Nêu và lí giải những điểm khác nhau giữa chế định nuôi con nuôi trong Luật HN và GĐ năm 2000 và Luật nuôi con nuôi năm 2010 về điều kiện và hậu quả pháp lí của việc nuôi con nuôi.

KẾT CẤU BÀI LÀM Trang LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 1. Lý luận chung về việc nuôi con nuôi 1 1.1.Khái niệm nuôi con nuôi .1 1.2.Khái niệm chế định nuôi con nuôi 1 1.3.Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi .2 2. Sự khác nhau về điều kiện và hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi giữa Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật NCN .2 2.1.Điều kiện của việc nuôi con nuôi 2 2.1.1.Điều kiện với người được nhận làm con nuôi 2 2.1.2.Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi .4 a) Trường hợp nuôi con nuôi trong nước .4 b) Trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài .5 2.1.3.Điều kiện về ý chí của các chủ thể .6 2.2. Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi .7 2.2.1.Về mối quan hệ ba bên giữa cha mẹ nuôi, con nuôi và cha mẹ đẻ .7 2.2.2.Vấn đề về báo cáo tình hình phát triển của con nuôi 9 3. Những hạn chế cần sửa đổi bổ sung và một số ý kiến hoàn thiện về điều kiện và hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi 3.1. Vấn đề về điều kiện của việc nuôi con nuôi .9 3.2. hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi 10 C. KẾT BÀI 10

doc15 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 26/02/2013 | Lượt xem: 2938 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nêu và lí giải những điểm khác nhau giữa chế định nuôi con nuôi trong Luật HN và GĐ năm 2000 và Luật nuôi con nuôi năm 2010 về điều kiện và hậu quả pháp lí của việc nuôi con nuôi., để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội, một chế định pháp lý đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi…; dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi. Nuôi con nuôi thể hiện tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc, tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau giữa con người với con người. Đặc biệt, đối với những trẻ em mồ côi, không ai nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục thì việc nuôi con nuôi được xem là vấn đề cấp thiết, đảm bảo cho hầu hết trẻ em được nuôi dưỡng giáo dục tốt và được sống trong môi trường gia đình. Chế định nuôi con nuôi được quy định trong Luật HN và GĐ của nước ta từ năm 1959 đến nay xuất phát trước tiên vì lợi ích của người con nuôi đồng thời cũng đảm bảo lợi ích của người nhận nuôi con nuôi (Điều 24 Luật HN và GĐ 1959; Điều 34 Luật HN và GĐ 1986 và Điều 67 Luật HN và GĐ 2000). Tuy nhiên sau bao nhiêu năm, đến Luật HN và GĐ năm 2000 cũng vẫn còn tồn tại những hạn chế, những thiếu sót khiến cho việc nhận nuôi con nuôi không đúng với mục đích nhân đạo mà mang những mục đích trục lợi khác và ngày 17/6/2010 Luật nuôi con nuôi 2010 đã ra đời nhằm khắc phục, hoàn thiện, thống nhất những hạn chế đó. Vì vậy giữa chế định nuôi con nuôi trong Luật HN và GĐ năm 2000 và Luật nuôi con nuôi năm 2010 có rất nhiều điểm khác nhau và một trong những điểm khác nhau mà chúng ta cùng nghiên cứu sau đây chính là về điều kiện và hậu quả pháp lí của việc nuôi con nuôi. NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận 1.1. Khái niệm nuôi con nuôi. Khoản1 Điều 3 LCN 2010 và khoản 1 Điều 67 Luật HN và GĐ 2000 đều quy định: Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ, con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi. Qua đó ta có thể thấy: Như vậy là khi xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi, các bên đối xử với nhau như cha mẹ đẻ và con đẻ nhưng các bên không có quan hệ với nhau về mặt sinh học và huyết thống. Ở một góc độ khác, việc nuôi con nuôi có thể tồn tại các hình thức như nuôi con nuôi trên danh nghĩa, nuôi con nuôi trên thực tế, nuôi con nuôi theo phong tục tập quán…. Quan hệ nuôi con nuôi không đòi hỏi các điều kiện chặt chẽ mà chủ yếu đáp ứng những lợi ích về vật chất và tinh thần. Quan hệ nuôi con nuôi không phải bao giờ cũng có sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong các trường hợp này vẫn xác lập quan hệ nuôi con nuôi, tuy nhiên, hầu như những quan hệ này không được pháp luật điều chỉnh. Mặt khác xét dưới góc độ pháp lý, chỉ khi quan hệ nuôi con nuôi được pháp luật công nhận thì mới phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ và con giữa các bên. Nuôi con nuôi là việc dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi và được sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. 