Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn – đến chất lượng kiểm toán Báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam được xác nhận khi tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa biến ABSDA đo lường cho chất lượng kiểm toán và biến CRISIS đại diện cho giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu với hệ số của biến CRISIS là 0.084 cho thấy chất lượng kiểm toán suy giảm trong khủng hoảng tài chính toàn cầu. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa biến ROA và biến LOSS với biến ABSDA. Hệ số hồi quy của biến ROA là -0.334 và đây cũng là biến tác động mạnh nhất đến biến ABSDA trong mô hình, điều này cho thấy nếu hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty niêm yết bị suy giảm thì công ty sẽ có động lực lớn để tăng cường điều chỉnh lợi nhuận tương ứng với chất lượng báo cáo tài chính bị suy giảm. Hệ số hồi quy của biến LOSS là 0.312 chỉ ra rằng nếu công ty có kết quả hoạt động kinh doanh thua lỗ thì công ty sẽ tăng cường điều chỉnh lợi nhuận tương ứng với sự suy giảm chất lượng kiểm toán hay việc thua lỗ trong hoạt động kinh doanh của công ty là một trong những động lực khiến doanh nghiệp tăng cường điều chỉnh lợi nhuận khiến cho chất lượng kiểm toán suy giảm trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu.

pdf26 trang | Chia sẻ: anhthuong12 | Ngày: 29/09/2020 | Lượt xem: 231 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn – đến chất lượng kiểm toán Báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG VÕ NHƢ TÙNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN – Đ N CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM Y T TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Chuyên ngành: Kế toán Mã số: 60.34.03.01 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Đà Nẵng - Năm 15 Công trình đƣợc hoàn thành tại ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG Người hướng dẫn khoa học: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai Phản biện 1: TS. Đoàn Ngọc Phi Anh Phản biện 2: TS. Hồ Văn Nhàn Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản trị kinh doanh họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 19 tháng 12 năm 2015 Có thể tìm hiểu luận văn tại: - Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng - Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kiểm toán là một chủ đề nghiên cứu rộng và được nhiều đối tượng quan tâm vì tính chất vô cùng quan trọng của vấn đề này đối với nhiều đối tượng, bao gồm: nhà đầu tư, các tổ chức tài chính, ngân hàng, các cơ quan chính phủ Kiểm toán quan trọng vì nó là cách thức hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề đại diện giữa quyền sở hữu và quản lý doanh nghiệp, phát sinh từ sự bất đối xứng thông tin và xung đột lợi ích giữa hai đối tượng trên. Trong các nội dung rộng lớn của kiểm toán thì chất lượng kiểm toán là một vấn đề phức tạp, khó khăn để xác định và đo lường một cách chính xác và hiệu quả. Nghiên cứu chất lượng kiểm toán có ý nghĩa quan trọng không chỉ đánh giá xem các ý kiến kiểm toán chính xác có được ban hành hay không mà còn xem xét xem liệu hoạt động kiểm toán được tiến hành có nhằm hướng tới mục đích giải quyết các vấn đề đại điện giữa người sở hữu và người quản lý doanh nghiệp hay không. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm 2007 với cuộc khủng hoảng nhà đất tại Mỹ và lan rộng ra toàn cầu, tác động nghiêm trọng tới mọi tổ chức, doanh nghiệp, định chế tài chính, kinh tế khác nhau, gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng với sự đổ vỡ của các công ty dẫn đến khủng hoảng đã làm gia tăng mức độ chỉ trích chất lượng kiểm toán và gia tăng áp lực nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán. Việt Nam với đặc thù là một nền kinh tế non trẻ, đang phát triển và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới đã chịu những ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng tài chính đối với mọi mặt của nền kinh tế. Khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng đặt ra những áp lực to lớn tương tự đối với kiểm toán viên, công ty kiểm toán trong việc duy trì chất lượng 2 kiểm toán trong bối cảnh khó khăn tác động chung tới các doanh nghiệp tại Việt Nam. Câu hỏi được đặt ra rằng liệu các công ty kiểm toán, các kiểm toán viên tại Việt Nam ứng xử như thế nào trong khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán tại Việt Nam. Từ những vấn đề nêu trên, nhận thấy thực tiễn cần có một nghiên cứu về chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khủng hoảng tài chính, tác giả xin được thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – đ n chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm y t trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. 