Nội dung cải cách bộ máy nhà nước chủ nghĩa xã hội Việt Nam

Nhà nước pháp quyền là thiết chế của nền dân chủ, là thành quả phát triển của nhân loại. Đó là nhà nước lấy nhân dân làm chủ thể, lấy pháp luật làm tiêu chí để quản lý xã hội. Cốt lõi của tư tưởng, quan điểm về Nhà nước pháp quyền XHCN chính là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; quản lý xã hội và quản lý chính bản thân mình bằng pháp luật. Không một thể chế nhà nước và xã hội nào có thể đứng trên pháp luật và đứng ngoài pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức và công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của luật pháp. Mọi quyết định của cơ quan công quyền phải hợp pháp. Cán bộ, công chức trong thực thi công vụ phải lấy pháp luật làm chuẩn mực. Do đặc thù của thể chế chính trị, do đặc điểm truyền thống của các dân tộc và do những nguyên nhân khác nhau, Nhà nước pháp quyền không có khuôn mẫu chung cho mọi quốc gia. Để tránh nguy cơ độc đoán, chuyên quyền, nhiều nước phân chia quyền lực nhà nước thành 3 nhánh quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, với phương châm dùng quyền lực kiểm tra, giám sát quyền lực. Trong quá trình hoạt động, các cơ quan này kiểm soát lẫn nhau, bảo đảm sự cân bằng quyền lực, tránh tình trạng lạm quyền, lấn át của quyền này đối với quyền khác. Ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không độc lập, càng không đối lập, mà thống nhất với nhau trên cơ sở đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về tính chất, mối quan hệ và hoạt động của ba quyền này là sự phân công, phối hợp để thực hiện nhiệm vụ chung. Vì vậy, cần có sự phân định rành mạch, khoa học để các cơ quan thực hiện các quyền phát huy tính năng động, sáng tạo, hoạt động đúng thẩm quyền, và tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Đồng thời, có sự phối hợp, kiểm tra lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện các quyền để phát huy hiệu lực chung của quyền lực nhà nước thống nhất. Cải cách hành chính (CCHC) do đó cần được tổ chức triển khai toàn diện, đồng bộ, gắn kết với cải cách lập pháp và cải cách tư pháp. Lời mở đầu 3 I-CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 4 1.Khái niệm về nền hành chính quốc gia 4 2.Mục tiêu tiến trình cải cách hành chính . 4 3.Những nội dung chủ yếu của pháp luật cải cách hành chính .5 3.1.Cải cách thể chế . 5 3.2.Cải cách tổ chức bộ máy hành chính . 6 3.3.Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức . 8 3.4.Cải cách tài chính công . 9 4. Kết luận 10 II-CẢI CÁCH TƯ PHÁP . 11 1.Mục tiêu của cải cách tư pháp . 11 2.Phương thức thực hiện cải cách 12 3.Phương pháp tiến hành 12 4. Kết luận 16 III-CẢI CÁCH LẬP PHÁP 16 1.Sự vận động của hệ thống pháp luật Việt Nam 16 2. Tổ chức hoạt động của Quốc hội và nhiệm vụ lập pháp 17 3. Những vấn đề đặt ra đối với cải cách lập pháp 18 4. Kết luận 20

doc21 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 09/03/2013 | Lượt xem: 6352 | Lượt tải: 16download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nội dung cải cách bộ máy nhà nước chủ nghĩa xã hội Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nước thành 3 nhánh quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, với phương châm dùng quyền lực kiểm tra, giám sát quyền lực. Trong quá trình hoạt động, các cơ quan này kiểm soát lẫn nhau, bảo đảm sự cân bằng quyền lực, tránh tình trạng lạm quyền, lấn át của quyền này đối với quyền khác. Ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không độc lập, càng không đối lập, mà thống nhất với nhau trên cơ sở đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về tính chất, mối quan hệ và hoạt động của ba quyền này là sự phân công, phối hợp để thực hiện nhiệm vụ chung. Vì vậy, cần có sự phân định rành mạch, khoa học để các cơ quan thực hiện các quyền phát huy tính năng động, sáng tạo, hoạt động đúng thẩm quyền, và tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Đồng thời, có sự phối hợp, kiểm tra lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện các quyền để phát huy hiệu lực chung của quyền lực nhà nước thống nhất. Cải cách hành chính (CCHC) do đó cần được tổ chức triển khai toàn diện, đồng bộ, gắn kết với cải cách lập pháp và cải cách tư pháp. CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH  Nền hành chính có chức năng thực thi quyền hành pháp - tổ chức thi hành pháp luật và quản lý, điều hành mọi hoạt động trên các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm chuyển hoá chủ trương, đường lối của lực lượng cầm quyền thành hiện thực, bảo đảm cho các chủ thể quan hệ pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác luật pháp. Vì nền hành chính ra đời, tồn tại và thay đổi theo sự hình thành, phát triển của Nhà nước nên CCHC phải xuất phát từ tính chất riêng biệt của hệ thống chính trị, từ hoàn cảnh lịch sử và thực tế đời sống chính trị – kinh tế - xã hội mỗi nước. Bản thân nền hành chính nhà nước của Việt Nam đựơc hình thành và vận hành qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, tuy đã có nhiều đóng góp cho việc quản lý đất nước, nhưng thực tế cũng cho thấy, khi bước vào thời kỳ hòa bình xây dựng và trước đòi hỏi quản lý nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, nó ngày càng bộc lộ nhiều khuyết tật có tính cố hữu, ngày càng bộc lộ sự xa dân, quan liêu. Đặc biệt bộ máy rất cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực và hiệu quả, thủ tục điều hành rất nặng nề, gây phiền hà cho dân. Chế độ và trách nhiệm công vụ không rõ ràng, thiếu minh bạch. Cán bộ, công chức có nhiều người sách nhiễu dân, lãng phí và tham nhũng ngày càng nên phổ biến, có tổ chức và trở thành quốc nạn. Như vậy, Việt Nam muốn phát triển không thể nào không tiến hành cải cách để đổi mới nền hành chính nhà nước. Trong nhiều văn kiện chính thức của mình, Đảng cộng sản Việt Nam nhận định rằng, nếu không cải cách nền hành chính thì sự tồn vong của chế độ sẽ bị ảnh hưởng là điều chắc chắn. Khái niệm về nền hành chính quốc gia Nền hành chính nhà nước (hay gọi là nền hành chính công, nền hành chính quốc gia) là tổng thể các tổ chức và định chế hoạt động của bộ máy hành pháp, có trách nhiệm quản lí công việc công hàng ngày của nhà nước; do các cơ quan có tư cách pháp nhân công quyền tiến hành bằng các văn bản dưới luật, nhằm thực thi chức năng quản lí của nhà nước, giữ gìn, bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu hàng ngày của dân trong quan hệ giữa công dân với nhà nước. Về mặt quản lí, nền hành chính nhà nước gồm ba bộ phận chính: 1) Thể chế nền hành chính; 2) Tổ chức bộ máy hành chính; 3) Nền công vụ. Mục tiêu tiến trình cải cách