Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán Công Thương

Theo số liệu điều tra của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, công chúng cho rằng tuy thị trường chứng khoán còn là lĩnh vực mới mẻ, chứa đựng nhiều rủi ro nhưng cũng không phải là ít tiềm năng đáng trông đợi. Đa số các nhà đầu tư là tổ chức, cho dù có hay không ý định huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán đều mong muốn có được hiểu biết về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

pdf68 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 14/11/2013 | Lượt xem: 437 | Lượt tải: 3download
Tóm tắt tài liệu Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán Công Thương, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hiện nay của thị trường chứng khoán Việt Nam và không ít các công ty chứng khoán khác làm ăn thua lỗ, tài chính khó khăn. IBS luôn được các đoàn kiểm toán độc lập, thanh kiểm tra của UBCKNN và NHCTVN đánh giá tốt. 2.42. Hạn chế Bên cạnh đó, IBS đang có những mặt tồn tại, hạn chế cần sớm khắc phục ngay như: Lao động, nhân sự không ổn định, khó đáp ứng yêu cầu phát triển sắp tới: Do vậy cần có chính sách đãi ngộ thích đáng để thu hút cán bộ giỏi đáp ứng công việc đòi hỏi kỹ năng, chịu được áp lực cao, có tính chuyên nghiệp, quan hệ tốt với khách hàng, năng động, sáng tạo, nhạy bén. Để thực hiện các công việc như: tìm kiếm, phát hiện cơ hội đề xuất phương án kinh doanh; tổ chức triển khai linh hoạt hiệu quả kế hoạch vạch ra; xây dựng, duy trì tốt quan hệ mật thiết với các đối tác; biết hoạch định chiến lược và tiếp nhận ứng dụng tiến bộ tin học vào nghiệp vụ chứng khoán. Tính chất hoạt động kinh doanh còn chưa ổn định, mang tính thương vụ, ăn may là chủ yếu, chưa phải đã thực sự căn cơ. Biểu hiện là các nguồn thu từ các nghiệp vụ còn thấp. Hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ và dàn xếp tài chính tạm giúp IBS cầm cự được, nhưng về lâu dài khi cơ chế, chính sách phát hành, huy động vốn qua Thị trường chứng khoán có thay đổi hoặc các đối tác, bạn hàng đổ xô vào cùng làm, cạnh tranh khốc liệt là khó khăn. Bởi vậy rất cần có cơ chế, chính sách chính thức hỗ trợ kinh doanh cho IBS từ Ngân hàng Công thương Việt Nam, phù hợp chiến lược phát triển đa năng, đa dạng hoá, gắn kết kinh doanh ngân hàng với chứng khoán, bảo hiểm... Số lượng lao động thiếu, hạn chế về kinh nghiệm trong hoạt động nghiên cứu phân tích tư vấn đầu tư cho khách hàng, tư vấn cho các doanh nghiệp cổ phần hoá... Mặc dù các bộ phận nghiên cứu phân tích, tư vấn doanh nghiệp của IBS đã có rất nhiều cố gắng, nắm bắt khách hàng, thu thập tư liệu tình hình, nhưng công việc hoàn thành được vẫn ở mức khiêm tốn, chưa tương xứng với công sức bỏ ra. Cơ chế chính sách và phương thức hoạt động của IBS còn cứng nhắc, khó thích ứng với các quan hệ thị trường, ngoài ra việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật công nghệ tin học còn chậm, chưa tập trung cao và đầu tư thích đáng cho công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ nhân viên. Mức độ tin học hoá còn thấp trong các hoạt động quản lý giao dịch, tài khoản, thông tin khách hàng, truyền tải lệnh giao dịch, lưu ký, phân tích, tư vấn đầu tư, giao dịch từ xa... IBS chưa có giao dịch qua mạng, chưa có Website riêng, vẫn truyền lệnh qua line điện thoại, qua fax nên chi phí cao, tốc độ chậm, không an toàn. Nguy cơ tụt hậu so với các đối thủ cạnh tranh là rất lớn. Vì vậy IBS đang tìm cách khắc phục những điểm yếu trên và luôn bám sát 05 nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra: ổn định nguồn nhân lực; kiện toàn công tác điều hành; đào tạo và đào tạo lại nâng cao năng lực cho cán bộ nhân viên; củng cố lành mạnh hoá tài chính; hiện đại hoá tin học và quy trình kỹ thuật nghiệp vụ Công ty. So với các công ty chứng khoán khác trên thị trường thì IBS có vốn điều lệ là 55 tỷ đồng, đây là cơ sở tốt để thực hiện các nghiệp vụ đòi hỏi vốn lớn như bảo lãnh phát hành, tự doanh. Mặt khác các nghiệp vụ như môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư chứng khoán chưa thực sự hoạt động đúng theo tiềm năng của công ty. Trong quá trình hoạt động IBS còn một số vướng mắc về tư duy và tác phong của cán bộ nhân viên khi họ chưa kịp đổi mới với kinh doanh và do số cán bộ công ty còn quá ít (toàn công ty chỉ có 57 người) nên áp lực công việc quá lớn đối với người lao động. IBS có trụ sở chính tại Hà Nội và chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh, do vậy chưa tạo được những điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư ở các tỉnh, thành phố khác trong cả nước. IBS có điều kiện thuận lợi hơn các công ty chứng khoán khác khi mở rộng thêm các nghiệp vụ phụ trợ do có ưu thế của ngân hàng Công thương Việt Nam nhưng do thị trường vẫn còn quá nhỏ, quá ít nghiệp vụ khiến cho công ty không phát huy hết khả năng vốn có của mình. 2.4.3. Nguyên nhân Với những gì mà công ty đã đạt được trong hơn ba năm qua có thể nhận thấy rằng tiềm năng phát triển của công ty là rất lớn. Sự quan tâm của Ngân hàng Công thương Việt Nam, Chính phủ đã tạo điều kiện cho công ty hoạt động phát triển. Tuy nhiên với những hạn chế trước mắt như trên đòi hỏi cần phải có sự đánh giá nghiêm túc và rút ra những bài học để từ đó công ty ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Qua quá trình hoạt động lãnh đạo của công ty cũng đã dám nhìn thẳng vào những vấn đề khó khăn của thị trường cũng như từ bản thân công ty, từ đó đưa ra những đối sách phù hợp với thực tiễn. Về những hạn chế kể trên xuất phát từ những nguyên nhân sau: IBS vẫn chưa tận dụng được hết lợi thế của Ngân hàng Công thương Việt Nam. Ngân hàng Công Thương Việt Nam là một trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất nước ta hiện nay. Với số vốn điều lệ 1700 tỷ đồng ngân hàng công thương có các chi nhánh giao dịch trên toàn quốc, số lượng khách hàng rất lớn trong mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế. IBS có thể dựa vào vị thế, tiềm năng của ngân hàng mẹ để mở rộng thêm các dịch vụ mà các công ty chứng khoán khác không có được. Từ thực trạng của IBS trong thời gian qua, cùng với các kết quả đạt được cũng như các mặt hạn chế, công ty cần có các biện pháp kịp thời để tiếp tục phát huy thế mạnh, khắc phục điểm yếu để ngày càng phát triển vững vàng trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thiếu kinh nghiệm kinh doanh thực tế nên công ty vẫn còn lúng túng khi triển khai các nghiệp vụ kinh