2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chính của nghiên cứu là nghiên cứu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mục tiêu khác của nghiên cứu liên quan đến vấn đề đại diện đó là nghiên cứu nhằm làm rõ xem liệu kiểm toán có thực hiện được vai trò của mình trong việc giải quyết vấn đề đại diện trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu hay không. 3. Câu hỏi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu đã nêu dẫn đến câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: “ Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm y t trên thị trường chứng khoán Việt Nam bị ảnh hưởng như th nào bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu?” 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính. 3 Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện đối với kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (ngoại trừ các công ty thuộc nhóm tài chính – ngân hàng). + Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện dựa trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2009. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn đi theo hướng tiếp cận thực chứng bằng cách sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến nhằm chứng minh giả thuyết nghiên cứu. Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện bằng việc đưa ra giả thuyết nghiên cứu, sau đó tiến hành thu thập số liệu báo cáo tài chính sau kiểm toán, báo cáo kiểm toán trong phạm vi đối tượng và thời gian nghiên cứu. Tiếp theo, tác giả tiến hành tính toán các dữ liệu thu thập được và phân tích, mô tả mối quan hệ giữa các đối tượng trong mô hình nghiên cứu dựa trên cơ sở dữ liệu tính toán, thu thập được. Kết quả phân tích, mô tả này sẽ được sử dụng để đưa ra kết luận về giả thuyết nghiên cứu. 6. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu Nghiên cứu nhằm giúp các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính tại Việt Nam, bao gồm: Nhà đầu tư, cơ quan nhà nước, các tổ chức tài chính, ngân hàng nhận rõ được tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp qua đó có những biện pháp phù hợp khi mà khủng hoảng được nghiên cứu rằng mang tính chu kỳ. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cung cấp một cơ sở thực tiễn về vấn đề đại diện trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu. 4 7. Cấu trúc luận văn Cấu trúc luận văn bao gồm 4 chương: - Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chất lượng kiểm toán và đo lường chất lượng kiểm toán - Chương 2: Giả thuyết và phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Phân tích và trình bày kết quả - Chương 4: Kết luận từ kết quả nghiên cứu và một số kiến nghị nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUY T VỀ CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN VÀ ĐO LƢỜNG CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN 1.1. KIỂM TOÁN Một định nghĩa được sử dụng rộng rãi về kiểm toán xem kiểm toán như là: “Hệ thống quy trình khách quan nhằm thu thu thập và đánh giá các bằng chứng của các cơ sở dẫn liệu liên quan đến các sự kiện và hoạt động kinh tế; xác định mức độ phù hợp của các cơ sở dẫn liệu này với các chuẩn mực, tiêu chuẩn thiết lập và công bố kết quả hoạt động đến người quan tâm” Có nhiều đối tượng sử dụng thông tin, do đó kiểm toán nhằm phục vụ cho các loại đối tượng này cũng được chia thành nhiều loại khác nhau. Nghiên cứu này tập trung vào đối tượng chính đó là kiểm toán báo cáo tài chính được thực hiện bởi các kiểm toán viên độc lập. 1.2. CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN 1.2.1. Định nghĩa chất lƣợng kiểm toán Defond và Zhang (2013) định nghĩa chất lượng kiểm toán là sự phản ánh liên kết giữa kiểm toán với chất lượng báo cáo tài chính, hệ thống kế toán tài chính và các đặc điểm vốn có của khách hàng và chất lượng kiểm toán cao hơn là một sự đảm bảo cao hơn rằng báo cáo tài chính đã kiểm toán phản ánh thực tế tình hình hoạt động kinh tế, hệ thống kế toán tài chính, đặc điểm vốn có của công ty. Francis (2011), Svanstrom (2013), Defond và Zhang (2013) xem chất lượng kiểm toán như một sự biến đổi liên tục. 1.2.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán a. Phí kiểm toán b. Dịch vụ phi kiểm toán 6 c. Khuôn khổ pháp lý d. Văn phòng thực hiện kiểm toán e. Nhiệm kỳ kiểm toán f. Nhiệm kỳ đối tác kiểm toán g. Tính độc lập của kiểm toán viên h. Quy mô khách hàng i. Các yếu tố khác Các yếu tố khác được nghiên cứu cho rằng ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán bao gồm: Mức độ tăng trưởng của công ty, quỹ thời gian kiểm toán, năng lực và khả năng phán đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên 1.2.3. Mối quan hệ giữa chất lƣợng kiểm toán và chất lƣợng báo cáo tài chính a. Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo tài chính. Chất lượng kiểm toán là một phần của chất lượng báo cáo tài chính (trong nghiên cứu này tác giả ngầm định báo cáo tài chính là báo cáo tài chính sau kiểm toán) vì chất lượng kiểm toán làm tăng chất lượng báo cáo tài chính (Defond và Zhang, 2013). Tuy nhiên chất lượng kiểm toán không phải là thành phần duy nhất của chất lượng báo cáo tài chính, chất lượng báo cáo tài chính còn bị ảnh hưởng bởi chất lượng báo cáo tài chính trước kiểm toán được quyết định bởi hệ thống báo cáo tài chính hay hệ thống thông tin tài chính của công ty. Chất lượng kiểm toán có thể được suy ra từ chất lượng lợi nhuận, chất lượng kiểm toán cao hơn là sự giảm bớt mức độ điều chỉnh lợi nhuận và gia tăng tính thông tin của báo cáo tài chính. 7 b. Chất lượng lợi nhuận Chất lượng lợi nhuận có được khi báo cáo lợi nhuận đảm bảo cung cấp thông tin trung thực về chỉ tiêu lợi nhuận cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Quản trị lợi nhuận liên quan chặt chẽ đến việc điều chỉnh mức độ dồn tích kế toán và các nhà quản lý thường điều chỉnh mức độ dồn tích kế toán để đạt hay vượt mục tiêu lợi nhuận đề ra. Quản trị lợi nhuận được nhiều nghiên cứu cho rằng là một cách thức logic để đo lường cho chất lượng lợi nhuận. 1.2.4. Đo lƣờng chất lƣợng kiểm toán Các nghiên cứu trước đây về chất lượng kiểm toán sử dụng nhiều biến quan sát khác nhau để đo lường chất lượng kiểm toán. Phần dưới đây trình bày các quan sát đại diện để đo lường chất lượng kiểm toán. Các quan sát đại diện này được chia làm hai loại là đo lường dựa vào yếu tố đầu vào và đo lường dựa vào yếu tố đầu ra. a. Phép đo dựa vào yếu tố đầu vào Đo lường dựa vào các yếu tố đầu vào được sử dụng cho các nghiên cứu chú ý đến yếu tố đầu vào của kiểm toán. Nhưng vì đầu vào kiểm toán không đảm bảo rằng chúng tương ứng với kết quả kiểm toán và do đó quan sát này khá không ổn để do lường chất lượng kiểm toán (Defond & Zhang, 2013). Dưới đây là các yếu tố đầu vào dùng để đo lường chất lượng kiểm toán: - Đặc điểm kiểm toán - Phí kiểm toán b. Phép đo dựa vào yếu tố đầu ra Phép đo dựa vào các yếu tố đầu ra sử dụng các yếu tố đầu ra của quá trình kiểm toán nhằm đo lường chất lượng kiểm toán. Dưới đây là các quan sát theo yếu tố đầu ra dùng để đo lường chất lượng kiểm toán: 8 - Sai sót trọng yếu. - Ý kiến kiểm toán. - Đánh giá của người sử dụng thông tin. - Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh. Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) để đo lường cho chất lượng kiểm toán vì những lợi thế của phép đo này bao gồm: Có thể điều chỉnh nắm bắt được sự thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm toán và đồng nhất với nhận định của tác giả về chất lượng kiểm toán là một biến biến đổi liên tục nên tác giả cho rằng phù hợp khi sử dụng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) để đo lường cho chất lượng kiểm toán trong nghiên cứu này. Ngoài ra một lợi thế khác của phép đo này mà tác giả cũng cho rằng phù hợp trong nghiên cứu của tác giả là phép đo chất lượng kiểm toán thông qua biến kế toán dồn tích (DA) phù hợp với một cỡ mẫu nhỏ và một khung thời gian ngắn. c. Các mô hình đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh Có nhiều mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận thông qua đo lường biến toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trên thế giới nhưng những mô hình phổ biến nhất bao gồm: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model (1986), The Jones Model (1991), Modified Jones Model (1995), The Friedlan (1994). Mô hình Modified Jones (1995) được xem là mô hình phổ biến nhất và hiệu quả nhất để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) hay phát hiện hành vi quản trị lợi nhuận (Tianran, 2010), tuy nhiên việc áp dụng mô hình này hay mô hình Jones (1991) đòi hỏi một cơ sở dữ liệu quá khứ lâu dài cần thiết để ước lượng các tham số trong mô hình. Đối tượng của nghiên cứu này là các công ty 9 niêm yết tại Việt Nam mà hầu hết đều hết sức non trẻ trong bối cảnh non trẻ chung của thị trường chứng khoán Việt Nam. Việc thu thập đầy đủ cơ sở dữ liệu quá khứ lâu dài để áp dụng mô hình Modified Jones (1995) hay Jones (1991) là vô cùng khó khăn hay thậm chí không khả thi. Mô hình Industry Jones (1991) lại không phù hợp với nghiên cứu này khi đối tượng nghiên cứu của tác giả là toàn bộ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động trong giai đoạn nghiên cứu. Tổng hợp các điều kiện thực tế đó, tác giả cho rằng phù hợp khi sử dụng mô hình Friedlan (1994) là một biến thể cải tiến của mô hình DeAngelo (1986) để áp dụng tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trong điều kiện Việt Nam cũng như điều kiện của nghiên cứu này. 1.3. KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008 – 2009 1.3.1. Khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ nước Mỹ cuối năm 2007 và là cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử kể từ cuộc đại khủng hoảng (Friedman & Friedman, 2009). Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 là một sự điều chỉnh lại giá nhà đất tại Mỹ sau thời gian thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng và điều kiện tín dụng rộng rãi đối với thị trường nhà đất tại Mỹ, nơi mà các khoản tín dụng này được chứng khoán hóa và bán đi dưới dạng các công cụ tài chính phức tạp trên toàn thế giới. Khi bong bóng thị trường nhà tại Mỹ vỡ ra, các khoản cho vay tín dụng nhà đất dưới chuẩn tan biến, các ngân hàng phải gánh chịu những tổn thất kinh tế to lớn, kéo theo niềm tin vào hệ thống ngân hàng suy giảm nghiêm trọng. Mỹ là trung tâm của hệ thống tài chính 10 toàn cầu đo đó toàn bộ hệ thống tài chính toàn cầu bị cuốn vào khủng hoảng. Khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra những khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp bao gồm nguy cơ hiệu quả hoạt động suy giảm, kết quả kinh doanh thu lỗ, tình hình sản xuất đình đốn do đó dẫn đến rủi ro kiểm toán cao hơn đối với kiểm toán viên. 1.3.2. Ảnh hƣởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới Việt Nam Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động mạnh tới nền kinh tế Việt Nam với tư cách là nền kinh tế đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu. Việt Nam vừa mở rộng cánh cửa với thế giới vào năm 2007 với việc trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO thì năm 2008 Việt Nam đã phải đón nhận cơn khủng hoảng kinh tế thế giới. Giai đoạn tăng trưởng GDP liên tục trên mức 7% của kinh tế Việt Nam kết thúc, và suy giảm liên tục trong hai năm khủng hoảng. Sự suy giảm này bao quát nhiều mặt của nền kinh tế bao gồm: sản xuất kinh doanh, tiêu thụ, xuất khẩu, thị trường chứng khoán Những khó khăn mà các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam gặp phải trong bối cảnh khủng hoảng đặt ra cho các kiểm toán viên, công ty kiểm toán một rủi ro kiểm toán lớn hơn. Cách thức các kiểm toán viên, công ty kiểm toán tại Việt Nam đối phó với những rủi ro này còn là dấu hỏi trong bối cảnh hoạt động kiểm toán trên thế giới bị chỉ trích mạnh mẽ bởi những thất bại trong kiểm toán và sự nghi ngờ về tính độc lập của các kiểm toán viên, công ty kiểm toán trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu. 11 CHƢƠNG GIẢ THU T VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHI N CỨU 2.1. GIẢ THUY T NGHIÊN CỨU Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 gây những khó khăn hết sức nghiêm trọng cho các doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu trong đó có Việt Nam. Các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty niêm yết khi đối mặt với những khó khăn của khủng hoảng tài chính toàn cầu, ảnh hưởng đến hoạt động, đến lợi nhuận của công ty thì thường tìm mọi cách nhằm giảm thiểu tác động này trong đó có việc trình bày các báo cáo tài chính tốt hơn thực tế nhằm che dấu hiệu quả kinh doanh tồi tệ thực tế trong khủng hoảng. Khủng hoảng tài chính toàn ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán vì tình trạng khó khăn của các doanh nghiệp tạo ra rủi ro kiểm toán lớn hơn và cách thức mà các kiểm toán viên và công ty kiểm toán đối phó với các rủi ro này quyết định sự thay đổi của chất lượng kiểm toán trong bối cảnh khủng hoảng. Đặc biệt đối với các công ty niêm yết thì động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhóm này rõ ràng hơn khi mà tác động của hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận được trình bày trên báo cáo tài chính ảnh hưởng mạnh tới giá trị thị trường, nguồn vốn, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do đó rủi ro về việc đưa ra ý kiến kiểm toán không chính xác hay rủi ro chất lượng kiểm toán đối với nhóm công ty niêm yết suy giảm là nghiêm trọng hơn. Liệu chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam đã suy giảm dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Giả thuyết nghiên cứu được đặt ra là: 12 H1: Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam suy giảm trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. 