Nghiên cứu hiệu quả sử dụng dung dịch điện hoạt hoá anolit và catolit trong chăn nuôi gà tại Thái Nguyên

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong vài thập kỷ qua, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Trong đó chăn nuôi gia cầm nói riêng chiếm một vị trí quan trọng trong việc cung cấp sản phẩm thịt trứng cho xã hội. Theo Hoàng Kim Giao (2005) [4] trong những năm gần đây tốc độ tăng đầu con của đàn gia cầm từ năm 1990 đến năm 2000 là 5%/năm, năm 2002 so với năm 2001 là 6,69%, năm 2003 so với năm 2002 là 8,9%. Tổng đàn gia cầm trong cả nước 179,3 triệu con năm 1990; 215,8 triệu con năm 2001; 233,29 triệu con 2002; 254,057 triệu con năm 2003. Sản lượng thịt gia cầm 151,7 nghìn tấn năm 1990 tăng lên 261,8 nghìn tấn năm 1999; 338,4 nghìn tấn 2002; 372 nghìn tấn 2003. Sản lượng trứng 1,9 tỷ quả /năm 1990 tăng lên 3,71 tỷ quả năm 2000; 4,53 tỷ quả 2002; 4,85 tỷ quả 2003. Cả nước có 2.260 trang trại trong đó có 119 trang trại giống, 12 trang trại giống gốc do Trung ương quản lý và 16 cơ sở của các địa phương quản lý. Hình thức chăn nuôi gia cầm của Việt Nam trong những năm gần đây: 85% số nông hộ chăn nuôi gia cầm (có thể chuyên, thường xuyên hoặc chỉ một thời gian ngắn), 15% gia cầm được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, 20% gia cầm được chăn nuôi theo phương thức bán công nghiệp, 65% số gia cầm được chăn nuôi theo phương thức truyền thống, 80% gà công nghiệp thuộc sự quản lý của nước ngoài, 75% gà thả vườn (bán công nghiệp) thuộc quản lý của các Công ty Việt Nam và các nông hộ. Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học để chọn lọc ra những giống gia cầm nhập nội, năng suất chất lượng cao như gà công nghiệp, gà chăn thả, vịt siêu thịt, vịt siêu trứng, ngan Pháp, chim bồ câu Pháp, đà điểu; đã được đưa vào ứng dụng rộng rãi trong thực tế. Các kết quả nghiên cứu trong chăn nuôi và phòng trị bệnh đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gia cầm. Ở Việt nam hiện nay chăn nuôi gà ngày càng được đẩy mạnh và phát triển rộng khắp trong phạm vi cả nước từ thành phố, tỉnh, huyện, đến các hộ nông dân. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về sản phẩm thịt gà như: Thịt gà chắc, thơm ngon, không có thuốc kháng sinh . Mặt khác các giống gà phải phát huy tốt trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp và bán chăn thả tình hình dịch bệnh diễn ra ngày càng phức tạp. Từ năm 1996 Việt Nam đã nhập một số giống gà lông màu thả vườn có năng suất khá cao, chất lượng thịt tốt hợp thị hiếu người tiêu dùng và thích hợp với điều kiện chăn nuôi bán công nghiệp như gà Kabir, gà Tam Hoàng, Lương Phượng . Trong đó giống gà Lương Phượng có xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng, đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn chục năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài. Gà Lương Phượng có dáng bề ngoài gần giống với gà Ri của Việt Nam, lông màu vàng. Gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt, hoặc nuôi thả ở vườn, ngoài đồng, trên đồi. Môi trường chăn nuôi và công tác vệ sinh phòng bệnh có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng và hiệu quả thành công hay thất bại của việc chăn nuôi gà đặc biệt là trong tình hình hiện nay dịch cúm gia cầm đang có khả năng bùng phát bất cứ lúc nào, nơi đâu khi không đảm bảo thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng dịch. Sử dụng dung dịch điện hoạt hoá với tính năng khử trùng tương đối hiệu quả và đặc tính an toàn với người sử dụng và vật nuôi cũng là một biện pháp phòng trừ dịch bệnh trong chăn nuôi hiện nay. Nhằm góp phần đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng dung dịch điện hoạt hoá đến khả năng sinh trưởng, sinh sản của gà tìm ra biện pháp tối ưu để sử lý môi trường vệ sinh phòng bệnh thích hợp, rẻ tiền, an toàn sinh học có lợi cho sức khoẻ người tiêu dùng sản phẩm, người trực tiếp chăn nuôi từ đó đem lại lợi ích kinh tế cao nhất trong sản xuất. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:"Nghiên cứu hiệu quả sử dụng dung dịch điện hoạt hoá anolit và catolit trong chăn nuôi gà tại Thái Nguyên" 2. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá tác dụng của dung dịch điện hoạt hoạt hoá anolit và catolit với môi trường chăn nuôi gà. - Nghiên cứu tác dụng hiệu quả của dung dịch anolit và catolit đến khả năng sản xuất và sức đề kháng của gà được nuôi tại Thái Nguyên. 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Qua sử dụng dung dịch điện hoạt hoá, đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường chuồng nuôi gà đối với một số loại khí độc và một số loại vi khuẩn. - Đánh giá tác dụng của dung dịch anolit và catolit đến khả năng sinh sản, sinh trưởng của gà nuôi tại Thái Nguyên. - Bổ xung thông tin cho các nghiên cứu nhằm tìm ra các biện pháp chăn nuôi gà hiệu quả kinh tế cao trong môi trường chăn nuôi bền vững.

pdf87 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 04/06/2013 | Lượt xem: 2081 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu hiệu quả sử dụng dung dịch điện hoạt hoá anolit và catolit trong chăn nuôi gà tại Thái Nguyên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfNghiên cứu hiệu quả sử dụng dung dịch điện hoạt hoá anolit và catolit trong chăn nuôi gà tại Thái Nguyên.pdf
Luận văn liên quan