hành chính:   Công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra với những mục tiêu như sau: Mục tiêu chung Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, một đội ngũ công chức có đủ năng lực và phẩm chất hoàn thành nhiệm vụ được giao. Mục tiêu cụ thể - Hoàn thiện thể chế và cơ chế thực hiện chính sách (về kinh tế; về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính). - Xoá bỏ các thủ tục hành chính quan liêu, rườm rà; tạo một hệ thống thủ tục đơn giản, công khai, thuận lợi. - Chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan được phân định rõ ràng. Chuyển một số việc cho các tổ chức phi Chính phủ thực hiện. - Tới năm 2010 có một đội ngũ công chức cơ bản hội đủ các yêu cầu về chức danh. - Cải cách tiền lương (2005); xây dựng một cơ chế tài chính thích hợp; áp dụng điện tử hoá, tin học hoá nền hành chính nhà nước. - Xây dựng một cơ cấu Chính phủ gọn nhẹ với các Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, tập trung thực hiện chức năng quản lý nhà nước. - Thực hiện từng bước sự phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương, giữa các ngành rõ ràng hơn. Những nội dung chủ yếu của pháp luật cải cách hành chính 3.1.Cải cách thể chế a. Khái niệm Thể chế hành chính là mối quan hệ giữa các cơ quan trong bộ máy hành chính.Các cơ quan trong bộ máy hành chính Nhà nước Việt Nam có mối quan hệ một cách hệ thông theo nhiều chiều và chủ yếu là theo nguyên tắc tập quyền. b. Nội dung cải cách - Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước - Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật - Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ công chức - Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính c. Phương hướng cải cách chủ yếu - Tập trung chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện thể chế phục vụ trực tiếp cho cải cách hành chính. Chú trọng xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành số lượng lớn nghị định hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh. Tính từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI đến hết tháng 4-2005, Chính phủ đã trình Quốc hội 49 dự án luật, qua đó đã tạo cơ sở vững chắc cho cải cách thể chế, kết hợp giữa cải cách lập pháp và cải cách hành chính. Các luật đã thể hiện rõ các quan điểm, các chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế, tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước, giảm sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính của các cơ quan nhà nước vào các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và hoạt động của các doanh nghiệp, giảm bớt cơ chế xin - cho. - Chính quyền các địa phương tăng cường công tác cải cách thể chế, ban hành các văn bản theo thẩm quyền để thi hành các thể chế do Trung ương quy định và cụ thể hóa việc thực hiện vào điều kiện cụ thể của từng địa phương trong thu hút đầu tư, xây dựng khu công nghiệp, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển, phân cấp, ủy quyền cho các sở và cấp huyện trên nhiều lĩnh vực... Tiếp tục làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan trong hệ thống hành chính, loại bỏ dần sự chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ và bước đầu phân biệt rõ hoạt động của cơ quan hành chính với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công. - Thể chế quan hệ giữa nhà nước với nhân dân tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Nổi bật là việc lấy ý kiến nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng. Tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước. Tăng thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại của nhân dân. Thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, cơ chế "một cửa", công khai ngân sách, tài chính, đấu thầu, thanh tra nhân dân... - Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi trách nhiệm của Chính phủ bước đầu được đổi mới, góp phần hoàn thiện hệ thống thể chế của nước ta. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn bộc lộ các hạn chế sau: -Số lượng văn bản được ban hành nhiều, nhưng còn thiếu tính toàn diện, đồng bộ. Tính cục bộ ngành, lĩnh vực theo phương thức truyền thống giao cho bộ chủ trì xây dựng luật chậm được khắc phục. Tình trạng có luật, nhưng chưa thi hành được ngay vì còn thiếu nghị định, thiếu thông tư hướng dẫn vẫn còn khá phổ biến. -Một số thể chế cơ bản về hoạt động công vụ, về trách nhiệm thực thi công vụ của từng cơ quan hành chính, chức trách của từng vị trí cán bộ, công chức chưa đủ rõ và cụ thể. Đặc biệt thiếu những quy định pháp lý cụ thể về trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính, của từng cán bộ, công chức trong thực thi công vụ. Thủ tục hành chính được cải cách từ nhiều năm nay, nhưng nhìn chung vẫn phức tạp, phiền hà cho người dân, cho doanh nghiệp. Việc tổ chức thực hiện thể chế còn nhiều yếu kém, chưa tiến hành tổng kết, sửa đổi, bổ sung kịp thời. 3.2.Cải cách tổ chức bộ máy hành chính a. Khái niệm Bộ máy hành chính nhà nước là hệ thống các cơ quan được thành lập từ trung ương đến địa phương để thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và để triển khai thi hành hiến pháp, pháp luật trong phạm vi đơn vị hành chính lãnh thổ. Các cơ quan trong bộ máy hành chính có mối quan hệ mật thiết với nhau để cùng phối hợp thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước. b. Nội dung cải cách - Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý cán bộ công chức trong thời kì mới. - Từng bước điều chỉnh những công việc mà Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương đảm nhận để khắc phục những chống chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ. Chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặc doanh nghiệp làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện. - Về cơ bản ban hành xong và áp dụng các quy định mới về phân cấp Trung ương - địa phương, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương, nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương, tăng cường mối liên hệ và trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân địa phương. Gắn phân cấp công việc với phân cấp về tài chính, tổ chức và cán bộ. Định rõ những loại việc địa phương toàn quyền quyết định, những việc trước khi địa phương quyết định phải có ý kiến của Trung ương và những việc phải thực hiện theo quyết định của của Trung ương. - Bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ - Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ - Cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương - Cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp. - Thực hiện từng bước hiện đại hoá nền hành chính. c. Phương hướng cải cách chủ yếu - Quá trình xây dựng và ban hành đầy đủ các nghị định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các bộ, ngành trung ương đã mang lại kết quả quan trọng, khắc phục những chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan thực hiện và phân cấp cho chính quyền địa phương. - Xu hướng lựa chọn đúng việc để phân cấp và chính quyền địa phương chịu trách nhiệm một số việc như thẩm quyền giao đất, cấp đất, thu hồi đất. - Bước đầu phân biệt hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước với hoạt động của đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công. Thông qua các thể chế về nhân sự, tổ chức, tài chính công, đã tạo lập được những cơ sở để tiếp tục quá trình tách hành chính với doanh nghiệp, hành chính với sự nghiệp theo quan điểm của Nghị quyết Đại hội IX của Đảng. Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn, phức tạp, việc cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý mới và yêu cầu hội nhập quốc tế. - Chức năng của từng cơ quan hành chính nhà nước chưa được phân định thật rõ ràng và phù hợp, còn chồng chéo về thẩm quyền và nhiệm vụ quản lý nhà nước. - Tổ chức của các sở ở cấp tỉnh và phòng ở cấp huyện đều tăng, đặc biệt tổ chức bên trong các bộ, ngành trung ương và các sở đều tăng. - Việc chia tách các đơn vị hành chính kéo theo phần tăng tương ứng số lượng các sở và phòng chuyên môn và biên chế hành chính sự nghiệp cũng tăng theo. - Xu hướng nâng cấp tổ chức còn khá phổ biến như phòng lên vụ, vụ lên cục, cục lên tổng cục; cục, tổng cục lên loại I; trường trung cấp lên cao đẳng, trường cao đẳng lên đại học... dẫn đến gia tăng tổ chức bên trong, tăng biên chế, khiến cho bộ máy cồng kềnh thêm. 3.3.Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức a. Nội dung - Đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức + Xây dựng tiêu chuẩn quy hoạch và thực hiện quy hoạch cán bộ, công chức; thông qua việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức. Trong tiêu chuẩn quy hoạch phải xác định rõ như thế nào là đạt tiêu chuẩn và không đạt tiêu chuẩn. Kiên quyết loại bỏ những cán bộ, công chức không có đủ tiêu chuẩn theo quy hoạch ra khỏi bộ máy nhà nước. + Đổi mới nội dung chế độ tuyển dụng và quản lý cán bộ, công chức, đảm bảo việc sử dụng cán bộ, công chức luôn đáp ứng đầy đủ các nhu cầu thực tế. Cần duy trì thường xuyên việc thi tuyển, sát hạch, kiểm tra năng lực cán bộ, công chức, những cán bộ, công chức nào đủ phẩm chất và năng lực mới được vào và giữ lại làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước. + Tiêu chuẩn đánh giá, phân loại từng cán bộ, công chức phải căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với những tiêu chí rõ ràng là hiệu quả, sáng tạo, thân thiện và tiết kiệm..v.v.. - Cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ Nghiên cứu tổng thể các nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước để thực hiện cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách khác đối với đội ngũ cán bộ, công chức. - Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Gắn việc sử dụng với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Đặc biệt là phải đổi mới phương thức và nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Đảm bảo phương thức và nội dung chương trình đào tạo phải sát với thực tế của công việc. Hướng đào tạo phải tập trung vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ, nhất là kỹ năng hành chính. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng hành chính cho cán bộ, công chức cần bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động của cơ quan hành chính, nhất là trong giải quyết các yêu cầu thiết yếu của nhân dân, của doanh nghiệp trong các thủ tục hành chính - Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ, công chức. + Công tác đào tạo cũng cần phải thực hiện phối hợp với biện pháp giáo dục đạo đức và phẩm chất chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức để củng cố tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức. + Tăng cường trí tuệ tập thể trong công tác lãnh đạo nhưng cũng cần phải phân định rõ trách nhiệm của tập thể và người đứng đầu cơ quan. Từ đó, cắt giảm hợp lý các chức danh không cần thiết trong cơ quan hành chính nhà nước. b. Phương hướng cải cách chủ yếu - Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 đã tiếp tục phân loại rõ hơn đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị: cán bộ qua bầu cử, công chức hành chính, viên chức sự nghiệp, cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo trong doanh nghiệp nhà nước, cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã. - Tiến hành rà soát, đánh giá lại hệ thống tiêu chuẩn chức danh công chức hiện có, kịp thời điều chỉnh, ban hành mới một số chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức, viên chức. Bước đầu có sự phân biệt đối với công chức hành chính bắt buộc qua thi tuyển, còn viên chức sự nghiệp được áp dụng cả hai hình thức là thi tuyển và xét tuyển theo chế độ hợp đồng. - Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã được đổi mới theo hướng phù hợp với các đối tượng. - Phân công giữa các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các bộ, ngành trung ương tập trung vào bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch cán sự, chuyên viên. - Chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội đã có những cải cách bước đầu, góp phần ổn định cuộc sống của cán bộ, công chức. Tuy nhiên, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện mới. Một bộ phận không nhỏ suy thoái về phẩm chất đạo đức lối sống, tham nhũng, cửa quyền, thiếu ý thức trách nhiệm và tinh thần phục vụ nhân dân. Những giải pháp mang tính đổi mới, theo hướng hiện đại hóa công tác quản lý cán bộ, công chức chậm được triển khai, dẫn đến các cơ quan hành chính vẫn ôm đồm và cản trở, can thiệp sâu vào hoạt động của các đơn vị cơ sở, ảnh hưởng đến sự chủ động, sáng tạo ở đó. Công tác quản lý, tuyển dụng, sử dụng, thi tuyển, thi nâng ngạch, đánh giá, luân chuyển, đề bạt cán bộ, công chức chậm đổi mới. Phương pháp đánh giá cán bộ, công chức còn có lúc, có nơi thiếu công tâm khách quan, khoa học. 3.4. Cải cách tài chính công: a. Nội dung - Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia và vai trò chỉ đạo của ngân sách Trung ương; đồng thời phát huy tính chủ động, năng động, sáng tạo và trách nhiệm của địa phương và các ngành trong việc điều hành tài chính và ngân sách. - Bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động xử lý các công việc ở địa phương; quyền quyết định của các bộ, sở, ban, ngành về phân bổ ngân sách cho các đơn vị trực thuộc; quyền chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt phù hợp với chế độ, chính sách. - Trên cơ sở phân biệt rõ cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công, trong 2 năm 2001 và 2002 thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính, xóa bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cách tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu của cơ quan hành chính, đổi mới hệ thống định mức chi tiêu cho đơn giản hơn, tăng quyền chủ động của cơ quan sử dụng ngân sách. - Đổi mới cơ bản cơ chế tài chính đối với khu vực dịch vụ công - Thực hiện thí điểm để áp dụng rộng rãi một số cơ chế tài chính mới như: + Cho thuê đơn vị, sự nghiệp công, cho thuê đất để xây dựng cơ sở nhà trường, bệnh viện, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với cán bộ, công chức chuyển từ các đơn vị công lập sang dân lập. + Cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo dạy nghề, đại học, trên đại học, khám chữa bệnh có chất lượng cao..v..v.. + Thực hiện cơ chế khoán một số loại dịch vụ công cộng như vệ sinh đô thị, cấp, thoát nước, cây xanh công viên, nước phục vụ nông nghiệp… + Thực hiện cơ chế hợp động một dịch vụ công trong cơ quan hành chính. - Đổi mới công tác kiểm toán đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước, xoá bỏ tình trạng nhiều đầu mối thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch về tài chính công, tất cả chỉ tiêu tài chính được công bố công b. Phương hướng cải cách chủ yếu - Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi xác định phân cấp theo hướng tăng tính chủ động, tăng thẩm quyền và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương. Quyền và trách nhiệm quyết định ngân sách địa phương của hội đồng nhân dân cấp tỉnh được bảo đảm. Quyền quyết định ngân sách và phân bổ ngân sách hằng năm được Quốc hội thực hiện dần đi vào nền nếp. - Tiếp tục đổi mới quản lý và điều hành ngân sách. Nguồn thu ngân sách tiếp tục tăng và được tập trung kịp thời. Việc cấp phát vốn đầu tư và hạn mức kinh phí cho các đơn vị dự toán và các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ đã cải tiến, tạo chủ động cho các đơn vị giảm nhiều thủ tục không cần thiết. - Qua việc khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các cơ quan trong tổ chức, sắp xếp bộ máy đã thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả công việc. Trên cơ sở đó tạo điều kiện cho cán bộ, công chức tham gia giám sát quá trình thực hiện cơ chế khoán theo đề án đã được duyệt, thúc đẩy sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả thông qua xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, xây dựng tiêu chuẩn định mức chi của cơ quan; tăng thu nhập cho cán bộ, công chức thông qua các biện pháp tiết kiệm - Thực hiện tốt hơn quy định công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng nguồn tài chính công. Phát triển và mở rộng các hoạt động dịch vụ, chủ động huy động các nguồn lực, nguồn vốn và cơ sở vật chất để tổ chức các hoạt động sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp tăng thu nhập cho người lao động. Kết luận Những vấn đề nêu trên cho thấy cải cách hành chính ở nước ta hiện nay không chỉ đơn thuần cải cách thủ tục hành chính mà còn là công việc của bộ máy hành chính, là đội ngũ công chức hành chính, là xây dựng nền hành chính công... đụng chạm đến toàn bộ các hoạt động của hệ thống chính trị. Điểm mấu chốt có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho cải cách hành chính thành công là giữ vững quan điểm chỉ đạo kiên quyết, tập trung của cả hệ thống chính trị và ý thức chủ động, tự giác của mọi cán bộ, công chức nhà nước và tinh thần làm chủ của nhân dân. Tiến hành các hoạt động cải cách hành chính một cách cơ bản, hệ thống, đồng bộ, không chắp vá, làm tăng tính năng động sáng tạo của các cơ quan trong bộ máy hành chính, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch bộ máy nhà nước, xây dựng Nhà nước ta thực sự là Nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. CẢI CÁCH TƯ PHÁP Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu khách quan đặt ra là phải tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, điều chỉnh phạm vi nội dung và phương thức hoạt động của Nhà nước cho phù hợp. Nguyên tắc quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa phải được đề cao hơn bao giờ hết. Trong cải cách bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp có vị trí rất quan trọng. Bởi vì, các cơ quan tư pháp là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ nhân dân, các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của người dân, bảo đảm kỷ cương xã hội. Từ khi công cuộc đổi mới bắt đầu, thực hiện chủ trương cải cách bộ máy nhà nước, các cơ quan tư pháp đã tham gia tích cực và chủ động vào việc soạn thảo văn bản pháp luật, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, từng bước nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân. Trong những năm qua, các cơ quan tư pháp đã luôn luôn đứng ở tuyến đầu của nhiệm vụ bảo vệ pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm và các vi phạm pháp luật, giải quyết nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật các tranh chấp nảy sinh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế, phát huy tính chủ động, sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân trong quá trình đổi mới. Có thể nói, quyền lực tư pháp đã được thực hiện có hiệu quả với sự đóng góp lớn lao của toàn bộ hệ thống tư pháp. Trong lĩnh vực hoạt động tư pháp, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta luôn đề cao các nguyên tắc về tôn trọng và bảo vệ quyền con người, nguyên tắc bình đẳng, công bằng, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện pháp luật. Mục tiêu của cải cách tư pháp Để hoạt động của các cơ quan tư pháp đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết về vấn đề này như : Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VII), Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII). Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, ngày 2-1-2002, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 08/NQ-TƯ về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Theo Nghị quyết, công tác tư pháp cần được thực hiện trên những quan điểm cơ bản sau đây : - Công tác tư pháp phải thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, bám sát và phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ; phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế ; giữ vững bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. - Công tác tư pháp phải ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức ; bảo vệ trật tự kỷ cương ; bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân. - Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia vào công tác tư pháp. Các cơ quan tư pháp phải dựa vào nhân dân để hoạt động, đồng thời phải là chỗ dựa vững chắc của nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp. - Xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh và từng bước hiện đại, góp phần xây dựng, bảo vệ Đảng và Nhà nước. 2. Phương thức thực hiện cải cách - Cải cách tư pháp phải được tiến hành tổng thể trong cải cách bộ máy nhà nước, trong sự liên hệ mật thiết với cải cách hành chính. Quá trình cải cách đó không thể tách rời việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. - Cải cách tư pháp phải hướng tới việc thực hiện đầy đủ các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động tư pháp như : mỗi cơ quan thực hiện từng khâu của tiến trình tố tụng phải chịu trách nhiệm độc lập về kết luận của mình ; bảo đảm tính khách quan của việc xét xử hai cấp ; thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử ; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật ; quyền bào chữa của bị can, bị cáo được bảo đảm ; nhân dân tham gia, kiểm tra và giám sát hoạt động tư pháp… - Cải cách tư pháp là một nhiệm vụ bao quát nhiều lĩnh vực trên một phạm vi khá rộng. Thực hiện nhiệm vụ này phải tiến hành từng bước, nhanh chóng nhưng phải thận trọng và hiệu quả, cần lựa chọn những vấn đề cấp bách để triển khai trước. Cần thấy rõ những mặt được, chưa được, những bất cập của hệ thống tư pháp hiện nay để cuộc cải cách đi đúng hướng và có trọng tâm, trọng điểm. - Trong việc tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, cần khách quan, thận trọng bám sát thực tế nước ta. 3. Phương pháp tiến hành a. Cần chọn cải cách tòa án là khâu đột phá trong cải cách tư pháp Trong hệ thống các cơ quan tư pháp, tòa án có vai trò đặc biệt quan trọng. Phán quyết của tòa án thể hiện kết quả cuối cùng của tiến trình tố tụng : tuyên bố một công dân có tội hoặc không có tội, đúng hoặc sai. Vì lẽ đó, tòa án là nơi thể hiện sâu sắc nhất bản chất của nhà nước và nền công lý nước ta ; đồng thời thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Sứ mạng của tòa án được thể hiện ở chỗ nó là công cụ để bảo vệ công lý và sự công bằng xã hội. Cải cách tòa án là tạo ra các điều kiện và các phương tiện tố tụng tối ưu để giải quyết các vụ án đúng pháp luật, kịp thời và nghiêm minh. Vì vậy, cải cách tòa án cần nhằm đạt các mục tiêu sau : Thứ nhất, tòa án bằng hoạt động của mình phải góp phần vào việc xây dựng từng bước và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân và bảo đảm các quyền dân chủ của công dân trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội mà Hiến pháp đã ghi nhận. Thứ hai, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật của xã hội, củng cố và tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Một xã hội có kỷ cương, kỷ luật phải được xây dựng trên ý thức tuân thủ pháp luật ngày càng cao của mọi thành viên trong xã hội, giáo dục các thành viên và cộng đồng trong xã hội có thói quen và nếp sống tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Tòa án phải cương quyết xử lý nghiêm minh, tuyên phạt công khai và minh bạch các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần tạo dựng một trật tự pháp lý, tạo lập một môi trường sống lành mạnh, an toàn, kiểm soát và giải quyết tốt các mối quan hệ trong hành lang pháp luật. Thứ ba, thông qua thực tiễn xét xử, tiến hành tổng kết, phát hiện và kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước. Thứ tư, xây dựng một hệ thống tòa án gần dân, thuận lợi cho dân ; đồng thời phải tiết kiệm cho ngân sách nhà nước. Về đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án - Sắp xếp lại hệ thống tòa án nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền của tòa án nhân dân các cấp, tăng cường đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân cả về số lượng và chất lượng. - Về lâu dài, cần tiếp tục nghiên cứu phân định lại thẩm quyền cho tòa án nhân dân theo hướng tăng thẩm quyền cho tòa án nhân dân cấp huyện trên cơ sở bảo đảm tổ chức tòa án theo nguyên tắc hai cấp xét xử. Thực hiện đổi mới Tòa án nhân dân tối cao để tập trung làm tốt nhiệm vụ giám đốc thẩm, tổng kết thực tiễn xét xử, hướng dẫn tòa án áp dụng pháp luật thống nhất và quản lý tòa án địa phương về tổ chức. - Đội ngũ thẩm phán theo đánh giá chung hiện nay vẫn còn thiếu và yếu. Phải chăm lo xây dựng đội ngũ thẩm phán ngày càng vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Về đạo đức của cán bộ tòa án, nhân dân vẫn còn phàn nàn, nghi ngại về phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tư pháp, trong đó có các thẩm phán. Do vậy, cần kiên quyết hơn nữa trong việc rà soát lại đội ngũ thẩm phán, đấu tranh và xử lý kiên quyết với những hành vi phạm pháp của thẩm phán, làm cho đội ngũ cán bộ tòa án ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của nhân dân. - Đội ngũ Hội thẩm nhân dân là một lực lượng đông đảo đại diện của nhân dân tham gia xét xử. Hiện nay trong cả nước đã bầu được hơn 11 000 Hội thẩm nhân dân. Các cơ quan, đoàn thể như : Hội đồng nhân dân, Tòa án, Mặt trận Tổ quốc cần có những biện pháp thiết thực bồi dưỡng nghiệp vụ cho Hội thẩm nhân dân để họ tham gia có hiệu quả hơn vào công tác xét xử, tránh hình thức khi tham gia vào phiên tòa, gây tâm lý không bình thường cho bị cáo, các đương sự và công chúng. - Trong hệ thống tư pháp hình sự, điều tra và công tố luôn là mắt xích quan trọng, phục vụ đắc lực cho mục đích phát hiện chính xác, kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. b. Cải cách hoạt động điều tra Những thay đổi cơ bản trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước thời gian qua đặt ra trước cơ quan đảm nhiệm nhiệm vụ điều tra, công tố yêu cầu rất cao. Đó là, các cơ quan này, một mặt phải đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, nhưng mặt khác, không để xảy ra oan sai, làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân với bất cứ lý do gì. Ở đây không thể lấy mục đích biện hộ cho hành vi bất hợp pháp, lấy chỉ số các vụ án, các can phạm bị truy tố xét xử để biện hộ cho việc vi phạm các nguyên tắc của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa ; bởi vì, điều đó chỉ làm giảm sút uy tín của cơ quan tư pháp và giảm lòng tin của nhân dân đối với pháp luật. Trong tình hình hiện nay, cải cách các hoạt động điều tra, công tố ở nước ta cần đi theo hướng : Một là, xác định tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra theo nguyên