Pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai yếu tố luôn đi kèm với nhau. Như bất kỳ hoạt động kinh doanh nào khác, hoạt động ngân hàng là hoạt động luôn chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố: môi trường kinh tế xã hội, môi trường pháp lý , chính sách vi mô , vĩ mô Do vậy hoạt động này luôn tiềm ẩn những biến động lớn, đồng nghĩa nguy cơ rủi ro cũng rất cao. Vì vây việc phòng ngừa rủi ro là vấn đề thiết yếu trong hoạt động ngân hàng. Mà trong quản lý xã hội công cụ hiệu quả nhất luôn là công cụ pháp luật, chính vì thế nhóm em xin chọn đề tài : “Pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng”

doc16 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 26/02/2013 | Lượt xem: 3081 | Lượt tải: 15download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
động hiệu quả của ngân hàng, hệ thống ngân hàng mà thường mang tính dây chuyền trong cả nền kinh tế. Như đã nói ở trên, bất kỳ một biến động nào của nền kinh tế cũng cvó thể ảnh hưỏng tiêu cực tới hoạt động ngân hàng thì ngược lại, một rủi ro trong hoạt động ngân hàng cũng có thể tác động đến toàn bộ nền kinh tế. Trong kinh doanh thì rủi ro là vấn đề không thể tránh khỏi. Vì vậy cũng như bất kỳ một loại hình kinh doanh nào khác, trong quá trình kinh doanh việc một hoặc một số ngân hàng lâm vào tình trạngmất khả năng thanh toán và phá sản ngân hàng là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Mà hoạt động ngân hàng là một hoạt động có tính hợp tác cao và thuờng mang tính dây chuyền. Nên vấn đề đặt ra ở đâylà phá sản ngân hàng không chỉ dừng lại ở một ngân hàng yếu kém mà có thể lan truyền sang các ngân hàng khác nếu nguời dân mất lòng tin với toàn bộ hệ thống ngân hàng. Điều này sẽ làm cho hệ thống ngân hàng sụt giảm nghiêm trọng, đẩy hệ thống ngân hàng lâm vào tình trạng yếu kém tồi tệ. Một hệ quả tất yếu xảy ra nên kinh tế sẽ lâm vào tình trạng suy thoái thậm chí còn ảnh hưởng tới sự ổn định chính trị của quốc gia. Có thể nói những rủi ro trong hoật động ngân hàng có tác động rất lớn đền sự tồn tại , phát triển của ngân hàng, của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế- xã hội. Vì vậy việc phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng bằng pháp luật là vô cùng cần thiết. 1.3.Các loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng. * Rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụnglà loại rủi ro gắn liền với hoạt động quan trọng nhất của hoạt động ngân hàng là hoạt động tín dụng. Rủi ro tín dụng là khả năng xảẩin những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủvốn và lãi cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng có thể là phân thành rủi ro mất vốn hoặc rủi ro đọng vốn. Loại rủi ro này không chỉ dừng lại ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động khác như : hoạt động bảo lãnh, tài trợ ngoại thuơng, cho thuê tài chính. Đây là loại rủi ro cơ bẩn nhất của hoạt động ngân hàng. Rủi ro lãi suất. Để huy động vốn của các cá nhân , tổ chức ngân hàng phải trả lãi, khi ngân hàng cho vay hoặc tài trợ thì ngân hàng thu lãi.Cũng như giá của các hàng hoá, dịch vụ khác thì lãi suất của các khoản vay, tiền gửi và chứng khoán cũng thuờng xuyên biến động. Sự biến động đó có thể làm tăng lợi nhuận của các ngân hàng nhưng cũng có thể gây tổn thất cho ngân hàng. Qua đó thì rủi ro lãi suất chính là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến do sự thay đổ lãi suất của ngân hàng. Rủi ro thanh khoản. Thanh khoản là khả năng thanh toán của một ngân nhàng thuơng mại trước nhu cầu giải ngân của một hay nhiều khách hàng. Nếu không đáp ứng được nhu cầu này , ngân hàng có thể lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán và nguy cơ phá sản có thể xảy ra. Như vậy rủi ro thanh khoản là tình trạng ngân hàng không có đủ nguồn vốnhoặc không thể tìm được nguồn bên ngoài để đầu tư cho hoạt động kinh doanh của mình. Dây là loại rủi ro nguy hiểm nhất trong hoạt động ngân hàng. Bởi lẽ rủi ro thanh khoản của một ngân hàng sẽ dẫn đến sự sụp đổ của ngân hàng đó kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Rủi ro tỷ giá. Rủi ro tỷ giá là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt qua sự thay đổi dự tính của ngân hàng. Trong cơ chế thị trường, tỷ giá thuờng xuyên biến động, sự biến động này có thể gây bất lợi cho ngân hàng và dẫn đến rủi ro về tỷ giá cho hoạt động ngân hàng. Ngoài những loại rủi ro trên thì hoạt động ngân hàng còn có một số loại rủi ro khác như rủi ro hoạt động, , rủi ro pháp lý, rủi ro uy tín, rủi ro công nghệ thông tin…. 2. Các quy định pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng: 2.1. Nhóm quy định về trách nhiệm của các tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng. 1. Các quy định của pháp luật về phòng chống rủi ro trong hoạt động ngân hàng. 2.1. Nhóm quy định về trách nhiệm của các tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng. 2.1.1. Quy định về đảm bảo các tỷ lệ an toàn: Theo quy định tại Điều 130, Luật các tổ chức tín dụng 2010 thì trong quá trình hoạt động, các TCTD phải tuân thủ các quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn. Thứ nhất, TCTD đảm bảo về khả năng chi trả: khả năng chi trả được xác định bằng tỷ lệ giữa tài sản “Có” có thể thanh toán ngay so với các loại tài sản “Nợ” phải thanh toán tại một thời điểm nhất định của TCTD. Theo Thông tư 13/2010 thì TCTD phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả đối với từng loại tiền, vàng như sau: - Tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản “Có” thanh toán ngay và tổng “Nợ” phải trả. - Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau và tổng tài sản “Nợ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau đối với đồng Việt Nam, đồng Euro, đồng Bảng Anh và đồng đô la Mỹ (bao gồm đồng đô la Mỹ và các ngoại tệ khác còn lại được quy đổi sang đô la Mỹ theo tỷ giá liên ngân hàng cuối mỗi ngày). Bên cạnh đó, Ngân hàng nhà nước cũng quy định rõ thế nào là tài sản “Có” có thể thanh toán ngay như tiền mặt, vàng, tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước, tiền gửi có kỳ hạn tại các TCTD khá đến hạn thanh toán…Tài sản “Nợ” phải thanh toán bao gồm: số chênh lệch lớn hơn giữa tiền gửi nhận của TCTD khác và tiền gửi tại TCTD đó khi đến hạn; 15% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức, cá nhân; giá trị các cam kết cho vay của tổ chức tín dụng khi đến hạn thực hiện; tất cả tài sản nợ khác