Pháp luật về chống bán phá giá trên thế giới và thực tiễn chống bán phá giá tại Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh toàn cầu hóa và quốc tế hóa nền kinh tế, hội nhập và tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu đối với mổi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của mình. Cùng với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt được thành tựu khá ngoạn mục trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hành hóa. Trong khi những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có uy tín trên thị trường thế giớ đã xuất hiện một số trường hợp hàng xuất khẩu của nươc ta bị nước nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá để tạo ra hàng rào bảo hộ, ngăn cản hàng hóa của nước ta không cho xuất khâu vào thị trường nước họ. Từ năm 1995 đến nay Việt Nam đã tích cực thanh gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam tham gia hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1995, diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) năm 1996, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1998. Tháng 7 năm 2000 hiệp định Thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã được ký kết và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 11 tháng 12 năm 2001. Ngày 07 tháng 11 năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu . Tạo động lực cho sự phát triển toàn diện nền kinh tế của Việt Nam đây cũng là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi cạnh tranh với các thị trường lớn trên thế giới. Sự tham gia vào các tổ chức này đồng nghĩa với sự thay đổi sâu sắc các chính sách thương mại liên quan tới việc mở cửa thị trường. Hiện tượng bán phá giá hàng hóa nước ngoài chắc chắn sẻ ngày càng tăng lên trên thị trường nước ta có thể gây ra những tổn thất lớn cho các nhà sản xuất trong nước do hàng rào bảo hộ bằng các biện pháp hạn chế định lượng có thể biến mất, đồng thời thuế suất thuế nhập khẩu cũng giảm xuống. Đứng trước thực tế đó, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu và sớm áp dụng các công cụ bảo hộ mới phù hợp với các quy định của tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong đó có thuế chống bán phá giá. Đây là việc làm mang tính cấp bách và cần thiết vì lợi ích và yêu cầu của đất nước. Đạt được điều này, đòi hỏi nước ta phải hoàn thiện hệ thống pháp lý thương mại trước và sau khi kết nạp vào tổ chức thương mại thế giới WTO nhằm bảo vệ công nghiệp sản xuất nội địa và bảo vệ thị trường trong nước chống lại việc mua bán phá giá hoặc chống bán phá giá lại các trợ cấp mang tính chấc kỳ thị đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2.1 Ý nghĩa khoa học Trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới khi mà hàng hóa của Việt Nam ngày càng có mặt nhiều hơn trên các thị trường lón như Mỹ Châu Âu và nhiều nước khác thì tất yếu các doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầu ngày càng nhiều hơn các vụ kiện bán phá giá từ các doanh nghiệp nước ngoài nếu không có một cơ sở khoa học để ngăn ngừa, phòng tránh và đối phó với các vụ kiện bán phá giá thì các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam rất khó cạnh tranh tại thị trường nước ngoài và ngày càng mất uy tín tại thị trường nội địa. Do đó cùng với các quy định của pháp luật như Pháp lệnh về việc chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam 2004. Nghị định 90/2005/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam. Nghị định 04/2006/NĐ-CP về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Nghị định 06/2006/NĐ-CP về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh. Thông tư 106/2005/TT-BTC ngày 5/12/2005 hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và các khoản bảo đảm thanh toán thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng. Việc nghiên cứu đề tài pháp luật về chống bán phá giá và thực tiễn tại Việt Nam giúp các doanh nghiệp Việt Nam các cơ quan chức năng nắm rõ hơn các quy định về vấn đề này. 2.2 Ý nghĩa thực tiễn Vấn đề áp thuế chống bán phá giá của hàng hóa ngoại nhập là hệ quả tất yếu của quá trình sản xuất và xuất khẩu hàng hóa . Để bảo vệ hàng hóa trong nước không bị các hàng hóa nước ngoài lán chiếm thị trường yêu cầu cần có một cơ chế pháp lý dành riêng cho hàng ngoại nhập đó là hành động áp thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu bị coi là bán phá giá. Từ khi phát triển các hoạt động kinh tế đối