1.2.Khái niệm chế định nuôi con nuôi. Chế định nuôi con nuôi là chế định pháp lý bao gồm các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh những vấn đề về nuôi con nuôi như điều kiện nuôi con nuôi, thực hiện, chấm dứt việc nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể có liên quan trong quan hệ nuôi con nuôi, bao gồm cả các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. 1.3. Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi Về mặt xã hội, nuôi con nuôi thể hiện tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc, tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau giữa con người với con người. Việc nhận nuôi con nuôi phản ánh phong tục, tập quán, những giá trị nhân văn của truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đối với Nhà nứơc việc nhận nuôi con nuôi làm giảm gánh nặng của nhà nước trước tình trạng trẻ em không nơi nương tựa, không nguồn nuôi dưỡng phải lang thang tự đi kiếm sống, hạn chế khả năng trẻ em lao vào con đường con đường xấu dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật hay mắc các tệ nạn xã hội do thiếu sự quan tâm, giáo dục. Về mặt pháp lí, nhận nuôi con nuôi và nhận nuôi con nuôi là một quyền tự do nhân thân của các cá nhân được pháp luật công nhận và bảo hộ. Nuôi con nuôi không chỉ là biện pháp tốt nhất, phù hợp và có lợi ích với trẻ em mà còn là cách thực hiện hợp pháp quyền làm cha mẹ của cá nhân. 2. Sự khác nhau về điều kiện và hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi giữa luật nuôi con nuôi và chế định nuôi con nuôi trong luật Hôn nhân và gia đình 2000 2.1. Điều kiện của việc nuôi con nuôi 2.1.1. Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi. Trước hết, Luật NCN đã thống nhất các điều kiện của người được nhận làm con nuôi trong nước và nước và nước ngoài, vì vậy điều kiện của người được nhận làm con nuôi trong nước và ngoài nước như nhau. Theo quy định thì ngoài việc đáp ứng những điều kiện nuôi con nuôi trong nước, Điều 1 Nghị định 69/2006/ NĐ- CP còn quy định thêm các điều kiện cho trẻ em được nhận làm con nuôi nước ngoài. Luật NCN đã quy định chung điều kiện của người được nhận làm con nuôi tại điều 8, không phân biệt nuôi trong nước hay nuôi con nuôi có yếu tố nứơc ngoài. Vì vậy sự khác nhau cơ bản giữa Luật NCN và Luật HN&GĐ về vấn đề này ở một số điểm sau: Thứ nhất, theo Khoản 1 Điều 68 Luật HN và GĐ năm 2000 quy định “ người được nhận làm con nuôi phải là người từ 15 tuổi trở xuống” còn Luật NCN lại quy định tại Khoản 1 Điều 8 về độ tuổi của ngươì được nhận làm con nuôi là “ Trẻ em dưới 16 tuổi”. Tại sao lại có sự khác biệt này? Đó là bởi vấn đề về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi, với mục đích chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em được nhận làm con nuôi trong môi trường gia đình nên độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi trong Luật NCN có quan hệ và gắn bó mật thiết với độ tuổi được coi là trẻ em trong Luật chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Vì vậy, Luật NCN tăng độ tuổi của người được làm con nuôi thành “dưới 16 tuổi”( Điều 8 Khoản 1), nhằm phù hợp với độ tuổi của trẻ em được quy định trong Luật Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em năm 2005 (theo điều 1, trẻ em theo quy định của luật này là công dân Việt Nam từ 16 tuổi trở xuống). Như vậy, trừ các trường hợp ngoại lệ được quy định tại khoản 2 điều 8, đối tượng điều chỉnh chủ yếu của Luật này chính là trẻ em, quy định này phù hợp với mục đích nuôi con nuôi. Quy định này nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật trong nước đồng thời vẫn đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh cam kết quốc tế với trường hợp người nước ngoài nhận nuôi. Thứ hai, theo Khoản 1 Điều 68 Luật HN và GĐ năm 2000 quy định: Người trên 15 tuổi có thể đựơc nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn. Còn tại Khoản 2 Điều 8 Luật NCN lại quy định trường hợp ngoại lệ về độ tuổi người được nhận làm con nuôi là người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu được cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi. Ở đây có 2 sự khác nhau, đó là: + Luật NCN không quy định vấn đề “được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn”. Vì những trường hợp này chỉ là quan hệ vì mục đích chăm sóc, phụng dưỡng. Việc loại bỏ các trường hợp này phù hợp với mục đích và nguyên tắc nuôi con nuôi