đến hạn phải thanh toán. Cũng tại Thông tư này, NHNN còn quy định TCTD phải xây dựng bảng phân tích các tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và các tài sản “Nợ” phải thanh toán đối với từng loại đồng tiền trong các khoảng thời gian: trong ngày hôm sau; từ 2 đến 7 ngày; từ 8 ngày đến 1 tháng; từ 1 đến 3 thánh; từ 3 đến 6 tháng. Thứ hai, về tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu hay vốn tự có để bù đắp rủi ro trong điều kiện hoạt động bình thường, theo quy định tại Thông tư 13, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản rủi ro. Vốn tự có của TCTD theo quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ của TCTD theo hướng dẫn của NHNN. Và theo hướng dẫn tại thì vốn tự có của TCTD bao gồm hai loạt đó là vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia, thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luật, trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có).; vốn cấp 2 như là 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật; 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định của pháp luật; Quỹ dự phòng tài chính; Có kỳ hạn ban đầu tối thiểu là 5 năm;…Tuy nhiên, đối với số vốn mà TCTD đầu tư vào TCTD khác dưới hình thức góp vốn mua cổ phần phải được trừ khỏi vốn đầu tự có khi tính tỷ lệ này. Còn tổng tài sản có rủi ro bao gồm giá trị tài sản “Có” của TCTD được tính theo mức độ rủi ro như nhóm các tài sản có độ rủi ro 0%, 20%, 50%, 100%, 150%, 250% và các cam kết ngoại bảng được tính theo mức độ rủi ro bằng cách chuyển đổi thông qua giá trị tài sản “Có” bằng các hệ số chuyển đổi. Thứ ba, quy định về tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Bản chất của hoạt động ngân hàng là đi vay để cho vay, tuy nhiên đối với những khoản tiền gửi tạo ra nguồn vốn tín dụng luôn đặt TCTD vào tình trạng phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi, đặc biệt là các khoản tiền gủi không xác định thời hạn. Để tránh tình trạng mất khả năng thanh toán, xẩy ra rủi ro thanh khoản, pháp luật quy định TCTD không được sử dụng toàn bộ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn mà phải duy trì ở một tỷ lệ nhất định. Theo quy đinh tại Thông tư 15/2009/TT- NHNN thì tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn đối với ngân hàng thương mại, Công ty tài chính và Công ty cho thuê tài chính là 30%, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương: 20%. 2.1.2. Quy định về dự trữ bắt buộc: Dự trữ bắt buộc hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của NHNN về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các TCTD bắt buộc phải tuân thủ. Ngoài mục đích thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN đó là để điều tiết tăng hoặc giảm lượng tiền cung ứng cho lưu thông, tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn là quy định mà các TCTD trong hoạt động của mình phải thực hiện để đảm bảo khả ngăn chi trả khi gặp khó khăn trong thanh toán. Theo quy định của NHNN, TCTD phải gửi tại NHNN số tiền gửi theo mức từ 0% đến 20% tổng số dư tiền gửi ở TCTD. Các ngân hàng có thể gửi tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ ngày nhưng không được phép giữ tiền mặt thấp hơn tỷ lệ này. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc do NHNN quy định đối với từng loại tín dụng, từng loại tiền gửi và từng thời kỳ khác nhau là khác nhau. Tùy thuộc vào mục đích của NHNN ở từng thời kỳ là muốn tăng hay giảm lượng tiền tệ lưu thông. Cụ thể như vào đầu năm 2008, nhằm ổn định thị trường tiền tệ, kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN ngày 16/01/2008 về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với các TCTD. Theo đó quyết định áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống, theo quyết định này, diện các loại tiền gửi phải dự trữ được mở rộng bao gồm cả loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn. Quyết định cũng điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 1% đối với loại tiền gửi. Cụ thể: đối với tiền gửi Việt Nam đồng và tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn 12 tháng trở lên tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng từ 4% lên 5%. Đến cuối năm 2008 vào tháng 12, NHNN cũng đã có 2 quyết định đó là Quyết định 2952/2008/QĐ-NHNN ngày 3/12/2008 và quyết định 3158/2008/QĐ-NHNN về điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi Việt Nam đồng của các TCTD theo hướng giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đến đầu năm 2009, nhằm ổn định thị trường tiền tệ, lãi suất, tỷ giá, tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng huy động vốn và tín dụng có hiệu quả đối với nền kinh tế, NHNN đã tiếp tục điều chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi của TCTD bằng Quyết định số 378/2009/QĐ-NHNN ngày 24/2/2009. Theo đó áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho tiền gửi dưới 12 tháng cho tát cả mọi loại hình tín dụng, cụ thể là đối với ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, mức dự trữ bắt buộc là 3% trên số tiền gửi. Đối với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn và ngân hàng cổ phần nông thôn, quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng hợp tác mức dự trữ bắt buộc là 1%. Còn tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi trên 12 tháng được áp dụng cho mọi loại hình tổ chức tín dụng là 1%. 2.1.3. Quy định về phân loại nợ trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro tín dụng. Trong quá trình tiến hành hoạt động của mình, pháp luật quy định các TCTD phải trích lập dự phòng rủi ro để đảm bảo trạng thái ổn định của nguồn vốn tín dụng, khắc phục hậu quả do rủi ro. Theo quy định tại điều 131 Luật các Tổ chức tín dụng thì TCTD phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Khoản dự phòng rủi ro này được hạch toán vào chi phí hoạt động. Trong trường hợp TCTD thu hồi được vốn đã được xử lý bằng khoản dự phòng rủi ro, số tiền thu hồi này được coi là doanh thu của TCTD. Nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát rủi ro, NHNN đã quy định cụ thể hơn về việc phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 (được sử dụng bổ sung bằng Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007). Theo quy định này thì tất cả các TCTD hoạt động tại Việt Nam trừ chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội, phải thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng. Quyết định đã quy định