Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết

LỜI MỞ ĐẦU Năng lực pháp luật dân sự chính là điều kiện tiên quyết để một cá nhân có thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” (khoản 3- Điều 14 BLDS). Cái chết của cá nhân chính là sự kiện pháp lý làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ. Tuy nhiên cái chết đó phải được xác định một cách đích xác và theo quy định của pháp luật phải “khai tử”. (điều 30 BLDS). Trên thực tế, có những trường hợp, vì nhiều lí do khác nhau (như rủi ro, chiến tranh, tai nạn và kể cả nguyên nhân do chính cá nhân đó tạo ra) đã không thể xác nhận được cá nhân đó còn sống hay đã chết. Trong những trường hợp như vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, của những người có quyền, lợi ích liên quan, pháp luật đã quy định những điều kiện, trình tự để tạm dừng hoặc chấm dứt tư cách chủ thể của cá nhân dưới hai hình thức: tuyên bố mất tích và tuyên bố chết. Để hiểu rõ hơn vấn đề này,sau đây, chúng em xin trình bày ba vụ việc có thật về tuyên bố một người đã chết. B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.Quy định về việc tuyên bố một người là đã chết trong BLDS 2005 1. Các trường hợp tuyên bố một người là đã chết Việc tuyên bố một người là đã chết được quy định cụ thể tại điều 81 BLDS 2005. Theo đó, tòa án có thể tuyên bố một người là đã chết trong bốn trường hợp sau: - “Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống”. Sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà không cần đòi hỏi thêm một thủ tục thông báo nào Tòa án có thể tuyên bố người đó là đã chết. - “Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống”. Ngày chiến tranh kết thúc có thể quy định khác nhau: ngày chiến thắng, ngày tuyên bố chấm dứt chiến tranh, Tùy vào từng hoàn cảnh và các cuộc chiến tranh cụ thể mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc được xác định theo thông lệ quốc tế. - “Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. - “Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống”. Khi một người biệt tích thì phải áp dụng các quy định thông báo, tìm kiếm giống như trường hợp tìm kiếm người mất tích. 2.Hậu quả pháp lý của quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết Việc tuyên bố một người là đã chết gây ra các hậu quả pháp lí như sau: - Tư cách chủ thể của người bị ra quyết định tuyên bố là đã chết chấm dứt hoàn toàn. - Về quan hệ nhân thân: quan hệ về hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

doc16 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/02/2013 | Lượt xem: 9996 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A.LỜI MỞ ĐẦU Năng lực pháp luật dân sự chính là điều kiện tiên quyết để một cá nhân có thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” (khoản 3- Điều 14 BLDS). Cái chết của cá nhân chính là sự kiện pháp lý làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ. Tuy nhiên cái chết đó phải được xác định một cách đích xác và theo quy định của pháp luật phải “khai tử”. (điều 30 BLDS). Trên thực tế, có những trường hợp, vì nhiều lí do khác nhau (như rủi ro, chiến tranh, tai nạn và kể cả nguyên nhân do chính cá nhân đó tạo ra) đã không thể xác nhận được cá nhân đó còn sống hay đã chết. Trong những trường hợp như vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, của những người có quyền, lợi ích liên quan, pháp luật đã quy định những điều kiện, trình tự để tạm dừng hoặc chấm dứt tư cách chủ thể của cá nhân dưới hai hình thức: tuyên bố mất tích và tuyên bố chết. Để hiểu rõ hơn vấn đề này,sau đây, chúng em xin trình bày ba vụ việc có thật về tuyên bố một người đã chết. B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.Quy định về việc tuyên bố một người là đã chết trong BLDS 2005 1. Các trường hợp tuyên bố một người là đã chết Việc tuyên bố một người là đã chết được quy định cụ thể tại điều 81 BLDS 2005. Theo đó, tòa án có thể tuyên bố một người là đã chết trong bốn trường hợp sau: - “Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống”. Sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà không cần đòi hỏi thêm một thủ tục thông báo nào Tòa án có thể tuyên bố người đó là đã chết. - “Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống”. Ngày chiến tranh kết thúc có thể quy định khác nhau: ngày chiến thắng, ngày tuyên bố chấm dứt chiến tranh,… Tùy vào từng hoàn cảnh và các cuộc chiến tranh cụ thể mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc được xác định theo thông lệ quốc tế. - “Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. - “Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống”. Khi một người biệt tích thì phải áp dụng các quy định thông báo, tìm kiếm giống như trường hợp tìm kiếm người mất tích. 2.Hậu quả pháp lý của quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết Việc tuyên bố một người là đã chết gây ra các hậu quả pháp lí như sau: - Tư cách chủ thể của người bị ra quyết định tuyên bố là đã chết chấm dứt hoàn toàn. - Về quan hệ nhân thân: quan hệ về hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. - Về quan hệ tài sản: được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. 3. Quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết và hậu quả của sự hủy bỏ đó Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố là đã chết với cá nhân thì cái chết đó chỉ là cái chết mang tính “suy đoán pháp lí”. Do đó, sự suy đoán này có thể chính xác hoặc không chính xác. Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết. Hậu quả pháp lí của quyết định hủy bỏ này là: *Thứ nhất, tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là đã chết được trở lại tình trạng ban đầu như khi họ còn sống. *Thứ hai, quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết nhưng cần lưu ý các trường hợp sau: - Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết được tòa án cho li hôn theo quy định tại khoản 2 điều 78 BLDS 2005 thì quyết định cho li hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Nếu người bị tuyên bố là đã chết trở về mà muốn xác lập lại quân hệ vợ chồng đối với vợ hoặc chồng đã được Tòa án cho li hôn sẽ phải làm thủ tục đăng kí kết hôn theo quy định của pháp luật. - Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn với người đó vẫn có hiệu lực pháp luật. * Thứ ba, về quan hệ tài sản: người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản. Trong trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả lại toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường II. Thực tiễn các vụ việc tuyên bố chết. 1. Vụ Việc Thứ Nhất. 1.1. Mô tả tóm tắt nội dung sự việc. Bà Trần Thị Ninh sinh ngày 10 tháng 1 năm 1920, có hộ khẩu thường trú tại P51- B13 tập thể Kim Liên - Đống Đa - Hà Nội. Khoảng tháng 5 năm 2001, bà Ninh bỏ nhà đi. Gia đình bà Ninh đã tìm mọi cách để tìm tung tích của bà, cụ thể gia đình đã tìm ở các trung tâm bảo trợ xã hội, đăng tin tìm người nhà trên các phương tiện thông tin đại chúng… nhưng không có tin tức gì. Sau đó, anh Vũ Hải Hà – cháu ngoại của bà Trần Thị Ninh, được sự uỷ quyền của gia đình: Ông Vũ Tuấn Khanh (con rể bà Ninh), anh Vũ Hải Sơn, Vũ Tuấn Phương (cháu ngoại bà Ninh) đã làm thủ tục tuyên bố bà Ninh mất tích. Ngày 20/06/2005, Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội đã ra quyết định giải quyết việc dân sự số 01/VDSST tuyên bố bà Trần Thị Ninh đã mất tích. Từ đó cho đến nay đã hơn 03 năm, gia đình anh và các người thân của gia đình không có tin tức gì của bà Trần Thị Ninh và cũng không thấy bà Ninh trở về. Vì vậy anh làm đơn đề nghị Toà án tuyên bố bà Trần Thị Ninh là đã chết ngày 06/11/2008. Ngày 22/7/2009 những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có