tắc gọn đầu mối, bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất ; mỗi đơn vị, bộ phận cần được tổ chức chuyên sâu và quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng chức danh ; kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động điều tra và trinh sát. Có phương án đổi mới tổ chức, hoạt động của các cơ quan điều tra trong quân đội phù hợp với đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan điều tra của Nhà nước. Hai là, bảo đảm cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Thực chất là, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp theo tinh thần Hiến pháp năm 1992 vừa được sửa đổi. Những khái niệm có tính chất nền tảng trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân như thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, kiểm sát thi hành án… cần được làm rõ để tránh những vướng mắc không đáng có trong thực tiễn tư pháp. Ba là, kiện toàn một bước đội ngũ cán bộ điều tra và kiểm sát, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho họ, làm cho pháp luật được thực thi thống nhất và nghiêm minh. Thi hành án là một vấn đề phức tạp hiện nay Do những điều kiện lịch sử nhất định, công tác thi hành án của nước ta chưa tập trung vào một đầu mối mà còn phân tán giữa thi hành án hình sự với thi hành án dân sự và các loại án khác. Trước mắt cần giải quyết vấn đề án tồn đọng, đồng thời tiếp tục nghiên cứu đưa ra một mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án. Trong tác nghiệp thi hành án, cần kết hợp giữa hoạt động có tính chất chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan thi hành án với việc từng bước xã hội hóa một số công việc trong thi hành án, nhất là thi hành án dân sự, giảm tải cho Nhà nước một số công việc mà lẽ ra lâu nay người dân phải làm và có thể làm được mà không cần đến sự can thiệp của cơ quan chính quyền. Đối với các vụ án hình sự có liên quan đến kinh tế (tài sản, tài chính), các vụ án hình sự khác có hình phạt bổ sung về tiền và tài sản, các cơ quan tiến hành tố tụng cần chú trọng áp dụng đầy đủ các chế tài về kiểm kê, kiểm soát theo quy định của pháp luật ngay từ khi vụ án được khởi tố điều tra cho đến khi tuyên án. Có như vậy mới bảo đảm cho mọi bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và đầy đủ. Công chứng, luật sư và giám định tư pháp là những lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ đắc lực cho hệ thống tư pháp. Về phương diện nhà nước, hoạt động công chứng, luật sư và giám định tư pháp sẽ góp phần quan trọng làm cho các hoạt động của hệ thống tư pháp được khách quan, nhanh chóng và đúng pháp luật (đặc biệt là đối với hệ thống xét xử). Xét trên phương diện quyền công dân, hoạt động công chứng, luật sư và giám định tư pháp góp phần bảo vệ một cách hữu hiệu các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thông qua tư vấn pháp luật, bào chữa ; hoặc đại diện trước tòa án hay trọng tài kinh tế để bênh vực quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, cũng như tạo lập và cung cấp những chứng cứ không thể phản bác, bảo đảm an toàn cho công dân trong các quan hệ mà họ tham gia, đặc biệt là các quan hệ tài sản và kinh doanh. Ở Việt Nam, công chứng, luật sư và giám định tư pháp là các lĩnh vực hoạt động mới được phát triển mạnh trong thời gian gần đây. Tuy chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, song đã thể hiện tầm quan trọng đối với hệ thống tư pháp nói riêng và hoạt động quản lý nhà nước nói chung. Hoạt động công chứng trong thời gian tới cần theo hướng thuận tiện, nhanh chóng, chính xác. Các tổ chức luật sư cần được sớm kiện toàn theo Pháp lệnh luật sư năm 2001, làm thế nào để từ nay đến năm 2005, chúng ta có một đội ngũ luật sư đông về số lượng và giỏi về nghiệp vụ, ngang tầm với những yêu cầu của thời cuộc hiện nay. Các tổ chức giám định tư pháp cũng cần được tiếp tục hoàn thiện. Cần thành lập cơ quan giám định pháp y quốc gia và xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao về giám định tư pháp. Có thể khẳng định rằng, cải cách các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp là một bộ phận không thể tách rời của cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam. Bộ Tư pháp là cơ quan giúp cho Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực nói trên cần đẩy mạnh hơn nữa đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, làm cho mỗi cơ quan, tổ chức này có được vị trí đích thực của mình trong hoạt động tư pháp, phục vụ cho mục tiêu chung của toàn bộ hệ thống tư pháp. + Thực tế đã và đang đòi hỏi phải thành lập lực lượng cảnh sát tư pháp để chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa, dẫn giải bị can, bị cáo, bảo vệ trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, hỗ trợ trong công tác thi hành án và thực hiện một số nhiệm vụ khác, góp phần hiệu quả hơn nữa vào các hoạt động tư pháp. Việc triển khai tổ chức và hoạt động của lực lượng cảnh sát tư pháp trong điều kiện Việt Nam cần được nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi tiến hành. + Tăng cường cơ sở vật chất và các phương tiện kỹ thuật hiện đại cho các cơ quan tư pháp để các cơ quan này đủ khả năng đấu tranh chống tội phạm. Ngân sách nhà nước hàng năm cần dành một khoản thích đáng để đầu tư cơ sở vật chất, trụ sở, phương tiện và các trang bị kỹ thuật hiện đại cho các cơ quan tư pháp. + Tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng như các thủ tục tố tụng để tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho hoạt động của các cơ quan này. Kết luận Toàn bộ tiến trình thực hiện cải cách tư pháp không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết 08-NQ/TƯ của Bộ Chính trị đã xác định : "Đảng lãnh đạo các cơ quan tư pháp chặt chẽ về chính trị, tổ chức và cán bộ, bảo đảm cho hoạt động tư pháp thực hiện đúng quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục hoàn thiện nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp, khắc phục tình trạng cấp ủy buông lỏng lãnh đạo hoặc cấp ủy viên can thiệp không đúng vào hoạt động tư pháp". Việc thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TƯ của Bộ Chính trị không thể có kết quả nếu thiếu sự phối hợp đồng bộ và chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp. Sự phối hợp đó là một trong những điều kiện quan trọng, bảo đảm cho Nghị quyết đi vào thực tiễn sống động của hoạt động tư pháp hiện nay. CẢI CÁCH LẬP PHÁP Cải cách lập pháp là cách đề cập tới tiến trình đổi mới toàn diện, sâu sắc, liên tục trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đồng thời xác định đúng vị trí, vai trò của tiến trình này trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.   