Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa Lịch sử bậc Trung học cơ sở (THCS) phục vụ chiến lược đổi mới căn bản toàn diện giáo dục hiện nay

1. Chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS hiện hành được coi là văn bản pháp lý căn bản phục vụ dạy học bộ môn Lịch sử hiện nay. Chương trình sách giáo khoa được xây dựng trên cơ sở mục tiêu chung của bậc THCS và đáp ứng mục tiêu cụ thể của bộ môn trên cả ba phương diện kiến thức, kỹ năng và thái độ, tình cảm. Về cơ bản, nội dung, cấu trúc, nguyên tắc và phương pháp biên soạn chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS đáp ứng được yêu cầu cơ bản của chương trình sách giáo khoa bậc THCS. 2. So với chương trình sách giáo khoa trước đó, chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS hiện hành có nhiều ưu điểm vượt trội từ hình thức đến nội dung, nguyên tắc và phương pháp biên soạn. Thế nhưng, trên thực tế dù là công trình được biên soạn với quy trình chặt chẽ và sự tham gia của đông đảo đội ngũ các nhà sư pham, song chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, thiếu sót. Hạn chế, thiếu sót của chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS tập trung trên phương diện nguyên tắc xây dựng, cấu trúc (cách phân kỳ lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới không thống nhất, cấu trúc nội dung kiến thức của phần lịch sử thế giới quá chênh lệch giữa chương trình, sách giáo khoa các lớp, vận dụng nguyên tắc đồng tâm trong cấu trúc một số nội dung chương trình sách giáo khoa chưa hợp lý); về hình thức, phương pháp trình bày (lặp lại gần như cơ bản phương pháp, hình thức sách giáo khoa THPT; quá nặng về chính trị, tính hàn lâm, chưa phản ánh và cung cấp kiến thức mang tính toàn diện cho học sinh; thiếu sót trong lựa chọn một số kiến thức tiêu biểu); về nội dung (phần lịch sử Việt Nam cận hiện đại chiếm khối lượng kiến thức quá lớn so với các nội dung về lịch sử Việt Nam ở các giai đoạn khác; nội dung lịch sử thế giới cận hiện đại trong chương trình còn khá lớn, chưa phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh bậc THCS; chưa xác định rõ yêu cầu về một số nội dung lịch sử thế giới của chương trình, sách giáo khoa Lịch sử lớp 6, lớp 7; tồn tại một số thiếu sót về nội dung). Những thiếu sót, bất cập, hạn chế đó đã làm giảm hiệu quả chương trình sách giáo khoa Lịch sử, gây nên hiện tượng nhàm chán do đó cần được điều chỉnh khắc phục.

pdf24 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 17/02/2016 | Lượt xem: 5382 | Lượt tải: 14download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa Lịch sử bậc Trung học cơ sở (THCS) phục vụ chiến lược đổi mới căn bản toàn diện giáo dục hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iên chỉ đọc cho học chép một cách thụ động, máy móc. Chính vì thế đã tạo ra sự đơn điệu, khô khan trong giờ học Lịch sử. - Thứ ba, phương pháp lựa chọn kiến thức đưa vào chương trình sách giáo khoa Lịch sử chưa phù hợp điều này khiến một số kiến thức quan trọng chưa được đề cập đến trong chương trình sách giáo khoa. So với chương trình sách giáo khoa cũ, một ưu điểm dễ nhận thấy ở chương trình sách giáo khoa mới là đưa thêm một số nội dung, thành tựu nghiên cứu mới vào sách giáo khoa. Cụ thể ở chương trình sách giáo khoa Lịch sử lớp 6 đã đưa vào 1 tiết dạy về nước Champa từ thế kỷ II đến thế kỷ V. Sự bổ sung nội dung kiến thức này góp phần cung cấp kiến thức toàn diện hơn cho học sinh về sự phát triển của lịch sử cộng đồng dân tộc Việt Nam. Cũng từ yêu cầu cập nhật những kết quả nghiên cứu mới vào chương trình sách giáo khoa THCS có thể khẳng định sự thiếu sót của tác giả biên soạn sách trong lựa chọn kiến thức để cung cấp. Theo đó, nhà Mạc – một trong những vương triều ra đời và tồn tại vào thế kỷ XVI, có những đóng góp quan trọng đối với văn hóa dân tộc thế nhưng lại không được đề cập đến trong sách giáo khoa. Một nội dung quan trọng mang tính thời sự hiện này là chủ quyền, lãnh thổ dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên biển Đông cũng không được đề cập đến trong chương trình sách giáo khoa [14, tr.10]. Mặc dù thừa nhận chương trình sách giáo khoa là cung cấp kiến thức hệ thống, cơ bản về lịch sử dân tộc nhưng những nội dung này là yêu cầu cơ bản mà tác giả sách giáo khoa phải đưa vào. 2.3. Về nội dung - Thứ nhất, nội dung kiến thức về phần lịch sử Việt Nam cận hiện đại chiếm khối lượng kiến thức quá lớn so với các nội dung về lịch sử Việt Nam ở các giai đoạn khác. Lịch sử Việt Nam cận hiện đại có 1 vị trí và vai trò quan trọng trong cấu trúc chương trình sách giáo khoa Lịch sử ở bậc THCS. Bởi vì tính quan trọng đó, nội dung này các tác giả khi biên soạn sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS đã đưa vào chương trình với một kết cấu dung lượng kiến thức lớn. Theo đó, nội dung của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 đến 1975 được thể hiện khá hệ thống, chi tiết khi tất cả các thời kỳ thuộc giai đoạn lịch sử này. Mặc dù có ưu điểm 12 là cung cấp khối lượng kiến thức cụ thể, sinh động cho học sinh trong chương trình sách giáo khoa, nhưng không phải vì tính quan trọng đó mà học sinh buộc phải học một khối lượng kiến thức quá lớn so với trình độ nhận thức của lứa tuổi học sinh THCS cụ thể là trình độ học sinh lớp 9. Theo quy định của chương trình, giai đoạn này học sinh được học trong 24 tiết trong khi hệ thống sự kiện lịch sử của thời kỳ này theo trình bày của chương trình sách giáo khoa là rất phong phú. Điều này là quá nặng đối với trình độ, nhận thức của học sinh ở độ tuổi từ 11 đến 14 tuổi. Nguyên nhân của việc tác giả đưa quá nhiều nội dung kiến thức lịch sử Việt Nam hiện đại là do yêu cầu phải đảm bảo về mặt cấu trúc nên lại là nguyên nhân làm sự chênh lệch về nội dung. Về mặt thực tiễn, đối với học sinh lứa tuổi này, chương trình sách giáo khoa ở giai đoạn này chỉ nên lựa chọn những sự kiện tiêu biểu, phản ánh nội dung của các giai đoạn phù hợp hơn là trình bày dàn trải nội dung tất cả các giai đoạn gây nhàm chán, khó khăn đối với người học [15, tr.9]. Đối với giai đoạn này chỉ nên lựa chọn một số sự kiện tiêu biểu để trình bày như: Sự thành lập Đảng, Cách mạng tháng Tám 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, Chiến thắng mùa xuân năm 1975, không nên trình bày thành các giai đoạn nhỏ đến từng giai đoạn, hay đi vào các chi tiết quá, cụ thể quá của từng trận đánh, chiến dịch, cũng không nên trình bày các số liệu về thương vong, chết của cả hai bên. Điều này nó phản ánh lịch sử chính trị quá lớn trong suốtt giai đoạn 1930 – 1975 [15, tr.9]. Việc kết cấu nội dung cụ thể, chi tiết trong chương trình sách giáo khoa Lịch sử thời kỳ này khó hình thành ở học sinh kiến thức