rõ, dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của TCTD không được thực hiện nghĩa vụ theo cam kết và nó được tính theo dự nợ gốc và dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Trong đó dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ mà hiện nay TCTD đang thực hiện. Còn dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các TCTD khi chất lượng các khoản nợ suy giảm. Tỷ lệ dự phòng cụ thể đối với các nhóm: nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn), nhóm 2 (nợ cần chú ý), nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ),nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) tương ứng là 0%, 5%, 20%, 50%, 100%. Số tiền dự phòng cụ thể không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ trích lập dự phòng mà còn phụ thuộc vào giá trị tài sản đảm bảo. Nếu giá trị tài sản đảm bảo được tính theo tỷ lệ phần trăm lớn hơn giá trị các khoản nợ thì số tiền dự phòng bằng không, nghĩa là TCTD trên thực tế không phải trích lập dự phòng cho khoản nợ đó. Để đảm bảo duy trì mức ổn định cần thiết của dự phòng rủi ro, pháp luật quy định các TCTD phải đảm bảo đúng mức dự phòng rủi ro đã quy định. Việc sử dụng dự phòng rủi ro phải trong phạm vi hiện có và chỉ được sử dụng dự phòng rủi ro trong trường hợp đó là khi khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể phá sản theo quy định của pháp luật, cá nhân chết hoặc bị mất tích và các khoản nợ được xếp loại vào nhóm 5 theo quy định phân loại nợ. Dự phòng rủi ro rất quan trọng, nó đóng vai trò lớn trong việc tạo an toàn và ổn định cho TCTD qua việc phục hồi những thiệt hại xảy ra do rủi ro trong hoạt động tín dụng gây ra. Do đó các TCTD cần phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định này để đảm bảo khắc phục những rủi ro phát sinh. 2.1.4. Các quy định về bảo hiểm tiền gửi. Bảo hiểm tiền gửi là một loại hình bảo hiểm đối với hoạt động ngân hàng. Nó có một vị trí quan trọng đối với hoạt động của TCTD. Đây là một trong các biện pháp nhằm đảm bảo an toàn, phòng chống rủi ro cho hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng. Theo quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng thì TCTD có hoạt động nhận tiền gửi có trách nhiệm tham gia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi. Theo các quy định hiện hành thì bảo hiểm tiền gửi là một loại hình bảo hiểm phi thương mại, theo đó các TCTD và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng có nhận tiền gửi bằng Việt Nam đồng của khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh thì bắt buộc phải tham gia đóng phí bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam theo quy định. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được bảo hiểm của khách hàng gửi tiền ở tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó. Giới hạn số tiền được bảo hiểm là số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi bao gồm cả gốc lẫn lãi và một người gửi tiền tại một tổ chức tham gia bảo hiểm thuộc đối tượng gửi tiền được bảo hiểm tối đa là 50 triệu đồng (theo Khoản 3 Điều 1 Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005). Chủ thể trong quan hệ bảo hiểm tiền gửi bao gồm chủ thể nhận bảo hiểm tiền gửi, người tham gia bảo hiểm và người được hưởng quyền lợi bảo hiểm. Chủ thể nhận bảo hiểm tiền gửi là tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Cơ quan này ngoài trách nhiệm thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi cho TCTD nó còn thực hiện một số nhiệm vụ khác như thực hiện giám sát rủi ro, thực hiện các biện pháp hỗ trợ các TCTD khi các tổ chức này gặp khó khăn. Như vậy bảo hiểm tiền gửi đảm bảo cho các đối tượng gửi tiền không gặp rủi ro trong quá trình gửi tiền tại TCTD đồng thời không gây sự đổ vỡ hàng loạt các TCTD khi một TCTD gặp rủi ro và rơi vào tình trạng phá sản. 2.1.5. Các quy định về bảo đảm tiền vay: Trong hoạt động ngân hàng, khi người vay vốn không trả được nợ cho ngân hàng, TCTD với nguyên nhân khách quan hay chủ quan nào thì mục đích của TCTD đối với khoản cho vay là nhằm thu hồi cả vốn và lãi sau một thời gian cho vay không đạt được. Lúc đó, TCTD sẽ phải đối mặt với những rủi ro phát sinh từ khoản vay đó. Phần vốn của TCTD không thể thu hồi được có thể gây ra rủi ro thanh khoản ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của TCTD, phá sản TCTD có thể xảy ra. Để đảm bảo thu hồi vốn vay đầy đủ khi đến hạn, Luật các Tổ chức tín dụng có quy định “Tổ chức tín dụng cho vay trên cơ sở đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp, của khách hàng vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba…” Và tại Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 12/12/1999 về đảm bảo tiền vay của các tổ chức tín dụng (hiện nay được thay thế bằng Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch đảm bảo) thì bảo đảm tiền vay là việc các tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã đến hạn cho khách hàng vay. Có thể thấy, bản chất của bảo đảm tiền vay là khách hàng sử dụng tài sản của mình hoặc tài sản uy tín của bên thứ ba để trả nợ thay cho khoản nợ mà người vay đã sử dụng vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không có khả năng trả được khi đến hạn cho TCTD. Do đó khi có rủi ro xảy ra, có nghĩa là khi bê vay không trả được nợ cho TCTD với bất kỳ lý do nào thì TCTD vẫn có thể thu hồi nợ thông qua tài sản đảm bảo, thông qua cam kết trả nợ của bên thứ ba. Và như vậy, TCTD sẽ có thể thu hồi được nợ ngay cả khi bên vay không trả được nợ. Hiện nay quy định về đảm bảo tiền vay được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm, theo đó có quy định: - Tài sản dùng đảm bảo tiền vay là tài sản hợp pháp bao gồm tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bên có nghĩa vụ và bên thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với ngân hàng. Tài sản này có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và phải là tài sản được phép giao dịch (Khoản 1 Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP). - Hình thức bảo đảm: bảo đảm tiền vay được thực hiện dưới các hình thức cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, tín chấp… - Về các trường hợp phải đăng kí giao dịch bảo đảm tiền vay: Để đảm bảo an toàn hơn nữa cho hoạt động bảo đảm tiền vay, pháp luật quy định các trường hợp phải đăng ký giao dịch bảo đảm bao gồm: thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, thế chấp tàu bay tàu biển, thế chấp