ngoại và đẩy mạnh hội nhập vào nền thương mại quốc tế Việt Nam phải đụng chạm tới rất nhiều vấn đề trong đó đáng chú ý là vấn đề bán phá giá và chống bán phá giá. Trong những năm vừa qua việc hàng hóa Việt Nam xuất khâu sang thị trường nước ngoài ngày càng có nhiều các vụ kiện bán phá giá gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam và tổn thất không nhỏ cho nền kinh tế. Trong khi đó Việt Nam vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề này do đó phần lớn các vụ kiện Việt Nam đều bi thiệt hại nặng nề và hàng hóa Việt Nam khi xuất khẩu sang các nước thắng kiện sẻ bị áp với thuế rất cao và cao hơn xo với các hàng hóa cùng loại mà các nước xuất khẩu khác vào thị trường nước này. Do đó điều cần thiết là cần tìm ra nguyên nhân thực trạng và các giải pháp cho các doanh nghiệp nước ta trong thời gian tới 3. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu pháp luật về bán phá giá và chống bán phá giá của các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt được các vấn đề pháp lý có tính chấc kỹ thuật, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt vấn đề và ra chiến lược phát triển kinh tế và chính sách để đối phó với những vụ kiện bán phá giá ngày càng phức tạp và khó khăn hơn trong thời gian tới. Đồng thời tạo sự có mặt ổn định của hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế, thúc đẩy phát triên kinh tế xã hội của đất nước 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu Là các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực giao lưu buôn bán hợp tác với các nước trên thế giới, trong lĩnh vức xuất khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài và hàng hóa từ nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Hoạt động Điều tra thăm dò xem xét của các cơ quan chức năng kiểm tra hàng hóa này có bán phá giá trên thị trường nước nhập khẩu hay không trên cơ sở đó áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa bị kiện bán phá giá 4.2 phạm vi nghiên cứu Do mức độ rộng lớn của vấn đề đòi hỏi phải có sự nghiên cứu của nhiều nghành, nhiều cấp nên trong đề tài này chỉ đề cập tới một số nét khái quát về lý luận của việc chống bán phá giá, thuế chống bán phá giá tại một số nước đại diện cho những khu vực kinh tế điển hình, cũng như nguyên nhân thực trạng và giải pháp của Việt Nam trước việc hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào bán phá giá ở thị trường nước ta và việc hàng xuất khẩu của Việt Nam ra nước ngoài bị kiện bán phá giá. Phần mở đầu. Phần nội dung của đề tài Chương 1: Pháp luật về chống bán phá giá trên thế giới 1.1 Khái niệm bán phá giá và thuế chống bán phá giá 1.2 Các quy định của pháp luật về bán phá giá trên thế giới 1.2.1 Quy định chống bán phá giá của WTO 1.2.2 Quy định chống bán phá giá của Liên minh Châu Âu (EU) Chương 2: thực tiễn chống bán phá giá tại Việt Nam 2.1 Định nghĩa của Việt Nam về bán phá giá 2.2 Nguyên nhân của việc bán phá giá hàng hóa 2.3Những ảnh hưởng của việc bán phá giá hàng hóa 2.4 Thực trạng bán phá giá và chống bán phá giá tại Việt Nam 2.4.1Thực trạng bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam 2.4.2 Thực trạng bán phá giá hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam 2.5 Các giải pháp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của Việt Nam 2.6 Các biện pháp phòng vệ chống bán phá giá, chống trợ cấp . Phần kết luận

doc40 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 21/02/2013 | Lượt xem: 2261 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Pháp luật về chống bán phá giá trên thế giới và thực tiễn chống bán phá giá tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tự nhiên hoặc do được hưởng lợi thế từ hàng rào thương mại, nhưng phải cạnh tranh thị trường nước xuất khẩu. Trong trường hợp này vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận hẵng đó sẻ lợi dụng vị thế độc quyền của mình để ấn định giá bán trong nước cao hơn, chừng nào thị trường đó còn chấp nhận được. Trong khi đó do phải cạnh tranh ở thị trường xuất khẩu hẵng đó chỉ có thể bán với giá đang tồn tại ở thị trường đó như vậy đã xãy ra hiện tượng bán phá giá. Nếu việc bán phá giá này không làm giá ở thị trường nước nhập khẩu thay đổi (do cạnh tranh ở đây hoàn hảo) sẻ không làm ảnh hưởng đến lợi ích của nước nhập khẩu, và vì thế sẻ không cần thiết phải có biện pháp chống đối lại. Tuy nhiên nếu việc bán phá giá này xảy ra với một lượng lớn và trong thời