tổng quát về thời kỳ lịch sử, gây ra khả năng khó tiếp nhận, nhàm chán đối với lứa tuổi học sinh THCS. Cho nên, so với khối lượng kiến thức lịch sử các giai đoạn trước năm 1930 và sau năm 1975, nội dung kiến thức lịch sử Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1975 cần kết cấu lại để đảm bảo sự cân đối trong khối lượng, nội dung kiến thức, đảm bảo tính phù hợp, tiêu biểu và vừa sức đối với học sinh. - Thứ hai, nội dung lịch sử thế giới cận hiện đại trong chương trình còn khá lớn, chưa phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh bậc THCS và mối tương quan với chương trình Lịch sử bậc THPT. So với chương trình sách giáo khoa trước đây, chương trình sách giáo khoa mới có khối lượng kiến thức tinh gọn hơn, các vấn đề kiến thức tập trung hơn, văn phong dễ hiểu và hình thức trình bày sáng sủa hơn so với sách giáo khoa trước đó. Tuy nhiên, nếu so sánh với chương trình sách giáo khoa bậc THPT, chương trình sách giáo khoa THCS thì nội dung kiến thức lịch sử thế giới của hai phần này không khác nhau bao nhiêu. Vì thế, khi trình bày nội dung về lịch sử thế giới, chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS gặp một số vấn đề như: Chương trình quá dài, nhiều kiến thức không thực sự cần thiết đối với học sinh; nhiều vấn đề lý thuyết nặng nề không phù hợp với lứa tuổi 13 – 14; tác giả sách giáo khoa lúng túng, làm thế nào để sách giáo khoa cấp 2 khác sách giáo khoa cấp 3 trong khi hai chương trình từa tựa nhau, chỉ có thêm đôi chút sự kiện” [15, tr.7]. Trong phần lịch sử thế giới cận đại, chương trình sách giáo khoa bậc THCS có nhất thiết phải trình bày toàn bộ các cuộc cách mạng tư sản diễn ra trong thời cận đại, các phong trào công nhân thời cận đại, hay chỉ nên chọn các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu, các phong trào công nhân tiêu biểu trong thời kỳ cận đại để thể hiện cho phù hợp với trình độ của lứa tuổi học sinh, phù hợp với một cuốn sách giáo khoa THCS. Sau khi học các cuộc cách mạng tư sản điển hình có cần thiết phải đưa vào chương trình mục “sự tiếp diễn hình thức cách mạng tư sản ở nhiều nước”, bởi vì việc đưa thêm mục này vào đã làm tăng thêm một khối lượng lớn kiến thức trong chương trình và đối với học sinh. Trong nội dung các nước tư bản cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, chương trình đòi hỏi phải đề cập đến các đế quốc Anh, Pháp, Mỹ, Đức (những nét chính), và sự phát triển không đều của CNTB, những mâu thuẫn gay gắt. Toàn bộ nội dung nêu trên theo cấu trúc chương trình chỉ trình bày trong 2 tiết. Với khối lượng kiến thức lớn như vậy và trình bày chi tiết đối với các 13 nước đế quốc thì học sinh khó có thể nhớ nỗi. Do đó, cần lựa chọn hình thức thiết kế nội dụng này phù hợp hơn. Có thể, đối với nội dung này nên lựa chọn nên trình bày đặc điểm chung của các nước đế quốc Anh, Pháp, Mỹ, Đức như thế học sinh dễ tiếp nhận hơn, việc cụ thể hóa đặc điểm của mỗi đế quốc có thể là nhiệm vụ của chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THPT. Việc xây dựng nội dung phong trào công nhân là cần thiết bởi đây là một trong 5 vấn đề cơ bản của lịch sử thế giới thời cận đại, nhưng đây cũng là một trong những vấn đề mang tính lý luận và khó trong khi biên soạn chương trình sách giáo khoa về phần này. Vì thế, khi nghiên cứu những nội dung về phong trào công nhân được đề cập đến có thực sự cần thiết giới thiệu các nội dung quá cụ thể và khó đối với học sinh ở lứa tuổi này như việc giới thiệu Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, đi sâu vào trình bày về Quốc tế I, Quốc tế II, tư tưởng các C. Mác và Ănghen. Bởi trên thực tế, những nội dung này mang tầm lý luận khái quát, đòi hỏi trình độ nhận thức cao mà ở lứa tuổi này chưa đủ để có thể nhận thức, giải quyết được, do đó các em cảm thấy quá tải và khô khan khi tiếp nhận các nội dung quá cụ thể, trừu tượng này. - Thứ ba, chưa xác định rõ yêu cầu về một số nội dung lịch sử thế giới của chương trình, sách giáo khoa Lịch sử lớp 6, lớp 7. Trong chương trình sách giáo khoa, phần lịch sử thế giới lớp 6 chỉ gồm 4 tiết, lịch sử lớp 7 gồm 9 tiết nhưng khối lượng kiến thức cung cấp cho học sinh (lứa tuổi từ 11 – 12) là quá lớn với nhiều sự kiện, nhiều địa danh, nhiều kiến thức mang tính lý luận. Ví như, ở lớp 6, lịch sử thế giới được trình bày thành 1 phần nhưng chỉ có 4 tiết mà nội dung bao gồm Sự tiến triển từ xã hội công xã nguyên thủy sang xã hội có giai cấp và nhà nước. Những thành tựu văn hóa tiêu biểu ở phương Đông và phương Tây thời cổ đại. Đến lớp 7, phần lịch sử thế giới nội dung được đưa vào chương trình là Xã hội phong kiến Tây Âu, Xã hội phong kiến phương Đông (gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á) nhưng chỉ được thiết kế gồm 9 tiết. Điều này là không tương thích giữa nội dung kiến thức và thời lượng cũng như tâm sinh lý lứa tuổi học sinh lớp 6. Không chỉ khối lượng kiến thức nhiều, nhiều kiến thức khó, mang tính lý luận cũng còn khá phổ biến trong chương trình hai khối lớp 6, lớp 7. Đơn cử như trong chương trình lịch sử lớp 7, ở phần đầu bài 1 viết: “Khi vào lãnh thổ của đế quốc Rôma, người Giecman đã thành lập nên nhiều vương quốc mới của họ như vương quốc Anglô Xắcxông, Vương quốc Phơrăng, Vương quốc Đông Gốt, Vương quốc Tây Gốt mà sau này sẽ phát triển thành các vương quốc Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Italia”. Từ đoạn nêu trên, có 3 vấn đề được đặt ra là: 1. Học sinh chưa biết gì về đế quốc Rôma (vì lớp 6 chỉ học về văn hóa Hy Lạp và Rôma), 2. Không có bản đồ chỉ dẫn về các vương quốc được hình thành bởi người Giecman nên học sinh không thể hình dung được các vương quốc này nằm ở đâu, 3. Với trình độ của học sinh lớp 7 học sinh khó có thể nhớ nhiều địa danh, nhiều tên chỉ trong 1 đoạn ngắn. Vì thế, dù kết cấu số trang tương đối phù hợp theo yêu cầu của sách giáo khoa, nhưng về mặt kiến thức thì thật sự khó để học sinh hình dung những kiến thức sách giáo khoa khi mà nội dung và độ khó của kiến thức có sự chênh với trình độ nhận thức của học sinh. Do đó, học sinh sẽ cảm thấy môn Lịch sử khô khan, khó hiểu và nhàm chán. - Thứ tư, tồn tại một số nội dung sai sót, nhầm lẫn trong chương trính sách giáo khoa. Khi nghiên cứu hai bộ sách giáo khoa lớp 6 và lớp 11 của chương trình phổ thông về sự kiện Pháp tấn công đồn Chí Hòa đều ghi chép không thống nhất. Chương trình sách giáo khoa lớp 11 ghi Pháp tấn công đồn Chí Hòa vào ngày 23 – 2 - 1861, trong khi đó sách giáo khoa lớp 8 lại ghi đêm 23 rạng ngày 24 - 2 -1861, Tương tự, cũng trong giai đoạn này, sách giáo khoa lớp 11 viết Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất từ sự việc của tên lái buôn Giăng Duy-puy, còn sách giáo khoa lớp 8 viết Duy-puy. Không