một tài sản để thực hiện nhiều nghĩa vụ (Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP). Như vậy, với quy định chặt chẽ về các biện pháp bảo đảm tiền vay, rõ ràng rủi ro các khoản nợ xấu, nợ khó đòi của ngân hàng sẽ được giảm đến mức tối thiểu, giúp đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng. 2.2. Nhóm quy định về các hạn chế trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. An toàn trong hoạt động, phòng chống những rủi ro phát sinh là yêu cầu bức thiết đối với các nhà quản trị ngân hàng cũng như các cơ quan quản lý nhà nước về ngân hàng. Nhằm thực hiện mục đích trên, pháp luật có những quy định có tính hạn chế quyền tự do kinh doanh của các TCTD. Các quy định đó được đặt ra nhằm phòng chống rủi ro cho chính TCTD và đồng thời bảo vệ những lợi ích chung của nhà nước và xã hội, đó là sự ổn định tiền tệ quốc gia, sự an toàn của cả hệ thống ngân hàng và của người gửi tiền. Do tính rủi ro cao của các hoạt động kinh doanh của các TCTD nên hầy như pháp luật các nước đều có quy định về hạn chế hoạt động của các TCTD nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng như hạn chế đối với khách hàng và mức cho vay bảo lãnh, góp vốn. Pháp luật Việt Nam cũng đã có quy định cụ thể về các hạn chế trong hoạt động ngân hàng của các TCTD. 2.2.1. Những trường hợp không được cấp tín dụng, hạn chế cấp tín dụng: Theo quy định tại Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng, các TCTD trừ tổ chức tín dụng hợp tác trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng không được cho vay đối với các đối tượng sau: - Thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc (giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc) của TCTD; - Người thẩm định xét duyệt cho vay; - Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; Tổng giám đốc (Giám đốc), phó tổng giám đốc (Phó giám đốc). Đồng thời TCTD không được chấp nhận bảo lãnh của các đối tượng trên để làm cơ sở cho việc cấp tín dụng đối với khách hàng. Ngoài ra, tại Quyết định số 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/1/2007 (được sửa đổi bổ xung bằng Quyết định số 34/2008/QĐ-NHNN ngày 5 tháng 12 năm 2008) thì ngoài các đối tượng trên, TCTD không được cấp tín dụng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát cũng như không được cho vay không có tài sản đảm bảo đối với các khoản vay nhằm đầu tư kinh doanh chứng khoán. Mục đích cho vay của TCTD là đáp ứng nhu cầu cho vay vốn hợp pháp của khách hàng thông qua đó tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên không phải vì lợi nhuận mà TCTD cho vay với mọi mục đích. Do đó bên cạnh sự hạn chế về mặt chủ thể, tại quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 (được sửa đổi bổ sung bằng Quyết định só 127/2005/QĐ-NHNN ngày 3/2/2005 và Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005) có quy định TCTD không được cho vay đối với các nhu cầu vay vốn để: - Mua sắm các tài sản và chi phí hình thành nên tài sản mà pháp luật cấm mua bán chuyển nhượng, chuyển đổi. - Thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm. - Đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch mà pháp luật cấm. Theo quy định tại Điều 127 luật các Tổ chức tín dụng TCTD không được cấp tín dụng không có đảm bảo, cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho những đối tượng sau: - Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên đang kiểm toán tại TCTD, Kế toán trưởng, Thanh tra viên; - Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng; - Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 126 của Luật này sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó. - Tổng dư nợ cho vay đối với các đối tượng trên không được quá 5% vối tự có của tổ chức tín dụng. 2.2.2. Giới hạn tín dụng đối với khách hàng: Khi một khách hàng vay vốn với một số lượng lớn, nếu khách hàng đó không trả được nợ thì TCTD sẽ gặp nhiều khó khăn khi không thu hồi được khoản nợ lớn từ khách hàng đó. Dĩ nhiên TCTD sẽ phải đối mặt với rủi ro là sẽ bị mất vốn, dẫn đễn mất khả năng chi trả, phá sản có thể xảy ra. Do đó, để phòng chống rủi ro trên phát sinh, pháp luật quy định giới hạn tín dụng đối với một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan nhằm phân tán bớt rủi ro trong hoạt động của TCTD. Tránh tình trạng vốn của TCTD bị ứ đọng kho một khách hàng, một nhóm khách hàng không trả được nợ. Giới hạn tín dụng đối với khách hàng được quy định tại Điều 128 Luật các Tổ chức tín dụng và được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư 13/2010 như sau: Đối với hoạt động cho vay bảo lãnh thì: + Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của TCTD và đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn của TCTD. + Tổng mức cho vay và bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của TCTD và đối với một nhớm khách hàng có liên quan là không vượt quá 60% vốn tự có của TCTD. Bên cạnh đó TCTD không được cấp tín dụng có đảm bảo bằng tài sản, cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp mà TCTD nắm quyền kiểm soát, và phải tuân thủ các hạn chế sau: + Tổng mức cho vay và bảo lãnh của TCTD đối với một doanh nghiệp mà TCTD nắm quyền kiểm soát không được vượt quá 10% vốn tự có của TCTD. + Tổng mức cho vay và bảo lãnh của TCTD đối với các doanh nghiệp mà TCTD nắm quyền kiểm soát không được vượt quá 20% vốn tự có của TCTD. Đối với hoạt động cho thuê tài chính: + Tổng mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính. + Tổng mức cho thuê tài chính đối với một nhóm khách hàng không được vượt quá 50% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính. 1.2.3. Giới hạn đầu tư góp vốn mua cổ phần. Theo quy định tại Điều 129 Luật các Tổ chức tín dụng, các TCTD được sử dụng vốn điều lệ, quỹ dự trữ để góp vốn mua cổ phần của các doanh nghiệp và của các TCTD khác. Mức vốn góp mua cổ phần của TCTD trong một doanh nghiệp, tổng mức vốn góp mua cổ phần của TCTD trong các doanh nghiệp không được vượt mức tối đa mà pháp luật quy định với từng loại hình TCTD. Theo quy định tại Quyết định 492/2000/QĐ-NHNN ngày 28/12/2000, chỉ những TCTD sau mới được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn mua cổ phần: Các TCTD ngân hàng: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư; Các TCTD phi ngân hàng dưới hình thức công ty tài chính. Mức góp vốn mua cổ phần được giới hạn theo tỷ lệ nhất định, tùy thuộc vào mức góp vốn mua cổ phần. Theo Thông tư 13/2010 