doanh. Điều này cũng dễ hiểu khi thị trường chứng khoán Việt Nam vừa mới đi vào hoạt động và là công ty chứng khoán thành lập muộn so với các công ty chứng khoán khác. Các nghiệp vụ của công ty tuy đã triển khai hết nhưng còn hạn chế, chủ yếu chỉ là nghiệp vụ môi giới và tự doanh, lưu ký còn các nghiệp vụ khác thì chưa phát triển. Mặt khác, số công ty niêm yết trên thị trường còn ít, hàng hoá cho thị trường hiếm hoi thì nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của công ty khó để được thực hiện được. Bên cạnh đó, công ty vẫn chưa mở rộng tối đa quan hệ đối ngoại của mình để tích luỹ kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm kinh doanh, khoa học kỹ thuật hiện đại... Hoạt động marketing của công ty còn yếu: Tiềm năng khách hàng của thị trường rất lớn nhưng khách hàng hiện tại còn quá ít. Một phần do các hoạt động Marketing của công ty chưa phát triển, chưa tiếp cận được với khách hàng tiềm năng. nhằm phân loại khách hàng, xây dựng một quy trình cung cấp dịch vụ tương ứng cho mọi loại khách hàng. Chính sách khách hàng được tập trung vào các khâu: Quảng cáo, tiện ích và chế độ ưu đãi về phí. Tuy nhiên cho đến nay, công tác Marketing của công ty vẫn chưa tốt, dẫn đến thông tin chưa đầy đủ ảnh hưởng đến phân tích chứng khoán, ảnh hưởng đến tư vấn đầu tư cho khách hàng. Trên thực tế, công ty vẫn chưa chủ động trong công tác tìm kiếm khách hàng. Hầu hết các khách hàng đã mở tài khoản tại công ty là những khách hàng tự đến với công ty. Mặt khác, việc tuyên truyền về chứng khoán và thị trường chứng khoán chưa được công ty chú trọng phát triển. Cho đến nay công ty vẫn chưa xây dựng được trang Web để công chúng đầu tư tìm hiểu và theo dõi những thông tin cần thiết. Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh: Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và cơ sở vật chất kỹ thuật kinh doanh bị hao mòn vô hình rất nhanh. Mặt khác việc buôn bán chứng khoán diễn ra rất nhanh, thời gian là tiền bạc, hệ thống công nghệ thông tin phải đủ mạnh để xử lý chính xác và kịp thời. Mặc dù văn phòng làm việc cũng như các trang thiết bị của được đánh giá là khá tốt so với các công ty chứng khoán khác, nhưng muốn thực hiện các nghiệp vụ lưu ký chứng khoán, nghĩa là khách hàng ký gửi chứng khoán cho công ty, công ty tiến hành kinh doanh hộ khách hàng, thanh toán tiền lãi và cổ tức, trên thực tế, hệ thống tin học chưa đủ mạnh để có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đồng thời khoa học kỹ thuật phát triển ngày càng mạnh mẽ mà công ty chưa thể nhanh chóng nâng cấp được hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có của mình nên hiện tại vẫn chưa đáp ứng được tốt yêu cầu của kinh doanh chứng khoán. Tâm lý của nhà đầu tư : Đa số việc mua bán cổ phiếu diễn ra giữa các nhà đầu tư nhỏ với tâm lý đầu tư “ngắn hạn” nhằm mua cổ phiếu theo biến động giá hơn là dựa vào đánh giá tiềm năng phát triển của công ty thông qua việc đánh giá tình trạng tài chính và thị trường một cách toàn diện. Các nhà đầu tư Việt Nam chưa có thói quen phải trả tiền khi sử dụng các dịch vụ họ được cung cấp, thị trường chỉ có rất ít loại chứng khoán nên họ vẫn có thể theo dõi và tự quyết định cho bản thân nên mua, bán chứng khoán nào, vào lúc nào. Chính vì thế, dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chưa thực sự được các nhà đầu tư cho là cần thiết. Mặt khác, họ vẫn chưa thấy được lợi ích khi có một danh mục đầu tư hợp lý mà chỉ sợ mất phí, cho nên mặc dù là một dịch vụ tốt và rất có hiệu quả nhưng quản lý danh mục đầu tư cũng không được các nhà đầu tư quan tâm. 2.5. Những thuận lợi và khó khăn của IBS. Quá trình huy động vốn cho nền kinh tế thông qua việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công trình và trái phiếu công ty, cũng như việc phát hành cổ phiếu của các công ty cổ phần đòi hỏi phải có nhưng tổ chức kinh tế thực hiện việc phát hành, làm đại lý mua bán nhằm tạo tính thanh khoản cho các công cụ nợ này. Chính vì vậy, các công ty chứng khoán được coi là chủ thể chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các tổ chức kinh tế Việt Nam đã thành lập hay có dự định thành lập đều có những thuận lợi nhất định. Các tổ chức này đều nhận được sự hỗ trợ của các cơ quan hữu quan, đặc biệt là Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước. Các văn bản pháp lý cơ bản đã được ban hành. Trong 2 năm hoạt động đầu tiên, các khoản thuế, phí, lệ phí hoạt động kinh doanh đều không phải nộp. Quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng gắn chặt quá trình cổ phần hoá với quá trình phát hành cổ phiếu ra công chúng thông qua các công ty chứng khoán. Nhà nước mở thị trường Chứng khoán Bảng II tại Hà Nội dành cho các chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Giao dịch trên thị trường chứng khoán tập trung được mở rộng dẫn đến quy mô và phương thức quốc tế như: khớp lệnh nhiều lần, mức ký quỹ giảm, biên độ dao động tăng... Cùng với tất cả điều đó, nền kinh tế Việt Nam bất chấp kinh tế thế giới suy giảm vẫn đang đà phát triển mạnh. Tổng sản phẩm quốc nội năm 2003 ước đạt 580 nghìn tỷ đồng, tăng 7,24% so với năm 2002. Với kết quả đó, Việt Nam được xếp vào nhóm nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất (cùng với Trung Quốc và Hàn Quốc). Đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư được cải thiện. Cho đến nay, thu nhập tăng khoảng 10% so với 10 năm trước. Kinh tế phát triển, thị trường và giá cả ổn định tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội, đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi để thị trường chứng khoán phát triển. IBS ra đời thừa kế được bề dày hoạt động của ngân hàng mẹ, hiện có nhiều chi nhánh tại các tỉnh, thành phố, quận huyện trong cả nước và có quan hệ đại lý với các ngân hàng, tổ chức tài chính và đang tài trợ cho nhiều dự án lớn trong và ngoài nước. Mặt khác, IBS có đội ngũ cán bộ trẻ, tư cách đạo đức tốt, năng động, sáng tạo, được đào tạo bài bản và có giấy phép hành nghề. Đây cũng là điểm thuận lợi cho công ty trong quá trình kinh doanh của mình. Tuy nhiên, với một thị trường chứng khoán hoạt động còn ở mức “sơ khai”, trình độ hiểu biết của người dân còn hạn chế và cơ chế quản lý còn nhiều bất cập thì cùng với những công ty chứng khoán khác, IBS phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Cho đến nay, trên thị trường đã có 13 công ty chứng khoán được cấp giấy phép hoạt động. Sắp tới, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước còn dự định cấp giấy phép cho 2-3 công ty nữa, vì vậy, IBS sẽ đối mặt với tình hình cạnh tranh rất gay gắt. Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chưa hội tụ đủ điều kiện về khung pháp lý, số lượng công ty niêm yết còn ít, do vậy tình hình vẫn chưa được cải thiện căn bản. Hiện nay, giá trị mỗi phiên giao dịch rất thấp, các công ty chứng khoán lại rơi vào tình trạng khó khăn, bởi vì các khoản thu chủ yếu từ nghiệp vụ môi giới, các nghiệp vụ khác lại chưa phát triển. Thêm vào đó sự hiểu biết về chứng khoán và thị trường chứng khoán của các nhà kinh tế và hoạch định chính sách, chủ doanh nghiệp còn rất “khiêm tốn”, các công ty ngại lên sàn giao dịch, vì vậy trong hơn 100 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn niêm yết thì chỉ có 23 công ty niêm yết. Diễn biến giá trên thị trường rất phức tạp, khó dự đoán. Thời gian đầu giá tăng liên tục nhưng khối lượng bán lại rất ít, ngược lại khi thị trường xuống dốc liên tục giá giảm thì lại bán ra nhiều mà không mua. Điều này làm cho các công ty chứng khoán thực sự khó khăn. Đồng thời, khi thị trường hoạt động tẻ nhạt, kém sôi động cũng tác động không ít đến tâm lý của nhân viên công ty. Cảm giác buồn tẻ trên sàn giao dịch đã phần nào khiến các nhân viên mất đi cảm giác hào hứng và hăng say làm việc. Mặt khác, mặc dù khung pháp lý cho hoạt động của thị trường chứng khoán đã được ban hành nhưng vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh, mới chỉ có nghị định là văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Một số điểm liên quan đến phát hành chứng khoán chưa được quy định rõ như: việc phát hành và niêm yết chứng khoán của các ngân hàng thương mại cổ phần... Bên cạnh đó, các quy định về công khai sản xuất- kinh doanh, cơ cấu sở hữu, bộ máy quản trị của doanh nghiệp chưa được áp dụng một cách rộng rãi, hoạt động kinh doanh của hầu hết các công ty chứng khoán và các chủ thể khác tham gia cung cấp dịch vụ trên thị trường đều bị thua lỗ mà chưa tìm ra biện pháp khắc phục. Thực tế cho thấy, vốn càng lớn thì càng có lợi và sức cạnh tranh càng cao. Do vậy, hiện tại, IBS vẫn còn thiếu vốn, đây cũng là một khó khăn của công ty. Mặt khác, IBS vẫn có hệ thống cán bộ công nhân viên còn quá mỏng. Toàn công ty có 57 cán bộ công nhân viên ở cả trụ sở chính tại Hà Nội và chi nhánh ở thành phố Hồ Chí Minh. Khi Nhà nước mở thêm Trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội nghĩa là công việc về đại thể sẽ tăng gấp đôi, trong đó có 3 người phải nhập lệnh hàng ngày tại sàn. Cùng với điều đó, khi mạng lưới chi nhánh mở rộng cần cán bộ làm việc tại chi nhánh và quản lý các đại lý nhận lệnh, khi chuyển giai đoạn cần cán bộ để mở rộng các phòng và bổ sung cán bộ cho các bộ phận hiện mới bắt đầu triển khai. Với số lượng cán bộ công nhân viên như hiên nay, thực sự IBS gặp rất nhiều khó khăn. chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán ngân hàng công thương Việt Nam 3.1. Định hướng hoạt động của UBCKNN và của IBS trong thời gian tới. 3.1.1. Định hướng của UBCKNN. Xuất phát từ vai trò và ý nghĩa của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế, UBCKNN đã đề ra chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam cho giai đoạn 2003-2010, với quan điểm chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đi từ qui mô nhỏ đến lớn, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng thị trường hoạt động ổn định, an toàn, hiệu quả, bảo vệ người đầu tư, và có thể linh hoạt thích ứng thực tế; đồng thời tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với thị trường. Mục tiêu tổng quát của chiến lược là: “Củng cố, ổn định và nâng cao chất lượng hoạt động của thị trường, từng bước mở rộng phạm vi, quy mô thị trường; tăng cường hiệu quả quản lý giám sát thị trường, bảo vệ người đầu tư. Góp phần phát triển thị trường tài chính Việt Nam, đảm bảo ổn định và an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia; nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế. Tạo ra môi trường nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá và huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển”. Mục tiêu giai đoạn 2003-2005 là củng cố thị trường chứng khoán và hoàn thiện xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản cho thị trường, từng bước phát triển quy mô, phạm vi hoạt động thị trường chứng khoán. Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động thị trường chứng khoán, tăng cung hàng hóa, hoàn thiện cơ sở vật chất, kỹ thuật của thị trường, xây dựng và phát triển các định chế hoạt động trên thị trường. Một số chỉ tiêu cụ thể của giai đoạn này là: Phấn đấu đưa tổng giá trị thị trường đạt mức 2-3% GDP. Xây dựng trung tâm giao dịch chứng khoán ban đầu cho cổ phiếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội. Hoàn thiện, nâng cấp hệ thống giao dịch tự động tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh để thay thế hệ thống giao dịch ban đầu. Phát triển các công ty niêm yết, công ty chứng khoán, thành lập một số công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán. Mục tiêu giai đoạn 2006-2010 là tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ của thị trường chứng khoán. Nhiệm vụ chủ yếu là mở rộng và tăng cường năng lực của thị trường, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ, khuyến khích tăng cường khả năng cạnh tranh, thúc đẩy hội nhập quốc tế. 3.2 Định hướng của IBS Để đánh giá về hiệu quả kinh doanh của các công ty chứng khoán Việt Nam hiện nay, thực ra không nên nhìn vào những con số kinh doanh cụ thể, bởi vì với thị trường chứng khoán ở giai đoạn đầu, mục tiêu của các công ty chứng khoán chưa phải là lợi nhuận. Mục tiêu chiến lược xuyên suốt quá trình hoạt động của IBS là: “Phát triển và phát triển bền vững”. Hiện tại, công ty đã qua giai đoạn hình thành (2001-2002) và bước vào giai đoạn kiện toàn công ty (2002-2005), trong giai đoạn này, IBS sẽ tích luỹ kinh nghiệm trong kinh doanh chứng khoán, cẩn trọng, bảo toàn vốn, góp phần làm sôi động thị trường chứng khoán và khẳng định uy tín của IBS trên thị trường chứng khoán. Đến giai đoạn 2005-2010 là giai đoạn phát triển công ty. Nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược và các chỉ tiêu kế hoạch nêu trên, trong 3 năm tới công ty sẽ tập trung triển khai các chính sách về khách hàng, chính sách sản phẩm và công nghệ. Chính sách khách hàng được tập trung vào các khâu: quảng cáo, tiện ích và chế độ ưu đãi về phí. Từ chính sách khách