chỉ sai về tên nhân vật, sự kiện, mà bản chất nội dung của một số sự kiện cũng không được ghi trình bày thống nhất mà mỗi cách trình bày sẽ dẫn đến việc 14 hình thành kiến thức hoàn toàn khác nhau ở học sinh. Ví như sự kiện Pháp đánh Thuận Hóa. Pháp đánh Thuận Hóa, Ngày 20 - 8 - 1883, chúng đổ bộ lên bờ. Quân ta anh dũng chống trả (sách giáo khoa lớp 11) hay Đến ngày 20 - 8 - 1883, chúng đổ bộ lên khu vực này. Triều đình hoảng hốt xin đình chiến (sách giáo khoa lớp 8)... Chỉ một câu như thế, đừng tưởng đơn giản, công tội nhà Nguyễn cũng được nhìn nhận từ đó. Còn như phong trào kháng thuế năm 1908, cũng chỉ ghi nổ ra ở Trung kỳ rất chung chung. Cách viết đơn giản như thế không thể hiện hết tầm vóc cuộc chống sưu thuế vĩ đại này. Vì ban đầu nó diễn ra ở Quảng Nam, nhưng sau đó mới lan rộng cả Trung kỳ. Về mô hình giáo dục nổi tiếng Đông Kinh nghĩa thục: “Đông Kinh là tên cũ của Hà Nội, nghĩa thục là trường tư làm việc vì lợi ích chung” (sách giáo khoa lớp 8). Cách viết này học sinh khó có thể hình dung về vai trò của Đông Kinh nghĩa thục. Về vai trò đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành, sách giáo khoa lớp 8 (trang 149) và sách giáo khoa lớp 11 (trang 154) đều viết giống nhau từ dấu chấm, dầu phẩy. Khi quan niệm sách giáo khoa là văn bản pháp lý căn bản để dạy học cho nên chúng ta luôn nghĩ rẳng, sách giáo khoa không thể sai sót. Thế nhưng, trên thực tế, sách giáo khoa bậc THCS hiện nay chưa đạt đến chuẩn mực mà chúng ta mong muốn. Thứ nhất, điều đáng phàn nàn nhất vẫn là văn phong hành chánh của nhóm biên soạn. Chẳng hạn, về sự hy sinh lẫm liệt của Hai Bà Trưng, lâu nay ta vẫn nhớ đến hình ảnh hào hùng, bi tráng Hai Bà gieo mình xuống dòng Hát Giang. Nay học sinh được tiếp nhận bằng văn phong khô khốc, lạnh lùng “đã hy sinh oanh liệt trên đất Cẩm Khê” (sách giáo khoa). Tương tự khi đọc sách giáo khoa một số lớp khác nhưng ta lại có cảm giác như đọc một bản báo cáo chính trị. Theo sách giáo khoa lớp 7 khi đánh giá về nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: nhân dân có lòng yêu nước, bất khuất, quyết tâm giành độc lập, đoàn kết, có đường lối chiến lược, chiến thuật đúng đắn, sáng tạo của bộ tham mưu đứng đầu, biết dựa vào dân, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ giải phóng đất nước... (trang 93). Với “mô hình” đánh giá rất chung chung này, chỉ cần thay đổi một số từ là có thể áp dụng cho các cuộc khởi nghĩa khác. Đơn cử, khi đánh giá về phong trào Tây Sơn, ta vẫn thấy sách giáo khoa lặp lại những “gạch đầu dòng” ấy ở trang 131. Dù dài dòng, nhưng với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, sách giáo khoa vẫn không nêu được, đã bỏ sót tư tưởng chiến lược và sách lược của nhà tư tưởng, nhà biện luận thiên tài Nguyễn Trãi: “mưu phạt tâm công”. Nó sẽ lý giải vì sao không tương quan lực lượng, nhưng nghĩa quân Lam Sơn đã giành được thắng lợi cuối cùng. Có phân tích được thì sau này học về giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, học sinh mới hiểu rõ hơn nữa về sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời đại mới đã kế thừa, nâng cao và hoàn thiện hơn nữa chiến lược đó như thế nào. Lịch sử là sự vận động, một sự tiếp nối không ngừng, chứ không phải những “lát cắt” biệt lập. Tương tự, trong phần học về “Thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm 1976 - 1980”, sách giáo khoa lớp 9 đã không phân tích sự hạn chế, sai lầm khi chúng ta thực hiện công cuộc cải tạo công thương nghiệp trong quá trình xây dựng xã hội chỉ nghĩa. Trong khi đó, Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần VI đã nêu rõ “sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” thì sách giáo khoa lại né tránh. Như thế khi học đến học về công cuộc Đổi mới từ Đại hội VI, làm sao học sinh có thể thấy hết ý nghĩa quyết tâm Đổi mới của Đảng để nâng cao nhận thức của mình. Không chỉ với văn phong khô khan và liệt kê con số mà sách giáo khoa còn bộc lộ những bất cập khác. Xin đơn cử từ sách giáo khoa lớp 7: Thời nhà Lê “đa số dân đều có thể đi học, đi thi trừ những kẻ phạm tội và làm nghề ca hát”, những hạng người trên chỉ cấm đi thi chứ không cấm đi học, lệ này bãi bỏ dưới thời vua Lê Dụ Tông, chứ không phải áp dụng xuyên suốt thời nhà Lê. Sự kiện “Nguyễn Hoàng được cử vào trấn thủ Thuận Hóa, Quảng Nam” thực tế là do Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm ám hại nên xin chúa Trịnh đi, “cao chạy xa bay” chứ không phải “được cử”. 15 Ở sách giáo khoa lớp 8 thì chép: “Cho đến năm 1919, Pháp vẫn duy trì chế độ giáo dục thời phong kiến”. Thực tế cho thấy rằng vào năm 1915: khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc kỳ, năm 1918: khoa thi hương cuối cùng ở Trung kỳ, rồi ngày 21 – 12 - 1917, Toàn quyền Đông Dương A. Sarraut đã ra Nghị định ban hành Quy chế chung về ngành giáo dục ở Đông Dương thì “vẫn duy trì” cái gì nữa. Về phong trào Đông Du, sự kết thúc của phong trào này cũng được ghi không chính xác. Sách giáo khoa viết: “Tháng 3 - 1909, Phan Bội Châu buộc phải rời khỏi Nhật Bản. Phong trào Đông Du tan rã. Hội Duy tân ngưng hoạt động”, trên thực tế thì mãi đến đầu tháng 2 - 1912 khi cụ Phan cùng các đồng chí mới quyết định cải tổ Hội Duy tân thành Việt Nam Quang phục Hội phong trào mới kết thúc. Như vậy, học sinh phải tiếp cận lại những vấn đề đã học, kể cả hình ảnh minh họa và những đoạn văn ná nhau hoặc bê nguyên xi từ tập này qua tập kia. Nhưng điều khó hiểu ở đây vẫn là sự không nhất quán. Chẳng hạn, Tân Việt cách mạng Đảng do tù chính trị “cùng một số sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội lập” (sách giáo khoa lớp 12) hay do “một số sinh viên Trường Cao đẳng Đông Dương” lập (sách giáo khoa lớp 9). Hay sách giáo khoa lớp 7 viết Nguyễn Ánh“năm 1806 lên ngôi Hoàng đế” ... Là tài liệu căn bản phục vụ dạy học, thế nhưng sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS tồn tại những thiếu sót về một số nội dung là điều khó có thể chấp nhận được. Cho nên, khi xây dựng chương trình sách giáo khoa mới sau năm 2015, điều đầu tiên là phải khắc phục những thiếu sót không đáng có nói trên để có một bộ sách giáo khoa hoàn chỉnh nhất. 16 Chương 3. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ BẬC THCS PHỤC VỤ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA MỚI SAU NĂM 2015 3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp 3.1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới giáo dục phổ thông và Dự thảo đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015 Xây dựng và đổi mới chương trình sách giáo khoa là một phần trong chiến lược phát triển giáo dục đào tạo của Đảng, Nhà nước, đồng thời đã được cụ thể hóa thành dự thảo đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015. Xây dựng chương trình sách giáo khoa mới sau năm 2015 phải quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước, tuân thủ dự thảo đề án đổi mới thì chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS mới đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu giáo dục đề ra. - Đối với quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đổi mới giáo dục phổ thông: Quán triệt quan điểm của về giáo dục của Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ XI khi xác định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, có sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam; phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”. Đồng thời phải quan triệt quan điểm, mục tiêu của Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành trung ương lần 8 (khóa XI) về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Mặc khác, phải tuân thủ chặt chẽ những quy định của Luật Giáo dục về nội dung chương trình sách giáo khoa. - Đối với Dự thảo đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015: Theo dự thảo đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015, chương trình sách giáo khoa và chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới khi xây dựng cần phải tuân thủ và dựa trên các cơ sở sau: 1. Quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới chương trình, sách giáo khoa nói riêng; 2. Phát triển phẩm chất và năng lực người học, đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” và tiếp cận nghề nghiệp; 3. Cấu trúc, nội dung chương trình, sách giáo khoa phải đảm bảo chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và đảm bảo tính chỉnh thể, linh hoạt, thống nhất trong và giữa các cấp học; 4. Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục nhằm phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; 5. Đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; 6. Quản lý việc xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo tính khả thi, linh hoạt, phù hợp địa phương và đối tượng học sinh [8]. Đó được coi là những cơ sở để triển khai đề án, xây dựng chương trình sách giáo khoa sau năm 2015, đồng thời cũng là quan điểm chỉ đạo cho quá trình này. 3.1.3. Kế thừa kinh nghiệm từ chương trình sách giáo khoa hiện hành Mặc dù chương trình, sách giáo khoa nói chung, sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS nói riêng bộc lộ những thiếu sót, bất cập, hạn chế. Trên thực tế việc biên soạn chương trình, sách giáo khoa và sách giáo khoa Lịch sử THCS đã để lại những bài học cần thiết mà việc biên soạn chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới sau năm 2015 có thể kế thừa. Những bài học đó tập trung trong công tác tổ chức, chỉ đạo; biên soạn và xây dựng chương trình; biên soạn sách giáo khoa. - Về công tác tổ chức, chỉ đạo: Đối với công tác tổ chức, chỉ đạo cần chú trọng vào các bài học kinh nghiệm cơ bản sau: 17 + Cần xây dựng ngay từ đầu Đề án Đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Cần thành lập Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa cấp quốc gia và cấp tỉnh, thành phố; các ban xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa quốc gia và các hội đồng thẩm định chương trình, sách giáo khoa quốc gia. Xác định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa Ban Chỉ đạo và các ban, các hội đồng. + Cần xây dựng những chính sách hợp lí để huy động, thu hút các nhà khoa học, nhà sư phạm, cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên, giáo viên tham gia xây dựng, biên soạn, thẩm định chương trình, sách giáo khoa. Cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng (dài hạn và ngắn hạn) để xây dựng đội ngũ chuyên gia am hiểu, hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực phát triển chương trình. + Cần tạo sự đồng bộ ở tất cả các khâu: Quán triệt tư tưởng, quan điểm xây dựng, phát triển chương trình tới tác giả chương trình, sách giáo khoa, cán bộ quản lí và giáo viên; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý; nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học Cần đặc biệt coi trọng sự phù hợp giữa các thành tố của chương trình, sách giáo khoa với các điều kiện đảm bảo chất lượng, đánh giá kết quả giáo dục... + Mỗi chương trình đều cần có các yếu tố đảm bảo, quan trọng nhất là chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, cơ sở vật chất nhà trường. + Chú trọng công tác tuyên truyền để tạo sự đồng thuận của xã hội, sự ủng hộ và phối hợp của các cấp, các ngành, các địa phương... - Về xây dựng và phát triển chương trình: Từ thực tế chương trình sách giáo khoa hiện hành, cần phải khắc phục, kế thừa và rút kinh nghiệm những vấn đề: + Cần kế thừa những thành tựu khoa học hiện có về phát triển chương trình để xem xét điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu trong giai đoạn mới của đất nước và xu thế của quốc tế. + Cùng với việc xác định các mục tiêu và đặc trưng trong chương trình của mỗi cấp học, chương trình mới cần được xây dựng như một chỉnh thể nhất quán, xuyên suốt từ cấp Tiểu học đến cấp Trung học phổ thông; thống nhất và liên thông giữa chương trình giáo dục phổ thông với chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo dục đại học. + Cần xác định mục tiêu và cách thức dạy học tích hợp và dạy học phân hóa đảm bảo giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu giáo dục toàn diện với phát huy năng khiếu, sở trường, định hướng nghề nghiệp cá nhân và điều kiện nhà trường. Cấu trúc lại các lĩnh vực giáo dục, môn học sao cho đảm bảo số lượng môn học bắt buộc ở mỗi lớp học, cấp học không quá nhiều. + Trên cơ sở chương trình quốc gia, cần vận dụng linh hoạt, điều chỉnh (nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và kế hoạch giáo dục) phù hợp với địa phương, thông qua phân cấp xây dựng và quản lý, chỉ đạo, thực hiện chương trình. + Đánh giá kết quả giáo dục cần căn cứ vào chuẩn đầu ra của chương trình. Phải coi đánh giá là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu giáo dục, có vai trò điều chỉnh quá trình dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục [8]. - Về biên soạn sách giáo khoa: Sách giáo khoa phải đảm bảo nhất quán với chương trình về nguyên tắc, định hướng đổi mới và mục tiêu, chuẩn chương trình. Đồng thời, dựa vào chương trình quốc gia để biên soạn sách giáo khoa, từ chương trình quốc gia có thể có nhiều bộ sách giáo khoa hoặc cuốn sách giáo khoa khác nhau để đáp ứng tính đa dạng vùng miền và đặc điểm nhận thức của các đối tượng khác nhau; đặc biệt chú trọng các tài liệu hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số và học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Chương trình sách giáo