2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHI N CỨU 2.2.1. Chọn mẫu và dữ liệu thực hiện nghiên cứu Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ tổng thể là các công ty niêm yết giao dịch trên hai sàn giao dịch chứng khoán HNX và HOSE trong giai đoạn 2005 – 2009 nhưng không bao gồm các công ty tài chính và ngân hàng. 2.2.2. Đo lƣờng chất lƣợng kiểm toán a. Đo lường chất lượng kiểm toán Nhiều nghiên cứu trên thế giới nhận định rằng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) là một trong những quan sát phổ biến nhất để đại diện cho chất lượng lợi nhuận cũng như chất lượng kiểm toán. Báo cáo tài chính đã được kiểm toán nhưng vẫn tồn tại hành vi điều chỉnh lợi nhuận là sự phản ánh không thực tế tình hình lợi nhuận cũng như hoạt động kinh tế của đơn vị tương ứng với sự suy giảm chất lượng kiểm toán. Mức độ điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính sau kiểm toán đi ngược lại với mức độ trung thực của thông tin mà báo cáo tài chính sau kiểm toán truyền tải tới cổ đông, nhà đầu tư và đối tượng sử dụng khác về tình hình lợi nhuận và thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị, đo đó mức độ gia tăng điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính sau kiểm toán là đi ngược lại với chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính. Trong nghiên cứu này, tác giả tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) dựa trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán của đơn vị nhằm đo lường cho chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính. Đồng thời, trong phạm vi nghiên cứu này thì tác giả ngầm định rằng báo cáo tài chính 13 là báo cáo tài chính sau kiểm toán và các số liệu được đưa ra tính toán, trình bày đều được ngầm định là số liệu cuối cùng trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán của đơn vị. b. Mô hình tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh Tìm kiếm một mô hình hiệu quả để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA, tác giả nhận thấy mô hình Friedlan (1994), điều chỉnh từ mô hình DeAngelo (1986) là phù hợp khi so sánh hiệu quả, khả năng áp dụng vào thực tế điều kiện tại Việt Nam của mô hình này so với những mô hình còn lại trong việc tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA). Mô hình Friedlan (1994) được sử dụng để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua việc đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh. Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trong mô hình này được tính toán theo công thức: iến ế toán n t ch c thể điều ch nht (DAt) = iến ế toán n t cht (TAt) - iến ế toán n t cht-1 (TAt-1) Doanh thut Doanh thut-1 Trong đó: iến ế toán n t ch (Total Accruals) = Lợi nhuận au thuế - Lƣu chu ển tiền thuần từ hoạt đ ng inh oanh 2.2.3 Mô hình nghiên cứu Mô hình nghiên cứu được phát triển trong nghiên cứu này là: ABSDA = β1 + β2ROA + β3 IG4 + β4LOSS + β5LNASSET + β6GROWTHASSET + β7CRISIS + Ɛi 14 Bảng 2.1. Bảng tổng hợp các biến trong mô hình Biến số Định nghĩa Đo lƣờng/ Mã hóa ABSDA Chất lượng kiểm toán Giá trị tuyệt đối của biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA (Giá trị ABSDA càng cao thì chất lượng kiểm toán càng thấp) CRISIS (KHỦNG HOẢNG) Quan sát đã được thực hiện trong giai đoạn khủng hoảng hay không (2008 – 2009) 0= không trong thời gian khủng khoảng 1= trong thời gian khủng hoảng. ROA Đo lường hiệu quả hoạt động của công ty được kiểm toán Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản BIG4 Nếu các công ty kiểm toán là một trong 4 công ty kiểm toán lớn: KPMG, E&Y, D&T hoặc PWC. 0= không được kiểm toán bởi 4 công ty kiểm toán lớn 1= được kiểm toán bởi một trong 4 công ty kiểm toán lớn. LOSS (LỖ) Đo hiệu quả hoạt động của công ty được kiểm toán 0 = lợi nhuận sau thuế>0 1 = lợi nhuận sau thuế<0 GROWTH ASSET (TĂNG TRƯỞNG TÀI SẢN) Đo lường tăng trưởng của công ty khách hàng (Tổng tài sản t/ tổng tài sản t-1) -1 LNASSET ( LN TÀI SẢN) Quy mô của các công ty khách hàng theo tổng tài sản Logarit tự nhiên của tổng tài sản công ty 15 CHƢƠNG 3 PHÂN TÍCH VÀ TRÌNH BÀY K T QUẢ 3.1. PHÂN TÍCH 3.1.1. Tính toán các biến Sau khi xác định được mô hình nghiên cứu với các biến trong mô hình bao gồm biến phụ thuộc ABSDA đại diện cho chất lượng kiểm toán, các biến độc lập CRISIS, ROA, BIG4, LOSS, GROWTHASSET, tác giả đi vào tính toán các biến trong mô hình tại từng công ty trong mẫu nghiên cứu để ước lượng các tham số trong mô hình dựa vào các tính toán này trước khi tiến hành phân tích kết quả. 3.1.2. Kết quả phân tích a. Thống kê mô tả Để kiểm tra ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến chất lượng kiểm toán, tác giả thu thập dữ liệu báo cáo tài chính sau kiểm toán, báo cáo kiểm toán của 80 công ty trong giai đoạn 2004 – 2009 nhưng có 3 công ty bị loại do không thỏa mãn yêu cầu thu thập dữ liệu. b. Phân tích tương quan Để phân tích mối quan hệ giữa các biến trong mô hình nghiên cứu ta thực hiện phân tích tương quan. Mối tương quan có ý nghĩa thống kê lớn nhất được tìm thấy là mối quan hệ tương quan thuận giữa biến BIG4 và biến LNASSET với hệ số tương quan là 0.506. Tương quan nghịch