gian dài, làm giảm giá ở thị trường nước nhập khẩu sẻ tác động đến lợi ích của nước nhập khẩu. người tiêu dùng sẻ được lợi từ giá thấp nhưng ngược lại các nhà sản xuất và công nhân trong nghành công nghiệp đó sẻ bị thiệt hại vì lợi nhuận và lương bị giảm. Lợi ích cuối cùng của nước nhập khẩu phụ thuộc vào việc lợi ích của người tiêu dùng có lớn hơn thiệt hại của người sản xuất và công nhân hay không. Ngay cả trong trường hợp về tổng thể nước nhập khẩu bị thiệt hại cũng khó có lý do để áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa của hãng đó nhằm khắc phục thiệt hại bởi vì hẵng đó có thể lập luận rằng do điều kiện thị trường của nước nhập khẩu là cạnh tranh, bấc kỳ hẵng nào cũng có thể tham gia thị trường đó và làm cho giá giảm xuống. Tuy nhiên, để khắc phục thiệt hại, nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp được phép khác như tự vệ Thứ hai: giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất và tất nhiên thấp hơn giá thị trường trong nước. Trong trường hợp này có thể xảy ra một số tình huống khác nhau tùy thuộc vào định nghĩa chi phí sản xuất: chi phí bình quân hay “chi phí lề” Trước hết, để hiểu được ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá thấp hơn chi phí cần phân biệt các loại chi phí .Thông thường, chí sản xuất được phân biệt theo hai loại: chi phí bình quân và chi phí lề: Chi phí bình quân được tính bằng tất cả các chi phí một hẵng phải chụi chia cho lượng sản phẩm sản xuất ra. Chi phí lề là chi phí phải bỏ ra để sản xuất ra thêm một đơn vị sản phẩm. Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại chi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ có một phần nhỏ chi phí sản xuất là thay đổi khi lượng sản xuất thay đổi. Chính chi phí lề là yếu tố quyết định trong việc định giá của một hẵng trong thời gian ngắn hạn khi phải chụi chi phi phí nhất định để thâm nhập vào một thị trường. Khi nhu cầu thị trường giảm, kéo theo giá thị trường giảm và các hẵng theo đó cũng phải bán hạ giá. Nếu bán giá thấp hơn chi phí bình quân, hẵng đó sẻ lỗ. Tuy nhiên, khi một phần chi phí là cố định không phụ thuộc vào lượng sản xuất, mức độ lỗ sẻ phụ thuộc vào lượng hàng hóa bán ra và vào mức chi phí lề. Nếu giá bán vẫn cao hơn chi phí lề, hẵng vẫn tiếp tục bán với hy vọng sau một thời gian ngắn thị trường sẻ phục hồi hoặc chỉ để giảm thiệt hại trước khi rút lui khỏi thị trường. Đây là sự phản ứng rất bình thường của các hẵng đối với sự thay đổi của thị trường, kể cả các hẵng nước ngoài và hẵng nội địa. Trong trường hợp này, việc áp dụng một biện pháp chống hàng nhập khẩu là bấc hợp lý và như vậy sẻ đối sử không bằng giữa hẵng nội địa và hẵng nước ngoài. Tuy nhiên, một nước vẫn có thể áp dụng các chính sách hỗ trợ cho các hẵng nội địa giảm nhẹ thiệt hại dưới hình thức tự vệ 1.1.7 Vai trò của thuế chống bán phá giá đối với bảo hộ sản xuất Biện pháp được phép sử dụng trong bán phá giá là thuế theo tỷ lên phần trăm, do vậy tác động về mặt lợi ích đối với xã hội của biện pháp này cũng giống như tác động của thuế nhập khẩu thông thường theo tỷ lệ phần trăm. Khi một sắc thuế được áp dụng, làm cho giá trong nước của sản phẩm tăng lên một lượng. Do đó các yếu tố về cầu của thị trường nội địa đối với sản phẩm đó không đổi, lượng tiêu thụ giảm xuống trong khi đó lượng hàng sản xuất trong nước tăng lên, đồng nghĩa với lượng hàng nhập khẩu giảm xuống. Như vậy có thể thấy rõ tác động bảo hộ của thuế nhập khẩu đối với sản xuất trong nước: làm tăng giá trong nước, giảm tiêu thụ hàng nhập khẩu và tăng sản xuất trong nước. Các nhà sản xuất trong nước được hưởng lợi rõ ràng khi giá trị thặng dư của họ được gia tăng thêm một lượng. Tuy nhiên, cùng với việc các nhà sản xuất được hưởng lợi thì người tiêu dùng bị thiệt hại: giá trị thặng dư của họ bị giảm xuống một lượng. Nhà nước cũng đươc hưởng lợi khi ngân sách thu vào từ thuế nhập khẩu tăng một lượng Thế nhưng, xét về tổng thể, toàn xã hội sẻ bị thiệt hại khi lợi ích mang lại cho các nhà sản xuất trong nước và Nhà nước không thể bù đắp cho những thiệt hại về lợi ích của người tiêu dùng. Ngoài tác động bảo hộ của thuế chống bán phá giá như phân tích trên đây, quá trình dẫn đến việc áp dụng thuế chống bán phá giá cũng phần nào có tác động bảo hộ. Ví dụ bản thân việc bắt đầu quá trình điều tra chống bán phá giá có nghĩa là trong tương lai rất có thể thuế chống bán phá giá sẻ được áp dụng, làm cho sản phẩm là đối tượng điều