hàng, IBS triển khai chính sách sản phẩm và công nghệ, trong đó, tập trung vào các việc: Đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm mà cụ thể là cung cấp các sản phẩm có hàm lượng thông tin cao, thời gian đáp ứng nhanh nhất và với một văn hoá kinh doanh mang đậm tính công nghiệp. Đồng thời công ty chuẩn bị một số cán bộ tinh thông nghiệp vụ để cung cấp các thông tin phân tích, đánh giá chất lượng cao, xây dựng các chương trình phần mềm tiên tiến với các phương pháp dự báo, dự đoán và ra quyết định có sử dụng Toán tài chính ở mức tiên tiến trong việc cung cấp các sản phẩm nói trên. 3.3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam. Sau khi nghiên cứu những điều kiện thuận lợi, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân dẫn tới điều đó, chúng ta thấy rằng IBS cần phải có những biện pháp để khắc phục khó khăn nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty. 3.3.1. Kế hoạch hoá hoạt động Marketing. Để đáp ứng mục tiêu mở rộng thị phần cũng như nâng cao uy tín của mình trên thị trường, IBS cần phải phát triển mạnh công tác kế hoạch hoá hoạt động Marketing và xây dựng những nội dung cụ thể để có thể thực hiện tốt hoạt động này. Mục tiêu của hoạt động Marketing phục vụ chung cho mục tiêu chung của công ty trong tương lai, cụ thể là nhằm vào khách hàng tiềm năng của công ty, thu hút được càng nhiều khách hàng càng tốt. Khách hàng ở đây không chỉ đơn thuần là các nhà đầu tư cá nhân mà còn là các tổ chức kinh tế có ý định tham gia thị trường chứng khoán. Khi đã xác định được mục tiêu của hoạt động, bước tiếp theo là tiến hành phân đoạn thị trường. Đoạn thị trường được hiểu là một nhóm các nhà đầu tư có phản ứng như nhau đối với cùng một tập hợp kích thích của Marketing và phân đoạn thị trường là quá trình phân chia các khách hàng thành nhóm trên cơ sở những điểm khác biệt về nhu cầu, về tính cách hay về hành vi. Như vậy, về thực chất việc phân đoạn thị trường là phân chia theo những tiêu thức nhất định thị trường tổng thể quy mô lớn, không đồng nhất, muôn hình muôn vẻ về nhu cầu thành các nhóm (đoạn, khúc) nhỏ hơn đồng nhất về nhu cầu. Xây dựng chiến lược khách hàng toàn diện, hợp lý: Chính sách khách hàng có một vị trí hết sức quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh doanh của một công ty chứng khoán. Với phương châm phục vụ: “Hiệu quả kinh doanh của nhà đầu tư là mục tiêu của IBS “ thì một giải pháp về khách hàng đúng đắn sẽ là một yếu tố quyết định vị trí của IBS trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt để giành thị phần với công ty chứng khoán khác. Chính sách khách hàng có thực hiện được hay không phụ thuộc vào kết quả của việc sử dụng nhiều chính sách cụ thể khác nhau, mỗi chính sách đó sẽ đóng vai trò nhất định nhưng có mối quan hệ với nhau. Một chính sách khách hàng hợp lý bao gồm: Chính sách giá cả hấp dẫn: Trong môi trường cạnh tranh quyết liệt như hiện nay, các mức phí của công ty phải được áp dụng một cách linh hoạt, phù hợp trên cơ sở cân đối chi phí, lợi nhuận, thị phần và các mục tiêu khác mà công ty theo đuổi. Mức phí đưa ra phải phù hợp từng đối tượng khách hàng, từng loại dịch vụ, từng thời điểm cụ thể để vừa duy trì được mối quan hệ lâu dài với khách hàng, vừa thu hút thêm khách hàng mới. Để thực hiện điều này, công ty có thể tiến hành phân tổ khách hàng theo những tiêu chí nhất định. Ví dụ, đối với khách hàng có uy tín, thường xuyên có những giao dịch với giá trị lớn sẽ được hưởng mức phí ưu đãi. Chủ động tìm khách hàng là một hoạt động không thể thiếu nhằm mở rộng và nâng cao số lượng khách hàng đến với mình. Chính sách này không những nhằm vào các nhà đầu tư trong nước mà còn nhằm vào cả các nhà đầu tư nước ngoài, không những nhằm vào các nhà đầu tư cá nhân mà còn nhằm vào các tổ chức. Thực hiện được chính sách này, tức là tìm được khách hàng mới, công ty sẽ có nhiều lợi nhuận hơn, có cơ hội tốt trong việc thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành cho khách hàng mới, từ đó có cơ sở thực hiện các nghiệp vụ môi giới, quản lý danh mục đầu tư... cho khách hàng để tìm kiếm lợi nhuận và nâng cao uy tín của mình. Bảo đảm phong cách giao tiếp văn minh, lịch sự, tận tình, chu đáo chính là một nghệ thuật giữ khách hàng hiệu quả nhất. Thái độ của nhân viên có thể tạo nên hình ảnh của công ty trong khách hàng. Vì vậy, phong cách giao tiếp và tác phong làm việc của cán bộ sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của việc thu hút khách hàng. Ngoài ra, các cán bộ nhân viên còn phải làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, cẩn thận không để mắc sai sót, nhầm lẫn tạo sự an tâm, tin tưởng tuyệt đối từ phía khách hàng. Tổ chức hội nghị khách hàng: IBS có thể định kỳ tổ chức hội nghị khách hàng bởi vì đây sẽ là nơi gặp gỡ, trao đổi, học tập kinh nghiệm giữa các nhà đầu tư với nhau, giữa các nhà đầu tư với công ty. Và hơn thế nữa, hội nghị khách hàng sẽ có lợi cho cả hai bên, khách hàng và công ty. Về phía khách hàng, trước hết họ sẽ được cung cấp những văn bản pháp lý mới nhất liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán, tránh được những sai phạm không đáng có khi tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán. Tiếp đến, họ có thể tham khảo những bài phân tích, đánh giá của các chuyên gia trong công ty về tình hình thị trường chứng khoán, tình hình hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết. Cái lợi mà khách hàng có được chính là ở chổ: dựa trên các thông tin có được, họ tự biết điều gì nên và không nên làm, đầu tư như thế nào trong thời gian tới để có hiệu quả cao nhất. Về phía công ty, hội nghị khách hàng là một dịp tốt để tăng cường mối quan hệ với các nhà đầu tư, là một dịp để các nhà đầu tư hiểu kỹ hơn về công ty ty thông qua các loại hình dịch vụ mà công ty đang cung cấp cho họ. Hội nghị khách hàng sẽ giúp cho công ty tiếp cận, tìm hiểu cặn kẽ hơn nhu cầu và thu thập thông tin phản hồi từ phía các nhà đầu tư và công chúng. Hơn nữa, thông qua hội nghị khách hàng, công ty còn cho thấy khách hàng là tâm điểm của mọi hoạt động kinh doanh của mình, là mối quan tâm hàng đầu của mình để từ đó khách hàng có niềm tin vững chắc vào công ty. 3.3.2. Hiện đại hoá cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động kinh doanh. Cùng với sự phát triển và sôi động của thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán IBS cũng buộc phải có sự phát triển không ngừng và việc hiện đại hoá cơ sở vật chất, phương tiện kinh