có ý nghĩa lớn nhất được tìm thấy là mối tương quan giữa biến ROA và biến LOSS với hệ số tương quan là -0.400. Hai mối quan hệ tương quan có ý nghĩa thống kê đáng chú ý được phát hiện là mối quan hệ giữa biến ROA và biến ABSDA, giữa biến LOSS và biến ABSDA cho thấy mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt 16 động và mức độ điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính (nghiên cứu này mặc định rằng báo cáo tài chính là báo cáo tài chính sau kiểm toán). Mối quan hệ chính mà nghiên cứu này tìm hiểu là mối tương quan giữa biến CRISIS và biến ABSDA, hệ số tương quan có ý nghĩa thống kê giữa hai biến này là 0.229 là tương đối lớn, chỉ ra rằng trong khủng hoảng thì các công ty niêm yết có mức độ điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính cao hơn so với bình thường và chỉ báo cho một chất lượng kiểm toán có khả năng bị suy giảm trong khủng hoảng tài chính. c. Phân tích hồi quy Mô hình nghiên cứu được biểu diễn dưới dạng phương trình hồi quy tuyến tính đa biến có dạng như sau: ABSDA = β1 + β2ROA +β3 IG4 + β4LOSS + β5LNASSET + β6GROWTHASSET + β7CRISIS + Ɛi Thực hiện hồi quy các biến nghiên cứu trong mô hình ta được bảng 3.7. Ý nghĩa thống kê của mô hình được thể hiện bởi giá trị sig = 0.000 tức vô cùng bé hay mô hình thật sự có ý nghĩa thống kê. Bảng 3.7 Bảng tổng hợp kết quả h i quy sau khi loại trừ các biến không phù hợp trong mô hình Biến Hệ số t-value Sig VIF ROA -0.334 -2.124 0.034 1.191 LOSS 0.312 3.964 0.000 1.208 CRISIS 0.084 3.716 0.000 1.016 Adjusted R 2 = 0.132 Sig = 0.000 Durbin-Watson = 2.002 17 d. Phân tích kết quả Tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam được xác nhận khi tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa biến ABSDA đo lường cho chất lượng kiểm toán và biến CRISIS đại diện cho giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu với hệ số của biến CRISIS là 0.084 cho thấy chất lượng kiểm toán suy giảm trong khủng hoảng tài chính toàn cầu. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa biến ROA và biến LOSS với biến ABSDA. Hệ số hồi quy của biến ROA là -0.334 và đây cũng là biến tác động mạnh nhất đến biến ABSDA trong mô hình, điều này cho thấy nếu hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty niêm yết bị suy giảm thì công ty sẽ có động lực lớn để tăng cường điều chỉnh lợi nhuận tương ứng với chất lượng báo cáo tài chính bị suy giảm. Hệ số hồi quy của biến LOSS là 0.312 chỉ ra rằng nếu công ty có kết quả hoạt động kinh doanh thua lỗ thì công ty sẽ tăng cường điều chỉnh lợi nhuận tương ứng với sự suy giảm chất lượng kiểm toán hay việc thua lỗ trong hoạt động kinh doanh của công ty là một trong những động lực khiến doanh nghiệp tăng cường điều chỉnh lợi nhuận khiến cho chất lượng kiểm toán suy giảm trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu. Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và chất lượng kiểm toán trong bối cảnh suy giảm chất lượng kiểm toán trong khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến kết luận rằng sự thất bại của kiểm toán viên và công ty kiểm toán tại Việt Nam trong việc ứng phó với rủi ro suy giảm chất lượng kiểm toán mà khủng hoảng tài chính toàn cầu mang đến là một trong những nguyên nhân làm suy giảm 18 chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn này. Một điều đáng quan tâm rằng không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê được tìm thấy giữa biến BIG4 và biến phụ thuộc ABSDA. Qua đó nghiên cứu này có ý nghĩa khi kết luận đối chất lượng kiểm toán BCTC các công ty niêm yết trên toàn Việt Nam trong bối cảnh, giai đoạn nghiên cứu đã đề cập mà không có sự khác biệt giữa hai nhóm BIG 4 và Non BIG 4. Nghiên cứu này cũng không phát hiện ra mối quan hệ có ý nghĩa giữa biến LNASSET, GROWTHASSET và biến ABSDA. Tuy nhiên điều đáng lưu ý đó là mối quan hệ giữa biến LNASSET và biến ABSDA có ý nghĩa với mức ý nghĩa 10% và điều này để ngõ khả năng rằng các công ty có quy mô càng lớn thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận trên báo tài chính càng lớn hơn hay khả năng tính độc lập của kiểm toán viên bị ảnh hưởng khi kiểm toán cho các công ty lớn. 3.2. KIỂM ĐỊNH GIẢ THUY T NGHIÊN CỨU 3.2.1. Kiểm định giả thuyết Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động kinh doanh và chất lượng kiểm toán trong bối cảnh chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết suy giảm trong khủng hoảng, cùng các phân tích, đánh giá, nghiên cứu trước đó đã được đề cập đã đặt ra cơ sở cho khẳng định rằng hiệu quả hoạt động yếu kém của các công ty niêm yết trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu là một trong những nguyên nhân làm chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính suy giảm