Những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh” là gì ? 1.2. “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc” là gì ? II. Những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 1. Cơ sở lí luận 1.1. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng 2. Cơ sở thực tiễn 2.1 Nền tảng văn hóa Viêt Nam : truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam 2.2. Tổng kết những kinh nghiệm thực tế của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên thế giới a. Tổng kết phong trào cách mạng ở Việt Nam b. Tổng kết phong trào cách mạng trên thế giới c. Tổng kết kinh nghiệm từ cách mạng tháng 10 Nga 2.3. Kế thừa tư tưởng đoàn kết trong kho tàng văn hóa nhân loại 2.4.Yếu tố chủ quan từ bản thân Hồ Chí Minh III . Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 3.1. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng 3.2. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng 3.3. Đại đoàn kết dân tộc để thực hiện khối đoàn kết toàn dân 3.4. Đại đoàn kết dân tộc trở thành sức mạnh vật chất, có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng IV. Vận dụng tư tưởng Đại đoàn kết của Hồ Chí Minh trong thực tiễn hiện nay KẾT LUẬN

doc10 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 21/02/2013 | Lượt xem: 3389 | Lượt tải: 7download
Tóm tắt tài liệu Những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC MỞ ĐẦU NỘI DUNG I. Một số khái niệm : 1.1. “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là gì ? 1.2. “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc” là gì ? II. Những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 1. Cơ sở lí luận 1.1. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng 2. Cơ sở thực tiễn 2.1 Nền tảng văn hóa Viêt Nam : truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam 2.2. Tổng kết những kinh nghiệm thực tế của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên thế giới a. Tổng kết phong trào cách mạng ở Việt Nam b. Tổng kết phong trào cách mạng trên thế giới c. Tổng kết kinh nghiệm từ cách mạng tháng 10 Nga 2.3. Kế thừa tư tưởng đoàn kết trong kho tàng văn hóa nhân loại 2.4.Yếu tố chủ quan từ bản thân Hồ Chí Minh III . Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 3.1. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng 3.2. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng 3.3. Đại đoàn kết dân tộc để thực hiện khối đoàn kết toàn dân 3.4. Đại đoàn kết dân tộc trở thành sức mạnh vật chất, có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng IV. Vận dụng tư tưởng Đại đoàn kết của Hồ Chí Minh trong thực tiễn hiện nay KẾT LUẬN MỞ ĐẦU Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc ta và của nhân loại, đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, một hệ thống tư tưởng về nhiều mặt. Trong đó tư tưởng về đại đoàn kết là tư tưởng nổi bật, có giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc ta và của toàn nhân loại. Đấy là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận và trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh và đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc. NỘI DUNG I. Một số khái niệm : 1.1. “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là gì ? Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. 1.2. “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc” là gì ? Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là hệ thống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục. Tập hợp và tổ chức cách mạng và tiến bộ nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Nói một cách khác, đó là tư tưởng xây dựng, củng cố, mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai đoạn, giải phóng con người. II. Những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nguồn gốc từ nhiều yếu tố và được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển biện chứng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là chủ nghĩa Mác – Lênin đã được vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng. 1. Cơ sở lí luận 1.1. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò là lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc, liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng. Lênin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết là liên minh giai cấp công nhân là hết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản. Rằng nếu không có sự đồng tình và ủng hộ của đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó, tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được. Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới để từ đó chuyển hóa thành hệ thống tư tưởng của mình về đại đoàn kết dân tộc. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Nền tảng văn hóa Viêt Nam : truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam Từ ngàn đời nay, đối với người Việt Nam tinh thần yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết trở thành đức tính, lẽ sống, tình cảm tự nhiên của mỗi người. Đó là những triết lý nhân sinh : “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” hay “nước mất, nhà tan”. Truyền thống ấy được thể hiện ngày càng sinh động qua các thời kỳ lịch sử như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung và đều được nâng lên thành phép đánh giặc giữ nước, thành kế xây dựng quốc gia xã tắc vững bền. Hồ Chí Minh đã sớm tiếp thu được những giá trị truyền thống của dân tộc.Tinh thần ấy, tình cảm ấy theo thời gian đã trở thành lẽ sống của mỗi con người Việt Nam, chúng làm cho vận mệnh mỗi cá nhân gắn chặt vào vận mệnh của cộng đồng, vào sự sống còn và phát triển của dân tộc. Chúng là cơ sở của ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần dũng cảm hy sinh vì dân, vì nước của mỗi con người Việt Nam, đồng thời là giá trị tinh thần thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng và của mỗi cá nhân trong quá trình dựng nước và giữ nước, làm nên truyền thống yêu nườc, đoàn kết của dân tộc. Dù lúc thăng, lúc trầm nhưng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam bao giờ cũng là tinh hoa đã được hun đúc và thử nghiệm qua hàng nghìn năm lịch sử chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc của ông cha ta. Đề cập đến chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”. Rõ ràng truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết là cơ sở quan trọng; cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. 2.2. Tổng kết những kinh nghiệm thực tế của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên thế giới Không chỉ được hình thành từ những cơ sở lý luận suông, tư tưởng này còn xuất phát từ thực tiễn lịch sử của dân tộc và nhiều năm bôn ba khảo nghiệm ở nước ngoài của Hồ Chí Minh a. Tổng kết phong trào cách mạng ở Việt Nam Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, mở đầu cho thời kỳ cai trị và áp bức của chúng đối với dân tộc ta trong suốt gần 80 năm trời ròng rã. Nhưng cũng chính trong vòng gần 80 năm đó, chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc lại sôi nổi hơn bao giờ hết. Nó kết thành một làn sóng vô cùng to lớn, mạnh mẽ, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn thông qua các xu hướng khác nhau để cứu nước dù cuối cùng tất cả các xu hướng đó đều bị thất bại. ( như các phong trào yêu nước như Cần Vương, Văn Thân, Yên Thế cuối thế kỷ XIX, đến các phong trào Đông Du, Duy Tân, chống thuế đầu thế kỷ XX ). Hồ Chí Minh đã cảm nhận được những hạn chế trong chủ trương tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối, đặc biệt là trong vấn đề tập hợp lực lượng (như cụ Phan Bội Châu chủ trương tập hợp 10 hạng người chống Pháp là : quý hào, quý tộc, nhi nữ, anh sĩ, du đồ, hồi đảng, thông ngôn, kí lục, bồi bếp, tín đồ thiên chúa giáo nhưng thiếu công nhân và nông dân) và trong việc nắm bắt những đòi hỏi khách quan của lịch sử trong giai đọan này, Người rút ra những bài học kinh nghiệm đấu tranh không thể không có sự đoàn kết chặt chẽ của những người cùng khổ thành khối vững chắc,và Người cũng thấy rõ yêu cầu khách quan của sự đoàn kết thống nhất trên cơ sở có đường lối đấu tranh cách mạng đúng đắn, khoa học. Bởi vậy, vấn đề đoàn kết dân tộc luôn được Người xem như vấn đề cót lõi trong quá trình đấu tranh của nhân dân ta sau này. b. Tổng kết phong trào cách mạng trên thế giới Bước chân ra đi tìm đường cứu nước từ Bến cảng Nhà Rồng. Từ 1911 đến 1941 Hồ Chí Minh đã đi đầu khắp hết các châu lục. Cuộc khảo nghiệm thực tiễn rộng lớn và công phu đã giúp Người nhận thức một sự thực: “Các dân tộc thuộc địa tiềm ẩn một sức mạnh vĩ đại, song cuộc đấu tranh của họ chưa đi đến thắng lợi bởi vì các dân tộc bị áp bức chưa biết tập hợp lại, chưa có sự liên kết chặt chẽ với giai cấp công nhân ở các nước tư bản, đế quốc, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức…” . Chính bài học này đã giúp Người có thêm kinh nghiệm để lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau này. c. Tổng kết kinh nghiệm từ cách mạng tháng 10 Nga CMT10 Nga thành công (1917) đã soi sáng mọi trái tim yêu nước trên khắp thế giới. Trở thành “ngọn hải đăng” soi sáng những “con tàu” cách mạng đang lạc tay lái lúc bấy giờ. Đối với Hồ Chí Minh thì đây là bước ngoặt quyết định