khoa hiện hành được xây dựng biên soạn với chu kỳ gần 10 năm do đó có nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình này. Khi tổ chức xây dựng , biên soạn và phát triển chương trình sách giáo khoa và sách giáo khoa Lịch sử sau năm 2015 cần chú ý đến bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo, biên soạn chương trình, sách giáo 18 khoa để tránh lặp lại những thiếu sót, hạn chế của chương trình sách giáo khoa cũ đồng thời xây dựng được một bộ chương trình sách giáo khoa hoàn chỉnh theo yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục hiện nay. 3.1.3. Kinh nghiệm quốc tế Một trong những kinh nghiệm cần kế thừa là phải đưa việc phát triển chương trình phù hợp với xu thế thế giới. Theo đó, khi phát triển chương trình sách giáo khoa mới cần phải xem xét thời gian xây dựng chương trình mới. Do tốc độ phát triển quá nhanh của khoa học, kĩ thuật (trong đó có khoa học giáo dục) và sự biến đổi mau lẹ của đời sống nên nhìn chung các nước có xu hướng rút ngắn chu kỳ xem xét để thay đổi chương trình đồng thời thực hiện phát triển chương trình ở nhiều mức độ khác nhau: Có thể chỉ là những điều chỉnh nhỏ, có thể chỉ thay đổi một cấp hoặc điều chỉnh ở một số môn học, một số lớp,... nhưng cũng có thể thay đổi căn bản, toàn diện; quá trình phát triển chương trình luôn coi trọng tính tổng thể nhất quán và xuyên suốt từ mầm non đến hết trung học phổ thông [7]. Trong khi đó, chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS đã được vào dạy học trong thực tiễn kể từ năm học 2000 – 2001 cho nên cần phải xem xét, đánh giá để điều chỉnh hoặc xây dựng mới để cập nhật những thành tựu, kiến thức phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Trong khi xây dựng chương trình sách giáo khoa, các nước trên thế giới chú trọng đến xu thế mới. Xây dựng chương trình theo định hướng phát triển năng lực người học là xu thế nổi bật mà nhiều nước tiên tiến đã và đang thực hiện từ đầu thế kỉ XXI đến nay. Hầu hết các nước đều chú ý hình thành, phát triển những năng lực cần cho việc học suốt đời, gắn với cuộc sống hằng ngày, trong đó chú trọng các năng lực chung như: Năng lực tự học, học cách học; năng lực cá nhân (tự chủ, tự quản lí bản thân); năng lực xã hội; năng lực hợp tác; năng lực giao tiếp (tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ); năng lực tư duy; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực công nghệ thông tin và truyền thông [7]. Trong khi trên thực tế, chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS đang được xây dựng theo định hướng nội dung, chú trọng đến cung cấp truyền thú kiến thức cho học sinh, khối lượng kiến thức đóng kín trong giới hạn chương trình thiếu liên hệ với thực tiễn. Vì vậy, xu hướng chuyển từ xây dựng chương trình sách giáo khoa theo hướng truyền thụ kiến thức sang chú ý hình thành phát triển năng lực, cho người học là một xu thế tiến bộ cần được xem xét trong đề xuất các phương án về chương trình sách giáo khoa sau năm 2015. Với xu thế chuyển sang xây dựng chương trình theo chuẩn năng lực, dạy học tích hợp và dạy học phân hóa được xác định là yêu cầu bắt buộc của mục đích phát triển năng lực học sinh. Các nước đều chú trọng tính tích hợp trong việc thiết kế chương trình, đặc biệt là ở cấp Tiểu học và cấp Trung học cơ sở. Ở giai đoạn đầu của cấp Tiểu học, xây dựng môn học tích hợp các lĩnh vực về tự nhiên và xã hội (trong đó bao hàm cả con người). Ở giai đoạn sau của cấp Tiểu học và cả cấp Trung học cơ sở xây dựng môn học tích hợp các lĩnh vực khoa học tự nhiên và môn học tích hợp các lĩnh vực khoa học xã hội. Đồng thời ở cả ba cấp học, thực hiện tích hợp trong nội bộ môn học, trong đó tích hợp cả các chủ đề liên quan đến thực tiễn đời sống [7]. Đây cũng là một phương án gợi mở về mô hình chương trình sách giáo khoa Lịch sử sau năm 2015 mà khi xây dựng chương trình cần cân nhắc, lựa chọn cho phù hợp, đặc biệt là xu thế tích hợp bộ môn Lịch sử với các bộ môn khoa học xã hội khác ở bậc THCS. Trong phương thức quản lý, xây dựng chương trình, theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới thì cần chú trọng phân cấp trong xây dựng và quản lí chương trình giáo dục phổ thông theo hướng: Nhà nước xây dựng chương trình giáo dục hoặc khung chương trình giáo dục của quốc gia; đồng thời giao quyền cho các địa phương (sở giáo dục) căn cứ vào chương trình quốc gia để xây dựng chương trình phù hợp với địa phương bằng cách bổ sung thêm một số nội dung giáo dục; các nhà trường xây dựng chương trình riêng (chương trình nhà trường) bằng cách bổ sung nội dung và điều chỉnh trong kế hoạch thực hiện chương trình do cấp trên xây dựng. Phương thức quản lý này vừa đảm bảo chương trình, sách giáo khoa đảm bảm được 19 yêu cầu cơ bản của mục đích giáo dục phổ thông, đồng thời thể hiện được sự đặc thù về điều kiện cụ thể của từng địa phương, vùng, trường cụ thể. Đối với bộ môn Lịch sử ở bậc THCS, việc xây dựng một chương trình khung và trên cơ sở đó mỗi địa phương bổ sung xây dựng thêm các nội dung lịch sử địa phương là phù hợp với đặc thù của giáo dục lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương của bộ môn. Cho nên, khi biên soạn khung chương trình, xu thế này của thế giới là một sự lựa chọn quan trọng để tham khảo đối với khung chương trình mới, nhất là việc xây dựng theo hướng phát triển năng lực của người học. Ngoài ra, hiện nay chúng ta đang sử dụng một chương trình, bộ sách giáo khoa mang tính quốc gia. Thế nhưng, trên thế giới các nước sử dụng nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau. Đa dạng hóa sách giáo khoa và tài liệu dạy học là một cách trong chủ trương phát triển, biên soạn chương trình sách giáo khoa. Thực tế cho thấy, xu thế chung của các nước đều coi sách giáo khoa là một loại tài liệu dạy học quan trọng nhưng không phải là tài liệu duy nhất mà có thể có nhiều sách giáo khoa khác nhau cho một môn học; đồng thời giáo viên và học sinh có thể và cần phải tham khảo nhiều nguồn tư liệu khác nhau, nhưng tất cả đều phải căn cứ và đáp ứng được mục tiêu giáo dục và chuẩn kết quả cần đạt của chương trình. Ở phần lớn các nước tiên tiến, sách giáo khoa chủ yếu do các nhà xuất bản tổ chức biên soạn và phát hành theo cơ chế thị trường. Các địa phương, nhà trường, phụ huynh và học sinh có quyền lựa chọn sách giáo khoa cho mình. Do đó, khi đổi mới xây dựng chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS sau năm 2015 cần chú ý xem xét chủ trương xã hội hóa các thành phần, đối tượng tham gia biên soạn, xây dựng chương trình theo hướng đa dạng nhưng đảm bảo yêu cầu đáp ứng được mục tiêu và chuẩn đầu ra của bộ môn Lịch sử bậc THCS. 3.2. Định hướng đổi mới Về cơ bản, chương trình sách giáo khoa mới sau