ỷ lại, thờ ơ với chế độ chính trị, với tổ chức cơ sở Đảng. Do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tập hợp đảng viên vào tổ chức cơ sở Đảng. Công tác nâng cao chất lượng đội ngũ Đảng viên tại xã Pả Vi- huyện Mèo Vạc- tỉnh Hà Giang. Trong những năm qua đã có những chuyển biến rõ rệt, nội dung và hình thức sinh hoạt đã được cải thiện và đổi mới, phù hợp với yêu cầu cảu các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương về công tác nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Tuy nhiên ngoài những thành quả đã đạt được, vẫn còn tồn tại những khó khăn, hạn chế. Công tác nâng cao chất lượng đảng viên còn chưa cao. Nhận thức được vấn đề trên, em lựa chọn đề tài : “Nâng cao chất lượng đội ngũ Đảng viên”. Để nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ Đảng viên xã Pả Vi- huyện Mèo Vạc- tỉnh Hà Giang. LỜI CẢM ƠN 1 MỤC LỤC 2 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4 PHẦN I. MỞ ĐẦU 5 Phần II. NỘI DUNG 9 Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN 9 1.1. Lý luận chung về chất lượng đảng viên. 9 1.1.1. Một số khái niệm. 9 1.1.1.1. Đảng viên và đội ngũ đảng viên. 9 1.1.1.2. Chất lượng đội ngũ đảng viên. 11 1.1.2. Vị trí, vai trò của đội ngũ đảng viên. 12 1.1.3. Những căn cứ để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. 14 1.1.4. Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ đảng viên. 19 1.2. Cơ sơ thực tiễn. 21 1.2.1. Sự cần thiết khách quan nâng cao chât lượng đảng viên ở cơ sở. 21 1.2.2. Thực tiễn chất lượng đội ngũ đảng viên ở Đảng bộ xã Pả Vi- huyện Mèo Vạc- tỉnh Hà Giang, 23 Chương 2.THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN Ở ĐẢNG BỘ XÃ PẢ VI- HUYỆN MÈO VẠC 25 - TỈNH HÀ GIANG 25 2.1. Đặc điểm về tự nhiên- kinh tế xã hội. 25 2.1.1. Đặc điểm tự nhiên. 25 2.1.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội. 25 2.2. Thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở Đảng bộ xã Pả Vi- huyện Mèo Vạc- tỉnh Hà Giang. 26 2.2.1. Những thành tựu và nguyên nhân đạt được. 26 2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân. 30 Chương 3.NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN 34 3.1. Phương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. 34 3.1.1. Quan điểm của Đảng về nâng cao chất lượng đảng viên. 34 3.1.2. Phương hướng chung về nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. 36 3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. 37 3.2.1. Cụ thể hóa một số tiêu chuẩn đảng viên trong giai đoạn hiện nay. 37 3.2.2. Tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ đảng viên. 38 3.2.3. Củng cố cấp ủy chi bộ, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. 41 3.2.4. Kiện toàn chất lượng hoạt động của tổ chức chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể trong hệ thống chính trị của Đảng bộ xã Pả Vi. 43 3.2.5. Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng, làm tốt công tác kiểm tra, phân công, quản lý, phân loại, sàng lọc đảng viên. 45 3.2.6. Nâng cao chất lượng phát triển đảng viên mới. 48 PHẦN III. KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

doc51 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/02/2013 | Lượt xem: 3369 | Lượt tải: 60download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nâng cao chất lượng đội ngũ Đảng viên xã Pả Vi - Huyện Mèo Vạc - tỉnh Hà Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
những năm qua được sự quan tâm lãnh chỉ đạo trực tiếp của Huyện Ủy- HĐND- UBND và các ban ngành cấp trên với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, một lòng quyết tâm phấn đấu thắng lợi các mục tiêu kinh tế- văn hóa, xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra. Tuy nhiên do đặc điểm tự nhiên khắc nghiệt, địa hình phức tạp, giao thông đi lại giữa các thôn, bản trong xã còn rất khó khăn, trình độ dân trí thấp. Vì vậy việc phổ biến tuyên truyền cho nhân dân tiếp thu ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất còn nhiều hạn chế. 2.1.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện sự nghiệp đổi mới của Đảng . Xã Pả Vi luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế- xã hội hàng năm đề ra. - Về phát triển kinh tế: mức tăng trưởng kinh tế tư 7,6% năm 2008 lên 12,5% năm 2010. Trong đó, giá trị nông nghiệp chiếm 80%, các ngành sản xuất khác chiếm 20%. - Về công tác xây dựng cơ sở vật chất, các công trình phúc lợi xã hội luôn được quan tâm, đầu tư. - Về quốc phòng an ninh: An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, ổn định. - Về văn hóa- xã hội: Đã có bước phát triển tốt về mọi mặt, Trường Mầm Non, Trường tiểu học, Trường THCS hai năm liền đạt tiên tiến cấp huyện. Công tác an sinh xã hội được thực hiện tốt,thực hiện tốt chương trình xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho thanh niên. Hoàn thành tiêu chí xây dựng nông thôn mới. xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. 2.2. Thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở Đảng bộ xã Pả Vi- huyện Mèo Vạc- tỉnh Hà Giang. 2.2.1. Những thành tựu và nguyên nhân đạt được. Được sự quan tâm chỉ đạo của UBND huyện và các ban ngành cùng với sự nỗi lực, cố gắng của Đảng ủy xã- HĐND- UBND và toàn thể nhân dân trong xã nên kết quả sản xuất trong năm qua có những chuyển biến tích cực. Tổng diện tích gieo trồng toàn xã là 813,3 ha đạt 95,7% so với kế hoạch giao, lương thực bình quân đầu người 2008-2010. tăng 7,9% so với năm 2006- 2007. Từ khi đất nước thống nhất, cả nước bước vào giai đoạn xây dựng CNXH, Đảng ta đã đặt ra yêu cầu đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo. Đại hội IV, Đại hội V của Đảng nêu rõ yêu cầu phải xác định chức năng, nhiệm vụ và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể; chỉ ra tình trạng lẫn lộn chức năng, nhiệm vụ giữa cơ quan đảng và cơ quan nhà nước; tổ chức đảng bao biện, làm thay công việc chính quyền, xem nhẹ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và tổ chức kinh tế; xác định cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đại hội VI của Đảng (12-1986) đánh dấu đường lối đổi mới về kinh tế-xã hội, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Đại hội nhấn mạnh đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH do Đại hội VII của Đảng thông qua; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, Trung ương 8 (khóa VII); Trung ương 3, Trung ương 7 (khóa VIII) và Đại hội IX của Đảng đều thể hiện tư tưởng, quan điểm đổi mới của Đảng về phương thức lãnh đạo đối với việc xây dựng hệ thống tổ chức nhà nước. Đại hội IX của Đảng khẳng định Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Văn hóa- xã hội được duy trì thường xuyên. Xây dựng dới sống văn hóa mới ở khu dân cư, thực hiện tốt các quy ước, hương