trong khủng hoảng tài chính. Mối quan hệ nghịch giữa ABSDA và hiệu quả hoạt động kinh doanh được chứng minh ở trên cũng tương ứng với nhận định rằng các công ty có kết quả hoạt động yếu kém thường có mức độ điều 19 chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính cao hơn. Điều này đặt ra câu hỏi về vai trò của các kiểm toán viên, công ty kiểm toán trong việc đối phó với rủi ro của khủng hoảng tài chính toàn cầu khi các doanh nghiệp có kết quả hoạt động không thuận lợi thường có một mức độ điều chỉnh lợi nhuận cao hơn trên báo cáo tài chính của mình. Chất lượng kiểm toán suy giảm trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu do đó có nguyên nhân quan trọng bởi sự thất bại trong việc đối phó với rủi ro mà cuộc khủng hoảng này mang lại của kiểm toán viên và công ty kiểm toán. Kết quả phân tích các biến trong mô hình bao gồm biến LOSS, ROA và biến CRISIS cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với biến ABSDA như đã phân tích ở trên đây chứng minh cho giả thuyết được đưa ra rằng: “Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam suy giảm trong khủng hoảng tài chính toàn cầu” là đúng. 3.2.2. Kiểm tra các điều kiện vận dụng mô hình a. Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến cho kết luận rằng mô hình nghiên cứu không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến. b. Kiểm tra hiện tượng tự tương quan Kiểm tra hiện tượng tự tương quan cho kết luận rằng mô hình nghiên cứu không tồn tại hiện tượng tự tương quan. 20 CHƢƠNG 4 K T LUẬN TỪ K T QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KI N NGHỊ NHẰM GIẢM THIỂU ẢNH HƢỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU TỚI CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM Y T TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 4.1. K T LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Nghiên cứu với mục đích tìm hiểu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có kết quả đạt được rằng chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết được đo lường bằng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) đã suy giảm trong giai đoạn khủng hoảng. Kết quả này là ngược với kết quả trong nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano (2014) khi nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano cho kết quả rằng chất lượng kiểm toán được đo lường bằng DA tăng lên trong giai đoạn khủng hoảng. Sự khác biệt trong biến đổi chất lượng kiểm toán giữa hai nghiên cứu do sự khác biệt trong cách thức ứng xử của kiểm toán viên, công ty kiểm toán tại Việt Nam đối với rủi ro từ khủng hoảng tài chính toàn cầu so với các kiểm toán viên, công ty kiểm toán tại Thụy Điển. Bên cạnh đó sự khác biệt này cũng do sự khác biệt trong chất lượng kiểm toán được cung cấp bởi các công ty kiểm toán, kiểm toán viên tại Thụy Điển so với Việt Nam và sự khác biệt trong bối cảnh, khuôn khổ luật pháp, chuẩn mực, quy định liên quan đến hoạt động kiểm toán, kế toán, chứng khoán mà hoạt động kiểm toán tại hai nước được tiến hành. 21 Kết quả nghiên cứu cũng đồng thời cho thấy ảnh hưởng của hiệu quả và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty niêm yết đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty này thông qua hai biến quan sát là LOSS và ROA. Các phân tích, đánh giá về mối qua hệ giữa biến ROA, LOSS và biến ABSDA đã dẫn tác giả đến kết luận rằng: Hiệu quả hoạt động và kết quả kinh doanh yếu kém của các công ty niêm yết trong khủng hoảng tài chính toàn cầu là một trong những nguyên nhân khiến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam suy giảm trong khủng hoảng tài chính toàn cầu. Kết quả nghiên cứu cũng dẫn đến kết luận rằng các công ty kiểm toán và kiểm toán viên tại Việt Nam đã thất bại trong việc đối phó với rủi ro của khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam suy giảm trong khủng hoảng. Kết quả này là phù hợp với những chỉ trích của Sikka (2009) nhằm vào chất lượng kiểm toán trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu. Thất bại của các kiểm toán viên và công ty kiểm toán khi đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến sự suy giảm chất lượng kiểm toán tại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng có thể do các kiểm toán viên, công ty kiểm toán không có biện pháp đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu hoặc những biện pháp đối phó mà họ đưa ra là không phù hợp. Nghiên cứu cũng đưa ra kết luận rằng vai trò quan trọng của kiểm toán trong việc giải quyết vấn đề bất đối xứng thông tin, mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và chủ sở hữu doanh nghiệp đặc biệt trong điều kiện khủng hoảng tài chính bị suy yếu hay thậm chí không phát huy được vai trò của mình. Chất lượng