là để tìm mái ấm gia đình cho trẻ em, bảo đảm cho trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trường gia đình; còn công tác đảm bảo cuộc sống cho thương binh, người tàn tật, người già yếu cô đơn sẽ do pháp luật về an sinh xã hội điều chỉnh. + Phần lớn những người ở độ tuổi từ 16 đến 18 chưa thể tự nuôi sống bản thân, tâm sinh lí cũng chưa phát triển hoàn thiện. Vì vậy pháp luật quy định người ở độ tuổi này có thể được cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi để đảm bảo tính nhân đạo của việc nuôi con nuôi. Hiện nay có tương đối nhiều hồ sơ xin nhận trẻ em là con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi. Việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi của người cha dượng hoặc mẹ kế nhằm đảm bảo cho trẻ em được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái khi trẻ em có cha mẹ kết hôn với người nước ngoài và người cha, người mẹ kế của trẻ em muốn nhận trẻ em đó làm con nuôi. Thứ ba, theo khoản 2 điều 68 Luật HN và GĐ năm 2000: “ Một người chỉ có thể làm con nuôi một người hoặc của cả hai vợ chồng” còn tại khoản 3 Điều 8, Luật NCN năm 2010 lại quy định: “ một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng”. Quy định của luật HN và GĐ chưa làm rõ vấn đề một người đã có vợ hoặc chồng có được phép nhận con nuôi riêng hay không. Luật NCN đã có sự thay đổi, hiểu theo quy định của khoản 3 điều 8, luật chỉ cho phép một người độc thân hoặc cả hai vợ chồng nhận con nuôi. Như vậy, Luật NCN không cho phép người đã có vợ hoặc chồng nhận con nuôi riêng, việc nhận con nuôi cần có sự thống nhất của cả hai vợ chồng. Đây cũng là một điều luật nhằm đảm bảo cho trẻ được cho làm con nuôi có một môi trường gia đình trọn vẹn, có sự yêu thương của tất cả các thành viên trong gia đình. 2.1.2. Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi. * Trường hợp nuôi con nuôi trong nước: Cũng giống như quy định theo Luật HN và GĐ năm 2000, Luật NCN tiếp tục kế thừa một số điều kiện của người nhận con nuôi như: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên, có tư cách đạo đức tốt… Thứ nhất, “ điều kiện thực tế” để nuôi con nuôi trong Luật HN và GĐ được bổ sung trong quy định tại điểm c khoản 1 điều 14 Luật NCN năm 2010 là điều kiện về sức khoẻ, kinh tế, chỗ ở đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi. Như vậy, so với Luật HN và GĐ năm 2000 thì Luật NCN năm 2010 đã có quy định cụ thể rõ ràng hơn về vấn đề này. Quy định này tạo sự thuận lợi cho những người có thẩm quyền trong việc xem xét điều kiện của người nhận nuôi, từ đó đưa ra các quyết định hợp lí để công nhận hay không công nhận việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi. Theo khoản 3 điều 14 Luật NCN 2010, đối với trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng hoặc cô, cậu, dì, chú, bác nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng theo quy định điều kiện hơn con nuôi 20 tuổi trở lên và điều kiện về sức khoẻ, kinh tế, chỗ ở đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi. Sự điều chỉnh này của pháp luật là hợp lí, bởi nếu cha dượng, mẹ kế muốn nhận con riêng của vợ hoặc chồng mà không đáp ứng đủ điều kiện trên thì sẽ ngăn cản việc trẻ em có một gia đình trọn vẹn. Như vậy, quy định này nhằm đảm bảo cho con nuôi được sống trong môi trường gia đình với những người thân thuộc dù người nhận nuôi là cha dượng, mẹ kế, cô, dì, chú, bác ruột không có đủ điều kiện kinh tế, chỗ ở, sức khoẻ hoặc điều kiện về khoảng cách độ tuổi. Thứ hai, Luật NCN năm 2010 quy định rõ cấm ông bà nhận cháu làm con nuôi, hoặc anh chị em nhận nhau làm con nuôi, tránh sự đảo lộn các thứ bậc trong gia đình (Điều 13). Ở đây cần phân biệt rõ việc nuôi con nuôi với việc nuôi dưỡng. Việc nuôi con nuôi phải làm phát sinh mối quan hệ cha mẹ và con; còn việc nuôi dưỡng chỉ là nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình. Trường hợp cha mẹ bị chết thì ông bà (nội, ngoại) có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cháu hoặc anh chị em có nghĩa vụ, chăm sóc em, đó là trách nhiệm nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, không cần phải xác lập quan hệ nuôi con nuôi thì mới ràng buộc được trách nhiệm của các bên. Những trường hợp nuôi con nuôi như vậy đã làm đảo lộn các thứ bậc trong gia đình như việc ông bà nhận cháu làm con nuôi thì người cháu lại trở thành con của ông bà, ông bà lại thành “cha mẹ” của cháu hoặc anh chị lại trở thành “cha mẹ” và con, điều này ảnh hưởng đến thuần