ước do thôn bản đề ra, đặc biệt là các tiêu chí làng văn hóa- gia đình văn hóa. Nâng cao dời sống tinh thần cho nhân dân, góp phần làm cho dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, yên tâm ổn định cuộc sống, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của toàn xã. An ninh chính trị ổn định. Đảng bộ xã Pả Vi luôn làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng như nhân dân, học tập nghiên cứu và chấp hành tốt các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tư tưởng cán bô, đảng viên không hoang mang, dao động trước những khó khăn của đời sống, cũng như biến cố chính trị xảy ra, tu dưỡng rèn luyện những phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Trong những năm qua Đảng bộ đã tách và thành lập thêm được 03 chi bộ ( chi bộ Trường Mầm Non, chi bộ Trường THCS, chi bộ cơ quan xã), nâng từ 7 chi bộ năm 2007 lên 10 chi bộ. Năm 2011 Đảng bộ thường xuyên giới thiệu quần chúng ưu tú đi học cảm tình đảng và bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên dự bị, năm qua Đảng bộ xã đã kết nạp được 20 đảng viên mới, nâng tổng số đảng viên trong toàn Đảng ủy xã từ 65 đến 85 đảng viên trong đó có 7 đảng viên dự bị. Để tạo nguồn cho xã có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kì mới, Đảng bộ đã ra Nghị quyết chuyên đề về chế độ học tập văn hóa, chính trị đối với cán bộ, đảng viên. Đến nay đội ngũ cán bộ chủ chốt của xã, có 13 đồng chí trình độ văn hóa cấp III, 5 đồng chí trình độ văn hóa cấp II, 01 đồng chí trình độ văn hóa cấp I. Về trình độ chuyên môn: Đại học 01 đồng chí; Đang học đại học 02 đồng chí; Trung cấp 05 đồng chí; Đang học trung cấp 01 đồng chí. Đảng bộ xã trong thời gian qua đã làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng nên trong nhiệm kỳ qua đã có nhiều tiến bộ so với kết nạp. Hàng tháng, hàng quý, Đảng bộ đều xây dựng được nghị quyết lãnh đạo, triển khai tốt các chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên, đóng đảng phí đầy đủ. Kết thúc năm 2010 Đảng bộ đạt loại hoàn thành tốt nhiệm vụ, 04 chi bộ trực thuộc đạt “ chi bộ TSVM” không có chi bộ yếu kém. Trong đó Đảng bộ xã có 10 chi bộ, với 210 đảng viên. Đảng viên nữ là 48 đồng chí, có 15 đảng viên nữ là dân tộc Kinh, còn lại 30 đồng chí là dân tộc H.Mông, còn 3 đồng chí là dân tộc LôLô. Kết quả xếp loại đảng viên năm 2010: Đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: 50đảng viên. hoàn thành tốt nhiệm vụ: 75 đảng viên. Đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ, trong đó: hoàn thành nhiệm vụ: 78 đảng viên. Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế: 7 đảng viên. Công tác kiểm tra Đảng: Hàng năm Ủy ban kiểm tra của Đảng bộ xã đã xây dựng kế hoạch kiểm tra với nội dung tập trung vào kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, kiểm tra việc chấp hành nghị quyết và Điều lệ của Đảng, chấp hành quy chế làm việc, qua đó uốn nắn và đưa ra kiểm điểm những đảng viên vi phạm theo quy định số: 19/QĐ-TW ngày 03/10/2001 của bộ chính trị về những điều đảng viên không được làm. Trong đó, đã tiến hành kiểm tra 9/10 tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên, có một đồng chí đảng viên tại xóm Kho Tấu vi phạm pháp luật và đã nhận hình thức kỷ luật là khai trừ ra khỏi Đảng, góp phần làm trong sạch Đảng. Những thành tựu đạt được trong 20 năm qua, có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển toàn diện của Xã, đưa địa phương ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, sức mạnh về mọi mặt được tăng cường, khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ Xã Pả Vi, tạo tiền đề để địa phương phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới. Đội ngũ đảng viên ngày càng nâng cao về trình độ trí tuệ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức lớn, đan xen nhau và diễn biến phức tạp, không thể xem thường. Đại hội lần thứ XI của Đảng có ý nghĩa trọng đại, định hướng và động viên, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Chúng ta nguyện làm hết sức mình, phát huy cao độ trí tuệ, ý thức trách nhiệm và sự đoàn kết, thống nhất cao để hoàn thành tốt nhất những nhiệm vụ của Đại hội, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước, thực hiện bằng được mục tiêu cao cả, xây dựng đất nước ta dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Để làm được điều đó đội ngũ đảng viên phải không ngừng học hỏi và trau dồi kinh nghiệm, năng động sáng tạo. Bên cạnh đó, những khiếm khuyết của việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là tình trạng vừa thiếu, lại vừa yếu; tình trạng hụt hẫng cán bộ lãnh đạo, thiếu đội ngũ kế cận diễn ra ở nhiều cấp, nhiều ngành; công tác cán bộ, nhất là khâu đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vẫn còn nhiều nổi cộm. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng còn nhiều mặt chưa đáp ứng được của tình hình mới; nhiều vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xa hội ở nước ta. Về sự lãnh đạo của Đảng và công tác xây dựng Đảng chậm được làm sáng tỏ; một số quan điểm lớn, đúng đắn về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và công tác xây dựng Đảng được đề ra trong cương lĩnh và các Nghị quyết Đại hội Đảng chậm được cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức thực hiện; chưa phát huy đầy đủ tiềm năng và nhân tài, vật lực của đất nước. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên còn có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, phai nhạt lý tưởng. Chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc có mặt chưa rõ, chưa thống nhất một số vấn đề ở tầm quan điểm, chủ trương về công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới. Chưa cụ thể hóa và tổ chức thực hiện kịp thới đồng bộ một số quan điểm lớn, đúng đắn về xây dựng Đảng. Một số cán bô, đảng viên thiếu tu dưỡng , rèn luyện về phẩm chất và năng lực. 2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân. Đội ngũ đảng viên trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến, đạt được những kết quả đáng khích lệ, song còn có những hạn chế. Trình độ văn hóa chuyên môn chính trị của cán bộ, đảng viên còn thấp, còn có tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ỷ lại, chậm đổi mới, chưa dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, do vậy việc vận dụng nghị quyết vào trong đời sống còn lúng túng. Nhận thức của một số tổ chức Đảng, một số cán bộ, đảng viên chưa quan tâm đúng mức, ngại va chạm. Một số đồng chí còn hạn chế về chuyên môn, chưa đáp ứng với yêu cấu chưa ngang tầm với nhiệm vụ trong tình hình mới. Do một xã vùng cao núi đá, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, trình độ cán bộ dân trí còn thấp, không đồng đều. Việc xây dựng kế hoạch, xây dựng nghị quyết còn chung chung chưa sát với thực tế, việc kiểm tra giám sát thực hiện nghị quyết còn yếu chưa thường xuyên. Công tác tham mưu của các ngành đoàn thể còn yếu, chưa sâu, chưa tìm ra giải pháp có tính chiến lược. Một số đảng viên chưa năng động, sáng tạo, tư tưởng chông chờ, ỷ lại vào cấp trên. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền còn chưa thường xuyên. Cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Xã trình độ 12/12 là chủ yếu và chiếm phần nhiều. Chưa có trình độ chuyên môn, dẫn đến công tác phát triển đảng viên tại Đảng bộ xã còn gặp nhiều khó khăn. Do đó công tác Đảng tại địa phương còn có những hạn chế nhất định, mặc dù đã cải thiện nhưng kết quả đạt được vẫn chưa cao. Vì vậy khi đứng trước dân để giải quyết những vấn đề thắc mắc của dân thì còn chung chung, chưa thực sự thuyết phục, đặc biệt là những vấn đề chính trị của đất nước, những vấn đề xảy ra tại địa phương. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiến hành tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy đảng chưa đạt yêu cầu đề ra, chưa tạo được chuyển biến cơ bản, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được tệ quan lieu, tham nhũng, lãng phí. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng chưa đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức; tính chiến đấu; tính thuyết phục và hiệu quả chưa cao; thiếu chủ động và sắc bén trong đấu tranh chống tuyên truyền phản động, bác bỏ các quan điểm sai trái; chỉ đạo; công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống còn chung chung, thiếu biện pháp hữu hiệu. Chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình giá dục lý luận chính trị cho đảng viên và đội ngũ đảng viên. Những kinh nghiệm rút ra từ hoạt động thực tiễn. Quán triệt và nắm vững các Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Sự chỉ đạo của Tỉnh, của Huyện vận dụng vào điều kiện thực tiễn của địa phương. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng an ninh. Đảng viên phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu đi đầu trong mọi phong trào. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên, khắc phục những hạn chế còn tồn tại. Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn thấm nhuần tư tưởng “Dân là gốc”, từ đó biết dựa vào dân, gán bó máu thịt với nhân dân, hết lòng hết sức phụng sự cho lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc. Chính vì thế, trong khó khăn, hoạn nạn cũng như lúc đã giành và xây dựng chính quyền, Đảng ta luôn được nhân dân đùm bọc, bảo vệ, ủng hộ và giúp đỡ về mọi mặt. Đảng ta không ngừng chăm lo xây dựng khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân với đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, coi đây là nền tảng để mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Để làm tốt điều đó, Đảng ta chú trọng lợi ích toàn dân tộc đồng thời cũng luôn chăm lo lợi ích của từng giai cấp, từng bộ phận, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích, quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm công dân. Đảng ta cũng có quan điểm, chủ chương, chính sách dân tộc, tôn giáo đúng đắn, nhằm tăng cường đoàn kết dân tộc, đoàn kết giữa các tôn giáo với nhau và giữa đồng bào theo đạo và đồng bào không theo đạo để cùng phấn đấu vì mục tiêu chung của cách mạng, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Ngày nay trong điều kiện mới, nhất là trong điều kiện phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ trên thế giới, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước, phấn đấu vì một nền hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Đường lối đối ngoại tích cực và chủ động đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đất nước ta đồng thời góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình và sự phát triển của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đó cũng là thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng, đưa cách mạng nước ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đi đôi với thường xuyên chăm lo xây dựng và chỉnh đốn Đảng để Đảng mãi mãi xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Suốt 75 năm qua, Đảng ta luôn luôn giữ vững vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam chính vì Đảng ta có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và của dân tộc, luôn luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc, giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, không ngừng sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đảng ta luôn luôn nắm vững những nguyên lý, quan điểm cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào thực tiễn cách mạng trong mỗi lúc để đề ra đường lối đúng đắn và sáng tạo, chỉ rõ phương thức hành động thích hợp, tập hợp và tổ chức, dộng viên toàn dân tiến hành đấu tranh cách mạng giành thắng lợi. Để làm cho Đảng thật sự là ngọn cờ lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam, ngay từ khi ra đời đến nay, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, coi đó là nhiệm vụ then chốt của cách mạng. Đảng ta không ngừng chăm lo việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, tăng cường sức chiến đấu của từng đảng viên và tổ chức đảng, giữ vững mối liên hệ mật thiết với nhân dân, xứng đáng “là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đảng phải nâng cao năng lực lãnh đạo chính quyền, làm cho chính quyền phát huy bản chất là nhà nước của dân, do dân và vì dân, xây dựng bộ máy thật sự trong sạch vững mạnh, chống mọi thói hư, tật xấu, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, nâng cao hiệu quả, hiệu lực điều hành của Nhà nước. Từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền các cấp cũng như toàn bộ hệ thống chính trị, làm cho toàn bộ hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề đoàn kết trong Đảng, coi đó là truyền thống cực kỳ quý báu và là điều kiện quan trọng nhất cho sự phát triển và vững mạnh của Đảng. Để tăng cường đoàn kết trong Đảng, một mặt Đảng ta quan tâm mở rộng dân chủ trong Đảng, đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng, mặt khác Đảng ta chăm lo công tác tự phê bình và phê bình, coi đó là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Chương 3 NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN 3.1. Phương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. 3.1.1. Quan điểm của Đảng về nâng cao chất lượng đảng viên. Nâng cao chất lượng Đảng viên là yếu tố then chốt nâng cao chất lượng Đảng. Cần công khai kết quả phiếu thăm dò tín nhiệm, coi đây là một tiêu chí để quyết định đề bạt, bổ nhiệm cán bộ giữ các chức vụ lãnh đạo. Cần làm tốt công tác kê khai tài sản trước khi nhậm chức để làm căn cứ cho quá trình chống tham nhũng.