tra trở nên ít hấp dẫn hơn đối với các nhà nhập khẩu, như vậy phần nào đã ngăn cản dòng hang hóa nhập khẩu 1.2 Các quy định của pháp luật về chống bán phá giá trên thế giới 1.2.1 Quy định về chống bán phá giá của WTO Năm 1948 hệ thống thương mại đa phương được thiết lập với sự ra đời của hiệp định chung về thuế quan và Thương mại (GATT). Trải qua gần một nửa thế kỷ, những quy định cua GATT về thương mại đa biên, trong đó có quy định về chống bán phá giá (Điêu VI) tỏ ra chưa chặt chẽ. Cùng với sư ra đời của WTO, hiệp định Chống bán phá giá đã có những quy định chặt chẽ và chi tiết hơn nhiều so với điều VI của GATT. Theo hiệp định này, nước nhập khẩu chỉ được áp dụng các biện pháp bán phá giá khi: Hàng nhập khẩu bị bán phá giá; Gây thiệt hại về vật chất cho ngành sản xuất trong nước Cuộc điều tra về bán phá giá theo đúng thủ tục. Hiệp định bán phá giá của WTO quy định rất chi tiết nguyên tắc xác định phá giá, cách tính biên độ bán phá giá và thủ tục điều tra phá giá 1.2.1.1 Định nghĩa chống bán phá giá của WTO Theo Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADP) bán phá giá là việc bán một hàng hoá nào đó với giá thấp hơn giá của nó trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Nói một cách đơn giản, để xác định hành động bán phá giá ta phải so sánh giá cả ở hai thị trường. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định giá hàng hoá ở thị trường nước xuất khẩu (giá trị bình thường) và giá ở thị trường nước nhập khẩu (giá xuất khẩu) để tạo ra cơ sở chính xác cho sự so sánh giá trên hai thị trường là khá phức tạp 1.2.1.2Nguyên tắc xác định Bán phá giá được xác định dựa vào 2 yếu tố cơ bản là: 1- biên độ phá giá từ 2% trở lên; 2- số lượng, trị giá hàng hóa bán phá giá từ một nước vượt quá 3% tổng khối lượng hàng nhập khẩu (ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các hàng hóa tương tự từ mỗi nước có khối lượng dưới 3%, nhưng tổng số các hàng hóa tương tự của các nước khác nhau được xuất khẩu vào nước bị bán phá giá chiếm trên 7%). Theo quy định của WTO, biên độ phá giá được xác định thông qua việc so sánh với mức giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự được xuất khẩu sang một nước thứ ba thích hợp, với điều kiện là mức giá có thể so sánh được này mang tính đại diện, hoặc được xác định thông qua so sánh với chi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hóa cộng thêm một khoản chi phí hợp lý cho quản trị, bán hàng, các chi phí chung khác và một khoản lợi nhuận. Như vậy, có thể hiểu rằng biên độ phá giá là mức chênh lệch giá thông thường của hàng hóa tương tự với mức giá xuất khẩu hiện tại. Việc xác định giá thông thường được tính toán rất phức tạp dựa trên cơ sở sổ sách và ghi chép của nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất là đối tượng đang được điều tra với điều kiện là sổ sách này phù hợp với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi và phản ánh được một cách hợp lý các chi phí. 1.2.1.3 Điều tra về bán phá giá Để xác định hàng hóa có bị bán phá giá hay không, việc bán phá giá có gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước hay không để áp đặt các biện pháp chống phá giá thì điều quan trọng nhất và phức tạp nhất này ở quá trình điều tra về bán phá giá. Ở những quốc gia khác nhau, việc điều tra sẽ được thực hiện bởi các cơ quan chức năng khác nhau. Theo quy định trong Hiệp định về chống bán phá giá của WTO thì việc điều tra chỉ được tiến hành khi có đơn yêu cầu bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc của người nhân danh cho ngành sản xuất trong nước. Đơn yêu cầu sẽ được coi là đủ tư cách đại diện cho ngành sản xuất trong nước nếu như đơn này nhận được sự ủng hộ bởi các nhà sản xuất chiếm tối thiểu 50% tổng sản lượng của sản phẩm tương tự được làm ra. Tuy nhiên, việc điều tra sẽ không được bắt đầu nếu như các nhà sản xuất bày tỏ ý kiến tán thành điều tra chiếm ít hơn 25% tổng sản lượng của sản phẩm tương tự được ngành sản xuất trong nước làm ra. 1.1.2.4 Biện pháp áp dụng Khi thỏa mãn được ba điều kiện trên, Hiệp định cho phép thành viên WTO được phép áp dụng biện pháp chống bán phá giá với mặt hàng nhập khẩu bị điều tra. Các biện pháp này thường là áp thêm một khoản thuế nhập khẩu đối với sản phẩm bị coi là bán phá giá nhằm đưa mức giá của sản phẩm đó xấp xỉ với "giá trị thông thường" của nó hoặc để khắc phục thiệt hại đối với ngành sản xuất của nước nhập khẩu. Các biện pháp này