phong mĩ tục, không phù hợp với truyền thống dân tộc ta. Mặt khác, Luật NCN có quy định này để ngăn chặn việc thực hiện quan hệ nuôi con nuôi vì các mục đích khác không dựa trên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em. *Trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài: Trước hết, chế định nuôi con nuôi trong Luật HN và GĐ 2000 đã có sự mâu thuẫn khi quy định về vấn đề này. Khoản 1 Điều 105 Luật HN và GĐ năm 2000 xác định điều kiện của người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi dựa trên quy định của pháp luật nơi người đó mang quốc tịch. Tuy nhiên, theo Khoản 1 điều 37 NĐ 68/2002/NĐ-CP thì việc xác định điều kiện của người xin nhận con nuôi lại dựa trên pháp luật Việt Nam và pháp luật nơi đó thường trú. Sở dĩ lại có quy định như vậy nhằm bảo đảm sự phù hợp giữa pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế. Theo Khoản 1 Điều 29 Luật NCN 2010: “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật nơi người đó thường trú và quy định tại điều 14 của Luật này”. Với điều kiện luật nói trên, một mặt luật NCN đã giải quyết tình trạng mẫu thuận giữa các quy định trước đây, mặt khác Luật NCN đã thể hiện sự kế thừa hợp lí trong NĐ 68/2002/NĐ- CP và NĐ 69/2006/ NĐ- CP, từ đó tạo ra khuôn khổ pháp lí thống nhất tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập công ước quốc tế. Vấn đề điều kiện của người nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài còn được quy định tại điều 28 Luật NCN 2010. Điều Luật này đưa ra 4 trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Theo khoản 1 Điều 28: “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam làm con nuôi” Khoản 2 Điều 28 quy định về các trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh. Vấn đề đặt ra từ các quy định này là: Thứ nhất, những người nhận nuôi con nuôi đích danh theo quy định khoản 2 Đều 28 Luật NCN năm 2010 có nhất thiết phải là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người nước ngoài thường trú tại quốc gia có kí kết điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam hay không. Đối với vấn đề này, có thể nhận thấy người nhận nuôi con nuôi không nhất thiết phải đáp ứng điều kiện định cư hoặc thường trú tại quốc gia kí kết hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam. Chỉ cần việc nuôi con nuôi thuộc một trong các trường hợp tại Khoản 2 Điều 28 thì người nhận nuôi con nuôi có thể nhận nuôi đích danh. Thứ hai, có phải tất cả các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 28 đều không được nhận con nuôi không đích danh không ? Khoản 2 Điều 28 nêu ra các trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài đựơc nhận nuôi con nuôi đích danh nhưng không quy định rõ là những người này có được nhận nuôi con nuôi không đích danh hay không. Ví dụ tại điểm đ) người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất 1 năm có thể được nhận con nuôi không đích danh hay không. Các quy định tại Khoản 2 Điều 28 là chưa thực sự rõ ràng, có trường hợp quy định về người được nhận làm con nuôi tại điểm d) có trường hơpj quy định về người nhận nuôi con nuôi như điểm đ). Từ đó có thể gây ra những cách hiểu khác nhau đối với các trườnh hợp nhận nuôi con nuôi được quy định tại điều khoản này. Qua các vấn đề trên, có thể thấy về cơ bản điều kiện của người xin nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài chủ yếu vẫn kế thừa các quy định trước đây. Về nguyên tắc, người nhận nuôi con nuôi phải thườnh trú ở những nước là thành viên của điều ước quốc tế hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam và phải đáp ứng đủ điều kiện nuôi con nuôi theo Luật NCN cũng như pháp luật của nước hữu quan. Ngoài ra Luật NCN có sự điều chỉnh trong một số trường hợp nuôi con nuôi đích danh . + Điểm d Điều 28 Luật NCN: “ Người nước ngoài đang học tập , làm việc tại Việt Nam trong thời gian ít nhất là một năm”. So với quy định trước đây thì thời gian này được tăng thêm , theo mục 8 Nghị định 69/2006/NĐ- CP thì khoảng thời gian này chỉ là 6 tháng. Sự thay đổi này theo hướng chặt chẽ thêm các điều kiện đối với người nước ngoài nhận nuôi con nuôi là công dân Việt Nam. + Mục 8 Điều 1 Nghị định 69/2006/ NĐ- CP có quy định về người nhận con nuôi có “ quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được nhận làm con nuôi”; Luật NCN quy định rõ ràng hơn về mối quan hệ này trong 2 trường hợp tại điểm a và điểm b khoản 2 điều 28: người nước ngoài nhận nuôi con nuôi