thì: + Mức góp vốn mua cổ phần của TCTD trong một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, TCTD khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư TCTD đó. + Tổng mức vốn, mua cổ phần của TCTD trong tất cả doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư TCTD khác không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của TCTD. 2.3. Nhóm quy định về kiểm soát đặc biệt, thanh tra kiểm tra giám sát hoạt động ngân hàng: 2.3.1. Kiểm soát đặc biệt: Các tác động rủi ro trong hoạt động ngân hàng là lý do khách quan để Nhà ước tăng cường điểu chỉnh hoạt động ngân hàng thông qua cơ chế kiểm soát đặc biệt. Kiểm soát đặc biệt là biện pháp quản lý nhà nước do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam áp dụng đối với các TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán nhằm đảm bảo an toàn của hệ thống các TCTD. Nếu để TCTD bị phá sản thì hậu quả xấu sẽ xảy ra đối với hệ thống TCTD, đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Chính vì vậy, ngoài các biện pháp phòng chống rủi ro ngân hàng Nhà nước cần áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt để hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro dẫn đến phá sản trong hoạt động ngân hàng. Điều 146 Khoản 1 Luật các Tổ chức tín dụng có quy định: “Kiểm soát đặc biệt là việc một TCTD được đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán”. Mục đích của kiểm soát đặc biệt là đưa ra các biện pháp cần thiết đối với TCTD bị kiểm soát nhằm bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, giúp TCTD khôi phục lại hoạt động bình thường của mình. Với chức năng của mình, NHNN có trách nhiệm kiểm tra thường xuyên, phát hiện kịp thời những trường hợp TCTD mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán. Theo đó tại Điều 93 Luật các Tổ chức tín dụng có quy định, TCTD được đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt trong những trường hợp sau: Có nguy cơ mất khả năng chi trả (Khả năng chi trả của TCTD được xác định bằng tỷ lệ giữa tài sản “Có” có thể thanh toán ngay so với các loại tài sản “Nợ” phải thanh toán tại một thời điểm nhất định của TCTD). Nợ không có khả năng thu hồi có nguy cơ mất khả năng thanh toán. Khi số lỗ lũy kế của TCTD lớn hơn 50% tổng số vốn điều lệ thực có và các quỹ. khi xảy ra một trong các trường hợp trêm, Thống đốc NHNN ra quyết định đặt TCTD đó vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. Quyết định này ghi rõ tên của TCTD, lý do, thời hạn kiểm soát đặc biệt, họ tên những thành viên được Thống đốc NHNN cử làm nhiệm vụ kiểm soát đặc biệt và những nhiệm vụ cụ theer của ban kiểm soát đặc biệt. Ban kiểm soát đặc biệt được thành lập có nhiệm vụ chỉ đạo Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đóc (Giám đốc) TCTD được đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt xây dựng phương án củng cố tổ chức và hoạt động; chỉ đạo và giám sát việc triển khai các giải pháp được thực hiện nên trong phương án củng cố TCTD đã được Ban kiểm soát đặc biệt thông qua; báo cáo NHNN về tình hình hoạt động, kết quả thực hiện phương án củng cố TCTD. Đồng thời, Luật cũng quy định trách nhiệm của TCTD được kiểm soát đặc biệt, khoản vay đặc biệt và trường hợp chám dứt kiểm soát đặc biệt. Và theo quy định tại Điều 152 Luật các Tổ chức tín dụng thì việc kiểm soát đặc biệt kết thúc trong trường hợp: Hết thời hạn kiểm soát đặc biệt mà không được gia hạn. Hoạt đọng của TCTD trở lại bình thường. Trước khi kết thúc thời hạn kiểm soát đặc biệt, TCTD được sát nhập, hợp nhất. TCTD lâm vào tình trạng phá sản. Việc kết thúc kiểm soát đặc biệt được thực hiện bằng một quyết định của Thống đốc NHNN và sẽ được thông báo cho các cơ quan liên quan. 2.3.2. Thanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động của ngân hàng. Khác với tính chất nhất thời và bất bình thường của hoạt động kiểm soát đặc biệt, Thanh tra kiểm tra giám sát ngân hàng là hoạt động tiến hành thường xuyên định kì của NHNN. Tính chất thường xuyên này bắt nguồn từ tính đặc thù của kinh doanh tiền tệ, lĩnh vực kinh doanh có độ rủi ro cao. Trong hoạt động của mình, các ngân hàng phải chịu sự thanh tra, kiểm soát của cơ quan quản lý theo quy định của pháp luật. Mục đích của hoạt động này là góp phần đảm bảo sự an toàn lành mạnh, hiệu quả trong hoạt động ngân hàng, nhằm bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, tránh rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Theo quy đinh tại Điều 50 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thanh tra ngân hàng là thanh tra chuyên ngành về ngân hàng, thuộc bộ máy Ngân hàng Nhà nước. Do đó, thanh tra ngân hàng có quyền thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan tới chức năng quản lý nhà nước của ngân hàng về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng chỉ tuân theo pháp luật, đảm bảo khách quan chính xác, kịp thời, dân chủ, không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của thanh tra ngân hàng. Nội dung của hoạt động thanh tra bao gồm: - Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, việc thực hiện các quy định ghi trong giấy phép hoạt động ngân hàng. - Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. - Kiến nghị các biện pháp đảm bảo thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. II. Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng: 1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng: 1.1. Về phía các tổ chức tín dụng: Về tuân thủ một số quy định liên quan của Ngân hàng Nhà nước: Các tổ chức tín dụng còn chưa tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về phòng chống rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Để phòng chống những rủi ro phát sinh, pháp luật đã có những quy định về trách nhiệm của tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các tổ chức tín dụng chưa thực sự tuân thủ các quy định đó. Thông tư số 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng theo Điều 4, là các tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ). Cũng theo Điều 4, tổ chức tín dụng phải thực hiện báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của pháp luật, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ theo quy định nói trên, phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở hợp nhất vốn, tài sản của tổ chức tín dụng và công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất). Hầu như các tổ chức tín dụng chưa thực sự tuân thủ đúng các