doanh là một tất yếu đang được quan tâm hiện nay. Với tình hình của công ty như hiện nay, công ty nên tập trung các giải pháp về công nghệ thông tin, đó là: Tiêu chuẩn hóa hệ thống thông tin khách hàng, bao gồm nhiều dữ liệu khác nhau, hình thành ngân hàng dữ liệu phục vụ cho nhiều mục đích sử dụng và khai thác khác nhau. Thiết kế và cài đặt cục bộ cũng như mạng toàn diện để việc trao đổi thông tin được diễn ra nhanh chóng, thuận lợi, an toàn. Có chương trình dự phòng, kế hoạch sẵn sàng ứng phó với tình trạng bị xâm nhập bất hợp pháp, bị mất liên lạc trong khi giao dịch cũng như trong trường hợp khẩn cấp. Trước mắt, IBS cần hoàn thiện trang Web, đồng thời triển khai xây dựng một hệ thống tin học mạnh, đảm bảo vi tính hoá toàn bộ các nghiệp vụ chứng khoán, xây dựng hệ thống cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, xây dựng trước một bước cơ sở vật chất để tạo điệu kiện cho khách hàng kinh doanh qua mạng. 3.3.3. Xây dựng chiến lược về nguồn nhân lực. Phát huy mạnh mẽ năng lực của ban lãnh đạo: Hoạt động kinh doanh chứng khoán là một hoạt động còn nhiều mới mẻ, phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro, thị trường chứng khoán là một trong những thị trường biến động nhiều nhất và chịu sự quản lý chặt chẽ của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, Trung tâm giao dịch chứng khoán. Các văn bản pháp quy trong lĩnh vực này thường xuyên được điều chỉnh, thậm chí có nhiều thay đổi mang tính bước ngoặt. Do đó, ban lãnh đạo công ty cần thường xuyên theo dõi sát sao các văn bản này cũng như các biến động trên thị trường và những thay đổi của khách hàng. Để có được phẩm chất này cán bộ lãnh đạo cần biết tận dụng và tích luỹ những kinh nghiệm quý báu có được trong quá trình làm việc, đồng thời thường xuyên trau dồi kiến thức, tích luỹ chuyên môn nghề nghiệp vững vàng, có khả năng quản lý và có đầu óc phán đoán nhanh nhạy. Bên cạnh đó, ban lãnh đạo cũng phải nghiên cứu đưa ra các chính sách khen thưởng và kỷ luật thích hợp cả về vật chất lẫn tinh thần, để khuyến khích động viên kịp thời, tạo động lực phấn đấu lành mạnh cho mọi thành viên trong công ty. Thường xuyên đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ: Để thực hiện định hướng trở thành công ty chứng khoán có tầm cỡ, kinh doanh trên tất cả các nghiệp vụ thì một yếu tố quan trọng không thể thiếu được là nhân tố con người trong việc tổ chức, quản lý và vận hành các nghiệp vụ của công ty. Một công ty chứng khoán có thể trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại trong một thời gian ngắn nhưng không thể có ngay được một đội ngũ cán bộ có trình độ tương xứng trong một thời gian ngắn được. Vì vậy, công ty cần phải có một kế hoạch (cả ngắn hạn và dài hạn) phù hợp trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ cho hiện tại và tương lai. Khách hàng chứng khoán là khách hàng có trình độ hiểu biết pháp luật rất cao. Hiện nay, với xu hướng hội nhập kinh tế, công ty cần có nhiều chuyên gia giỏi để có đủ năng lực bắt kịp và hoà nhập vào nền kinh tế sôi động đó. Chính vì thế, công ty cần có chương trình, kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ toàn diện: Yêu cầu cán bộ hoạt động trong lĩnh vực này phải có một trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học nhất định và thường xuyên phải học tập và trau dồi thêm. Định kỳ tổ chức kiểm tra trình độ, có chế độ khen thưởng đối với những người có trình độ vượt mức yêu cầu. Khuyến khích, tạo điều kiện trợ giúp kinh phí cho các cán bộ đi học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhất là các cán bộ trẻ. Đặc biệt ưu tiên những cá nhân phấn đấu đạt các học vị như thạc sĩ, tiến sĩ...Đây là lực lượng đưa công ty tiếp cận, làm chủ các công nghệ hiện đại, bắt kịp với xu hướng phát triển chung. Quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ nguồn cho công ty. Bên cạnh những yêu cầu về chuyên môn, cán bộ công ty cũng cần phải có những phẩm chất và tác phong làm việc khoa học. Cụ thể là cán bộ phải có tinh thần trách nhiệm cao, có đạo đức nghề nghiệp, không để xảy ra các vụ việc tiêu cực làm thất thoát tài sản của công ty, gây thiệt hại cho khách hàng, ảnh hưởng xấu tới uy tín của công ty. Con người- nhân tố quyết định tới sự phát triển- là trung tâm của mọi hoạt động. Chuẩn bị tốt nguồn nhân lực sẽ có ý nghĩa nhất định đối với việc thực hiện thành công những nỗ lực phát triển của công ty. 3.3.4. Tăng cường xây dựng các mối quan hệ công ty chứng khoán nước ngoài. Để giữ vững và tăng cường uy tín đối ngoại của IBS, cần đẩy mạnh việc xây dựng các quan hệ đối ngoại, mở rộng quan hệ để tranh thủ kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của các công ty chứng khoán nước ngoài. IBS cần củng cố và mở rộng quan hệ đối ngoại vốn có, chọn các công ty chứng khoán, đối tác nước ngoài phù hợp với từng lĩnh vực đối ngoại của từng khu vực để thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các công ty có uy tín cao. Tăng cường nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm, nắm bắt nhanh nhạy các xu thế mới của thị trường để thích ứng và có đối sách kịp thời khi có biến động. Đồng thời, IBS cần mở rộng các quan hệ song phương và đa phương, xây dựng và phát triển mối quan hệ chặt chẽ với công ty chứng khoán các nước ASEAN, đặc biệt với các công ty chứng khoán của các nước láng giềng như: Thái Lan, Trung Quốc... 3.3.5. Nâng cao năng lực phân tích thị trường. Phân tích thị trường là một nhiệm vụ rất quan trọng và là một trong những yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của công ty chứng khoán. Khả năng mở rộng và phát triển của công ty phụ thuộc rất nhiều vào uy tín và chất lượng của các dịch vụ cung cấp. Có thể nói, phân tích thị trường là một mũi nhọn cạnh tranh về dịch vụ giữa các công ty chứng khoán. Trong điều kiện hiện nay, khi các công ty chứng khoán mới đi vào hoạt động, các lợi thế cạnh tranh chưa có sự phân biệt rõ rệt thì yếu tố chủ yếu để thu hút chính là chất lượng dịch vụ mà công ty cung cấp, cụ thể hơn, đó là chất lượng của dịch vụ tư vấn của công ty cho khách hàng trong các quyết định đầu tư. Hơn nữa, đối với bản thân công ty, các kết quả phân tích trên thị trường cũng là cơ sở để đưa ra quyết định đầu tư nhằm mang lại lợi ích cao nhất. Với những lý do đó, IBS cần phải hết sức quan tâm đến việc phát triển năng lực phân tích thị trường của mình. 3.4. Một số kiến nghị. 3.4.1. Kiến nghị với Chính phủ. 3.4.1.