là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi; hoặc cô, dì, chú, bác của người được nhận làm con nuôi. Quy định này nhằm đáp ứng tình hình hực tế, tạo điều kiện cho người con được sống với cha, mẹ đẻ ở nước ngoài và tạo cơ hội để người đó được hưởng trọn vẹn quyền lợi của người con trong quan hệ với cha dượng mẹ kế theo pháp luật nước ngoài. Quy định này cũng phù hợp với nguyên tắc tôn trọng quyền trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc, được sự chăm sóc, yêu thương của cha mẹ đẻ hoặc những người thân thích khác. Sự điều chỉng này cũng phù hợp với điều 5 khi lựa chọn gia đình thay thế cho trẻ thì sẽ có sự ưu tiên đối với người nhận nuôi là cha dượng, mẹ kế. cô, cậu. chú.dì, bác ruột của người được nhận làm con nuôi. 2.1.3. Điều kiện về ý chí của các bên chủ thể: Theo Luật NCN, việc cho trẻ em làm con nuôi vẫn cần phải có dự đồng ý của cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em từ 09 tuổi trở lên. Luật còn quy định rõ sự đồng ý này là phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực không bị ép buộc, không bị đe doạ hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác (Điều 21). Luật NCN còn quy định: Cha, mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày, đây là quy định nhằm tránh các trường hợp cha mẹ đẻ và các cá nhân tổ chức khác có sự thoả thuận cho trẻ làm con nuôi trước khi sinh, hoặc cha mẹ đẻ trong hoàn cảnh đặc biệt đã chấp nhận con vừa sinh ra làm con nuôi mà không có sự suy nghĩ kĩ lưỡng. Luật NCN đề cập vai trò của UBND trong việc tư vấn đối với cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ theo quy định của Khoản 2 Điều 21, nội dung tư vấn về các vấn đề như mục đích nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa các bên liên quan sau khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập. Trong Nghị định 19/2011/NĐ- CP hướng dẫn thi hành Luật NCN, trước hết “ công chức tư pháp- hộ tịch phải tư vấn để trẻ em tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế của gia đình, trường hợp cho trẻ cho trẻ em làm con nuôi là giải pháp cuối cùng vì lợi ích tốt nhất của trẻ em thì công chức tư pháp – hộ tịch phải tư vấn đầy đủ cho những người liên quan về mục đích nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa các bên sau khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập. Quy định này là cần thiết bởi sự tư vấn của UBND sẽ giúp chho cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ hiểu rõ các vấn đề về nuôi con nuôi , đặc biệt là những hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi, từ đó cha mẹ đẻ có suy nghĩ kĩ lưỡng về việc có cho trẻ làm con nuôi hay không . Sau khi tư vấn, cán bộ tư pháp – hộ tịch sẽ tiến hành thủ tục lấy ý kiến của những người trên theo quy định tại điều 20. Đối với trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài , việc lấy ý kiến của các chủ thể được quy định tại điều 21 Luật NCN sẽ thuộc trách nhiệm của Sở Tư pháp, việc lấy ý kiến phải lập thành văn bản và có chữ kí hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến . Đây là một quy định mới của Luật NCN 2010 so với Luật HN&GĐ 2000 đồng thời cũng tương thích với công ước quốc tế về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước. Như vậy về điều kiện nuôi con nuôi, Luật NCN có sự bổ sung trong các khía cạnh : Điều kiện của người được nhận làm con nuôi, điều kiện của người nhận nuôi con nuôi và điều kiện về ý chí của các bên chủ thể. Đối với vấn đề này, Luật NCN có sự kế thừa các quy định hợp lí của Luật HN&GĐ năm 2000, đồng thời có sự sửa đổi, bổ sung để các quy định cụ thểm rõ ràng hơn. 2.2. Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi: Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi là những vấn đề pháp lí phát sinh khi quan hệ nuôi con nuôi được pháp luật công nhận. Về vấn đề này Luật NCN có những điểm mới sau: 2.2.1. Về mối quan hệ ba bên giữa cha mẹ nuôi, con nuôi, cha mẹ đẻ Luật HN&GĐ năm 2000 khi quy định về hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi chỉ chú trọng điều chỉnh quan hệ giữa cha nuôi và con nuôi, có rất ít quy định về mối quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con nuôi, quan hệ giữa cha mẹ nuôi với cha mẹ đẻ. Luật NCN đã quy định cụ thể hơn về mối quan hệ 3 bên này, từ đó tạo ra cơ sở pháp lí để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của mỗi bên chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi: - Đối với quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi, Khoản 