quy định trên. Măc dù các tỷ lệ này có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo toàn vốn, đảm bảo khả năng chi trả, phòng chống những rủi ro phát sinh cho các tổ chức tín dụng. Hiện nay, một số tổ chức tín dụng còn sử dụng số liệu ước tính để tính toán tài sản có rủi ro thay vì số liệu thống kê trực tiếp. Về tuân thủ Quyết định số 16/2007/QĐ-NHNN ngày 18/4/2007 ban hành chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng: hầu hết hệ thống thông tin hiện tại của các tổ chức tín dụng không hỗ trợ việc lập thuyết minh về rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản trong việc lập báo cáo tài chính của tổ chức tín dụng. Về quản trị rủi ro tín dụng, thanh khoản, ngoại hối, tác nghiệp và lãi suất: Quản trị rủi ro tín dụng: Chưa có nhiều tổ chức tín dụng xây dựng chiến lược tín dụng tổng thể và kế hoạch khả thi để thực hiện chiến lược này, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát triển nguồn lực và ưu tiên đầu tư chiều sâu để tạo vị thế cạnh tranh cho từng tổ chức tín dụng. Các tổ chức tín dụng chưa xác định được chính xác mức độ rủi ro hiện có và rủi ro tiềm tàng do một số hạn chế như phân loại nợ theo tiêu chí định lượng là chủ yếu, dẫn tới tỷ lệ nợ xấu chưa phản ánh đúng chất lượng tín dụng thực tế; hệ thống thông tin quản trị còn yếu, chưa hỗ trợ việc phân tích chất lượng tín dụng; chưa lượng hoá được rủi ro tín dụng của các đối tác thanh toán; chưa đánh giá thường xuyên năng lực của cán bộ tín dụng và mức độ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Nhiều tổ chức tín dụng đã xây dựng cẩm nang tín dụng nhưng chưa có cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả việc thực hiện cẩm nang này. Hệ thống xếp hạng tín dụng là cốt lõi của hệ thống quản lý rủi ro tín dụng, nhưng chưa có nhiều tổ chức tín dụng xây dựng được hệ thống này để hỗ trợ việc thẩm định, áp dụng chính sách khách hàng, giám sát khách hàng, phân loại nợ trên cơ sở kết hợp phân tích yếu tố định tính và định lượng theo thông lệ quốc tế. Chức năng kiểm tra tín dụng độc lập chưa được phát huy và sử dụng hiệu quả. Hiện nay dù danh nghĩa là hoạt động đa năng, nhưng thu nhập từ hoạt động tín dụng hiện vẫn chiếm trên/dưới 90% tổng thu nhập của từng NHTM Việt Nam. Rủi ro tín dụng của các NH chủ yếu là do thất bại của khách hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết với NH. Một số sự kiện rủi ro tín dụng điển hình  như vụ Epco-Minh Phụng. Năm 2008 là vụ việc của khu du lịch sinh thái An Khánh do một số tập đoàn tư nhân chuyển giao cho nhau và đã bị thế chấp để vay vốn một NHTMCP, nhưng Cty vẫn bán 47 lô biệt thự tại khu này cho các hộ dân. Khi Cty không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán cho NH, NH ra thông báo chuyển quyền hưởng thụ lô đất trên thì người dân mới biết mình đã bỏ tiền ra mua đất đã bị thế chấp... Những rủi ro tín dụng như vậy ngoài nguyên nhân từ chủ quan của khách hàng còn có nguyên nhân từ phía NH đã vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động của TCTD, và trong một số vụ còn có sự tiếp tay của một số cán bộ NH cho đối tác lợi dụng việc kinh doanh BĐS để lừa đảo. Hiện nay, các yêu cầu về thông tin phục vụ phân tích tín dụng vẫn chưa được đáp ứng đáng tin cậy, đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời. Các thông tin về báo cáo tài chính của DN chưa bị bắt buộc phải qua kiểm toán do vậy độ chính xác của báo cáo chưa cao. Việc tìm kiếm thông tin cực kỳ khó khăn, tình trạng thông tin bất cân xứng là phổ biến (cán bộ tín dụng chủ yếu lấy thông tin từ chính sự khai báo của khách hàng). Thiếu các trung tâm  dữ liệu khách hàng cá nhân, hộ gia đình, DNVVN... (Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN mới chỉ cung cấp thông tin về DN). Quản trị rủi ro thanh khoản: các chiến lược quản lý thanh khoản của hầu hết các tổ chức tín dụng đều rất bao quát. Các tổ chức tín dụng chưa có công cụ phù hợp để lượng hoá rủi ro, báo cáo phục vụ quản lý thanh khoản chủ yếu là ngắn hạn (thường dưới 2 tuần), thiếu các báo cáo phân tích dài hạn để phục vụ mục tiêu huy động và sử dụng nguồn vốn hiệu quả. Mặc dù cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro thanh khoản đã được xây dựng, nhưng việc vận hành nó chưa hiệu quả, vai trò của ALCO còn mờ nhạt. Các công cụ như phân tích và quản trị độ lệch thời gian, tình huống, rủi ro tập trung, ảnh hưởng của các cam kết cho vay chưa giải ngân… chưa được áp dụng phổ biến và linh hoạt. Rất ít tổ chức tín dụng xây dựng kế hoạch (giả định) đối phó tình trạng khủng hoảng thanh khoản, nếu có xây dựng thì cũng chưa được luyện tập và cập nhật thường xuyên, liên tục. Quản trị rủi ro ngoại hối: Hầu hết các tổ chức tín dụng trong nước chưa xây dựng được chiến lược quản lý rủi ro ngoại hối. Trình độ và kinh nghiệm quản lý rủi ro ngoại hối còn hạn chế, hệ thống thông tin quản lý chưa hỗ trợ được việc lập báo cáo phục vụ quản lý rủi ro ngoại hối. Các bước kiểm soát và chính sách quản lý nội bộ còn khá sơ sài, chủ yếu là theo hướng tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước. Quản trị rủi ro lãi suất: Các tổ chức tín dụng chưa xây dựng được chính sách lãi suất phù hợp với mức độ rủi ro và hoạt động của tổ chức tín dụng, chính sách lãi suất hiện nay của các tổ chức tín dụng rất dễ bị dẫn dắt bởi các yếu tố thị trường; chưa lượng hoá được rủi ro lãi suất cho cơ cấu tài sản nợ - có hiện tại của tổ chức tín dụng. Hệ thống thông tin quản lý chưa hỗ trợ được việc lập báo cáo phục vụ quản lý rủi ro lãi suất. Hầu hết các tổ chức tín dụng đều chưa có các công cụ nhằm phân tích độ nhạy của lãi suất để xác định ảnh hưởng của việc thay đổi lãi suất đối với kết quả hoạt động kinh doanh khi thị trường thay đổi. Quản lý rủi ro tác nghiệp: Theo Hiệp ước Basel II thì rủi ro hoạt động/rủi ro tác nghiệp là rủi ro thiệt hại xuất phát từ việc các quy định nội bộ, con người và hệ thống không đầy đủ/ hoặc không hoạt động/hoặc xuất phát từ các sự kiện bên ngoài. Định nghĩa này bao gồm rủi ro pháp lý nhưng không bao gồmg rủi ro chiến lược và uy tín. Dạng rủi ro này ở Việt Nam tuy chưa nhiều, nhưng với sự phát triển của kinh tế thị trường và CNTT thì đây được coi là rủi ro tiềm ẩn. Một số sự kiện liên quan đến dạng rủi ro này có vụ cán bộ NH kho quỹ của một chi nhánh NHTMCP “rút ruột” gần 1,3 tỉ đồng trái phiếu Chính phủ đem cầm cố lấy tiền kinh doanh CK. Gia đình đối tượng đã nộp toàn bộ số tiền do đối tượng chiếm đoạt được cho