giấy ủy quyền cho anh Vũ Hải Hà thay mặt ông và các anh làm các thủ tục pháp lý để giải quyết các công việc có liên quan đến việc tòa án tuyên bố bà Trần Thị Ninh là đã chết. 1.2.Nơi xảy ra sự kiện: Vụ việc xảy ra tại tập thể Kim Liên - quận Đống Đa – Hà Nội. Nơi cư trú cuối cùng của bà Ninh: P51 - B12 tập thể Kim Liên - Đống Đa - Hà Nội. 1.3.Chủ thể của vụ việc: Người yêu cầu: Anh Vũ Hải Hà, sinh năm 1969 - Nghề nghiệp kĩ sư cơ điện. Nơi cư trú: Phòng 304 – B7- Tập thể Vĩnh Hồ - Đống Đa – Hà Nội. - Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết: Bà: Trần Thị Ninh – sinh ngày 10/01/1920. Nơi cư trú cuối cùng: P51 - B 12 tập thể Kim Liên - Đống Đa – Hà Nội. Bị Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội tuyên bố mất tích theo quyết định số 01/VDSST ngày 20/06/2005. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Tuấn Khanh, sinh năm 1937. Nơi cư trú: Thị trấn Ba Hằng - Huyện Phổ Yên - Tỉnh Thái Nguyên. Anh Vũ Tuấn Phương, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Phường ĐỒng QUang – thành phố Thái Nguyên - Tỉnh THái Nguyên. Anh Vũ Hải Sơn, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Tiểu khu I - Thị trấn Ba Hằng - Huyện Phổ Yên - Tỉnh Thái Nguyên. Ông Vũ Tuấn Khanh, anh Vũ Tuấn Phương, Vũ Hải Sơn uỷ quyền cho anh Vũ Hải Hà. 1.4.Cơ quan giải quyết vụ việc: Vụ việc này đã được Toà án nhân dân quận Đống Đa giải quyết, với thành phần phiên họp sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - chủ toạ phiên họp: Bà Ngô Tuyết Băng. Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa. Bà Phạm Thanh THuý - Kiểm sát viên. THư kí toà án ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thu Hà. 1.5. Quyết định của Toà án: Toà án nhân dân quận Đống Đa đã mở phiên họp sơ thẩm công khai để giải quyết vụ việc dân sự thụ lí số 06 ngày 28/07/2009 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, theo quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 216 ngày 19/08/2009. Áp dụng khoản 4 điều 26, khoản 2 điều 35, khoản 2 điều 55, khoản 2 điều 130, 154, 311, 313, 315, 316, 317 bộ luật tố tụng dân sự Áp dụng điều 39 pháp lệnh án phí lệ phí tòa án Toà án quyết định: 1. Chấp nhận đơn của anh Vũ Hải Hà về việc yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị Ninh là đã chết Tuyên bố bà Trần Thị Ninh là đã chết kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật Quan hệ hô nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Trần Thị Ninh được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của bà Trần Anh Ninh được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của bà Ninh được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Về lệ phí: anh Vũ Hải Hà phải nộp 200.000 đ lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm được trừ vào 200.000 đ tạm ứng lệ phí nộp tại biên lai số 001615 ngày 24/7/2009 của thi hành án quận Đống Đa. Anh Hà, ông Khanh, anh Phương, anh Sơn ( do anh Hà đại diện theo ủy quyền) có quyền kháng cáo trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày 04/9/2009. Quyết định này được niêm yết công khai tại nơi cư trú cuối cùng của bà Trần Thị Ninh là P51-B12 tập thể Kim Liên quận Đống Đa Hà Nội và tại trụ sở ủy ban nhân dân phường Kim Liên- Đống Đa- Hà Nội và tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Kim Liên- Đống Đa- Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết. 1.6. Nhận xét: Sau đây là một số nhận xét của nhóm về cách giải quyết cuả toà án nhân dân quận Đống Đa: Thứ nhất, về thẩm quyền giải quyết. Theo Khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 55 bộ luật tố tụng dân sự năm 2004: Toà án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết. Trong vụ việc này, nơi cư trú cuối cùng của bà Trần Thị Ninh là P51 - B12 tập thể Kim Liên - Đống Đa - Hà Nội và nơi cư trú của anh Vũ Hải Hà - người yêu cầu tuyên