trong việc chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, dân chủ cho nhân dân. Đến với Lê-nin, đến với cách mạng tháng Mười Nga, từ chỗ chi tiết đến CMT10 một cách cảm tính, Người đã nghiên cứu để hiểu một cách thấu đáo con đường CMT10 và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đã mang lại cho phong trào cách mạng thế giới. Hồ Chí Minh nhận ra nhiều yếu tố, nhiều điều mới trong đó nếu những người Bôn-Sê-Vích Nga không thực hiện đoàn kết rộng rãi thì không thể đánh thắng 14 nước đế quốc, không thắng nổi thù trong, giặc ngoài để bảo vệ Nhà nước Xô Viết non trẻ đầu tiên vừa mới ra đời – đây là bài học cho sự huy động, tập hợp, đoàn kết lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng. Chính những điều trên đã giúp Người hiểu sâu sắc thế nào là một cuộc “cách mạng đến nơi” để chuẩn bị lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi vào con đừơng cách mạng những năm sau này. 2.3. Kế thừa tư tưởng đoàn kết trong kho tàng văn hóa nhân loại Là một người có vốn hiểu biết phong phú ở nhiểu lĩnh vực, tiêp thu với nkho tang văn hóa nhân loại, Hồ Chí Minh đã “gạn đục khơi trong”, tiếp thu tư tưởng “đại đồng”, nhân ái, thương người như thể thương thân, nhân – nghĩa trong thuyết Nho giáo. Bên cạnh đó, Người cũng đã tiếp thu tư tưởng lục hòa, cư xử hòa hợp giữa người với người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa con người với tự nhiên của Phật giáo. Người cũng đặc biệt chú ý đến cuộc cách mạng của nước anh em Trung Quốc mà đặc biệt là “thuyết tam dân”, chủ trương đoàn kết 400 dòng học người Trung Quốc, không phân biệt giàu nghèo, chống thực dân Anh; chủ trương liên Nga, dung Cộng, ủng hộ Công – Nông để đưa cách mạng Trung Quốc đến thắng lợi cuối cùng. Những yếu tố nnày cũng ảnh hưởng một phần không nhỏ đối với quá trình hình thành tư tưởng của Người về đại đoàn kết dân tộc. 2.4. Yếu tố chủ quan từ bản thân Hồ Chí Minh Một quan điểm được đưa ra nếu không được sự ủng hộ, tin cậy của mọi người thì khó mà trở thành một tư tưởng lớn. Nhưng ở Hồ Chí Minh thì Người có một lòng yêu nước thương dân vô bờ bến, trọng dân, tin dân, kính dân, hiểu dân, trên cơ sở nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý. Người luôn chủ trương thực hiện dân quyền, dân sinh, dân trí, dân chủ. Chính vì vậy, Người được dân yêu, dân tin, dân kính phục; xem như vị cha già của cả dân tộc. Đó chính là cơ sở của mọi tư tưởng sáng tạo của Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng Đại đoàn kết của Người III . Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 3.1. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta. Người cho rằng: “muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động phải tự mình cứu lấy mình bằng đấu tranh vũ trang cách mạng, bằng cách mạng vô sản”. Đoàn kết không phải là thủ đoạn chính trị nhất thời mà tư tưởng đoàn kết là tư tưởng cơ bản, nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Đoàn kết quyết định thành công cách mạng vì: đoàn kết tạo nên sức mạnh, là then chốt của thành công. Muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải có lực lượng đủ mạnh, muốn có lực lượng phải quy tụ cả dân tộc vào một mối thống nhất. Giữa đoàn kết và thắng lợi có mối quan hệ chặt chẽ, qui mô, mức độ của thành công. Đoàn kết phải luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng. Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh rằng “đoàn kết là sức mạnh”. Tại sao Pháp – một đất nước có ưu thế về vật chất, về phương tiện chiến tranh hiện đại lại phải thua một Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu trong cuộc chiến xâm lược? Đó là vì đồng bào Việt Nam đã đoàn kết như chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ. Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước. Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng vững chắc xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người có ý nghĩa chiến lược. Đó là một tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.Điều này được thấy rõ qua tình hình lịch sử của nước ta ngay sau khi dành được độc lập dân tộc, khi đó trong ngân hàng nước ta chỉ có 2 vạn đồng tiền rách, tình trạng dân số thì có đến 98% là mù chữ, các tổ chức cách mạng thì mới bắt đầu được hình thành, 2,5 triệu dân chết đói, thực dân Anh thì nhăm nhe vào nước ta để giải rác vũ khí, Pháp quay lại xâm lược, Tưỏng vào giải rác vũ khí, Mỹ chống phá, Nhật chống phá, trong nước thì việt quốc, việt cách nổi dậy. Một chính phủ mới thành lập mà đã vấp phải nhiều khó khăn và đặc biệt là không được sự thừa nhận của thế giới., tình hình nước ta đang rơi vào tình cảnh ngàn cân treo sợi tóc. Trước hoàn cảnh đó Hồ Chí Minh đã ký 2 hiệp ước quan trọng 14-9 và 6-3, với 2 hiệp ước này thì dân tộc việt nam đã có được điều kiện để chuẩn bị lực lượng, đồng thời loại được bớt được kẻ thù là Mỹ, Anh và Tưởng. Độc lập dân tộc là bất biến và tất cả những hiệp ước hay tạm ước chỉ là những sách lược để phục vụ cho một tư tưỏng cơ bản xuyên suốt đó là độc lập dân tộc và đại đoàn kết toàn dân. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh cứ khi nào dân tộc Việt Nam đoàn kết thì ta dành độc lập và khi nào nước ta đánh mất sự đoàn kết thì sẽ bị mất chủ quyền. Hồ Quý Ly là một trong những ông vua giỏi nhất trong lịch sử Việt Nam nhưng cũng là người lãnh đạo cuộc kháng chiến thất bại nhanh nhất trong lịch sử Việt Nam khi quân Minh xâm lược, bởi ông đã không đoàn kết được toàn dân. Để thấy rõ hơn vị trí của sức mạnh lực lượng toàn dân đoàn kết trong thắng lợi của Cách Mạng Tháng Tám, chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra: “Vì sao có cuộc thắng lợi đó?Một phần là vì tình hình quốc tế thuận lợi cho ta. Nhất là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo là cờ Việt Nam để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc. Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai thắng được lực lượng đó” .Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Và Người khuyên dân ta rằng: “Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh trở thành vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Đó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng nhân dân, nhằm hình thành sức mạnh to lớn của cả dân tộc trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc và giai cấp. Chân lí đó được tổng kết thành những luận điểm có tính chân lí, như: “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”… Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kì phát triển của cách mạng có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách, phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những đối tượng khác nhau trong cộng đồng các dân tộc. Có như vậy, chiến lược đại đoàn kết mới phát huy hết vai trò tích cực của mình. 3.2. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của cách mạng là đại đoàn kết dân tộc. Mục tiêu tổng quát của toàn bộ cách mạng Việt Nam theo Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Để thực hiện mục tiêu đó, Người đã đề ra nhiều mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phải giải quyết trong từng thời kỳ, giai đoạn. Trong Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc :”Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm 8 chữ là : “Đoàn kết toàn dân, phụng sự tổ quốc”; nhiệm vụ là tuyên truyền, huấn luyện làm sao cho nhân dân hiểu và làm được, ví dụ: “Một là đoàn kết. Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”. Chỉ có như vậy mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng mới trở thành mục tiêu, nhiệm vụ của cả dân tộc và đại đoàn kết dân tộc mới trở thành một đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng. Cũng theo Người, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Bởi đại đoàn kết dân tộc chỉ có được khi nó là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng. Chỉ khi quần chúng nhân dân nhận thức được, muốn hoàn thành sự nghiệp cách mạng của mình, do mình và vì mình. Nhưng muốn thực hiện tất cả các mục tiêu đó thì phải phát huy được lực lượng của toàn dân, nghĩa là phải xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy, mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của cách mạng phải là xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. 3.3. Đại đoàn kết dân tộc để thực hiện khối đoàn kết toàn dân Trong tư tưởng Hồ Chí Minh các khái niệm đồng nghĩa thường được dùng là dân, nhân dân, đồng bào, quần chúng nhân dân, quốc dân,... Ở đây khái niệm “dân” được dùng với tư cách là khái niệm chung cho tất cả. Khái niệm “dân” vừa được hiểu là một tập hợp đông đảo quần chúng, vừa được hiểu theo là mỗi con người Việt Nam cụ thể và dùng để chỉ mọi con dân nước Việt, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, quý, tiện, tín ngưỡng,...hay nói cách khác “dân” là chủ thể của đại đoàn kết dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc là cơ sở để thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân, vậy nên để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, Người đã đưa ra những yêu cầu mang tính nguyên tắc sau: cần phải huy động và tập hợp được mọi người dân Việt Nam đang sống ở trong hay ngoài nước, vào khối đại đoàn kết