“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” nêu trong Dự thảo Báo cáo Chính trị đã thể hiện khá đầy đủ, rõ nét từng tiêu chí liên quan đến công tác xây dựng Đảng. Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn các nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân là phương châm xuyên suốt quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ Quốc XHCN. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận. Ngoài việc phát triển công tác lý luận để giải quyết có hiệu quả mối quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn, làm cơ sở điều chỉnh kịp thời những vấn đề phát sinh trong tiến trình đổi mới, phải khẳng định công tác tư tưởng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự ổn định của cả hệ thống chính trị, tạo thành trì vững chắc chống lại mọi âm mưu xảo quyệt của kẻ thù, đặc biệt là âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình”, đồng thời ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến” từ nội bộ cán bộ, đảng viên và cả mọi tầng lớp nhân dân. Để làm tốt công tác này, Đảng cần củng cố, chọn lựa, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tuyên giáo có trình độ, năng lực truyền thụ, cảm hóa khi tổ chức tuyên truyền vận động, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến tận thôn, buôn, khu phố, kết hợp vạch trần các luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động lợi dụng con đường du lịch, núp bóng từ thiện biến tướng, truyền đạo trái phép, gieo rắc tư tưởng buông xuôi, hưởng lạc, hoài nghi, mơ hồ lý tưởng và hệ tư tưởng chính thống của Đảng. Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Đưa hoạt động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nội dung sinh hoạt thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, trong đó cán bộ, đảng viên đầu tàu gương mẫu thực hiện trước quần chúng nhân dân. Nghiên cứu cải tiến việc lấy ý kiến để nhân dân có điều kiện khách quan khi nhận xét về tư cách, đạo đức, lối sống và tài sản cố định của cán bộ, đảng viên nơi cư trú. Kiện toàn tổ chức cơ sở Đảng và nâng cao chất lượng đảng viên. Ngoài các nội dung đã đề cập, cần bổ sung, điều chỉnh thêm phần “Kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, đưa ra khỏi bộ máy thuộc hệ thống chính trị những người không đủ tư cách đảng viên, vi phạm các Quy định của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm”. Đổi mới công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Phát huy quyền dân chủ chủ của cán bộ, đảng viên, quần chúng trong việc thống nhất quy hoạch nguồn cán bộ lãnh đạo kế cận ở từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị, thông qua ý kiến đóng góp hàng năm, phiếu thăm dò tín nhiệm trên cơ sở danh sách do cấp ủy, thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ, đảng viên đưa ra. Cần công khai kết quả phiếu thăm dò tín nhiệm, coi đây là một tiêu chí để quyết định đề bạt, bổ nhiệm cán bộ giữ các chức vụ lãnh đạo. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. “Khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước”,Đối với các vụ án liên quan đến cán bộ, đảng viên, Đảng tuyệt đối không can thiệp dưới bất cứ hình thức nào trong quá trình cơ quan pháp luật tiến hành điều tra, kết luận và xét xử. 3.1.2. Phương hướng chung về nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Thống nhất về chính trị tư tưởng trong Đảng và quần chúng nhân dân. Tuyên truyền sâu rộng tới từng đảng viên, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng. Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước, triển khai kịp thời các chỉ thị Nghị quyết của cấp trên và của Đảng bộ cấp trên. Tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên và nâng cao vai trò trách nhiệm, tinh thần tiên phong gương mẫu trong mọi công việc của đảng viên. Tuyên truyền giáo dục cho tất cả đảng viên và quần chúng nhân dân về truyền thống đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao cảnh giác trước mọi âm mưu của kẻ thù, chống bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Kiên quyết chống mọi biểu hiện tiêu cực, tham ô, tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, làm trong sạch bộ máy Đảng, chính quyền cùng các đoàn thể. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW 6 ( lần 2) khóa VIII trở thành nề nếp, thường xuyên sắp xếp kiện toàn nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng, đảm bảo chế độ học tập, sinh hoạt theo nguyên tắc của Điều lệ Đảng. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, quán triệt sâu rộng tới toàn bộ đảng viên và nhân dân trong toan xã. Kịp thời phát hiện và tiến hành kiểm tra tỏ chức đảng cũng như đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, hoặc khi có đơn thư tố cáo của quần chúng để kịp thời uốn nắn xử lý những sai phạm xảy ra trong Đảng bộ. Phấn đấu trong nhiệm kỳ, hàng năm kết nạp 5-7 đảng viên mới đến năm 2015 toàn Đảng bộ trên 100 đảng viên trở lên, hàng năm có trên 90% số chi bộ cơ sở đạt chi bộ trong sạch vững mạnh, không có ci bộ yếu kém. Chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2015 , 100% cán bộ chủ chốt của xã tốt nghiệp trung học phổ thông, 70% cán bộ có trình độ chuyên môn, chính trị từ trung cấp trở lên, và 30% học qua lớp quản lý Nhà nước. 3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. 3.2.1. Cụ thể hóa một số tiêu chuẩn đảng viên trong giai đoạn hiện nay. Đối với đảng viên là công nhân trong các doanh nghiệp, phải luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, kiên trì với mục tiêu lý tưởng của Đảng và giai cấp. Là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, kiên quyết chống lại luận điệu, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; tiên phong trong cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nắm vững chuyên môn kỹ thuật, làm chủ quy trình và sáng tạo trong sản xuất. Tối thiểu phải có trình độ học vấn tốt nghiệp PTTH, có tay nghề cao, có kiến thức kinh tế thị trường, kiến thức pháp luật, ý thức kỷ luật lao động và gương mẫu về kỷ luật lao động. Đối với đảng viên ở nông thôn, phải có trình độ văn hoá đạt mức quy định (trung học cơ sở, riêng vùng sâu, vùng xa tối thiểu phải tự viết được đơn xin vào Đảng), sau khi được kết nạp vào Đảng phải tiếp tục học tập nâng cao trình độ. Tích cực thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, góp phần CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Cần cù, sáng tạo trong lao động, thoát nghèo và biết vươn lên làm giàu chính đáng cho gia đình, làng xóm; gương mẫu trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn, là gia đình văn hoá tiêu biểu, kiên quyết bài trừ những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan. Hoà đồng, gần gũi với