bố một người là đã chết: Phòng 304 - B7 - Tập thể Vĩnh Hồ - Đống Đa - Hà Nội. Cho nên trong trường hợp này, Toà án nhân dân quận Đống Đa hoàn toàn có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Thứ hai, về việc tuyên bố bà Ninh mất tích, áp dụng điều 78, bộ luật dân sự 2005. Theo biên bản tự khai của anh Vũ Hải Hà – cháu ngoại bà Ninh thì bà Ninh bỏ nhà đi mất tích vào khoảng tháng 5/2001. Cho đến 20/06/2005 gia đình anh Hà uỷ quyền cho anh làm thủ tục tuyên bố bà Ninh mất tích. Trong thời gian đó, gia đình anh đã áp dụng đầy đủ các bịên pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể gia đình anh đã đăng tin tìm người nhà trên các phương tiện thông tin đại chúng, tìm ở các trung tâm bảo trợ xã hội… nhưng không có tin tức gì của bà Ninh. Như vậy, theo điều 78, thì việc Toà án nhân dân thành phố Hà Nội chấp nhận đơn của gia đình anh Hà tuyên bố bà Ninh mất tích là đúng với quy định của pháp luật. Thứ ba, về việc tuyên bố bà Ninh là đã chết. Tại quyết định giải quyết việc dân sự số 01/VDSST ngày 20/06/2005, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên bố Bà Trần Thị Ninh đã mất tích. Quyết định có hiệu lực pháp luật từ ngày 21/07/2005, tính đến nay đã thời hạn 03 năm, nhưng theo cung cấp của công an phường Kim Liên và các đương sự thì bà Ninh không trở về địa phương, cũng không có tin tức xác thực là bà Ninh còn sống. Do đó, việc Toà án chấp nhận đơn của anh Vũ Hải Hà yêu cầu tuyên bố Bà Trần Thị Ninh là đã chết phù hợp với quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 81 Bộ Luật Dân sự 2005. Áp dụng Điều 313 bộ luật tố tụng dân sự, ở đây Toà án cũng đã triệu tập đầy đủ thành phần tham gia xét xử: Thẩm phán - chủ toạ phiên họp: Bà Ngô Tuyết Băng. Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa. Bà Phạm Thanh Thuý - Kiểm sát viên. Thư kí toà án ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thu Hà. Áp dụng điều 82bộ luật Dân sự thì việc toà án quyết định về quan hệ nhân than và quan hệ tài sản của bà Ninh như vậy là đúng pháp luật. Áp dụng Điều 316, 317 bộ luật tố tụng dân sự, gia đình bà Ninh do anh Hà đại diện có quyền kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày 04/09/2009. Áp dụng Điều 154 bộ luật tố tụng dân sự 2004, quyết định này được niêm yết công khai tại nơi cư trú cuối cùng của bà Trần Thị Ninh là P51 – B12 tập thể Kim Liên - Phường Kim Liên - Quận Đống Đa - Hà Nội. và tại trụ sở Uỷ ban Nhân dân phường Kim Liên - Đống Đa - Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết. Thứ tư, về việc nộp án phí. Theo khoản 2, Điều 130, bộ luật tố tụng dân sự, Điều 39 pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án, anh Vũ Hải Hà đã tuân theo đúng thủ tục, nộp tiền tạm ứng lệ phí là 200.000đ giải quyết việc dân sự sơ thẩm tại biên lai số 001615 ngày 24/07/2009 của thi hành án quận Đống Đa. Như vậy, có thể thấy rõ trong vụ án này, Toà án nhân dân Quận Đống Đa đã giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. 2. Vụ Án Thứ Hai. 2.1.Mô tả tóm tắt nội dung vụ việc. Ông Bùi Đăng Sơn, sinh ngày 29/08/1951, nguyên quán là ở xã Khúc Trí, Huyện Kiến An, Thành phố Hải Phòng. Năm 1994 ông Bùi Đăng Sơn đã bỏ nhà ra đi (không rõ ngày tháng), nơi thường trú cuối cùng của ông Bùi Đăng Sơn là: 30 H1, TT Công ty xây dựng dân dụng, Phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Gia đình ông Bùi Đăng Sơn đã cố gắng tìm kiếm sau nhiều năm nhưng không có tin tức gì của ông Sơn còn sống hay đã chết. Ngày 30/07/2003, ông Bùi Tuấn Dương (con trai ông Đăng Sơn) làm đơn đề nghị và công an Phường Khâm Thiên, xác định ông Bùi Đăng Sơn bỏ nhà ra đi không rõ lí do từ năm 1994. Ngày 30/11/1998 công an Phường Khâm Thiên đã cắt treo hộ khẩu đối với ông Bùi Đăng Sơn. Ngày 14, 15 và 16/08/2008 ông Bùi Tuấn Dương (đại diện cho gia đình) cũng đã đăng tin tìm kiếm ông Bùi Đăng