1 Điều 24 Luật NCN quy định: “ kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi cũng có quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Trước hết, Điều luật này điều chỉnh mối quan hệ giữa chacon nuôi theo điều luật này có sự kế thừa Điều 74 của Luật HN & GĐ năm 2000. Theo đó kể từ thời điểm đăng kí nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi sẽ có quyền và nghĩa vụ đối với con như chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con , là người đại diện pháp luật cho con chưa thành niên, mất năng lực hành vi, con nuôi cũng có bổn phận phải yêu quý, kính trọng, chăm sóc; cha mẹ nuôi và con nuôi có quyền hưởng di sản thừa kế của nhau theo quy định của pháp luật thừa kế…Bên cạnh đó,Luật NCN quy định thêm về mối quan hệ pháp lí giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi. Khi trở thành thành viên trong gia đình cha mẹ nuôi, con nuôi sẽ có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó, có quyền và nghĩa vụ với các thành viên khác trong gia đình như con đẻ. Có như vậy, con nuôi mới có thể hoà nhập một cách tốt nhất vào gia đình của cha mẹ nuôi, không có sự phân biệt đối xử giữa con nuôii và con đẻ. Như vậy mối quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi trong Luật NCN đã sửa đổi bổ sung theo chiều hướng con nuôi có sự gắn bó chặt chẽ hơn về quyền và nghĩa vụ với cha mẹ nuôi - Đối với mối quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ đẻ, Luật HN&GĐ 2000 quy định rất ít về vấn đề này. Đối với vấn đề nhân thân, Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ quy định về quyền của con liệt sĩ, thương binh, con của người có công với Cách mạng. Về vấn đề tài sản, cha mẹ đẻ và con đã được cho làm con nuôi vẫn có quyền thừa kế di sản của nhau. Đối với quyền và nghĩa vụ khác, Luật không có quy định cụ thể, điều này gây ra khó khăn trong việc xác định quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con nuôi trên thực tế. Ví dụ như xác định cha mẹ đẻ có quyền và nghĩa vụ chăm sóc hoặc đại diện theo pháp luật cho con hay không. Để giải quyết vấn đề này , Luật NCN đã quy định “ Trừ trường hợp cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thoả thụân khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không có qui quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dữơng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lí tài sản riêng đối với con cho làm con nuôi”(Khoản 2 Điều 4). Theo điều khoản trên, khi quan hệ nuôi con nuôi đựơc xác lập, trong quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con nuôi có thể xảy ra các trường hợp: Thứ nhất, giữa cha mẹ đẻ và con nuôi sẽ không còn quyền và nghĩa vụ được nêu trong khoản 4 điều 24, trường hợp này xảy ra khi cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi không có thoả thuận gì hoặc thoả thuận chấm dứt toàn bộ quyền và nghĩa vụ trên. Thứ hai, cha mẹ đẻ vẫn còn các nghĩa vụ nói trên đối với con đã cho làm con nuôi, điều này phải dựa trên thoả thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi. Trường hợp này tuỳ theo sự thoả thuận với cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ vẫn còn toàn bộ quyền và nghĩa vụ nói trên với con nuôi hoặc chỉ một số quyền và nghĩa vụ nhất định. Ví dụ cha mẹ đẻ có thể không có quyền chăm sóc, nuôi dưõng con nuôi nhưng vẫn có quyền đại diện cho con theo pháp luật. Đây là một quy định mới của Luật NCN nhằm phù hợp với công ước Lahay 1993. - Khoản 4 Điều 24 cũng thể hiện mối quan hệ cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi. Sau khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập, giữa cha mẹ đẻ với cha mẹ nuôi có thể hoặc không có mối liên hệ nào với nhau về quyền và nghĩa vụ. Ví dụ. nếu cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi cùng thoả thuận có trách nhiệm chu cấp cho con hoặc cùng có nghĩa vụ quản lí tài sản của con thì thoả thuận này sẽ là cơ sở để tạo nên mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi. Ngược lại, nếu hai bên cha mẹ không có thoả thuận gì thì mối liên hệ trên cũng không tồn tại. Luật NCN không có quy định cụ thể về hình thức của sự thoả thuận. Theo quan điểm cá nhân người viết thì sự thoả thuận này cần thiết phải được lập thành văn bản, và phải được nêu rõ khi việc giao nhận nuôi con nuôi được tiến hành tại Sở Tư pháp. Đồng thời Luật cũng cần quy định rõ nội dung những thoả thuận này đều phải vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em được cho làm