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý. Thị trường chứng khoán là một thể chế đặc biệt bậc cao và là sản phẩm tinh tuý của nền kinh tế thị trường, hoạt động với những thiết chế phức tạp và riêng biệt, với những quy luật chi phối khắc nghiệt, sâu sắc và ảnh hưởng toàn diện đến thực trạng phát triển kinh tế-xã hội của một đất nước khi có những biến động. Với cơ chế vận hành phức tạp, nên các quá trình từ phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp cho đến các giao dịch trên thị trường thứ cấp đòi hỏi phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của luật pháp về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Ngoài các quy định nêu trên, hoạt động của thị trường chứng khoán còn chịu sự chi phối của các văn bản luật khác trong các lĩnh vực thương mại, dân sự, đầu tư nước ngoài, phá sản...vv. Hoạt động của thị trường chứng khoán nói chung, bên cạnh những đặc tính ưu việt, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, còn chứa đựng những hạn chế, khuyết tật có thể dẫn tới những hậu quả khó lường. Vì vậy, sự điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống luật pháp trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán này nhằm tạo ra những đặc tính ưu việt, những thế mạnh của nền kinh tế thị trường và hạn chế tới mức thấp nhất những tác động tiêu cực có thể phát sinh trong quá trình hoạt động thị trường. Giữa các chủ thể của thị trường hình thành những mối quan hệ kinh tế-xã hội đan xen. Công ty chứng khoán là một chủ thể quan trọng của thị trường, hoạt động kinh doanh của công ty có hiệu quả tốt hay không, một mặt phụ thuộc vào tình hình chung của thị trường. Nhìn tổng thể, tuy chưa có một đạo luật chung về phát hành và kinh doanh chứng khoán như một số nước trên thế giới, nhưng trên thực tế, khung pháp luật về chứng khoán với ba bộ phận cấu thành tối thiểu của nó đã được hình thành, bao gồm: Những quy định về tiêu chuẩn hàng hoá và điều kiện phát hành, điều kiện và thể thức kinh doanh, quản lý Nhà nước và giám sát về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, về mặt nội dung, các quy định hiện có còn bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán hầu hết là các văn bản dưới luật, có giá trị thấp. Các văn bản thiếu tính hệ thống, còn chắp vá, thiếu tính đồng bộ và còn chồng chéo giữa các quy định. Còn bỏ ngỏ nhiều vấn đề thuộc về chứng khoán và nhiều quan hệ trong thị trường chứng khoán chưa được luật pháp quy định, điều chỉnh. Hầu hết các quy định được xây dựng trên cơ sở tham khảo, học tập kinh nghiệm tổ chức thị trường chứng khoán của nước ngoài mà chưa được hay còn ít được kiểm nghiệm qua thực tế tại Việt Nam. Do đó, trong thời gian tới, Chính phủ cần xem xét, sửa đổi, bổ sung các luật, pháp lệnh và các văn bản ở các ngành, lĩnh vực liên quan khác nhằm tạo nên sự thống nhất cao và ổn định trong hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho sự vận hành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Chính phủ cần nhanh chóng hoàn thiện những văn bản quy định, hướng dẫn hoạt động của thị trường chứng khoán cũng như các công ty chứng khoán để phù hợp với tình hình phát triển thực tế của thị trường chứng khoán Việt Nam. Mặt khác, với tình hình và xu hướng của thị trường hiện nay, Chính phủ cũng cần có các quy định cụ thể về giao dịch điện tử trong hoạt động kinh doanh chứng khoán. Điều này rất quan trọng vì đó là cơ sở pháp lý cho các giao dịch sẽ rất phổ biến trong tương lai này. 3.4.1.2. Ưu đãi thuế cho hoạt động chứng khoán Ưu đãi thuế cho thị trường chứng khoán là chính sách quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các công ty chứng khoán. Hiện nay ngoài việc hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp trong hai năm hoạt động, các công ty chứng khoán còn được giảm 50% số thuế doanh nghiệp trong hai năm tiếp theo. Tuy nhiên, quy định ưu đãi thuế như vậy đối với các công ty chứng khoán vẫn chưa thoả đáng do các công ty này mới đi vào hoạt động, doanh số chưa nhiều, thị trường chứng khoán chưa sôi động, chưa phát triển nên hiệu quả hoạt động còn thấp. Chắc chắn các công ty chứng khoán đều bị lỗ trong những năm đầu hoạt động. Do vậy, hết thời hạn được giảm thuế như trên các công ty chứng khoán sẽ gặp nhiều khó khăn khi tính đến hiệu quả kinh doanh. Chính vì thế cần phải có chính sách ưu đãi hơn nữa cho các công ty chứng khoán mới có thể khuyến khích sự tham gia tích cực của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước vào thị trường chứng khoán. Cụ thể, mức ưu đãi trong thời gian tới nên là miễn thuế cho 5 năm đầu hoạt động và giảm thuế còn 50% trong 3 hoặc 5 năm tiếp theo. 3.4.2. Kiến nghị với Uỷ ban chứng khoán Nhà nước và trung tâm giao dịch chứng khoán. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh chứng khoán được thực hiện một cách công bằng, trung thực, công khai, bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và công chúng tham gia đầu tư, các chủ thể kinh doanh chứng khoán còn phải chấp hành về đạo đức kinh doanh, quy định về hạn mức áp dụng đối với kinh doanh... do Uỷ ban chứng khoán Nhà nước và trung tâm giao dịch chứng khoán quy định. 3.4.2.1.Quy định về chế độ báo cáo và công khai hoá thông tin Quy định này được áp dụng ở các thị trường chứng khoán trên thế giới, theo đó các công ty chứng khoán phải công khai hoá các thông tin về hoạt động kinh doanh chứng khoán cho công chúng, phải tuân thủ chế độ báo cáo định kỳ cho các cơ quan quản lý ngành và Sở giao dịch chứng khoán nếu công ty là thành viên. Ngoài báo cáo định kỳ, công ty chứng khoán phải có trách nhiệm báo cáo đột xuất khi có sự kiện bất thường ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh xảy ra. Đặc biệt là các báo cáo hàng quý của công ty chứng khoán phải được công ty kiểm toán đã được cơ quan quản lý Nhà nước ngành chứng khoán chấp nhận xác nhận. Mặt khác, thông tin về thị trường chứng khoán là cơ sở hoạt động của thị trường chứng khoán, là yếu tố để các nhà đầu tư định giá mua bán chứng khoán. ở nhiều nước trên thế giới việc công bố thông tin đã trở thành một thứ văn hoá kinh doanh, bởi vì cổ đông và những người có quyền lợi liên quan đến công ty cần được thông tin kịp thời và chính xác về tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình quản lý, điều hành công ty. Các thông tin sai lệch trên thị trường chứng khoán có thể gây nên những biến động lớn trong hoạt động của thị trường cũng như sự hoảng loạn trong tâm lý của các nhà đầu tư, đẩy thị trường đến những đột biến