nếu trong điều kiện bình thường là những hành vi vi phạm các nguyên tắc của WTO về ràng buộc thuế suất nhập khẩu và không phân biệt đối xử hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, biện pháp chống bán phá giá chỉ mang tính tạm thời nhằm loại trừ ảnh hưởng tiêu cực của hàng hoá nhập khẩu phá giá trên thị trường quốc gia nhập khẩu vì vậy các quốc gia chỉ được phép áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu thời hạn nhất định - tối đa là 5 năm 1.2.2 Các quy định về chống bán phá giá của liên minh Châu Âu EU Luật chống bán phá giá của Liên minh Châu Âu ra đời năm 1968 và đã được sửa đổi và bổ sung nhiều lần chủ yếu nhằm đưa những nội dung mới của việc thực hiện Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch 1994 (Hiệp định Chống bán phá giá 1994) vào luật của EU hiện nay. Luật chống bán phá giá áp dụng đối với tất cả các nước không phải là thành viên EU. Đối với các nước bị coi là chưa có nền kinh tế thị trường hoặc đang trong quá trình chuyển đổi, EU có thể áp dụng những điều khoản đặc biệt được quy định trong các hiệp định ký giữa EU với các nước thứ 3. Các quy định hiện có của EC được thay thế bởi Quy chế Chống bán phá giá mới có hiệu lực từ ngày 1/1/1995. Quy định này sau đó được cập nhật bởi Quy chế 384/96 có hiệu lực từ ngày 6/3/1996. Quy chế này tập hợp các biện pháp đã được thoả thuận tại Vòng Uruguay của GATT. Quy chế đồng thời cũng đưa ra giới hạn thời gian chặt chẽ cho việc hoàn thành điều tra và ra quyết định nhằm đảm bảo rằng các đơn khiếu kiện được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả. 1.2.2.1 Định nghĩa chống bán phá giá của EU Định nghĩa bán phá giá (dumping) được trình bày trong các văn kiện GATT như sau: bán phá giá và việc bán những hàng hóa xuất khẩu ở một giá thấp hơn “giá trị bình thường” (giá trị bình thường nghĩa là giá bán sản phẩm ở nước xuất khẩu). GATT cũng xác định: Mức phá giá = Giá bán hàng tại thị trường trong nước – Giá xuất khẩu. EU áp dụng luật chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu từ nước thứ ba, kể cả các đối tác thương mại được hưởng ưu đãi, trừ các thành viên của khu vực kinh tế châu Âu (EEA) trong một số lĩnh vực chịu sự chi phối trong khuôn khổ chính sách cạnh tranh của EU. 1.2.2.2 Cơ sở pháp lý Luật sửa đổi năm 1996 đã đưa ra cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá theo 4 điều kiện: (i) mặt hàng đó đang bị bán phá giá (giá bán thấp hơn giá thương mại thông thường); (ii) ngành công nghiệp sản xuất mặt hàng đó đang bị đe dọa hoặc đang bị tổn thương vật chất; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu đó và tổn thương vật chất của ngành công nghiệp của EU; và (iv) việc áp đặt các biện pháp chống bán phá giá là vì lợi ích của Cộng đồng. 1.2.2.3 nguyên tắc xác định Phát hiện có sự bán phá giá: giá xuất khẩu của sản phẩm thấp dẫn tới việc sản phẩm được bán trên thị trường EC có giá thấp hơn giá bán tại thị trường trong nước của nhà sản xuất; Tổn hại vật chất gây ra cho ngành sản xuất của EC: hàng nhập khẩu đã gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại vật chất cho một bộ phận đáng kể trong ngành sản xuất của EC, ví dụ như mất thị phần, làm giảm giá bán của nhà sản xuất và gây áp lực đối với quá trình sản xuất, bán hàng, lợi nhuận, năng suất v.v. ; Lợi ích của Cộng đồng: chi phí mà EC phải trả cho việc áp dụng các biện pháp này không cân xứng với lợi ích thu được. 1.2.2.4 Trình tự của một vụ kiện bán phá giá 1.2.2.4.1 Nhận và phân tích đơn kiện Đầu tiên, phải có đơn kiện gửi đến Ủy ban châu Âu (EC), đơn này do cá nhân, pháp nhân hoặc hiệp hội đứng đơn thay mặt cho ngành công nghiệp tại khối EU bị thiệt hại do bán phá giá. Bên nộp đơn kiện phải thỏa mãn hai quy tắc: tổng sản phẩm của những công ty đi kiện phải vượt 25% tổng sản lượng sản phẩm đó trong khối EU, và tổng sản lượng của những công ty đi kiện phải chiếm hơn 50% tổng sản lượng của những công ty không kiện (trong EU). Trong đơn kiện phải có đầy đủ thông tin về sản phẩm bị buộc tội bán phá giá, tên nước xuất xứ hay xuất khẩu có liên quan, danh sách các nhà xuất khẩu/nhà sản xuất và nhà nhập khẩu sản phẩm đó; thông tin về giá xuất khẩu và giá bán nội địa của sản phẩm đó, mức độ thiệt hại của ngành công nghiệp do sản phẩm bán phá giá gây ra... EC sẽ xem xét đơn này trong 45 ngày, và sau khi thẩm định nếu thấy có đầy đủ chứng cớ thì EC sẽ bắt đầu tiến hành điều tra vụ kiện. Tuy nhiên EC sẽ bác đơn kiện nếu sản phẩm bán phá giá vào EU chỉ chiếm dưới 1% (sản phẩm của một nước) hoặc dưới 3% thị phần tại EU (nếu là sản phẩm do nhiều nước cùng xuất vào EU). 