thông tin trên thị trường 22 chứng khoán vì thế cũng có thể bị suy giảm trong điều kiện khủng hoảng tài chính toàn cầu. 4.2. CÁC KI N NGHỊ Tác giả đưa một số kiến nghị cho các bên liên quan nhằm mục đích nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trong khủng hoảng. Cải thiện chất lượng hoạt động kiểm toán đòi hỏi cả sự gia tăng kiểm soát, quản lý đối với chất lượng kiểm toán từ cả bên trong và bên ngoài. Do đó các kiến nghị được đưa ra đối với cả nhóm đối tượng bên trong tức đối với các kiểm toán viên, công ty kiểm toán và nhóm đối tượng bên ngoài bao gồm: Bộ Tài chính, Hiệp hội nghề nghiệp kế toán – kiểm toán và các cơ quan ban hành chính sách, kiểm soát liên quan khác. - Đối với các kiểm toán viên và công ty kiểm toán: + Các công ty kiểm toán và kiểm toán viên cần xây dựng một chương trình kiểm toán riêng biệt, phù hợp nhằm đối phó với những rủi ro đặc thù trong điều kiện khủng hoảng kinh tế. + Các công ty kiểm toán cần xây dựng chương trình kiểm tra chất lượng kiểm toán trong nội bộ đơn vị theo định kỳ hoặc đột xuất trong và sau mùa kiểm toán. + Các kiểm toán viên cần nâng cao kiến thức về chứng khoán, các công cụ tài chính hiện đại và các công ty kiểm toán có trách nhiệm tài trợ hoặc xây dựng chương trình cập nhật kiến thức này cho các kiểm toán viên. + Nâng cao đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên thông qua các chương trình phù hợp. - Đối với Hiệp hội nghề nghiệp k toán – kiểm toán và Bộ Tài chính cùng các bên liên quan khác: 23 + Xây dựng những cơ chế, quy định nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của kiểm toán viên, công ty kiểm toán trong hoạt động kiểm toán cũng như những quy định nhằm gia tăng hoạt động giám sát, kiểm soát chất lượng kiểm toán từ bên ngoài nhằm phát hiện, xử lý kịp thời các công ty kiểm toán, kiểm toán viên không hoàn thành đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình. + Hiệp hội nghề nghiệp kế toán – kiểm toán và Bộ Tài chính cần tổ chức thường xuyên các khóa tập huấn, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn kế toán – kiểm toán, tài chính – chứng khoán, nhằm nâng cao năng lực của kiểm toán viên khi kiểm toán trong bối cảnh môi trường tài chính, chứng khoán ngày càng phức tạp, đa dạng hóa như hiện nay. + Các khuôn khổ mà các hoạt động kiểm toán tuân thủ ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán nên việc Hiệp hội nghề nghiệp và các cơ quan chính phủ cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống các quy định, văn bản, các cơ chế nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kế toán, kiểm toán, tính minh bạch hay chất lượng thông tin công bố là yêu cầu cần thiết để cải thiện chất lượng hoạt động kiểm toán. Các cổ đông, ngân hàng, nhà đầu tư và các đối tượng khác cần có các biện pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của việc suy giảm hiệu quả của kiểm toán đến hoạt động đầu tư, cho vay của mình. Tác giả đồng thời đưa ra một số ý kiến như là công cụ bổ trợ cho kiểm toán trong việc giải quyết vấn đề đại diện trong doanh nghiệp dưới ảnh hưởng suy giảm hiệu quả của kiểm toán trong khủng hoảng. 24 K T LUẬN Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục đích tìm hiểu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khi tác động tới Việt Nam đã làm suy giảm chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại Việt Nam. Các phân tích, đánh giá trong nghiên cứu cho thấy rằng sự suy giảm chất lượng kiểm toán đối với các công ty niêm yết tại Việt Nam là do sự tổng hợp của hai mối quan hệ chính. Trong khủng hoảng tài chính cùng với điều kiện khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì các công ty niêm yết có một động lực lớn nhằm tăng cường điều chỉnh lợi nhuận, điều này tạo ra những rủi ro to lớn về khả năng mà chất lượng kiểm toán suy giảm trong khủng hoảng. Những rủi ro này đòi hỏi các doanh nghiệp, công ty kiểm toán phải có những biện pháp phù hợp để đối phó với rủi ro nhằm bảo đảm, gia tăng chất lượng kiểm toán. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các kiểm toán viên, công ty kiểm toán tại Việt Nam đã thất bại trong việc đối phó với những rủi ro kiểm toán mà khủng hoảng tài chính toàn cầu mang lại dẫn đến sự suy giảm chất lượng kiểm toán trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nghiên cứu này đưa ra một số kiến nghị nhằm cải thiện, kiểm soát, nâng cao chất lượng kiểm toán từ cả bên ngoài và bên trong công ty kiểm toán. Tác giả cho rằng để có sự cải thiện chất lượng kiểm toán cần có sự phối hợp của cả các cơ quan nhà nước, Hiệp hội nghề nghiệp kế toán – kiểm toán và các công ty kiểm toán, kiểm toán viên.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfvonhutung_tt_5949_2073071.pdf
Luận văn liên quan