năm 2015 phải được xây dựng dựa trên các định hướng cơ bản sau: - Thứ nhất: Phải coi Lịch sử là môn giáo dục bắt buộc ở bậc THCS. Nội dung của chương trình sách giáo khoa mới được thiết kế phải cung cấp được cho người học kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới; góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục truyền thống, bồi dưỡng hình thành các năng lực đúng đắn. Với định hướng này, môn Lịch sử phải được coi là một bộ môn bắt buộc và là một trong ba bộ môn cơ bản (Toán, Văn, Lịch sử) thuộc chiến lược đổi mới giáo dục hiện nay. Điều này có cơ sở bởi trên thực tế, nhiều nước trên thế giới đã coi môn Lịch sử là một trong 5 môn bắt buộc ở bậc THCS và THPT. Bởi chỉ có được khẳng định vị trí của bộ môn Lịch sử mới được coi là yếu tố đầu tiên để đổi mới căn bản bộ môn này. Trên cơ sở vị thế được khẳng định, nội dung của chương trình sách giáo khoa mới phải đảm bảo dộ tinh gọn, phù hợp, những kiến thức được xây dựng trong sách giáo khoa là những vấn đề cơ bản cần thiết. Từ đó, chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS sau năm 2015 cùng với các bộ môn khác phải hướng đến giáo dục những phẩm chất, giá trị sao cho học sinh yêu quý bản thân, gia đình, quê hương đất nước; có tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, có ý thức trách nhiệm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng bản thân và tôn trọng mọi người, nhân ái, khoan dung, trung thực, có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội và thế giới tự nhiên; có ý thức tìm hiểu và tôn trọng pháp luật, ý thức về tư cách và trách nhiệm công dân, có hành vi đúng đắn trong cuộc sống, thể hiện sự tôn trọng pháp luật; tự chủ, độc lập trong suy nghĩ, ham học hỏi, ham thích sáng tạo. yêu quý, giữ gìn, bảo vệ cái đẹp trong đời sống, tôn trọng và có ý thức phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống Việt Nam và các nền văn hóa khác trong lịch sử; có ý thức bảo vệ di sản lịch sử, văn hóa nghệ thuật của dân tộc và thế giới, có thái độ đúng đắn đối với những vấn đề về tín ngưỡng, sắc tộc, giới [20, tr.53]. Với những mục tiêu mà chương trính sách giáo khoa cần đạt đến như thế, cho nên chương trình sách 20 giáo khoa mới phải phát huy được những mặt mạnh của mình, đồng thời khắc phục những thiếu sót hạn chế đảm bảo về cả mục tiêu kiến thức và giáo dục truyền thống. - Thứ hai: Đổi mới chương trình sách giáo khoa Lịch sử theo hướng tiếp cận từ truyền tải nội dung là chủ yếu sang tiếp cận phát triển năng lực của học sinh. Sách giáo khoa Lịch sử hiện hành được thiết kế theo mô hình truyền thống gọi là chương trình giáo dục định hướng nội dung. Một trong những đặc điểm về nội dung của chương trình sách giáo khoa được thiết kế theo hình thức này là “việc lựa chọn nội dung dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với tình huống thực tiễn. Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình” [10]. Với sự phát triển của xã hội, chương trình sách giáo khoa thiết kế theo giáo dục định hướng nội dung không còn phù hơp bởi các nguyên nhân: 1.Những kiến thức được trang bị chi tiết từ chương trình lạc hậu không bắt kịp với tri thức hiện đại; 2. Việc sách giáo khoa và chương trình thiết kế theo định hướng nội dung cho nên việc kiếm tra đánh giá chủ yếu dưới hình thức ghi nhớ tái hiện, còn khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn, tình huống thấp; 3. Chương trình không đáp ứng được yêu cầu của xã hội về những năng lực cần thiết. Do đó, khi xây dựng chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS sau năm 2015 phải chú ý đến chuyển từ chuyển tải nội dung sang tiếp cận năng lực của học sinh. Sách giáo khoa Lịch sử THCS mới theo hướng tiếp cận năng lực thì việc lựa chọn nội dung đưa vào chương trình phải gắn với cuộc sống, gắn với thực tiễn. Chương trình chỉ quy định những vấn đề chủ yếu, không quy định những vấn đề cụ thể và hướng vào hình thành 3 nhóm năng lực cơ bản khi thiết kế chương trình gồm: 1. Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân (năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo/năng lực tư duy); 2. Nhóm năng lực quản lý xã hội (năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác hội nhập xã hội); 3. Nhóm năng lực công cụ (năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực sữ dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán). Xây dựng theo hướng này sẽ góp phần thực hiện giáo dục Lịch sử từ truyền thụ nội dung sang truyền thụ năng lực cho người học, là biện pháp cơ bản để đổi mới dạy học Lịch sử. - Thứ ba: Cấu trúc nội dung kết hợp nguyên tắc đồng tâm, đường thẳng, đồng tâm kết hợp với đường thằng đảm bảo mối tương quan với các bậc học tiểu học, THPT. Từ việc nghiên cứu những vấn đề chưa hợp lý về nguyên tắc và phương pháp biên soạn sách giáo khoa Lịch sử THCS hiện hành, khi biên soạn sách giáo khoa Lịch sử THCS sau năm 2015, cần thực có thể tiến hành thông qua các định hướng cơ bản sau: Một là, Tiếp tục xây dựng chương trình theo nguyên tắc đồng tâm kết hợp với đường thẳng nhưng kế thừa những ưu điểm và khắc phục hạn chế, chưa hợp lý của sách giáo khoa hiện hành. Theo đó, nếu tiếp tục duy trì nguyên tắc và phương pháp biên soạn này cần điều chỉnh những vấn đề tồn tại trong sách giáo khoa THCS, đồng thời phải xác định được mối quan hệ trong kiến thức giữa hai bậc THCS và THPT để tránh sự trùng lặp về kiến thức gây nhàm chán đối với học sinh, ảnh hưởng đến hiệu quả dạy học Lịch sử. Hai là, xây dựng chương trình sách giáo khoa theo nguyên tắc đường thẳng. Nguyên tắc và phương pháp biên soạn này tránh được sự trùng lặp không cần thiết giữa hai bậc THCS và THPT. Đồng thời, sách giáo khoa nếu vận dụng nguyên tắc này sẽ tạo cơ sở để phân bổ chương trình, khối lượng kiến thức phù hợp với trình độ nhận thức của từng lớp thông qua tăng dần khối lượng kiến thức và mức độ khó ở mỗi lớp của bậc THCS. Cách thiết kế chương trình theo nguyên tắc đường thằng sẽ tạo nên một sự liền mạch về kiến thức, học sinh dễ nắm bắt và có cái nhìn khái quát về lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới, tạo được sự hứng thú đối với học sinh. Tuy nhiên, phương án này cũng có hạn chế đó là cần phải có một chương trình bổ sung đối với những học sinh mà họ chỉ học hết bậc THCS và không học tiếp bậc THPT nếu không họ sẽ không có kiến thức về lịch sử hiện đại Việt Nam và thế giới. Mặt khác, sách giáo khoa Lịch sử THCS sẽ không kế thừa được những kiến thức học sinh đã được hình thành ở bậc tiểu học. Ba là, sử dụng nguyên tắc đồng tâm kết hợp với đường thẳng, nhưng phần lịch sử thế giới thì chỉ sử 21 dụng nguyên tắc đường thẳng theo mô hình lựa chọn theo khu vực và từng nước riêng biệt. Đối với phương án này, việc