con nuôi. Như vậy so với Luật HN&GĐ năm 2000 có thể thấy Luật NCN quy định cụ thể hơn về mối quan hệ pháp lí 3 bên sau khi việc nuôi con nuôi được xác lập. Theo điều 24 Luật NCN mối quan hệ này có chiều hướng mở tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa cha mẹ đẻ với cha mẹ nuôi . Việc quy định vậy nhằm tạo ra cơ sở pháp lí để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi. 2.2.2. Vấn đề về báo cáo tình hình phát triển của con nuôi: Một điểm mới nữa là cha mẹ nuôi phải có nghĩa vụ báo cáo tình hình phát triển của con nuôi với các cơ quan có thẩm quyền. Nghĩa vụ này được đặt ra đối với cả trường hợp nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Về vấn đề này, theo quy định trước đây cha mẹ nuôi phải báo cáo tình hình phát triển của con nuôi 6 tháng một lần trong 3 năm đầu tiên, sau đó mỗi năm báo cáo một lần cho đến khi 18 tuổi( Điều 1 khoản 13 Nghị định 69/2006/NĐ- CP) . Theo đánh giá của những người thực hiện công tác tiếp nhận báo cáo hàng năm, việc báo cáo định kì phải được thưc hiện đến khi trẻ 18 tuổi là quá dài, điều này dẫn tới sự khó khăn, bất cập khi xử lí các báo cáo. Để giải quyết tình trạng này Luật NCN quy đinh cha mẹ nuôi phải co trách nhiệm báo cáo tình hình phát triển của con nuôi trong 3 năm đầu tiên, nôi dung báo cáo là về tình trạng sức khoẻ, thể chất, tinh thần, sự hoà nhập của con nuôi với cha mẹ nuôi, gia đình, cộng đồng( Điều 39 Luật NCN). Quy định này vừa mang tính khả thi, tương đồng với pháp luật các nước láng giềng. Như vậy có thể thấy rõ hai điểm tiến bộ về hệ quả pháp lí của Luật NCN. Thứ nhất Luật đã quy định rất cụ thể về mối quan hệ 3 bên giưã cha mẹ nuôi – con nuôi – cha mẹ đẻ để từ đó tạo ra cơ sở pháp lí để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi. Đồng thời luật NCN đã quy định hợp lí hơn về việc báo cáo tình hình phát triển của con nuôi, làm cho các quy định về vấn đề này trở nên khả thi hơn. Tuy nhiên cũng có một điểm hạn chế của Luật NCN chỉ quy định về hệ quả pháp lí của nuôi con nuôi trong nước mà không quy định rõ về hệ quả nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. 3. Những hạn chế cần sửa đổi bổ sung và một số ý kiến hoàn thiện về điều kiện và hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi. 3.1. Vấn đề về điều kiện của việc nuôi con nuôi * Điều kiện của người được nhận làm con nuôi Điều 4 Luật NCN quy định nguyên tắc: tôn trọng quyền trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc. Theo nguyên tắc này, chỉ khi cha mẹ đẻ không còn khả năng nuôi dưỡng giáo dục thì mới có thể cho trẻ làm con nuôi. Tuy nhiên, nguyên tắc này lại không được cụ thể hoá trong các quy định về điều kiên của người được nhận nuôi. Sự thiếu sót này có thể tạo ra kẽ hở dẫn đến tình trạng mặc dù cha mẹ đẻ vẫn có đủ điều kiện nuôi dưõng nhưng vẫn cho trẻ lam con nuôi. Như vậy việc nuôi con nuôi được tiến hành không vì lợi ích của trẻ em, không đảm bảo cho trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng trong môi trường gia đình gốc. vì vậy, trong điều kiện của người được nhận làm con nuôi cần bổ sung thêm quy định về khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc của cha mẹ đẻ, cha mẹ đẻ chỉ được cho con đẻ của mình làm con nuôi người khác trong trường hợp không có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Vấn đề này cũng được quy định trong pháp luật về nuôi con nuôi của một số nước. Ví dụ, Luật NCN của Trung Quốc quy định điều kiện của người được nhận làm con nuôi tại Điều 4 “ cha mẹ đẻ của trẻ em đó không có khả năng nuôi chúng vì những khó khăn đặc biệt”. Luật NCN cần tham khảo và bổ sung vấn đề này. 3.2.Hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi Luật NCN không có quy định nào về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi chỉ được quy định tại điều 24 thuộc chương 2- Nuôi con nuôi trong nước. Vấn đề đặt ra là điều 24 có thể được áp dụng cho các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài không? Không thể áp dụng Điều 24 cho mọi trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Vì một quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài sẽ chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài những quy định khác nhau để điều chỉnh về hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi. Ví dụ, khoản 2 Điều 137 Bộ luật gia đình của Liên Bang Nga quy định: “trẻ em được cho làm con nuôi chấm dứt quyền và nghĩa vụ về nhân thân phi tài sản và tài sản đối với cha mẹ đẻ”. Trong