Sơn trên báo Tiền Phong và ngày 21, 22 và 23/08/2008 trên đài truyền hình Việt Nam. Từ đó đến nay (kể từ lúc đăng tin tìm kiếm) vẫn không có tin tức xác thực của ông Bùi Đăng Sơn là còn sống. Do nhiều năm không nhận được thông tin gì của ông Bùi Đăng Sơn, cho nên ông Bùi Đăng Bản (bố đẻ ông Sơn), Bà Đỗ Thị Lộc (mẹ đẻ ông Sơn), Bà Trần Thị Hằng (vợ ông Sơn), ông Bùi Tuấn Dương (con trai ông Sơn), ông Bùi Tuấn Dũng (con trai ông Sơn) va ủy quyền cho ông Bùi Tuấn Dương là đại diện đã yêu cầu Tòa án nhân dân quận Đống Đa tuyên bố ông Bùi Đăng Sơn là đã chết. 1.2. Nơi xảy ra sự kiện. Vụ việc này xảy ra tại Phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội (nơi mà ông Bùi Đăng Sơn sinh sống). Nơi thường trú cuối cùng của ông Bùi đăng Sơn là: 30 H1, TT Công ty xây dựng dân dụng, Phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. 1.3.Chủ thể của vụ việc. - Người yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết là: Ông Bùi Đăng Bân - sinh năm 1928. Bà Đỗ Thị Lộc - sinh năm 1929. Bà Trần Thị Hằng - sinh năm 1954. Ông Bùi Tuấn Dương - sinh năm 1978. Ông Bùi Tuấn Dũng - sinh năm 1980. Hộ khẩu thường trú: Số 13, phố Yên Ninh, phường Trúc Bạch, Ba Đình, Hà Nội. - Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết là: Ông Bùi Đăng Sơn - Sinh ngày: 29/08/1951 - Nguyên quán: Khúc Trí, Kiến An, Hải Phòng - Nơi thường trú cuối cùng: 30 H1, TT Công ty xây dựng dân dụng, Phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. - Người đại diện: Ông Bùi Tuấn Dương - sinh năm 1978. Hợp đồng ủy quyền: Số 44/2009/HĐUQ ngày 03/04/2009 tại văn phòng công chứng thủ đô. 1.4. Cơ quan giải quyết vụ việc. Vụ việc này đã được Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, giải quyết. Trong đó có ông Nguyễn Tứ Duy (Thẩm phán), bà Đoàn Thị Lệ Hằng – Kiểm Sát Viên (Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Đống Đa), bà Hoàng Thị Gấm (Thư kí Tòa án) là những người tham gia giải quyết. 1.5. Quyết định của Tòa án. Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã mở phiên họp công khai hồi 08 giờ 30 ngày 18/06/2009 để giải quyết việc dân sự thụ lí số 03/2009/TLV-DS ngày 02/06/2009 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết. Theo quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 150/2009/QĐ-MPH ngày 10/06/2009 của Tòa án nhân dân quân Đống Đa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 78, Điều 81,82 BLDS năm 2005. Căn cứ vào khoản 3 Điều 128, Điều 133, 134, 155, 311, 314, 315, 316, 317 BLTTDS năm 2004 và Nghị Định số 70/CP ngày 12/06/1997. Tòa án Quyết Định: Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Bùi Đăng Bân, Bà Đỗ Thị Lộc, Bà Trần Thị Hằng, ông Bùi Tuấn Dương, ông Bùi Tuấn Dũng, do ông Bùi Tuấn Dương đại diện. Tuyên bố một người là đã chết đối với: Ông Bùi Đăng Sơn. Sinh ngày: 29/08/1951. Nguyên quán: Khúc Trí, Kiến An, Hải Phòng. Nơi thường trú cuối cùng: 30 H1, TT Công ty xây dựng dân dụng, Phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. 1. Xác định ông Bùi Đăng Sơn - sinh ngày 29/08/1951 là đã chết, ngày quyết định này có hiệu lực. 2. Quan hệ về hôn nhân và gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Bùi Đăng Sơn được giải quyết như đối với người đã chết. 3. Quan hệ tài sản của ông Bùi Đăng Sơn được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của ông Bùi Đăng Sơn được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. 4. Lệ phí: ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi Tuấn Dương, chịu cả tiền lệ phí giải quyết vụ việc dân sự, ông Bùi Tuấn Dương đã nộp 50.