giá, tạo nên các cơn sốc đối với hệ thống tài chính quốc gia, và do vậy ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Trong giai đoạn toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, thông tin không minh bạch có thể gây nên sự xáo trộn thị trường, dẫn đến phản ứng xấu của thị trường chứng khoán và nền kinh tế quốc gia. Chính vì vậy, công khai hoá thông tin được coi là nguyên tắc quan trọng nhất của thị trường chứng khoán. Ngay từ đầu xây dựng thị trường chứng khoán tại Việt Nam, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã luôn coi trọng nguyên tắc này, và có những quy định cụ thể về việc bắt buộc công khai thông tin trên thị trường chứng khoán. Các quy định của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đối với việc công bố thông tin của các tổ chức niêm yết, công ty quản lý quỹ, các tổ chức hoạt động kinh doanh chứng khoán là tương đối chặt chẽ, phù hợp với thông lệ quốc tế về thông tin trên thị trường. Vấn đề còn lại chính là tính tự giác của các tổ chức có trách nhiệm phải công bố thông tin. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, các doanh nghiệp Việt Nam chưa có thói quen và chưa sẵn sàng công bố công khai thông tin về tình hình hoạt động của mình. Để giải quyết tốt vấn đề này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước đối với Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Uỷ ban chứng khoán Nhà nước à Trung tâm giao dịch chứng khoán cần nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi, cụ thể hoá các quy định về thông tin như thời điểm, cách thức và nội dung công bố thông tin, đặc biệt liên quan tới những vấn đề như phát hành cổ phiếu mới, thay đổi chế độ kế toán, hợp nhất báo cáo tài chính, công bố ấn phẩm thường niên, công bố trên báo... Những quy định này cần cụ thể và phù hợp với thực tế để tạo điều kiện cho các công ty niêm yết thực hiện được tốt. Đồng thời Uỷ ban chứng khoán Nhà nước và Trung tâm giao dịch chứng khoán cần tăng cường thông tin về thị trường để định hướng người đầu tư, bác bỏ những thông tin sai lệch, gây hoang mang hoặc gây nhiễu. Cần sớm xây dựng một tờ thông tin chính thức của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, bên cạnh tờ tin của Trung tâm giao dịch chứng khoán cùng với việc cập nhật trang Web thông tin để đưa ra những quan điểm chính thức của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước về những vấn đề chứng khoán và thị trường chứng khoán, tạo điều kiện cho công chúng đầu tư và những người muốn tìm hiểu lĩnh vực này có được những thông tin đáng tin cậy. 3.4.2.2. Tuyên truyền và đào tạo kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán Việc tuyên truyền và quảng bá rộng rãi kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho công chúng là điều hết sức quan trọng và không nên xem nhẹ vì người ta chỉ có thể tham gia “cuộc chơi” khi mà họ tin rằng đã hiểu “luật chơi” và biết cách tự mình giành chiến thắng trong cuộc chơi đó. Theo số liệu điều tra của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, công chúng cho rằng tuy thị trường chứng khoán còn là lĩnh vực mới mẻ, chứa đựng nhiều rủi ro nhưng cũng không phải là ít tiềm năng đáng trông đợi. Đa số các nhà đầu tư là tổ chức, cho dù có hay không ý định huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán đều mong muốn có được hiểu biết về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Đối với nhà đầu tư cá nhân, phần lớn đều chưa qua đào tạo kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán mà chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các buổi nói chuyện đề nên hiểu biết của họ còn hạn chế. Điều này phản ánh thực tế là công tác thông tin tuyên truyền và đào tạo kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán chưa được triển khai mạnh mẽ và hiệu quả. Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cần phối hợp với Bộ giáo dục và đào tạo và các cơ quan chức năng trong chương trình đào tạo về chứng khoán và thị trường chứng khoán theo một chuẩn nhất định để tranh thủ sự liên kết giữa ngành chứng khoán với các trường đại học hoặc các trung tâm đào tạo khác góp phần tuyên truyền và đào tạo một cách có hiệu quả nhất. 3.4.3. Kiến nghị với Ngân hàng công thương Việt Nam. 3.4.3.1. Bổ sung nhân lực cho công ty. Theo yêu cầu công việc IBS phát triển thêm các bộ phận nghiệp vụ trực thuộc phòng kinh doanh. Hiện công ty có 57 cán bộ từ Ngân hàng Công thương chuyển sang. 3.4.3.2 Mở rộng chi nhánh Việc mở các chi nhánh là cần thiết bởi nhu cầu quản lý mạng lưới nhận lệnh sẽ thành lập trên quy mô cả nước. Kết luận Như vậy, qua hơn hai năm hoạt động, CTCK Công thương đã đạt được 1 số thành công nhất định, đã bước đầu xây dựng các quy trình nghiệp vụ và tích lũy được 1 số kinh nghiệm trong kinh doanh chứng khoán, từng bước tạo được uy tín với khách hàng và bắt đầu kinh doanh có lãi. Trong những năm tới, để hoạt động kinh doanh ngày càng đem lại hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy TTCK Việt nam phát triển, CTCK Công thương cần phấn đấu nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao những năng lực cán bộ, tận dụng những lợi thế và tiềm lực của 1 ngân hàng mẹ và ưu thế của công ty về cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ hiện đại để sẵn sàng phục vụ khách hàng với những tiện ích thiết thực từ các dịch vụ tiên tiến nhất. Trên cơ sở mục đích nghiên cứu đặt ra, bài viết đã đạt được kết quả như sau: Một là, làm rõ những vấn đề lý luận xung quanh CTCK và các nghiệp vụ hoạt động của CTCK. Hai là, phân tích rõ thực trạng thực hiện các nghiệp vụ của CTCK Công thương, trong đó có chú ý so sánh tình hình hoạt động của Công ty với các CTCK khác trên TTCK, chỉ tiêu những mặt được, những mặt còn yếu kém, đồng thời cũng nêu ra nguyên nhân cả chủ quan và khách quan của những thành công và hạn chế trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ của Công ty. Ba là, trên cơ sở phân tích, đánh giá ở trên, bài viết đã đưa ra những giải pháp hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ của Công thương. Bên cạnh đó, bài viết cũng đề xuất 1 số kiến nghị của Chính phủ, UBCKNN và các Bộ ngành liên quan để có những chính sách hỗ trợ cần thiết cho các CTCK nói chung, đồng thời bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị với Công thương để có sự trợ giúp và kết hợp kịp thời từ phía Ngân hàng với Công ty trong việc cung cấp các nghiệp vụ phụ trợ cho khách hàng. Mục lục Lời mở đầu ............................................................................................ 