1.2.2.4.2 Tiến hành điều tra Sau khi nhận đơn kiện, EC sẽ thông báo trên Công báo về vụ kiện: chỉ ra sản phẩm, những nước liên quan, thông tin nhận được, nêu thời gian cho các bên liên quan (gồm bên thưa kiện, nhà xuất khẩu bị kiện và chính phủ nước liên quan) tự giới thiệu về mình và cung cấp thông tin cho EC. EC cũng sẽ gửi bảng câu hỏi (có kèm tờ khai về quy chế nước có nền kinh tế thị trường) đến nhà xuất khẩu. Nội dung bảng câu hỏi này gồm thông tin về công ty, về sản phẩm đang bị điều tra, số liệu về hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh số bán sản phẩm trong nước và xuất khẩu, giá thành sản xuất... Nhà xuất khẩu có 40 ngày để trả lời bảng này. Sau khi nhận được bảng câu hỏi, EC sẽ thẩm định thông tin và sẽ cử chuyên gia đến công ty xuất khẩu để xem xét thực địa, kiểm tra hồ sơ chứng từ, xem một vài giao dịch lớn… để so sánh thông tin thực tế với thông tin đã nhận. Từ những thông tin thu thập được, EC sẽ tính toán ra giá thành sản xuất của sản phẩm, giá bán sản phẩm trong nước (bao gồm các chi phí sản xuất, khấu hao, lợi nhuận…), giá xuất khẩu (giá CIF) để xem có bán phá giá hay không và tính ra mức độ phá giá. Nếu sản phẩm không bán trong nước hoặc bán trong nước nhưng chiếm sản lượng ít hơn 5% thì EC sẽ so sánh với giá bán của một công ty tương tự. Còn nếu doanh nghiệp tỏ ra bất hợp tác (từ chối tiếp cận, không cung cấp thông tin…) thì EC sẽ ban hành các phán quyết dựa trên các dữ liệu sẵn có. 1.2.2.4.3 Quy chế dành cho nước có nền kinh tế thị trường Thông thường, nếu nhà xuất khẩu bị kiện bán phá giá mà đang hoạt động ở một nước có nền kinh tế thị trường thì EC sẽ trực tiếp sang điều tra. Nếu nhà xuất khẩu thuộc nước không có nền kinh tế thị trường thì EC sẽ chọn một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường để tính toán mức giá của sản phẩm đó. Hội đồng châu Âu đã ban hành quy định xác định 5 nước tuy chưa được công nhận có nền kinh tế thị trường nhưng đã có các công ty hoạt động theo cơ chế thị trường, là: Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Ukraine, Kazakhstan. Như vậy, các doanh nghiệp tại nước này sẽ được EC trực tiếp sang điều tra nếu có kiện tụng bán phá giá. Việc xác minh cơ chế thị trường là nhằm chứng tỏ rằng công ty hoạt động theo đúng các điều kiện của thị trường và hệ thống sổ sách tài chính của họ là minh bạch. Quy chế về kinh tế thị trường có vai trò quan trọng ở khâu áp thuế chống bán phá giá: nếu công ty thuộc nước có nền kinh tế thị trường thì từng công ty sẽ chịu mức thuế khác nhau tùy thị phần/số lượng sản phẩm xuất vào EU, còn nếu thuộc nước có nền kinh tế phi thị trường thì tất cả công ty của nước này sẽ chịu chung một mức thuế. Chương 2: Thực tiễn bán phá giá và chống bán phá giá tại Việt Nam  Ngày nay, đứng trước thách thức về cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường nội địa, các quốc gia đã tăng cường sử dụng các công cụ bảo hộ ngày càng tinh vi thông qua các biện pháp bảo đảm thương mại công bằng của WTO, trong đó có thuế chống bán phá giá.Vì vậy, các vụ kiện bán giá xảy ra trên thế giới ngày càng tăng về số lượng chủ thể tham gia và ngày càng mở rộng phạm vi hàng hoá áp dụng. 2.1 Định nghĩa bán phá giá Theo điều 4 “pháp lệnh giá” của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam định nghĩa: “Bán phá giá là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá thấp hơn xo với giá thông thường trên thị trương Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và lợi ích của nhà nước.” Với định nghĩa này, phạm vi điều chỉnh của nó chỉ đặt ra đối với việc chông bán phá giá trong quan hệ thương mại tại thị trương nội địa nhưng xét về bản chất không có gì trái, mâu thuẩn so với những giải thích mang tính chuẩn mực của từ điển, với những quy định của GATT, WTO. Nó đã vận dụng và điều chỉnh một cách tương đối hợp lý vấn đề chông bán phá giá trong quan hệ thương mại quốc tế vào quan hệ thương mại nội địa, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Khái niêm trên đã làm sáng tỏ ba nội dung cơ bản để tiến hành các giải pháp chông bán phá giá phải chú ý đó là: Thứ nhất: Xác định hành vi (bán phá giá là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá thấp hơn so với giá thông thường...) Thứ hai: Xác định mục tiêu của hành vi (để chiếm