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai số 1412 ngày 1/6/2009 của thi hành án dân sự quận Đống Đa, nay chuyển thành tiền lệ phí, ông Bùi Tuấn Dương đã nộp đủ tiền lệ phí. Ông Bùi Đăng Bân, Bà Đỗ Thị Lộc, Bà Trần Thị Hằng, ông Bùi Tuấn Dương, ông Bùi Tuấn Dũng, do ông Bùi Tuấn Dương đại diện được quyền kháng cáo trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày 18/06/2009. Ông Bùi Đăng Sơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết. 1.6. Nhận xét. Qua sự quyết định của Tòa án quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, ta thấy Tòa án đã xử lí vụ việc đúng theo quy định của pháp luật. Trước hết theo Điều 33 và điểm b khoản 2 Điều 35 BLTTDS năm 2004 thì Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã giải quyết đúng thẩm quyền của mình, bởi vì nơi thường trú cuối cùng của Ông Bùi Đăng Sơn thuộc quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Theo khoản 1 Điều 78 BLDS năm 2005: về tuyên bố một người mất tích thì khi ông Bùi Đăng Sơn bỏ nhà ra đi nhiều năm, mặc dù gia đình đã áp dụng đầy đủ các biện pháp tìm kiếm, theo quy định của BLTTDS năm 2004 nhưng vẫn không có thông tin xác thực của Ông Sơn. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 81 BLDS năm 2005: “khi một người biệt tích năm năm liền trở lên và không có thông tin xác thực là còn sống” thì sẽ bị tuyên bố là chết. Theo Điều 155, 328 BLTTDS năm 2004 thì “việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải được đăng trên bao hằng ngày của trung ương 3 số liên tiếp và phát sóng trên đài phát thanh hoặc Đài Truyền Hình trung ương 3 lần trong 3 ngày liên tiếp”. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo, tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu. Như vậy Tòa án đã quyết định phù hợp với các quy định của pháp luật và ông Bùi Tuấn Dương cũng tiến hành những thủ tục đúng với những quy định của pháp luật. Theo khoản 3 Điều 128, Điều 133 BLTTDS năm 2004 và Nghị Định số 70/CP ngày 12/06/1997 quy định về việc nộp lệ phí. Ông Bùi Tuấn Dương đã thực hiện đúng theo thủ tục mà pháp luật quy định, đó là ông đã nộp 50.000 đồng tiền tạm ứng, nay chuyển thành tiền lệ phí. Theo Điều 82 BLDS năm 2005 thì quan hệ về hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Bùi Đăng Sơn được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của người đó cũng được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của ông Sơn thì cũng được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Qua những giải quyết trên đây chúng ta thấy được Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã xử lí đúng đắn các quan hệ liên quan đến ông Sơn và những người có lợi ích liên quan. Tiếp theo, Tòa án đã triệu tập đủ thành phần tham gia xét xử, đó là Thẩm Phán: Nguyễn Tứ Duy, Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Đống Đa - bà Đoàn Thị Lệ Hằng - Kiểm Sát Viên, Thư kí phiên họp - Bà Hoàng Thị Gấm và những người có lợi ích liên quan như ông Bùi Đăng Bân, bà Đỗ Thị Lộc, bà Trần Thị Hằng, ông Bùi Tuấn Dương, ông Bùi Tuấn Dũng. Điều đó là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật. Theo Điều 314, 315 BLTTDS năm 2004 thì Tòa án đã giải quyết vụ việc tuyên bố một người đã chết đúng theo trình tự luật định. Cũng theo Điều 316 BLTTDS năm 2004 thì Tòa án cho phép những người có lợi ích liên quan có quyền kháng cáo nếu không chấp nhận với cách giải quyết của Tòa án, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 28 của BLTTDS năm 2004. Theo Điều 317 BLTTDS năm 2004 thì Tòa án đã quyết định rõ thời hạn kháng cáo cho nhưng người có lợi ích liên quan, kể cả bản thân người bị tuyên bố là chết, đó là 7 ngày. 3.VỤ ÁN THỨ 3 3.1.Mô tả tóm tắt nội dung vụ việc. Trường hợp của anh Nguyễn Văn Tâm ở Lục Ngạn Bắc Ninh như sau: Anh đi tìm việc làm ở Campuchia, đến năm 2009 mới trở về. Trong thời gian đi tìm việc làm, anh không liên lạc cũng như thư từ gì về gia đình, gia đình không nhận được bất cứ tin tức gì từ phía anh. Vì thế, vợ anh đã đề nghị toà án tuyên bố là anh đã chết, đồng thời xin ly hôn với anh. Sau đó chuyển nhượng căn nhà cho người khác sử dụng. Năm 2009 anh