1 Chương I Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán .......................................................................... 2 1.1. Những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán ................................. 2 1.1.1. Vai trò của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế thị trường .... 2 1.1.2. Nguyên tắc hoạt đông của thị trường chứng khoán ........................... 4 1.1.3. Hàng hoá trên thị trường chứng khoán ............................................. 5 1.1.4. Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán ......................................... 6 1.2. Những vấn đề chung về công ty chứng khoán .................................... 7 1.2.1.1. Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán ...................................... 8 1.2.1.2. Các loại công ty chứng khoán ....................................................... 11 1.2.1.3. Vai trò của công ty chứng khoán ................................................... 12 1.2.2. Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán ............................... 13 1.2.2.1. Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán ...... 14 1.2.2.2. Các nghiệp vụ phụ trợ của công ty chứng khoán ........................... 17 1.2.3. Nguyên tắc hoạt đông và đạo đức nghề nghiệp ................................ 18 1.3. Hiệu quả hoạt đông của công ty chứng khoán và các nhân tố ảnh hưởng ........................................................................................................ 21 1.3.1. Đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán .................. 21 1.3.1.1. Chỉ tiêu định lượng ....................................................................... 21 1.3.1.2. Chỉ tiêu định tính .......................................................................... 22 1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của chứng khoán ........................................................................................ 22 Chương 2: Thực trạng hoạt đông của công ty chứng khoán ngân hàng công thương Việt Nam ............................. 26 2.1. Hoạt đông của thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua .......... 26 2.2. Khái quát công ty chứng khoán ngân hàng công thương Việt Nam ..... 29 2.2.1. Sự ra đời và phát triển của công ty chứng khoán Ngân hàng công thương Việt Nam ....................................................................................... 29 2.1.1. Lịch sử hình thành của công ty chứng khoán ngân hàng Công thương .............................................................................................. 30 2.2.1.2. Các lĩnh vực hoạt đông .................................................................. 30 2.2.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán Công thương Việt Nam ................................................................................................... 31 2.2.2. Thực trạng hoạt đông kinh doanh của công ty .................................. 34 2.3. Đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty ......................................... 39 2.4. Đánh giá chung .................................................................................. 42 2.4.1. Kết quả ............................................................................................ 42 2.4.2. Hạn chế ........................................................................................... 44 2.4.3. Nguyên nhân ................................................................................... 45 2.5. Những thuận lợi và khó khăn của IBS ................................................. 48 Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt đông kinh doanh của công ty chứng khoán ngân hàng công thương Việt Nam ............................................................................... 51 3.1. Định hướng hoạt đông của UBCKNN và của IBS trong thời gian tới ..................................................................................... 51 3.1.1. Định hướng của UBCKNN ............................................................... 51 3.2. Định hướng của IBS ............................................................................ 52 3.3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt đông kinh doanh tại công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam ............................................. 53 3.3.1. Kế hoạch hoá hoạt đông marketing .................................................. 53 3.3.2. Hiện đại hoá cơ sở vật chất, phương tiện hoạt đông kinh doanh ....... 55 3.3.3. Xây dựng chiến lược về nguồn nhân lực ........................................... 56 3.3.4. Tăng cường xây dựng các mối quan hệ công ty chứng khoán nước ngoài ......................................................................................................... 58 3.3.5. Nâng cao năng lực phân tích thị trường ............................................ 58 3.4. Một số kiến nghị ................................................................................ 59 3.4.1. Kiến nghị với Chính phủ .................................................................. 59 3.4.1.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý ............................................ 59 3.4.1.2. Ưu đãi thuế cho hoạt đông chứng khoán ....................................... 60 3.4.2. Kiến nghị với Uỷ ban chứng khoán Nhà nước và trung tâm giao dịch chứng khoán ...................................................................................... 61 3.4.2.1. Quy định về chế độ báo cáo và công khai hoá thông tin ................ 61 3.4.2.2. Tuyên truyền và đào tạo kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán .............................................................................................. 63 3.4.3. Kiến nghị với Ngân hàng Công thương Việt Nam ........................... 63 3.4.3.1. Bổ sung nhân lực cho công ty ...................................................... 63 3.4.3.2. Mở rộng chi nhánh ........................................................................ 63 Kết luận ............................................................................................... 64

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnang_cao_hieu_qua_hoat_dong_kinh_doanh_cua_cong_ty_chung_khoan_cong_thuong_4085.pdf
Luận văn liên quan