cơ quan để khắc phục hậu quả, đối tượng bị khởi tố về tội tham ô tài sản. Hoặc trường hợp nhân viên điểm giao dịch Đông Ngạc (Từ Liêm, Hà Nội) của một ngân hàng quốc doanh đã giả mạo chữ ký khách hàng để “thụt két” tới 24 tỷ đồng, vụ tổ trưởng tổ kế toán một ngân hàng thương mại cổ phần biển thủ 7 tỷ đồng cá độ bóng đá, rồi một trường hợp khác là cán bộ kho quỹ một ngân hàng cổ phần rút ruột 1,28 tỷ đồng và 8 nghìn USD trái phiếu là tài sản cầm cố của khách hàng để chơi chứng khoán... Một trường hợp khác tại một ngân hàng thương mại cổ phần: thanh toán viên chọn nhầm loại tiền từ VND thành AUD, dẫn tới khách hàng chuyển 4 triệu VND lại hạch toán thành 4 triệu AUD (tương đương 48,5 tỷ VND)... Bên cạnh đó, sự gia tăng của các ứng dụng CNTT  đem lại nhiều thuận lợi cho NH, nhưng đồng thời làm tăng tính phức tạp của hệ thống kéo theo nguy cơ rủi ro tiềm ẩn. Cuối năm 2007 đầu năm 2008 có vụ tài khoản ATM của khách hàng đã hết số dư mà vẫn rút khống được 1.300 lần với tổng số tiền 2,6 tỉ đồng. Nguyên nhân do cán bộ NH nhập nhầm code từ tài khoản (TK) thường thành TK VIP được thấu chi, ở đây còn có lỗi của kiểm soát vì không thể có hạn mức thấu chi đến gần 3 tỉ đồng mà không bị phát hiện. Ngoài ra còn đã xảy ra một số vụ kẻ xấu nổ súng, dùng dao đe doạ cướp tiền NH trên đường vận chuyển hoặc của khách hàng vừa giao dịch với NH... Về sự phối hợp giữa hệ thống các tổ chức tín dụng Sự phối hợp giữa hệ thống các tổ chức tín dụng còn lỏng lẻo. Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro mang tính dây chuyền và hệ thống, do vậy, trong quá trình hoạt động của mình các TCTD cần phải có sự hợp tác với nhau nhằm hạn chế rủi ro. Ví dụ, do thiếu trao đổi thông tin nên nhiều TCTD cùng cho một khách hàng vay vượt quá giới hạn tối đa do pháp luật quy định thì rủi ro sẽ chia đều cho các TCTD và cho cả hệ thống ngân hàng là không thể tránh khỏi. Hiện nay, trong xu thế cạnh tranh gay gắt, các tổ chức tín dụng chạy đua nhau để tìm kiếm khách hàng, tìm kiếm lợi nhuận nên sự phối hợp giữa các tổ chức tín dụng trong quá trình phòng chống rủi ro phát sinh là chưa cao và chưa chặt chẽ. Về chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực ở hầu hết các TCTD còn hạn chế so với yêu cầu đòi hỏi của thời kỳ mới. Chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động ngân hàng được thể hiện ở năng lực chuyên môn và vấn đề đạo đức. Với trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế, cán bộ ngân hàng chưa nhận định, đánh giá được hết những rủi ro có thể xảy ra hoặc cũng có thể là thực hiện quy trình nghiệp vụ sai, gây tổn thất cho TCTD trong quá trình hoạt động 1.2. Về phía các quy định của pháp luật về phòng chống rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Hiện nay, các quy định của pháp luật về phòng chống rủi ro trong hoạt động ngân hàng được quy định khá đầy đủ và chặt chẽ. Các quy định này được xây dựng trên cơ sở áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế phổ biến và thực tiễn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển ngày càng nhanh, mạnh và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của hệ thống ngân hàng thì một số quy định đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, thiếu rõ ràng gây nên nhiều hạn chế và kém hiệu quả trong việc phòng chống rủi ro của các ngân hàng, các TCTD. Thứ nhất: về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá các TCTD. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện này, tỷ lệ này là 9% là phù hợp với thông lệ quốc tế, cụ thể là Hiệp ước Basel 2. Tuy nhiên, việc xác định vốn tự có và tổng tài sản có đã gây không ít khó khăn cho các TCTD trong việc đảm bảo tỷ lệ này vì trên thực tế hiện này hầu như các TCTD chưa hề duy trì được tỷ lệ này bởi nhiều nguyên nhân trong đó thì việc xác định tổng tài sản “có” rủi ro và tài sản có theo quy định của pháp luật hiện nay còn gặp nhiều vướng mắc. Đặc biệt là việc quy đổi theo mức độ rủi ro của các tài sản “có” rủi ro của các cam kết ngoại bảng. Các TCTD rất khó để xác định đúng các loại tài sản này. Thứ hai, về tỷ lệ vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, theo quy định tại thông tư 15/2009/TT- NHNN thì tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn đối với ngân hàng thương mại, Công ty tài chính và Công ty cho thuê tài chính là 30%, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương: 20% Việc quy định tỷ lệ cứng như trên đối với các TCTD là chưa phù hợp với khả năng quản lý kì hạn của từng TCTD. Bởi mỗi TCTD có đặc thù kinh doanh riêng, do quy mô, cấu trúc kì hạn, tính ổn định và thanh khoản của nguồn vốn là không giống nhau. Một TCTD có kì hạn nguồn vốn dài hay tính ổn định của nguồn vốn cao thì việc chuyển hóa nguồn vốn có thể có tỷ lệ cao hơn mà vẫn đảm bảo an toàn và ngược lại. Ngoài ra, quy định của NHNN chỉ dựa vào việc chuyển hóa nguồn vốn ngắn hạn sang trung và dài hạn mà chưa tính đến kì hạn nợ của các khoản cho vay, ngân quỹ, đến việc đan xen giữa chuyển hóa kì hạn của các nguồn vốn ngắn hạn này (ví dụ là 3 tháng) sang nguồn vốn ngắn hạn khác (ví dụ là 9 tháng). Điều đó có nghĩa là với quy định hiện tại chưa bao quát được các trường hợp chuyển hóa nguồn. Vì vậy khả năng chuyển hóa nguồn vốn dể dẫn đến rủi ro thanh khoản. Thứ ba, về tỷ lệ khả năng chi trả, theo quy định, tỷ lệ này được xác định giữa tài sản “có” thể thanh toán ngay và tài sản “nợ” phải thanh toán ngay của TCTD. Tỷ lệ này được xác định bằng 1 trong thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo. Việc quy định như thế này chỉ mang tính ước lệ, nó chỉ căn cứ vào khả năng thực hiện nghĩa vụ của TCTD tại một thời điểm. Trên thực tế các TCTD không phải lúc nào cũng duy trì được tỷ lệ này bởi việc mở rộng phạm vi cấp tín dụng, những biến động trong nền kinh tế tạo ra sự gia tăng tỷ lệ nợ phải thanh toán ngay tại một thời điểm dẫn đến TCTD không đủ nguồn vốn để chi trả cho các hoạt động của mình. Thứ tư, các quy định về bảo đảm tiền vay, hiện nay các quy định về đảm bảo tiền vay là khá chặt chẽ. Nó góp phần không nhỏ trong việc giảm thiểu rủi ro cho hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng quy định này, các TCTD gặp không ít khó khăn khi xử lý tài sản đảm bảo. Trên thực tế, các TCTD không làm được điều này vì TCTD là một tổ chức kinh tê, không phải là cơ quan quyền lực Nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho TCTD để xử lý do đó TCTD vẫn không giải quyết