mới trở về, chưa biết giải quyết tình huống của mình thế nào. Dưới đây là trích nguyên văn câu hỏi băn khoăn của anh Nguyễn Văn Tâm gửi về báo Công An Nhân Dân số ra ngày 24/7/2009. “Tôi sang Campuchia tìm việc làm, hơn 4 năm không liên lạc với gia đình. Đến nay khi tôi trở về nhà thì vợ tôi đã kết hôn với người khác và căn nhà của vợ chồng tôi do người khác sử dụng. Tôi được biết, trong thời gian tôi đi làm xa thì vợ tôi đã đề nghị Tòa án tuyên bố tôi đã chết và xin được ly hôn với tôi. Vậy quan hệ giữa tôi và vợ sẽ giải quyết như thế nào? Căn nhà của tôi có lấy lại được không? (Nguyễn Văn Tâm, Lục Ngạn, Bắc Giang).” 1.2.Nơi xảy ra vụ việc Vụ việc này xảy ra tại Lục Ngạn, Bắc Giang : Nơi thường trú cuối cùng của Ông Nguyễn Văn Tâm là huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. 1.3.Chủ thể của vụ việc. *Người bị tuyên bố là đã chết : Ông Nguyễn Văn Tâm Nguyên quán : Lục Ngạn – Bắc Giang Nơi thường trú cuối cùng : Lục Ngạn – Bắc Giang. Hiện tại trường hợp của anh Tâm chưa có thông tin về cơ quan cụ thể nào giải quyết. Theo quy định tại Điều 83 Bộ luật Dân sự 2005 thì: "Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết". Điều luật này cũng quy định: Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, trừ các trường hợp sau đây: Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật; vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật. Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn. Trong trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Theo quy định nói trên thì anh cần làm đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố anh là đã chết để anh được khôi phục các quyền công dân. Riêng quan hệ hôn nhân của anh đã bị chấm dứt, vợ anh đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật. Về tài sản: Nếu vợ anh đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế và bán cho người khác thì anh có quyền yêu cầu những người liên quan trả lại tài sản cho anh, trường hợp không thỏa thuận được thì anh có thể khởi kiện ra Tòa án. Ta phân tích trường hợp của anh Nguyễn Văn Tâm như sau: Thứ nhất, anh Tâm đi biệt tích trong thời gian dài, như anh đã nêu là “hơn 4 năm”. Trường hợp bị tuyên bố chết của anh ứng với mục d, khoản 1 điều 81 theo Bộ luật Dân sự 2005. Nhưng nếu theo đúng những gì anh Tâm đã nêu thì việc vợ anh yêu cầu Toà Án tuyên bố anh đã chết là chưa đủ căn cứ pháp lý, vì theo mục d, khoản 1 điều 81 bộ Luật Dân sự thì: “ Tuyên bố một người là đã chết : Người có quyền, lợi ích có liên quan có thể yêu cầu Toà Án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau: …. d) Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 điều 78 của bộ luật này” Theo khoản 1 điều 78 thì thời hạn 5 năm sẽ được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng”. Nhưng, thực tế, thời gian anh Tâm biệt tích mới khoảng 4 năm, chưa đủ 5 năm trở lên để có thể quyết định tuyên bố là đã chết đối với anh. Chính vì thế, có thể cho rằng, việc anh bị tuyên bố là đã chết là chưa đủ căn cứ pháp lý, và quyết định của toà án tuyên bố anh Tâm đã chết là sai. Nhưng nếu anh Tâm nói sai, tức là không đúng thời gian là hơn 4 năm mà là hơn 5 năm thì quyết định của Tòa án là đúng. Như vậy, cần phải điều tra xác minh về thời gian này có đúng như lời ông Tâm đã trình bày không. Thứ hai, năm 2009, anh trở lại, theo như điều 83 trong bộ Luật Dân sự 2005 về huỷ bỏ tuyên bố một người là đã chết thì: “1. Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ, quyết định tuyên bố người đó là đã chết.” Tức là trong trường hợp của mình, anh Tâm có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố anh đã chết. Đồng thời quyền nhân thân của anh cũng được phục hồi theo như khoản 2 điều 83 của bộ Luật này: “2. Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, trừ các trường hợp sau đây: Vợ hoặc chống của người bị tuyên bố là đã chết đã được Toà án cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 điều 78 của bộ luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn còn có hiệu lực pháp luật; Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với ngời khác thì việc kết hôn đó vẫn còn có hiệu lực pháp luật.” Đồng thời, quyền tài sản của anh Tâm cũng được quy định tại khoản 3 của điều 83 Bộ Luật Dân sự 2005: “ …có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn”. Tức là theo quy định của pháp luật hiện hành, anh có quyền đưa đơn đòi toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố anh đã chết để khôi phục quyền công dân của mình. Về việc vợ anh ly hôn, quyết định cho ly hôn của toà vẫn còn hiệu lực pháp luật. Về tài sản, cụ thể ở đây là căn nhà của anh, nếu vợ anh đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế và bán cho người khác thì anh có quyền yêu cầu những người liên quan trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn cho anh, trường hợp không thỏa thuận được thì anh có thể khởi kiện ra Tòa án. Còn nếu trường hợp vợ anh, tức là người thừa kế của anh biết anh còn sống mà cố tình giấu diếm để hưởng thừa kế thì sẽ phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức, thậm chí nếu gây thiệt hại thì cần phải bồi thường, điều này được quy định tại khoản 3 điều 83 của bộ Luật Dân sự. 4.Nhận Xét Chung: Qua ba vụ việc trên, mặc dù pháp luật Việt Nam đa quy định tương đối cụ thể về trường hợp tuyên bố một người mất tích là đã chết. Tuy nhiên, pháp luật vẫn còn có những lỗ hổng cần khắc phục, có bổ sung thêm một thêm điểm cần lưu ý khi tuyên bố một người là đã chết. Cụ thể là: khi Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì chỉ tuyên bố chết dưới dạng pháp lí nhưng chưa dự liệu hay đề cập đến cái chết sinh học của người đó. Thực tế cho thấy, khi tuyên bố một người là đã chết cũng chỉ là sự suy đoán pháp lí của Tòa án về sự sống còn của họ, khi người đó biệt tích lâu ngày, Tòa án chỉ có thể tuyên bố người đó là chết pháp lí và chua khẳng định được cái chết sinh học của họ. Điều đó đòi hỏi pháp luật phải có những trình tự, thủ tục, điều kiện để tuyên bố một người là đã chết cần phải rõ ràng, theo từng trường hợp, để hạn chế được những hậu quả nhất định. Thiết nghĩ, Tòa án cần phải xem xét kĩ lưỡng các tình tiết, điều kiện để giảm thiểu sai sót, tăng cường tính chính xác của các suy đoán. Ngoài ra việc xác định không gian nơi có tin tức cuối cùng của người đó cũng cần phải điều chỉnh, bởi vì khi xác định sự sống của một người cần phải chú trọng đến tính thực tế của nó. Chẳng hạn, khi người đó không có tin tức là còn sống tại nơi cư trú cuối cùng của họ đã quá năm năm thì sẽ bị tuyên bố là chết, nhưng nếu có căn cứ chính xác về việc người đó đã từng xuất hiện (có mặt) tại địa phương khác thì vẫn phải coi ngày mà họ có mặt tại địa phương đó (không phải là nơi cư trú cuối cùng) là thời điểm tính thời hạn. C. KẾT LUẬN Như vậy, qua việc tìm hiểu ba vụ việc thực tế nói trên, chúng ta đã hiểu rõ hơn về việc tuyên bố một người là đã chết cùng hậu quả pháp lí của nó. Trong thực tế, có rất nhiều vụ việc tương tự như vậy xảy ra. Cũng do tính chất phức tạp của từng vụ việc mà trong khi xét xử còn gặp không ít khó khăn. Điều này đòi hỏi các nhà làm luật cần có một cái nhìn đúng đắn và toàn diện hơn, cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc ban hành pháp luật, xét xử các vụ án... Do phạm vi kiến thức rộng, chưa có nhiều kinh nghiệm với tình huống thực tế, lại phải đề cập đến một vấn đề phức tạp, có tính thực tiễn cao, nên bài làm khó tránh khỏi sai sót. Chúng em rất mong nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô để chúng em có thể tiếp tục hoàn thiện kiến thức của mình. Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNăng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.doc