quần chúng; quy tụ, tập hợp được quần chúng; thực sự là chỗ dựa tin cậy về tinh thần và là trung tâm đoàn kết của giai cấp nông dân trong công cuộc xây dựng nông thôn mới. Đối với đảng viên trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, phải là người tiêu biểu nhất trong những người tiêu biểu; không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sống trong sạch, có thái độ kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực; biết trọng dân, tin dân và vì dân (tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, quan tâm đến đời sống của nhân dân, chăm lo lợi ích cho nhân dân); có trình độ, năng lực quản lý, khả năng đoàn kết, quy tụ quần chúng, khả năng tổ chức, thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực trong cuộc sống; ham học tập, học mọi lúc, mọi nơi. Đối với đảng viên là thanh niên, học sinh, sinh viên và trí thức phải có ý thức chính trị, lập trường quan điểm vững vàng, trình độ chuyên môn giỏi, xung kích, năng động, sáng tạo; đồng thời, phải có tinh thần học hỏi, khiêm tốn, cầu thị, tận tâm, tận lực đem trí tuệ của mình phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân. Đối với đảng viên trong các lực lượng vũ trang, phải trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; có tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu cao, có khả năng sử dụng trang thiết bị hiện đại; thật sự là lực lượng trung kiên đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm, nguyên tắc tổ chức của Đảng. 3.2.2. Tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ đảng viên. Công tác chính trị tư tưởng là một bộ phận đặc biệt trong hoạt động lãnh đạo của Đảng các cấp, là công tác đối với con người, tác động trực tiếp đến con người trên lĩnh vực tình cảm, tư tưởng nhằm xác lập ở họ bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng, tuân thủ pháp luật, giác ngộ lí tưởng và lòng hăng say với nhiệm vụ được phân công.   Để nâng cao chất lượng công tác chính trị tư tưởng của tổ chức cơ sở Đảng, cấp ủy cơ sơ phải nắm vững và vận dụng tổng hợp các nguyên tắc và phương châm công tác chính trị- tư tưởng. Trước hết cần tập trung xây dựng Đảng bộ cơ sở vững mạnh toàn diện. Với vai trò là hạt nhân chính trị, chủ thể lãnh đạo công tác chính trị tư tưởng ở cơ sở, sự vững mạnh của Đảng bộ là nhân tố quyết định trực tiếp và cuối cùng đến chất lượng hiệu quả công tác chính trị- tư tưởng của tổ chức cơ sở Đảng. Chi bộ, chi ủy, đảng ủy có vững mạnh mới có thể tác động tích cực đến nhận thức tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đảng bộ cơ sở phải là tấm gương thực sự tiêu biểu về thực hành dân chủ, chấp hành kỷ luật, kỷ cương. Thực sự là khối đoàn kết thống nhất ý chí và hành động, mới có thể đoàn kết được đông đảo dân cư ở cơ sở, mới phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương trong địa phương, đơn vị, cấp ủy, chi bộ phải thực sự là những tập thể có bản lĩnh, nhạy bén, sang suốt về chính trị, nắm vững chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nắm chắc tình hình thực tế ở cơ sở, nhất là những diễn biến tư tưởng của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn. Chủ động sáng tạo xây dựng chủ trương, kế hoạch, lựa chọn những biện pháp tối ưu để đẩy mạnh phát triển sản xuất, chăm sóc đời sống nhân dân, giữ vững an ninh, chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội Phải phát huy vai trò của chính quyền, đoàn thể và phối kết hợp chặt chẽ hoạt động của các tổ chức, tạo nên sức mạnh của cả hệ thống chính trị ở cơ sở trong công tác giáo dục chính trị- tư tưởng. Cấp ủy lãnh đạo phải phát huy vai trò của chính quyền cơ sở, quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các hoạt động thông tin, tuyên truyền văn hóa văn nghệ, kịp thời biểu dương những hoạt động lành mạnh và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hoạt động xấu tới nhận thức, tư tưởng của quần chúng. Đồng thời phải lãnh đạo chính quyền cơ sở thực hiện chế độ công khai trước dân, để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Chính quyền phải giải quyết kịp thời, dứt điểm những yêu cầu về sản xuất, đời sống của dân, kịp thời giải đáp những thắc mắc của dân, không để ứ đọng, xảy ra điểm nóng. Phát huy vai trò gương mẫu của đảng viên và thường xuyên kiện toàn, bồi dưỡng lực lượng tuyên truyền viên ở cơ sở. Hàng ngày trực tiếp hoạt động ở cơ sở, người cán bộ, đảng viên có vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng, cuốn hút quần chúng tin và đi theo Đảng. Do đó, cùng với việc nâng cao trình độ trí tuệ, phẩm chất đạo đức, năng lực tổ chức cho đảng viên và các tuyên truyền viên năng lực vận động quần chúng, làm việc với con người, thuyết phục giáo dục, cảm hóa con người. Lực lượng tuyên truyền viên ở cơ sở có thể là cán bộ đương chức, người nghỉ hưu, người trong Đảng. Người tuyên truyền viên ở cơ sở phải thực sự tiêu biểu về sự thống nhất giữa lời nói và việc làm. Trên cơ sở đó, cần thường xuyên cập nhập thông tin mới và bồi dưỡng các kiến thức cần thiết khác cho họ. Cấp ủy cơ sở cần khai thác và sử dụng có hiệu quả các kênh thông tin để giáo dục chính trị tư tưởng. Để đáp ứng được yêu cầu trên, các cấp ủy cơ sở phải hết sức coi trọng nâng cao tính giáo dục trong sinh hoạt của các tổ chức, các hội quần chúng, các cuộc họp của nhân dân, các buổi tiếp xúc, đối thoại với dân. Phải nâng cao tính giáo dục trong các hoạt động văn hóa văn nghệ, vui chơi giải trí, phát huy tác dụng của thư viện, nhà văn hóa, các câu lạc bộ, quản lý việc sử dụng báo chí, truyền thanh. Qua đó để nhân dân hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, các luật, nghị định của Nhà nước, quyết định của các cấp chính quyền địa phương, để dân biết những vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thân, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của họ, tạo điều kiện để nhân dân tham gia có hiệu quả vào việc quản lý kinh tế xã hội ở địa phương, đơn vị, giám sát hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền đoàn thể và mọi cán bộ, đảng viên ở cơ sở. Đổi mới hình thức biện pháp theo hướng phát huy dân chủ, công khai, trung thực trong công tác chính trị- tư tưởng, thực hiện yêu cầu này, cấp ủy cơ sở vừa phải phát huy dân chủ trong sinh hoạt, hoạt động của tổ chức đảng, vừa lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, nhằm phát huy năng lực sáng tạo của quần chúng, thu hút đông đảo quần chúng tham gia xây dựng Đảng, chính quyền tham gia quản lý mọi công việc ở địa phương, đơn vị. Đó là con đường đem lại hiệu quả nhiều mặt trong công tác chính trị- tư tưởng. Tăng cường sự chỉ đạo, giúp đỡ của cấp trên. Chất lượng công tác chính trị- tư tưởng ở cơ sở phụ thuộc vào sự lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của