lĩnh thị trương, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật) Thứ ba: Xác đinh hệ quả xảy ra của hành vi và việc thực hiện mục tiêu của hành vi (gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác và lợi ích nhà nước). Điều 3 pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào vào Việt Nam SỐ 20/2004/PL-UBTVQH11 Ngày 29 tháng 4 năm 2004 Xác định hàng hoá bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam quy định Khoảng 1. Hàng hóa có xuất xứ từ nước hoặc vùng lãnh thổ bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam (sau đây gọi là hàng hoá bán phá giá vào Việt Nam) nếu hàng hoá đó được bán với giá thấp hơn giá thông thường theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. Khoảng 2. Giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là giá có thể so sánh được của hàng hoá tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường. Khoảng 3. Trong trường hợp không có hàng hoá tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc có hàng hoá tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu nhưng với khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa không đáng kể thì giá thông thường của hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam được xác định theo một trong hai cách sau đây: a) Giá có thể so sánh được của hàng hoá tương tự của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu đang được bán trên thị trường một nước thứ ba trong các điều kiện thương mại thông thường; b) Giá thành hợp lý của hàng hoá cộng thêm các chi phí hợp lý khác và lợi nhuận ở mức hợp lý, xét theo từng công đoạn từ sản xuất đến lưu thông trên thị trường của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc nước thứ ba. 2.2 Nguyên nhân của việc bán phá giá Hành động bán phá giá xảy ra do nhiều nguyên nhân, có thể kể đến các nguyên nhân chính sau: Do các khoản tài trợ của Chính phủ hoặc cơ quan công cộng nước ngoài. Chính sách tài trợ nhằm đạt được hai mục đích chính sau đây: - Duy trì và tăng cường mức sản xuất, xuất khẩu. - Duy trì mức sử dụng nhất định với các yếu tố sản xuất như lao động và tiền vốn trong nền kinh tế. Các khoản tài trợ có thể được cấp cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng, nhưng về mặt tác động kinh tế thì chúng đều như nhau và đều đưa đến những hệ quả kinh tế tương tự. Các hình thức tài trợ chủ yếu là: trợ cấp, ưu đãi về thuế, tín dụng ưu đãi, sự tham gia của Chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như các hỗ trợ xuất khẩu. Các khoản tài trợ giúp các ngành thực hiện công nghệ mới, trang bị máy và thiết bị hiện đại, nghĩa là giúp cho các ngành mới gia nhập thị trường và đẩy mạnh phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, tăng cường xuất khẩu. Do đó mà chi phi sản xuát giảm xuống dẫn đến việc bán hạ giá. Do nhập siêu lớn, vẫn phải có ngoại tệ để bù đắp cho nhưng thiếu hụt này. Khi đó có thể áp dụng biên pháp bán phá giá để giải quyết cho vấn đề thiếu hụt ngoại tệ. Do trong một nước có quá nhiều hàng tồn kho, không thể giải quyết theo cơ chế giá bình thường. Bán phá giá đước sử dụng như là công cụ cạnh tranh. Sau khi đã chiếm lĩnh được thị trương nội địa của nước nhập khẩu, triệt tiêu được sự cạnh tranh của hang nội địa thì các hẵng sẻ tìm cách thao túng thị trường nội địa để thu hút lợi nhuận tối đa. Cũng có thể có một số nước làm ra sản phẩm với giá thành rất thấp do sủ dụng lao động trẻ em, tiền lương thấp và sử dung lao động của tù nhân làm hàng xuất khẩu. Việc sử dụng lao động là trẻ em ngoài việc mang lại siêu lợi nhuận còn là cách để cạnh tranh với đối thủ cạnh tranh. Nhờ đó giá nhân công rẻ mạc, người ta có thể hạ giá thành sản phẩm, xuất khẩu hàng hóa bán phá giá ra nước ngoài. Đối với mặt hàng ngoại nhập xuất khẩu, do thu hút được lợi nhuận siêu ngạch có được từ trốn thuế nhập khẩu, hàng ngoại sẻ điều tiết và chiếm lĩnh được thị trường với giá cạnh tranh so với hàng hóa sản xuất trong nước. 2.3 Những ảnh hưởng của việc bán phá giá hàng hóa Hành động bán phá giá có thể có lợi trong một số trường hợp, nhưng nếu lạm dụng thì sẻ gây nhiều tác hại đối với nước nhập khẩu cũng như đối với nước xuất khẩu 2.3.1 đối với nước xuất khẩu 2.3.1.1mặt tích cực bán phá giá giúp cho các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu mở rộng thị trương tiêu thụ được lượng hàng tồn kho, đặc biệt là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, quần áo lỗi mốt... Ngoài ra biện