khi đó, theo khoản 4 điều 24 Luật NCN thì quyền và nghĩa vụ giữa con nuôi và cha mẹ đẻ sẽ tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi. Như vậy, pháp luật của Nga và của Việt Nam có quy định khác nhau về hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi. Nếu người Việt Nam nhận con nuôi là công dân Nga thì không thể đương nhiên áp dụng quy định tại khoản 4 điều 24. Vì vậy, cần phải xây dựng và ban hành các quy phạm xung đột trong các văn bản hướng dẫn luật NCN để điều chỉnh về hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Quy phạm xung đột này có thể quy định theo hướng điều 105 Luật HN&GĐ năm 2000: “ Trong truờng hợp việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đươc thực hiện tại Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi vầ con nuôi, việc chám dứt nuôi con nuôi đựoc xac định theo quy đinj của Luật này. Trong trường hợp việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được thực hiện tại nước ngoài thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, viêc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo pháp luật nơi thường trú của con nuôi”. Điều khoản trên là một quy phạm xung đột để xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nếu việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại VIệt Nam thhì hệ quả pháp lí của quan hệ này sẽ dựa trên sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Nếu việc nuôi con nuôi được thực hiện ở nước ngoài thì hệ quả pháp lí của quan hệ này sẽ dưa trên sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi người con nuôi thường trú. KẾT BÀI Bằng việc phân tích một số điểm khác nhau cơ bản giữa Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật NCN 2010 mà cụ thể là sự khác nhau giữa điều kiện và hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi ta nhận thấy những hạn chế của Luật HN&GĐ năm 2000 về chế định nuôi con nuôi đồng thời thấy được sự điều chỉnh hợp lí, đúng mục đích và phù hợp hơn trong thực tiễn việc nuôi con nuôi được sửa đổi, bổ sung trong Luật NCN. Luật NCN quy định như vậy sẽ tạo ra sự thống nhất thể hiện sự pháp điển hoá đồng bộ giữa nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, đồng thời cũng đảm bảo được sự bình đẳng giữa những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009. Nguyễn Ngoc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, tập 1, Nxb. Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, tp Hồ Chí Minh 2002 Trần Đức Nam, Những điểm mới của Luật Nuôi con nuôi so với chế định nuôi con nuôi trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 : Khoá luận tốt nghiệp, Hà Nội, 2011. Luật Nuôi con nuôi năm 2010 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000. KẾT CẤU BÀI LÀM Trang LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………………………..1 NỘI DUNG…………………………………………………………………………..1 1. Lý luận chung về việc nuôi con nuôi………………………………………………1 1.1.Khái niệm nuôi con nuôi………………………………………………………….1 1.2.Khái niệm chế định nuôi con nuôi………………………………………………..1 1.3.Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi…………………………………………………...2 2. Sự khác nhau về điều kiện và hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi giữa Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật NCN ………………………………………...2 2.1.Điều kiện của việc nuôi con nuôi…………………………………………………2 2.1.1.Điều kiện với người được nhận làm con nuôi…………………………………..2 2.1.2.Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi…………………………………...4 a) Trường hợp nuôi con nuôi trong nước…………………………………………….4 b) Trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài………………………………….5 2.1.3.Điều kiện về ý chí của các chủ thể……………………………………………...6 2.2. Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi…………………………………………...7 2.2.1.Về mối quan hệ ba bên giữa cha mẹ nuôi, con nuôi và cha mẹ đẻ…………….7 2.2.2.Vấn đề về báo cáo tình hình phát triển của con nuôi…………………………..9 3. Những hạn chế cần sửa đổi bổ sung và một số ý kiến hoàn thiện về điều kiện và hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi 3.1. Vấn đề về điều kiện của việc nuôi con nuôi …………………………………….9 3.2. hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi……………………………………………………10 C. KẾT BÀI…………………………………………………………………………10

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNêu và lí giải những điểm khác nhau giữa chế định nuôi con nuôi trong Luật HN và GĐ năm 2000 và Luật nuôi con nuôi năm 2010 về điều kiện và hậu quả ph.doc
Luận văn liên quan