nhằm thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc. Muốn làm được điều đó phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng với con người và cần xóa bỏ mọi định kiến, cách biệt. “Bất kì ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta vẫn thật thà đoàn kết với họ”. Đại đoàn kết dân tộc mở rộng cửa để đón tiếp những người lầm đường, lạc lối mà biết ăn năn hối cải. Theo Người, “ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”. Điều quy tụ mọi người vào khối đại đoàn kết dân tộc là nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc, là cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân và nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc cũng đồng thời là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân – là liên minh công nông và lao động trí óc. 3.4. Đại đoàn kết dân tộc trở thành sức mạnh vật chất, có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng Theo Hồ Chí Minh, dân tộc hay quần chúng nhân dân khi chưa được tổ chức và giác ngộ về lợi ích, mục tiêu, lí tưởng thì chỉ là số đông chưa có sức mạnh; nhưng khi được tổ chức, giác ngộ và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn sẽ trở thành sức mạnh vô địch. C.Mác chia vô sản làm 2 loại là vô sản cách mạng và vô sản lưu manh. Quần chúng nhân dân đã được giác ngộ, được tổ chức và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn thì đó là vô sản cách mạng; nếu không thể có tổ chức, lãnh đạo thì chỉ là vô sản lưu manh. Do vậy, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng ta là phải quy tụ quần chúng nhân dân vào 1 tổ chức yêu nước là Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận dân tộc thống nhất là tổ chức thể hiện sức mạnh vật chất của khối đại đoàn kết dân tộc. Tên gọi của Mặt trận có thể có nhiều sự khác nhau, như: Hội phản đế đồng minh(1930), Mặt trận dân chủ(1936), Mặt trận nhân dân phản đế(1939), Mặt trận Việt Minh(1941), Mặt trận Liên Việt(1946), Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam(1960), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam(1955 và 1976); nhưng chỉ có chung 1 mục đích: là 1 tổ chức chính trị rộng rãi tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức và cá nhân yêu nước ở trong và ngoài nước, phấn đấu vì mục tiêu độc lập, thống nhất của Tổ quốc. Mục tiêu như thế, nên Mặt trận dân tộc thống nhất được xây dựng và hoạt động theo những nguyên tắc sau : Thứ nhất, Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công nông( sau này Hồ Chí Minh thêm là liên minh công - nông - lao động trí óc), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đảng Cộng sản vừa là thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc. Muốn lãnh đạo được, Đảng phải tiêu biểu cho trí tuê, danh dự và lương tâm của dân tộc và thời đại, phải thực sự đoàn kết nhất trí. Đảng phải là tổ chức chính trị cao nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là bộ tham mưu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc. Hồ Chí Minh phân tích cặn kẽ: "Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng thừa nhận rộng rãi chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo".Từ đó Mặt trận được mở rộng và thực sự quy tụ cả dân tộc, tập hợp toàn dân, kết thành 1 khối vững chắc. Thứ hai, Mặt trận dân tộc thống nhất hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và không ngừng mở rộng. Tổ quốc độc lập và thống nhất, xã hội giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là lợi ích tối cao của dân tộc. Vấn đề là phải làm thế nào để mọi người đặt lợi ích tối cao của dân tộc lên trên hết và trước hết. Những lợi ích riêng của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân nếu chính đáng và phù hợp với lợi ích chung thì cần phải được tôn trọng, nếu không thì sẽ dần dần được giải quyết bằng nhận thức về mối quan hệ giữa lợi ích chung và riêng. Thứ ba, đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thật sự, chân thành, thân ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đó là sự đoàn kết chặt chẽ với các tầng lớp nhân dân, các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ, các tôn giáo…trong Mặt trận, thực hiện hợp tác lâu dài, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân. Phương châm đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là: “Cầu đồng tồn dị” – lấy cái chung , đề cao cái chung, để hạn chế cái riêng, cái khác biệt. Đầu năm 1951, tại hội nghị đại biểu Mặt trận Liên – Việt toàn quốc, Bác nói: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác… Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Bác chỉ rõ: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”. Bác còn nhấn mạnh: “Đoàn kết rộng rại, chặt chẽ, đồng thời phải củng cố. Nền có vững, nhà mới chắc chắn, gốc có tốt thì cây mới tốt tươi. Trong chính sách đoàn kết phải chống hai khuynh hướng sai lầm: cô độc, hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc”. Cũng tại đại hội đó, Bác còn phát biểu: “Tôi rất sung sướng được lãnh cái trách nhiệm kết thúc lễ khai mạc của Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt. Lòng sung sướng ấy là của chung toàn dân, của cả Đại hội, nhưng riêng cho tôi là một sự sung sướng không thể tả, một người đã cùng các vị tranh đấu trong bấy nhiêu năm cho khối đại đoàn kết toàn dân. Hôm nay, trông thấy rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa kết quả và gốc rễ của nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân, và nó có một cái tương lai “trường xuân bất lão”. Vì vậy cho nên lòng tôi sung sướng vô cùng.” Người đã nói lên không chỉ niềm vui vô hạn trước sự lớn mạnh của Mặt trận dân tộc thống nhất, mà còn là sự cần thiết phải mở rộng và củng cố Mặt trận cũng như niềm tin vào sự phát triển bền vững của khối đại đoàn kết dân tộc lâu dài về sau. Điều này được thể hiện trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, khi Hồ Chí Minh còn sống cũng như sau khi Người đã mất. IV. Vận dụng tư tưởng Đại đoàn kết của Hồ Chí Minh trong thực tiễn hiện nay Không chỉ có ý nghĩa đối với thời chiến, mà ngay ở thời bình, tư tưởng Đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh cũng đã phát huy được những giá trị to lớn. Những năm của thế kỷ 21, trên thế giới đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá kinh tế với những tác động sâu sắc tới các lĩnh vực khác của đời sống quốc tế. Trào lưu nhất thể hoá khu vực và toàn cầu hoá kinh tế đã đặt các nước đang phát triển và chậm phát triển đứng trước sự lựa chọn hết sức khó khăn, không hội nhập với khu vực và thế giới sẽ dẫn đến hệ quả tất yếu là bị loại ra khỏi cuộc chạy đua kinh tế toàn cầu, với tất cả hậu quả của nói mà hội nhập tức là chấp nhận cuộc cạnh tranh không cân sức. Tuy nhiên, vì lợi ích phát triển, tuyệt đại đa số các nước đang phát triển và chậm phát triển đều chấp nhận sự cạnh tranh này. Bởi vậy cần có sự chung sức, đồng lòng của cả dân tộc vào công cuộc này. Và thực tế nước ta đã chứng minh được trong những năm qua cả dân tộc ta đã cùng nhau “kề vai sát cánh” xây dựng Đất nước, minh chứng là việc Việt Nam gia nhập WTO hay trở thành ủy viên thường trực của Hội đồng Liên hợp quốc… Không chỉ về đối ngoại mà còn có cả đối nội. Trong thời kì biến động của thế giới, nhiều thế lực thù địch đã không ngừng chống phá nước ta bằng con đường ngoaị giao, nhưng tất cả đều bị thất bại bởi tinh thần đoàn kết của nhân dân ta đã được phát huy dưới sự lãnh đạo của Đảng… Trận lũ lịch sử ở miền Trung vừa qua cũng chính là một minh chứng cho tinh thần đại đoàn kết của cả dân tộc, cả nước hướng về miền Trung ruột thịt từng giờ, từng phút. Những lá thư, những gói mì tôm, những bộ quần áo,….tất cả đã nói lên sự “chung sức đồng lòng” của cả dân tộc Việt. Và cho đến sau này tinh thần ấy, sức mạnh ấy vẫn sẽ mãi trường tồn cùng thời gian. KẾT LUẬN Qua những phân tích trên ta có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết có một vai trò cực kỳ quan trọng. Nó không chỉ là lời giải đáp đúng đắn cho những bài toán của cách mạng vào thời điểm đó mà trong suốt chiều dài lịch sử nó vẫn giữ nguyên giá trị. Thực tiễn cách mạng Việt Nam trên 70 năm qua đã chứng minh hùng hồn sức sống kỳ diệu và sức mạnh vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Ở thời điểm dân tộc ta đang bước vào thế kỷ XXI những thời cơ và thách thức đan xen nhau đang thường xuyên tác động đến khối đại đoàn kết dân tộc. Hơn lúc nào hết, thực tiễn đất nước đòi hỏi chúng ta phải quán triệt những quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, phải vận dụng sáng tạo và tiếp tục phát triển những quan điểm ấy, phù hợp với những biến đổi của tình hình mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc sẽ ngày càng phát triển, hoàn thiện cùng với thực tiễn biến đổi của đất nước. Tư tưởng ấy vẫn là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam để đi tới thắng lợi hoàn toàn và triệt để của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO -------- *** -------- Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Trang web : www.tapchicongsan.org.vn Trang web : www.vi.Wikipedia.org/Wiki

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNhững cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.doc