Trong những năm qua, chúng ta đã tiến hành cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Đối với cơ quan lập pháp đã có bước đổi mới, khẳng định vai trò của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân trong đời sống chính trị của đất nước. Tuy nhiên, những  kết quả khiêm tốn trong cải cách hành chính, cải cách tư pháp đang đặt ra cho cơ quan lập pháp nhiệm vụ cải cách mạnh mẽ hơn nữa. Cải cách lập pháp phải là sự khởi đầu, song hành và thúc đẩy cải cách hành chính và tư pháp. Sự vận động của hệ thống pháp luật Việt Nam Từ sau Hiến pháp 1992 đến nay thực sự là một cuộc cánh mang lập pháp nhằm đáp ứng công cuộc đổi mới. Quốc hội ban hành 123 luật,  Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành  112 pháp lệnh. Các luật ban hành trong giai đoạn này đã đi sâu điều chỉnh mọi mặt của đời sống xã hội,  tập trung nhiều vào lĩnh vực kinh tế, tổ chức bộ máy nhà nước và đáp ứng yêu cầu chuyển mạnh sang quản lý xã hội bằng pháp luật.  Tuy nhiên, số luật mới không nhiều,  riêng số lượng luật sửa đổi bổ sung một số điều chiếm gần 1/3 tổng số các đạo luật. Trong đó Luật đất đai ban hành và sửa đổi bổ sung 4 lần, Luật hình sự và Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi, bổ sung 3 lần... Có nhiều đạo luật được sửa đổi cơ bản, nhiều đạo luật được nâng lên từ pháp lệnh. Bên cạnh đó, số lương pháp lệnh được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua tương đối lớn, gần tương đương với số lương luật được Quốc hội thông qua trong giai đoạn này. Có thể nói hệ thống pháp luật hiện hành với gần 240  luật, pháp lệnh điều chỉnh các quan hệ xã hội ra đời sau Hiến pháp 1992. Đây là hệ thống pháp luật của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước,  mở rộng  dân chủ trong đời sống chính trị xã hội và hội nhập với quốc tế. Hệ thống  luật, pháp lệnh hiện hành đã có đóng góp đáng kể trong tiến trình đổi mới nhưng cũng đứng trước những bất ổn lớn là : Chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống, tồn tại nhiều quy định khung, nhiều quy định thiếu cụ thể, thiếu minh bạch về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ xã hội,  khả năng  phản ứng với những thay đổi của thực tiễn còn chậm chạp, việc giải thích luật, pháp lệnh hầu như không được tiến hành, tỷ lệ văn bản pháp lệnh trong hệ thống còn quá lớn,  tỷ lệ văn bản hướng dẫn quá nhiều, ban hành chậm, thâm chí còn trái với luật, Hiến pháp... Những điểm tồn tại, cùng với xu hướng ban hành luật với các quy định cụ thể, giảm dần việc ban hành pháp lệnh,  tỷ lệ luật sửa đổi bổ sung một số điều ngày càng nhiều, các luật về lĩnh vực kinh tế ,dân sự chiếm vị trí trọng tâm... chính là vấn đề đặt ra cho công tác lập pháp những nhiệm kỳ tới.  2. Tổ chức hoạt động của Quốc hội và nhiệm vụ lập pháp. Trước hết là vấn đề bầu cử Cho đến nay chúng ta có 5 đạo  luật về bầu cử đại biểu Quốc hội ban hành vào các năm 1959,1980,1992,1997 và  sửa đổi bổ sung  một số điều năm 2001. Luật bầu cử đại biểu Quốc hội 1992 với việc lần đầu tiên ra đời quy định về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội : Đại biểu Quốc hội phải là người trung thành với tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới làm cho dân giầu, nước mạnh, có trình độ hiểu biết và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, thăm gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành  pháp luật, được nhân dân tín nhiệm. Vấn đề tự ứng cử cũng được đề cập trở lại nhằm phát huy dân chủ,  đại diện và tìm kiếm rộng rãi những người đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu. Sau Hiến pháp 1992, sức ép lập pháp tăng lên không ngừng, yêu cầu Quốc hội hoạt động thường xuyên hơn, hiệu quả hơn. Điều này dẫn đến việc bổ sung quy định  tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội ở luật 1997 là : Có điều kiên thăm gia các hoạt động của Quốc hội. Luật bầu cử  1997 và sửa đổi bổ sung năm 2001 tiếp  tục nguyên tắc tính đại biểu theo đơn vị hành chính tỉnh, thành phố và cơ cấu thành phần, của các tổ chức chính trị, xã hội, cơ quan nhà nước trung ương, địa phương,... Tiêu chuẩn, số lương và cách thức bầu cử đại biểu Quốc hội liên quan chặt chẽ tới trách nhiệm, năng lực thực hiện nhiệm vụ của đại biểu, đến những giới hạn trong đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đặc biệt là trong việc thực hiện chức năng lập pháp. Luật tổ chức Quốc hội Năm 1959 luật tổ chức Quốc hội đầu tiên được ban hành. Khắc phục các hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội 1992 đã ghi nhận những thay đổi có tính đột phá với việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của từng Uỷ ban. Đặc biệt là lần đầu tiên đưa ra quy định : Trong số các đại biểu Quốc hội, có những đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách và những đại biểu làm việc theo chế độ không chuyên trách. Số lượng đại biểu Quốc hội làm việc chuyên trách do Quốc hội quyết định. Quy định này đã mở đường cho việc củng cố tổ chức và hoạt động của Hội đồng và các Uỷ ban theo hướng chuyên nghiệp hơn, chuyên sâu hơn, thực hiện tốt hơn vai trò của mình từ đó góp phân nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của Quốc hội. Luật tổ chức Quốc hội 2001 tiếp tục ghi nhận những bước đối mới trong cơ cấu tổ chức của Quốc hội làm nền tảng cho đổi mới hoạt động. Trước hết là việc quy định : Số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách có ít nhất là 25% tổng số đại biểu.  Đồng thời quy định rõ hơn, cụ thể hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban Như vậy không phải chỉ có quy trình lập pháp mà cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách, số lượng các Uỷ ban của Quốc hội... có tác động rất lớn đến việc nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội, đến cải cách lập pháp. 3. Những vấn đề đặt ra đối với cải cách lập pháp  Trong giai đoạn cạnh tranh phát triển  khốc liệt,  tăng trưởng kinh tế cao, hội nhập  và mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực, mở rộng dân chủ, thiết lập trật tự kỷ cương trên nền tảng phát triển mới, thì việc hoàn thiện hệ thống pháp luật có vai trò hết sức quan trọng. Điều này đang đặt ra nhiệm vụ cho cả bộ máy nhà nước, cho Quốc hội nhiệm vụ cải cách lập pháp mạnh mẽ.   Cải cách lập pháp phải  tiến hành đồng bộ với cải cách tư pháp và cải cách hành chính.  