lựa chọn trong biên soạn có thể tiến hành theo hai hình thức. Hình thức thứ nhất, ở bậc THCS sẽ trình bày một số quốc gia, khu vực xuất hiện và có vai trò nổi bật trong thời kỳ cổ trung đại, còn bậc THPT là thời kỳ cận hiện đại. Hình thức thứ hai là ở chương trình THCS sẽ trình bày toàn bộ tiến trình lịch sử thế giới như hiện nay còn bậc THPT sẽ học chuyên sâu về một số nước, các khu vực được lựa chọn. Mỗi nguyên tắc và phương pháp biên soạn theo các phương án trên có ưu điểm và hạn chế riêng. Do đó, để xây dựng một chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới sau năm 2015 cần vận dụng, lựa chọn các phương thức đó một cách hợp lý. - Thứ tư: Khắc phục những hạn chế, bất cập của chương trình sách giáo khoa cũ, kế thừa những ưu điểm, kết cấu lại nội dung chương trình sách giáo khoa mới theo hướng tinh giản đảm bảo kiến thức cơ bản, đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý của lứa tuổi THCS. Trên cơ sở đó tiến hành xây dựng chương trình theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế đồng thời đa dạng hóa chương trình sách giáo khoa để đảm bảo tính lựa chọn cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, vùng. 3.3. Các phương án Trên cơ sở định hướng chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có thể đưa ra các phương án về xây dựng chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS sau năm 2015 như sau: - Phương án 1: Giữa nguyên hình thức học thông sử như hiện nay nhưng giảm khối lượng kiến thức về chính trị, tăng thêm khối lượng kiến thức về kinh tế văn hóa và một số nội dung khác, khắc phục những thiếu sót của chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS hiện hành. Theo phương án này, chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới sau năm 2015 vẫn học đầy đủ quá trình phát triển của lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới. Đối với phần lịch sử thế giới sẽ học lịch sử thế giới cổ đại, lịch sử thế giới trung đại, lịch sử thế giới cận đại, lịch sử thế giới hiện đại. Phần lịch sử Việt Nam gồm lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX, lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1918, lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến nay, lịch sử địa phương. Theo đó, về cơ bản cấu trúc của chương trình sách giáo khoa không thay đổi mà chỉ điều chỉnh cơ cấu giữa khối lượng kiến thức về chính trị, văn hóa, kinh tế xã hội trong mỗi phần cho phù hợp. Xuất phát từ đặc điểm hạn chế của chương trình sách giáo khoa Lịch sử hiện hành là dù đã tăng khối lượng kiến thức về kinh tế, văn hóa xã hội trong phần lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới, nhưng trên thực tế khối lượng này là chưa đáng kể so với khối lượng kiến thức về chính trị. Để đảm bảo tính toàn diện của tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới, trong xây dựng chương trình sách giáo khoa mới phải bổ sung những kiến thức về lĩnh vực văn hóa, xã hội vào trong lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới ở những khu vực có quan hệ với lịch sử Việt Nam. Dù tăng khối lượng về kiến thức văn hóa, xã hội thế nhưng vẫn phải đảm bảo được rằng khối lượng kiến thức về chính trị tương đối để có thể phục vụ mục tiêu giáo dục lịch sử, truyền thống đối với học sinh thông qua bộ môn. Mặc dù là một văn bản pháp lý phục vụ dạy học bộ môn ở bậc THCS, chương trình sách giáo khoa Lịch sử với ưu điểm nổi trội so với chương trình sách giáo khoa cũ cũng tồn tại nhiều vấn đề. Đó là những bất cập từ phân kỳ lịch sử, từ nguyên tắc và phương pháp cấu tạo, hình thức trình bày, việc lựa chọn khối lượng kiến thức cần thiết, phù hợp với đặc điểm nhận thức trình độ của học sinh THCS cho đến việc bỏ qua một số nội dung quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc. Những thiếu sót được bổ khuyết nêu trên cần phải được khắc phục, sửa chữa trong chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới được biên soạn sau năm 2015. Theo đó, việc biên soạn chương trình sách giáo khoa không đơn thuần chỉ là đảm bảo yêu cầu về nội dung kiến thức mà phải đảm bảo tới phù hợp với trình độ nhận thức, đặc điểm của lứa tuổi 22 THCS; đảm bảo được sự tương quan trong mối quan hệ với chương trình Lịch sử bậc THCS; đảm bảo được những kiến thức sai sót, nhầm lẫn được sửa chữa; cơ cấu giữa các nội dung kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam, giữa các khối lớp phù hợp; đảm bảo vận dụng hợp lý nguyên tắc biên soạn và đổi mới phương pháp theo hướng toàn diện về kiến thức, phát triển năng lực cho học sinh thông qua nội dung chương trình, sách giáo khoa Lịch sử mới. - Phương án 2: Thay đổi cơ bản kết cấu của chương trình sách giáo khoa, xây dựng hoàn toàn mới. Theo phương án này, học sinh chỉ học lịch sử văn minh thế giới và lịch sử văn hóa Việt Nam. Theo phương án này, chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS sau năm 2015 sẽ là một chương trình sách giáo khoa hoàn toàn mới và chưa từng tồn tại trước đó. Theo phương án này, kết cấu của chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS mới sẽ có khối lượng kiến thức về lịch sử văn minh chiếm 1/3, còn khối lượng về lịch sử văn hóa Việt Nam chiếm 2/3 cấu trúc chương trình. Với phương án này, việc chương trình sách giáo khoa mới sẽ cung cấp những kiến thức mang tính cụ thể, sinh động trên cơ sở lựa chọn những thành tựu, giá trị văn hóa văn minh tiêu biểu để hình thành những tri thức bước đầu về sự sáng tạo, phát triển của thế giới và Việt Nam. Phương án này có ưu điểm là giúp cho chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới hấp dẫn, dễ tiếp cận hơn đối với người học. Nó không quá nặng nề về kiến thức và đồng thời cũng không chính trị hóa chương trình sách giáo khoa. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng một trong những hạn chế cơ bản của phương án này là sách giáo khoa không phản ánh được một cách khái quát, toàn diện về tiến trình phát triển của lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc mà chỉ có cái nhìn cụ thể. Hơn nữa, do việc lựa chọn những nền văn hóa tiêu biểu, những giá trị văn hóa tiêu biểu để trình bày cho nên sách giáo khoa mới khó có thể giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới. Mặt khác, việc thay đổi và điều chỉnh theo hướng này cũng kéo theo phải điều chỉnh chương trình sách giáo bậc Tiểu học và THPT bởi vì các chương trình sách giáo khoa này được xây dựng trong mối quan hệ với chương trình sách giáo khoa Lịch sử theo nguyên tắc đồng tâm kết hợp với đường thẳng. Đo đó, kết cấu sách giáo khoa THCS không còn theo nguyên tắc này buộc phải điều chỉnh cơ bản gần như hoàn toàn hai bậc học nói trên là rất khó khăn và tốn kém. - Phương án 3: Vận dụng xu thế dạy học tích hợp vào xây dựng chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới bậc THCS với các bộ môn khoa học xã hội khác. Dạy học tích hợp là một hướng tiếp cận trong những xu hướng dạy học hiện đại được nghiên cứu, vận dụng trong xây dựng chương trình, dạy học ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở nước ta, phương án dạy học tích hợp chỉ mới được áp dụng trong thực tiễn với mức độ thấp là liên hệ, phối hợp các kiến thức, kỹ năng trong nhiều bộ môn khác nhau để giải quyết một vấn đề đặt ra trong quá trình dạy học. Dạy học tích hợp chỉ thực sự được đẩy mạnh từ những năm 90 của thế kỷ XX ở Việt Nam và bước đầu đã thực hiện thử nghiệm ở bậc Tiểu học, THCS và cho thấy hiệu quả thực tiễn của việc dạy học theo hình thức này. Do đó, đối với chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS sau năm 2015 có thể coi đây là một phương án để xây dựng, để đổi mới. Theo hướng dạy học tích hợp, chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS sẽ tích hợp với kiến thức thuộc các bộ môn khác như Địa lý, Giáo dục công dân trong môn Khoa học xã hội ở bậc THCS. Tích hợp này ở mức độ liên môn. Lĩnh vực Lịch sử, Địa lý vẫn trình bày theo yêu cầu của lĩnh vực đó. Tuy nhiên cấu trúc của tùng lĩnh vực được xây dựng sao cho có thể hỗ trợ tốt nhất cho các lĩnh vực khác và sau mỗi học kỳ tạo nên 2 đến 3 chủ đề liên kết giữa các lĩnh vực với nhau. Cách xây dựng chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới sau năm 2015 theo hướng tích hợp sẽ hình thành cung cấp kiến thức mang tính toàn diện, tạo được liên hệ giữa khối kiến thức giữa các phân môn, giúp học sinh có thể vận dụng các kiến thức vào thực tiễn. 23 KẾT LUẬN Từ nghiên cứu những vấn đề về chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS hiện hành phục vụ chiến lược đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đề tài rút ra những kết luận cơ bản sau: 1. Chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS hiện hành được coi là văn bản pháp lý căn bản phục vụ dạy học bộ môn Lịch sử hiện nay. Chương trình sách giáo khoa được xây dựng trên cơ sở mục tiêu chung của bậc THCS và đáp ứng mục tiêu cụ thể của bộ môn trên cả ba phương diện kiến thức, kỹ năng và thái độ, tình cảm. Về cơ bản, nội dung, cấu trúc, nguyên tắc và phương pháp biên soạn chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS đáp ứng được yêu cầu cơ bản của chương trình sách giáo khoa bậc THCS. 2. So với chương trình sách giáo khoa trước đó, chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS hiện hành có nhiều ưu điểm vượt trội từ hình thức đến nội dung, nguyên tắc và phương pháp biên soạn. Thế nhưng, trên thực tế dù là công trình được biên soạn với quy trình chặt chẽ và sự tham gia của đông đảo đội ngũ các nhà sư pham, song chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, thiếu sót. Hạn chế, thiếu sót của chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS tập trung trên phương diện nguyên tắc xây dựng, cấu trúc (cách phân kỳ lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới không thống nhất, cấu trúc nội dung kiến thức của phần lịch sử thế giới quá chênh lệch giữa chương trình, sách giáo khoa các lớp, vận dụng nguyên tắc đồng tâm trong cấu trúc một số nội dung chương trình sách giáo khoa chưa hợp lý); về hình thức, phương pháp trình bày (lặp lại gần như cơ bản phương pháp, hình thức sách giáo khoa THPT; quá nặng về chính trị, tính hàn lâm, chưa phản ánh và cung cấp kiến thức mang tính toàn diện cho học sinh; thiếu sót trong lựa chọn một số kiến thức tiêu biểu); về nội dung (phần lịch sử Việt Nam cận hiện đại chiếm khối lượng kiến thức quá lớn so với các nội dung về lịch sử Việt Nam ở các giai đoạn khác; nội dung lịch sử thế giới cận hiện đại trong chương trình còn khá lớn, chưa phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh bậc THCS; chưa xác định rõ yêu cầu về một số nội dung lịch sử thế giới của chương trình, sách giáo khoa Lịch sử lớp 6, lớp 7; tồn tại một số thiếu sót về nội dung). Những thiếu sót, bất cập, hạn chế đó đã làm giảm hiệu quả chương trình sách giáo khoa Lịch sử, gây nên hiện tượng nhàm chán do đó cần được điều chỉnh khắc phục. 3. Từ những vấn đề hạn chế nêu trên, cùng với chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc xây dựng chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới bậc THCS sau năm 2015 được đặt ra. Chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới phải được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục đặc biệt là chiến lược đổi mới căn bản toàn diện giáo dục; Dự thảo đề án đổi mới chương trình sách giáo khoa phổ thông; kế thừa kinh nghiệm từ xây dựng chương trình sách giáo khoa hiện hành; kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển chương trình. Với các cơ sở đó, chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS sau năm 2015 sẽ xây dựng theo định hướng đảm bảo được kiến thức cơ bản về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục các phẩm chất cần thiết của người hoc; chương trình sách giáo khoa phải xây dựng theo quan điểm chuyển từ truyền thụ nội dung sang hình thành các năng lực; tiếp tục nghiên cứu sử dụng nguyên tắc đồng tâm, nguyên tắc đường thẳng hoặc kết hợp cả hai nguyên tắc trong công tác biên soạn; khắc phục những thiếu sót của chương trình sách giáo khoa hiện hành; vận dụng các xu thế mới vào trong biên soạn. Các cơ sở định hướng nêu trên là tiến đề để hình thành về mô hình một chương trình sách giáo khoa Lích sử THCS sau năm 2015. 4. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn chưa có phương án chính thức, cụ thể nào về chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS sau năm 2015 nhưng trên cơ sở những định hướng chung đó, chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS sẽ lựa chọn các phương án dưới đây để biên soạn: Phương án 1, giữa nguyên hình thức học thông sử như hiện nay nhưng giảm khối 24 lượng kiến thức về chính trị, tăng thêm khối lượng kiến thức về kinh tế văn hóa và một số nội dung khác, khắc phục những thiếu sót của chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS hiện hành; Phương án 2, thay đổi cơ bản kết cấu của chương trình sách giáo khoa, xây dựng hoàn toàn mới. Theo phương án này, học sinh chỉ học lịch sử văn minh thế giới và lịch sử văn hóa Việt Nam; Phương án 3, vận dụng xu thế dạy học tích hợp vào xây dựng chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới bậc THCS với các bộ môn khoa học xã hội khác. Một trong ba phương án nêu trên có thể là mô hình của sách giáo khoa Lịch sử THCS sau năm 2015.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnghiencuuchuongtrinhsachgiaokhoalichsu_0599.pdf
Luận văn liên quan