được vấn đề thu hồi nợ. Thứ năm, về việc trích lập dự phòng rủi ro, theo quy định của pháp luật thì khi thanh toán để trích lập dự phòng rủi ro chúng ta chỉ mới tính đến khả năng thất thoát trên những khoản tín dụng đãn quá hạn. Mà hiện nay, các TCTD chủ yếu phân loại nợ theo phương pháp định lượng nên trong dự phòng rủi ro theo như quy định của pháp luật hiện hành vẫn chưa tính đến các trường hợp rủi ro tiềm ẩn như những khoản cho vay chưa đến hạn nhưng người vay lâm vào tình trạng khó khăn có khả năng thu hồi … Thứ sáu, về các trường hợp hạn chế trong hoạt động của các TCTD hiện nay là hợp lý nhằm mục đích phân tán rủi ro. Nhưng với quy định hiện hành thì một còn một số vấn đề chưa rõ ràng. Theo đó, về việc xác định nhóm khách hàng có liên quan, hầu như các TCTD chưa thể thực hiện được và cũng chưa có công dụng để thực hiện vì pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể như thế nào là nhóm khách hàng liên quan. Do đó khó có thể áp dụng được đúng tỷ lệ cho vay, bảo lãnh đối với nhóm khách hàng có liên quan nên nhiều khi đã vay vượt quá giới hạn này. Thứ bảy, về công tác thanh tra kiểm tra, giám sát của NHNN. Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro chưa thực sự có hiệu quả cao. Năng lực cán bộ thanh tra chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ mới Thanh tra ngân hàng chưa theo kịp. Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đổi mới Vai trò kiểm toán chưa được phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức hữu hiệu. Thanh tra tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu. Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn, phòng ngừa rủi ro, vi phạm. Mô hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều bất cập. Do vậy mà có những sai phạm của các ngân hàng không được thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề xảy ra rồi mới can thiệp. Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một số ngân hàng dẫn đến rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàn của hệ thống ngân hàng lẽ ra có thể đã được ngăn chặn từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý sớm. 2. Hướng hoàn thiện pháp luật về rủi ro trong hoạt động ngân hàng: Việc phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng là một việc làm cần thiết, là trách nhiệm của cả các tổ chức tín dụng và các nhà làm luật, nhằm đưa ra biện pháp tốt nhất để phòng chống rủi ro, giảm thiểu ở mức thấp nhất thiệt hại do rủi ro trong hoạt động ngân hàng gây ra. Từ các thực tế trên cho thấy, việc phòng ngừa rủi ro vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều điểm vẫn cần phải khắc phục để hoạt động ngân hàng diễn ra một cách hiệu quả nhất. Về phía các tổ chức tín dụng: trước tiên các tổ chức tín dụng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về phòng chống rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Theo đó các tổ chức tín dụng phải thực hiện báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của pháp luật, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ, phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở hợp nhất vốn, tài sản của tổ chức tín dụng và công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất). Các tổ chức tín dụng cần xây dựng chiến lược tín dụng tổng thể và kế hoạch khả thi để thực hiện chiến lược này. Bên cạnh việc xây dựng chiến lược và kế hoạch để thực hiện chiến lược, các tổ chức tín dụng cần nhanh chóng đưa các chiến lược tín dụng áp dụng vào thực tế và phải có cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện chiến lược một cách cụ thể, chặt chẽ. Chất lượng nguồn nhân lực cũng là vấn đề cần được chú trọng. Cần có nguồn nhân lực có đủ năng lực chuyên môn đảm bảo thực hiện tốt công việc. Bên cạnh vấn đề chuyên môn, vấn đề đạo đức nghề nghiệp cũng là vấn đề cần chú trọng. Hoạt động ngân hàng là hoạt động liên quan đến tiền tệ nên rất dễ xảy ra các vụ việc như: biển thủ, khai khống số liệu… để tư lợi cho cá nhân, làm thất thoát một khoản không nhỏ của ngân hàng. Có thể thấy hoạt động ngân hàng cũng là một hoạt động mang tính cạnh tranh, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng rất lớn. Trong khi đó, hoạt động ngân hàng, rủi ro lại mang tính dây chuyền và hệ thống, do vậy, trong quá trình hoạt động của mình các TCTD cần phải có sự hợp tác với nhau nhằm hạn chế rủi ro. Về các quy định của pháp luật: các quy định của pháp luật hiện hành về phòng chống rủi ro trong hoạt động ngân hàng được quy định khá đầy đủ và chặt chẽ. Đặc biệt khi Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011, đây là cơ sở pháp lý cho các tổ chức tín dụng việc thực hiện tốt các biện pháp phòng chống rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế vì vậy cần có các biện pháp khắc phục các quy định của pháp luật trong việc phòng chống rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Một số quy định của pháp luật về phóng chống rủi ro còn chưa rõ ràng, còn mang tính chung chung, khó áp dụng vào thực tế. Cần có các quy định cụ thể hơn, thực tế và rõ ràng hơn. Giúp người thực hiện, thi hành pháp luật một cách dễ dàng, thuận tiện hơn. Quy định về xử lý tài sản đảm bảo tiền vay cần có các quy định cụ thể, bổ sung các biện pháp tạo cơ sở pháp lý giúp ngân hàng thực hiện việc thu hồi nợ- xử lý tài sản bảo đảm. Đội ngũ thanh tra, kiểm tra, giám sát của NHNN cần được thường xuyên bồi dưỡng các kĩ năng nghiệp vụ cần thiết, được tiếp cận thường xuyên với các thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại giúp cho việc phát hiện, tìm kiếm các sai phạm của các ngân hàng được tiến hành thuận tiện, nhanh chóng, chính xác và kịp thời. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ngày càng cao được thể hiện qua yếu tố như sự tăng lên của các ngân hàng, sự gia tăng vốn điều lệ, sự mở rộng phạm vi kinh doanh…Tuy nhiên điều này cũng đi liền với những rủi ro không tránh khỏi trong hoạt động ngân hàng. Do vậy, tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành cũng như xác định chính xác nguyên nhân từ các bên giúp TCTD có những chiến lược kinh doanh đúng đắn, cũng như các cơ quan quản lí nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng xây dựng được khung pháp lý hoàn thiện và tiến hành thực hiện hiệu quả nhất. Với bài viết trên đây, nhóm chúng em mong được sự chỉ dẫn thêm của cá thầy cô để nhằm củng cố hơn nữa nội dung của đề tài.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng.doc