Hoạt động quản lý hành chính nhà nước, hoạt động tư pháp là hoạt động thường xuyên, liên tục, tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đến cá nhân từng tổ chức, con người... Vì vậy đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật đầy đủ, cụ thể,  điều chỉnh kịp thời khi cần thiết. Sự thiếu vắng, chậm trễ, không cụ thể, thiếu minh bạch về quyền và nghĩa vụ, sự khập khiễng của hệ thống pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội, cản trở tiến trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Nếu kéo dài tình trạng này, khi trình độ kinh tế - xã hội phát triển, thì hiệu lực, hiệu quả  quản lý không theo kịp, thậm chí gây rối loạn trong xã hội. Mặt khác, nếu tiếp tục duy trì việc bộ máy hành chính, bộ máy tư pháp  vừa phải gánh vác nhiệm vụ lập pháp, vừa gánh vác nhiệm vụ lập quy,  vừa tổ chức thực hiện thì không tránh khỏi những lỗ hổng để tình trạng nhũng nhiễu, tham nhũng, lãng phí, tham ô, vô trách nhiệm có đất hoành hành. Và như vậy việc phân công thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp vẫn chưa rõ ràng... Trong khi đó, Quốc hội vẫn chủ yếu là đại biểu không chuyên trách, các cơ quan của Quốc hội còn thiếu và yếu so với yêu cầu nhiệm vụ, thời gian kỳ họp  bị giới hạn, năng lực lập pháp, giám sát hạn chế và nếu chỉ trông chờ vào đổi mới quy trình lập pháp thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Vì vậy, việc cải cách lập pháp phải được tiến hành mạnh mẽ hơn .  Đổi mới về tổ chức phải toàn diện, có bước đột phá theo hướng Quốc hội ngày càng thực hiện quyền lập pháp đầy đủ hơn, thực chất  hơn.  Bắt đầu  từ việc bầu cử, hình thành cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu ra mình, mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt cho nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước. Điều này giúp nhận thức rõ hơn: tiêu chuẩn phải gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Và làm cơ sở cho việc lựa chọn, giới thiệu người ra ứng cử. Tiến xa hơn là  xây dựng cơ chế tranh cử để tìm người thực sự đảm nhận tốt vai trò Đại biểu Quốc hội. Ngay từ những ngày đầu xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân,  tư tưởng Hồ Chí Minh về bầu cử, về nhà nước pháp quyền cũng hết sức cụ thể. Bác Hồ từng căn dặn : “Trong  tổng tuyển cử , hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền bầu cử”... Và  “làm việc nước bây giờ là hy sinh là phấn đấu quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung”.   Thực tế làm nhiệm vụ đại biểu là thực hiện trách nhiệm đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong công tác làm luật, giám sát tối cao,  quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Và Đại biểu Quốc hội phải chịu trách nhiệm trước cử tri về kết quả, hiệu quả hoạt động đại diện của mình. Công việc làm đại diện không thể  là kiêm nhiệm, chịu sự ràng buộc về quản lý hành chính,  sự tác động  của cơ cấu thành phần. Vì nếu đại biểu không chuyên trách chiếm tỷ lệ lớn, thì khi đi vào hoạt động chỉ có một phần nhỏ đại biểu thực hiện thường xuyên, đầy đủ  nhiệm vụ cử tri giao phó. Chính điều này sẽ hạn chế việc đổi mới sâu sắc tổ chức và hoạt của Quốc hội. Trên cơ sở đổi mới công tác bầu cử  lựa chọn được đại biểu thực sự có đủ năng lực, tăng cường đại biểu chuyên trách để đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội,  các cơ quan của Quốc hội. Trước hết là tăng thời gian làm việc của kỳ họp Quốc hội phục vụ cho hoạt động lập phá, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tập trung củng cố các cơ quan chuyên môn của Quốc hội theo hướng vừa tăng thêm các Ủy ban, vừa tăng thêm các đại biểu chuyên trách làm việc tại các Ủy ban. Đi theo hướng này sẽ phát huy vai trò của các Ủy ban, góp phần  khắc phục các hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội thời gian qua Bên cạch việc củng cố tổ chức Hội đồng và các Ủy ban của Quốc hội cần tập trung củng cố bộ máy giúp việc trực tiếp của các cơ quan này. Năng lực của bộ máy giúp việc rất quan trọng  trong việc phục vụ hoạt động của các đại biểu. Các thành viên của Ủy Uỷ ban  ngoài khả năng phát hiện và xây dựng chính sách pháp luật, thì còn phải  là người đưa ra các bài toán, yêu cầu để bộ máy giúp việc thực hiện. Bộ máy này không nhất thiết phải tăng cường nhiều công chức mà phải biết sử dụng ngân sách có hiệu quả để tổ chức giải quyết các nhiệm vụ đặt ra. Có như vậy mới không tăng biên chế và linh hoạt trong việc khai thác bộ máy giúp việc. c.Đổi mới quy trình lập pháp Hệ thống luật, pháp lệnh tiếp tục vận động theo hướng tập trung đi sâu vào các lĩnh vực kinh tế, dân sự, tổ chức bộ máy nhà nước, các luật sửa đổi bổ sung chiếm tỷ lệ lớn, số lượng pháp lệnh cần được nâng lên thành luật nhiều, các quy định của luật đòi hỏi phải cụ thể, minh bạch, yêu cầu số lượng luật được ban hành ngày càng nhiều... Đứng trước thách thức này, thì quy trình lập pháp như hiện nay không thể phục vụ tốt cho nhiệm vụ lập pháp.  Đơn cử với quy trình và cách thức làm luật như hiện nay, nếu Quốc hội chỉ dành thời gian  nâng 112 pháp lệnh lên thành luật mà không thực hiện nhiệm vụ gì cũng phải mất ít nhất một nhiệm kỳ là 5 năm. Việc đổi mới căn bản quy trình lập pháp phải dựa vào sự phân công rõ ràng hơn việc thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội. Điều này sẽ tác động đến cách thức tổ chức và huy động tiềm lực cho công tác lập pháp. Nếu đi theo hướng Quốc hội ngày càng thực hiện thực chất hơn chức năng lập pháp thì phải tập trung tăng cường năng lực lập pháp cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Chính phủ tập trung vào việc điều hành và chỉ đạo xây dựng các đạo luật lớn, nội dung sửa đổi hoàn toàn mới. Kết luận Những thay đổi, bổ sung  luật  trên cơ sở kết quả hoạt động giám sát hoạc quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính cần có sự phối hợp giữa các Ủy ban của Quốc hội, các Bộ, ngành chủ động xây dựng và đề xuất với Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội để chỉ đạo sửa đổi, bổ sung. Và vai trò của cơ quan thẩm tra không chỉ dừng ở tính chất phản biện mà còn thực sự đảm nhận được việc xây dựng, sửa chữa, hoàn thiện luật để Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội thông qua. Mặt khác tăng cường thực hiện chức năng giải thích luật, pháp lệnh; Giám sát, xử lý văn bản trái Hiến pháp, luật, pháp lệnh thiết lập sự thống nhất, nghiêm minh của hệ thống luật.  Và như vậy quy trình lập pháp sẽ sửa đổi theo hướng đơn giản hơn. Bất kỳ dự án luật nào cần thiết, giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội, thì  phải được các cơ quan có trách nhiệm tập trung chuẩn bị và nêu đạt được yêu cầu thì  trình Quốc hội thông qua bất cứ lúc nào. Nếu chuẩn bị chưa tốt, chất lượng kém thì dù cấp thiết đến đâu, dù được ưu tiên xếp hàng đầu cũng sẽ không được thông qua.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNội dung cải cách bộ máy nhà nước chxhcn việt nam.doc
Luận văn liên quan