cấp trên, nhất là cấp ủy và cơ quan cấp trên trực tiếp. Vì vậy, cùng với việc phát huy tính chủ động sáng tạo của cơ sở, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cấp trên trực tiếp của cơ sở, phải tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, giúp cơ sở tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất và đời sống. Cấp ủy cấp trên cùng các cơ quan chức năng cần thường xuyên cung cấp thông tin kịp thời cho cơ sở những thông tin về thời sự, chính sách, làm cơ sở để giải đáp những thắc mắc về tư tưởng trong nhân dâm. Với những cơ sở yếu kém, cần tăng cường bồi dưỡng chuyen môn cho cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt, có thể bố trí lại cán bộ chủ chốt nếu cần. 3.2.3. Củng cố cấp ủy chi bộ, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trực tiếp nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, không ngừng củng cố đội ngũ đảng viên. Đây là một trong những biện pháp cơ bản để góp phần ổn định về tổ chức, chính trị, tư tưởng của tổ chức Đảng, đảng viên; đồng thời là cơ sở để giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện, sàng lọc và phát triển đảng viên. Một số giải pháp nâng cao chất Bởi vì, chi bộ là “nền tảng”, “gốc rễ” của Đảng, là nơi trực tiếp tổ chức triển khai, thực hiện và cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là hạt nhân chính trị lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở. Cơ sở đảng mạnh thì toàn Đảng mạnh, muốn chi bộ mạnh trước, hết cấp ủy, Đảng viên phải nêu cao trách nhiệm, tính tiên phong trong sinh hoạt chi bộ. Sinh hoạt chi bộ và chất lượng sinh hoạt chi bộ là nhân tố quyết định vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, giúp đảng viên nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng và thực hiện chức năng lãnh đạo, giáo dục của chi bộ. Thực tế cho thấy, ở đâu cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nhận thức đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của sinh hoạt chi bộ thì ở đó tính đảng được phát huy. Do đó, cấp ủy, cán bộ, đảng viên phải nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chi bộ; thực sự coi trọng nội dung, chất lượng sinh hoạt chi bộ. Vì vậy, cấp ủy phải thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo hướng sát thực, hiệu quả theo đúng tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khóa X) của Đảng về Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, Chỉ thị số 10/CT-TW, ngày 30/3/2007 của Ban Bí thư về Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ: Một là, các cấp ủy, đảng viên trong các chi, đảng bộ cơ sở phải nắm vững Điều lệ Đảng, các quy định của Trung ương, các văn bản hướng dẫn của cấp ủy cấp trên về chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình tổ chức cơ sở đảng; bảo đảm tính thống nhất về nguyên tắc, tổ chức, vai trò hạt nhân chính trị của chi bộ. Trên cơ sở đó, xác định nội dung, hình thức để tổ chức triển khai quán triệt đến từng cán bộ, đảng viên trong chi bộ thông qua các buổi sinh hoạt định kỳ. Hai là, duy trì chế độ sinh hoạt định kỳ theo quy định Điều lệ Đảng. Nội dung sinh hoạt phải sát thực bảo đảm tính định hướng, tính chiến đấu, tính giáo dục, gắn với thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Ba là, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nâng cao chất lượng công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt. Tùy thuộc vào nội dung, hình thức sinh hoạt cụ thể để chi ủy (bí thư) lựa chọn phương pháp điều hành thích hợp, định hướng những vấn đề cần tập trung thảo luận. Mọi vấn đề phải được công khai, minh bạch, dân chủ bàn bạc với tinh thần thống nhất cao. Nếu không thực hiện tự phê bình, phê bình thường xuyên sẽ dẫn đến tích tụ mâu thuẫn, sai lầm khuyết điểm, như mầm bệnh càng để lâu càng nguy hiểm hơn. Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên; thực hiện quản lý đảng viên trên các mặt hoạt động nhận thức, chính trị – tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của đảng viên. Đây là, cơ sở để các chi, đảng bộ phát huy vai trò quản lý đảng viên, qua đó đánh giá được phẩm chất, năng lực của cán bộ, đảng viên; thông qua việc nắm bắt, quản lý đảng viên mới có thể đánh giá một cách toàn diện, sâu sát về thực chất đội ngũ đảng viên. Năm là, các chi bộ phải phát huy vai trò lãnh đạo, là hạt nhân chính trị ở các cơ quan, đơn vị trong việc lãnh đạo tổ chức, thực hiện nhiệm vụ chính trị. Trước hết, các chi, đảng bộ phải xây dựng được kế hoạch công tác, quy chế làm việc với cấp ủy, chính quyền, các tổ chức đoàn thể (thực hiện chế độ giao ban, báo cáo theo tuần, tháng, quý...) để nắm chắc tình hình, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn; tích cực cải tiến việc xây dựng, ban hành nghị quyết, văn bản hướng dẫn theo hướng cụ thể, ngắn gọn, dễ hiểu, khắc phục tình trạng chồng chéo văn bản. Cần đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục trong tổ chức học tập, quán triệt chỉ thị, nghị quyết cấp ủy các cấp, tập trung những vấn đề trọng tâm, trọng điểm sát điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị; đề ra chương trình hành động với những bước đi phù hợp. 3.2.4. Kiện toàn chất lượng hoạt động của tổ chức chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể trong hệ thống chính trị của Đảng bộ xã Pả Vi. Về lãnh đạo xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội: - Lãnh đạo xây dựng chính quyền ở cơ sở vững mạnh; kịp thời kiểm tra, xem xét, giải quyết những vấn đề bức xúc xảy ra ở cơ sở và những đề xuất, kiến nghị chính đáng của nhân dân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của cơ sở; không để xảy ra tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp. - Lãnh đạo xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội vững mạnh, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định và điều lệ của mỗi đoàn thể; tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tham gia ý kiến xây dựng các nghị quyết, quyết định của tổ chức đảng, chính quyền cơ sở liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của nhân dân. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Trong nhiệm kỳ 2004 - 2011 của HĐND và UBND các cấp, nước ta gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự hoạt động và giám sát có hiệu quả của Quốc hội, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ và chính quyền các cấp, nước ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp, từng bước vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục ổn định và phát triển. Tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5 năm trước đạt trên 7%, mức tăng trưởng khá cao trong điều kiện khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu. GDP tính theo giá so sánh năm 2010 gấp 2 lần so với năm 2000; bình quân đầu người theo giá thực tế khoảng 1.160 USD, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra là 1.050 - 1.100 USD. Công tác an sinh xã hội được đặc biệt coi trọng. Hoạt động của HĐND, UBND các cấp trong nhiệm kỳ vừa qua đã có nhiều chuyển biến tích cực. Phương thức hoạt động, lề lối làm việc có nhiều đổi mới. Quan hệ phối kết hợp Trung ương - địa phương, phối hợp giữa các địa phương có nhiều chuyển biến. Công tác chỉ đạo, điều hành tập trung, thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm và bao quát toàn diện hơn trên các mặt hoạt động kinh tế, xã hội của từng địa phương. Triển khai Nghị quyết Trung ương 5 khoá X của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội. Chính quyền xã đã triển khai thực hiện, và đạt được những thành tích nhất định. Bên cạnh những thành tích đã đạt được, hoạt động của HĐND và UBND các cấp thời gian qua vẫn còn những hạn chế, bất cập như hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, chỉ đạo, điều hành vẫn chưa cao, vẫn chưa kịp thời bám sát sự chỉ đạo điều hành của cấp trên. Tiếp tục tập trung cao độ xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiện nay đất nước ta bước vào một giai đoạn mới, thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và Chiến lược 10 năm 2011 - 2020 với nhiều thời cơ, thuận lợi song cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn. Tình hình đó đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu cao hơn, quyết liệt hơn của cả hệ thống chính trị và của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Trong đó, các cấp chính quyền địa phương có vai trò và nhiệm vụ hết sức quan trọng, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tại địa phương, tổ chức phát huy vai trò và sức mạnh tổng hợp, sức mạnh của nhân dân ở mỗi địa phương để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Việc kiện toàn và nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND và UBND trong thời gian tới là công việc rất quan trọng và cũng rất cấp bách. Thủ tướng khẳng định, cần tiếp tục tập trung cao độ xây dựng bộ máy Nhà nước thực sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về cải thiện, nâng cao đời sống và phát huy dân chủ của nhân dân. Tại hội nghị toàn quốc ngày 11-12/9/2011. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các đại biểu dự Hội nghị phát huy trách nhiệm cao, tập trung trí tuệ, trao đổi thẳng thắn, đánh giá đúng kết quả đã đạt được cũng như những mặt chưa được trong thời gian qua về hoạt động của HĐND và UBND. Cần nâng cao năng lực của các cơ quan chuyên môn của HĐND và UBND, đồng thời trao đổi những kinh nghiệm hay, rút ra những bài học thiết thực có thể vận dụng để nâng cao hiệu quả các mặt công tác của HĐND, UBND trong thời gian tới. 3.2.5. Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng, làm tốt công tác kiểm tra, phân công, quản lý, phân loại, sàng lọc đảng viên. - Đánh giá đúng chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên để cấp uỷ các cấp đề ra chủ trương, giải pháp xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Đối với tổ chức cơ sở Đảng - Việc đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng phải căn cứ vào yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng theo Nghị quyết Đại hội X của Đảng; kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng theo quy định của Điều lệ Đảng, quy định của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng và các nhiệm vụ được cấp ủy cấp trên giao. - Đối tượng đánh giá là đảng bộ cơ sở, chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở. Nội dung đánh giá. Về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, an ninh quốc phòng: - Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế-xã hội, chương trình, kế hoạch công tác của đảng bộ, chi bộ và nhiệm vụ được cấp trên giao. - Lãnh đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tiêu cực khác. - Lãnh đạo công tác quốc phòng toàn dân và thực hiện chính sách hậu phương quân đội; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Về lãnh đạo công tác chính trị tư tưởng: - Việc phổ biến, quán triệt và lãnh đạo cán bộ, đảng viên, quần chúng thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. - Việc chủ động phát hiện, ngăn ngừa, đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện về tư tưởng và hành động (nói, viết, làm...) trái quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. - Công tác nắm tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng, những đề xuất, kiến nghị của đảng viên và quần chúng, biện pháp giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề thuộc trách nhiệm của cơ sở hoặc báo cáo để cấp trên giải quyết theo thẩm quyền. Về thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức đảng: - Việc đề ra chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh; xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng; xây dựng và thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy và các quy chế, quy định của đảng bộ, chi bộ. - Nền nếp, chất lượng, tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu của sinh hoạt đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình trong tổ chức và hoạt động của Đảng. - Công tác quản lý và phân công công tác cho đảng viên; xây dựng và thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, nâng cao trình độ mọi mặt cho đảng viên; việc giới thiệu đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. - Hoạt động kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, quy định của cấp ủy cấp trên và nhiệm vụ được chi bộ phân công; việc phát hiện và xử lý những đảng viên có vi phạm; công tác bảo vệ chính trị nội bộ; công tác đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và những biểu hiện tiêu cực khác trong Đảng. - Công tác tạo nguồn và kết nạp đảng viên, nhất là ở những địa bàn trọng yếu, những nơi có ít hoặc chưa có đảng viên. - Về xây dựng cấp ủy đảm bảo tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực, thực sự là trung tâm đoàn kết, hoạt động có hiệu quả, được đảng viên và quần chúng tín nhiệm. Trên cơ sở tự đánh giá của đảng viên và ý kiến tham gia của chi bộ, chi bộ tiến hành bỏ phiếu kín để xếp loại đảng viên theo 3 mức: Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ: Là những đảng viên đã phấn đấu thực hiện tốt 4 nội dung nêu trên và được ½ số đảng viên chính thức bỏ phiếu tán thành. Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ: Là những đảng viên phấn đấu thực hiện 4 nội dung nêu trên và được ½ số đảng viên chính thức của chi bộ bỏ phiếu tán thành. Đảng viên vi phạm tư cách: Là những đảng viên đang trong thơi kì bị thi hành kỉ luật của Đảng , chính quyền, đoàn thể từ mức khiển trách trở lên trong năm, hoặc vi phạm một trong các khuyết điểm dưới đay mà có trên ½ số đảng viên chính thức bỏ phiếu tán thành. - Cơ quan quản lý đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn. Hoặc chi bộ đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ được giao; - Không chấp hành sự phân công của tổ chức hoặc gây mất đoàn kết nội bộ. 3.2.6. Nâng cao chất lượng phát triển đảng viên mới. Phát triển đảng viên, bổ sung cho Đảng nguồn lực và tố chất mới, đảm bảo cho Đảng ngày càng phát triển, lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi, đó là nhiệm vụ của toàn Đảng và của các tổ chức cơ sở đảng. Trong giai đoạn hiện nay, khi kết nạp đảng viên tổ chức cơ sở đảng cần thực hiện nghiêm chỉnh phương châm: coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng đơn thuần, chặt chẽ về nguyên tắc, thủ tục, không thành kiến hẹp hòi; phát triển đảng viên gắn liền với củng cố tổ chức cơ sở đảng, làm trong sạch đội ngũ đảng viên; cảnh giác đề phòng những phần tử cơ hội, phản động chui vào Đảng. Bảo đảm chất lượng khi kết nạp đảng viên là yêu cầu bao trùm, xuyên suốt, từ khâu tuyên truyền về Đảng cho quần chúng đến khi kết nạp họ vào Đảng, trở thành đảng viên chính thức. Các cấp ủy, nhất là chi ủy, chi bộ và Đảng bộ cơ sở, cần nghiêm túc thực hiện nghiêm chỉnh các thủ tục kết nạp đảng viên và hướng dẫn của TW về công tác này. Hướng kết nạp đảng viên được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9 của Đảng ta chỉ rõ: “ Phát triển đảng viên theo đúng tiêu chuẩn quy định, chú ý những người ưu tú trong công nhân, trí thức, lao động thuộc các thành phần kinh tế, đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, những nơi có ít hoặc chưa có đảng viên”. Cần coi trọng phát triển đảng viên trong thanh niên để trẻ hóa Đảng. Chất lượng công tác phát triển đảng viên của tổ chức cơ sở đảng lại phụ thuộc rất lớn và được quyết định bởi chất lượng của chi bộ, đảng bộ cơ sở, và sự tham gia của quần chúng nhân dân. Do vậy, đối với những cơ sở đảng yếu kém cần củng cố tổ chức đảng trước khi tiến hành công tác phát triển đảng viên. Thực hiện nghiêm túc việc tổ chức cho quần chúng tham gia vào công tác phát triển đảng viên. PHẦN III. KẾT LUẬN Đảng Cộng sản Việt nam 80 năm ra đời, xây dựng và phát triển, tổ chức Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng là bộ phận của hệ thống chính trị nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị nước ta. Vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện qua việc Đảng để ra cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm chủ trương phát triển kinh tế - đường lối của Đảng. Đảng lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức Đảng các cấp và đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng. Xây dựng Đảng đồng nghĩa với xây dựng chính quyền và các đoàn thể vì Đảng là người phân công trực tiếp những đảng viên có đủ sức, đủ tài để giữ công việc lãnh đạo Đảng, Đảng đã lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ có đủ tiêu chuẩn vào cơ quan lãnh đạo của Nhà nước, các đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính trị - xã hội. Để giữ vững vai trò lãnh đạo của mình, Đảng đã phải không ngừng xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, chỉnh đốn, lấy tự phê bình và phê bình làm vũ khí đấu tranh để làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn, đồng thời, giữ vững và tăng cường sự đoàn kết trong Đảng, đảm bảo sự nhất trí cao về mục tiêu lý tưởng của Đảng, để đảm bảo đủ sức lãnh đạo cách mạng. Trong quá trình lãnh đạo, bên cạnh những ưu điểm, trong Đảng còn có những yếu kém, khuyết điểm, song điều quan trọng, Đảng đã sớm phát hiện ra những yếu kém của mình. Đảng công khai tự phê bình nhận khuyết điểm trước nhân dân, quyết tâm sửa cữa và sửa chữa có kết quả. Vì vậy, Đảng vẫn được nhân dân tin yêu, thừa nhận là đội tiên phong chính trị, người lãnh đạo duy nhất của dân tộc. Cùng với Đảng bộ và nhân dân huyện mèo Vạc, cán bộ đảng viên xã Pả Vi, phát huy trí tuệ, sức mạnh đoàn kết,rèn luyện bản thân, gương mẫu, không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao dù ở bất kỳ cương vị, hoàn cảnh nào,để xứng đáng lả đội tiên phong. Là hạt nhân của nước nhà. Nhằm thực hiện thành công các mục tiêu, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, đưa đất nước ta theo con đường chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Với đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên xã Pả Vi- huyện Mèo Vạc- tỉnh Hà Giang” đã giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng của công tác nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở cơ sở. Từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp, để tổ chức cơ sở Đảng, cán bộ, đảng viên. Các chi bộ đảng tại thôn, bản có sự đổi mới trong nhận thức và cả trong tư duy,các buổi sinh hoạt nội dung phong phú, đa dạng, thiết thực hợp lý. Cán bộ đảng viên phải thực sự là đội tiên phong của Đảng, luôn đi đầu trong mọi nhiệm vụ. Là một đoàn viên thanh niên của xã Pả Vi, khi nghiên cứu chuyên đề này bản thân em đã hiểu thêm được rất nhiều điều về tổ chức Đảng, công tác đảng viên và những hạn chế còn tồn tại. Qua đó thấy được mặt mạnh, mặt yếu của địa phương mình, thấy được thực trạng của vấn đề “Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên”. Bằng những kiến thức đã học từ các thầy cô giáo, những kinh nghiệm trong cuộc sống em sẽ cố gắng không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực trình độ của mình góp một phần công sức nhỏ bé để đưa phong trào thanh niên ở địa phương ngày càng đi lên, góp phần củng cố và xây dựng tổ chức Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, cùng với địa phương xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, dân chủ, văn minh. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Báo cáo của Đảng ủy xã về công tác kiểm tra tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.(2008- 2010) 2. Báo cáo của Đảng ủy xã về công tác phát triển đảng viên (2008- 2010) 3. Báo cáo của UBND-HDDND về công tác đánh giá chất lượng đảng viên. (2009-2011) 4. Đảng Cộng sản việt nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, nxb chính trị quốc gia, Hồ Chi Minh (2007) 5. Giáo trình Xây dựng Đảng, nxb chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, (2007) 6. Hướng dẫn đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên của Tỉnh ủy Hà Giang. (2009- 2010) 7. Nghị quyết số 22-NQ/TƯ “về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên”. (2008) 8. Nghị quyết Đại hội X của Đảng (12- 19/01/2011)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNâng cao chất lượng đội ngũ Đảng viên xã Pả Vi- huyện Mèo Vạc- tỉnh Hà Giang.doc
Luận văn liên quan