pháp bán phá giá còn là công cụ quan trọng trong chính sách ngoại thương của đất nước nhằm giúp cho việc thực hiện những mục tiêu cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước đó. 1.3.1.2mặt tiêu cực Người tiêu dùng trong nước phải chụi thiệt do giá cao hơn xo với trước đây do có sự thỏa thuận về giá giữa các doanh nghiệp. Việc các doanh nghiệp bán phá giá, lượng hàng hóa đó lại được bán cho chính các doanh nghiệp trong nước mình, do đó lại quay lại lũng đoạn thị trường trong nước. Do việc bán phá giá nhằm mục đích thu được siêu lợi nhuận nên một vài nước đã sử dụng lao động trẻ em, phụ nữ, lao động tù nhân với giá rẻ mạt. Hậu quả là người lao động bị ngược đãi nặng nề. Trung Quốc là một trong những nước tiêu biểu sử dụng lao động tù nhân. Theo số liệu mới đây của văn phòng Quốc tế về lao động trẻ em(BIT) thì trên toàn thế giới có 250 triệu trẻ em trên từ 5-15 tuổi đang tham gia hoạt động kinh tế. 2.3.2 Đối với nước nhập khẩu 2.3.2.1 Tác động tích cực Người tiêu dùng có cơ hội để lựa chọn, tiêu dùng những mặt hàng mới, lạ giá cả dể chấp nhận. Đối với những mặt hàng từ nước ngoài đưa vào với giá rẻ, buộc các dịch vụ trong nước phải tìm cách cải tiến mẫu mã hàng hóa đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tích cực áp dụng công nghệ tiên tiến, tận dụng nguồn nhân lực để hạ chi phí sản xuất nhằm giữ vững vị trí trên thị trường và thu được lợi nhuận tối ưu. 2.3.2.2Tác động tiêu cực Bán phá giá hàng hóa cũng gây ra không ít những khó khăn cho nước nhập khẩu, nhất là đối với các nước đang phát triển có thị trường hẹp. Trước hết với người tiêu dùng của nước nhập khẩu họ phải sử dụng những mặt hàng kém chất lượng, hàng giả, đôi khi cả hàng quá thời hán sử dụng, không đảm bảo về an toàn thực phẩm, vệ sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân. Các chủ doanh nghiệp, những người kinh doanh do hám lợi thu được lợi nhuận cao, do đó tìm mọi cách nhập lậu hàng hóa, trốn thuế gây thất thu cho Ngân sách Nhà Nước. Hơn nữa do không thể cạnh tranh được với hàng nước ngoài nên nhiều xí nghiệp trong nước bị đình trệ sản xuất, bị phá sản hoàn toàn. Khi đó nó là nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng trì trệ, hạn chế tốc độ phát triên nền kinh tế của nước nhập khẩu. Về mặt xã hội, việc các xí nghiệp bị đóng cửa sản xuất hoặc ở bên bờ của sự phá sản hoạt động cầm chừng đã làm cho nhiều công nhân không có việc làm, đời sống khó khăn, thất nghiệp tăng, kèm theo nó là các tệ nạn xã hội cũng gia tăng gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước nhập khẩu. 2.4 Trạng bán phá giá và chống bán phá giá tại Việt Nam 2.4.1Thực trạng bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam Việc nước ta tham gia vào ASEAN,APEC và gia nhập WTO (năm 2006) sẽ dẫn đến việc xóa bỏ hàng rào thuế quan, hiện tượng bán phá giá hàng hóa nước ngoài chắc chắn ngày càng tăng trên thị trường nước ta. Các hẵng nước ngoài tìm đủ mọi cách để chiếm đoạt thị phần, dồn ép các ngành sản xuất của Việt Nam vào một góc thị phần nhỏ hẹp kể cả các biện pháp tiêu cực trong đó có bán phá giá. Theo kết quả điều tra của xã hội học của hội người tiêu dùng Việt Nam tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: các nhóm hàng ô tô, xe máy, rượu bia, thuốc lá của Mỹ, Nhật, Pháp và các nước Châu Âu khác chiếm ưu thế. Với nhóm hàng gia dụng trước năm 1992 hàng Việt Nam chiếm 62% hàng Mỹ chiếm 15% các nước Châu Âu chiếm 14% và 11% là các nước còn lại thì từ năm 1992 trở lại đây hàng Trung Quốc đã từng bước chiếm lĩnh thị trường này. Các mặt hàng như đồ chơi trẻ em, hàng dân dụng, xe máy, các giống cây trồng, thuốc trừ sâu của Trung Quốc cũng vào thị trường nước ta trong thời gian gần đây. Tình trạng buôn lậu ở nước ta đang có chiều hướng gia tăng phức tạp làm cho hàng hóa ế thừa hết hạn sử dụng hoặc hàng kém phẩm chất tràn vào nước ta bày bán khắp nơi gây tổn thất nặng nề cho các nhà sản xuất trong nước trong cuộc cạnh tranh bât bình đẵng trên thị trường. Nhìn toàn cảnh, chúng ta thấy rất rõ thế suy yếu của công nghiệp nước nội địa nước ta trước sự cạnh tranh không bình đẵng và không trung thực của các hàng hóa nước ngoài. Đi sâu phân tích thực trạng đối với một số nhóm hàng hóa, ngành cụ thể giúp ta thấy rõ ràng hơn thực trạng bán phá giá hàng nhập khẩu từ nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Dưới đây là hai trong số rất nhiều mặt hàng của nước ngoài nhập khẩu vào bán phá giá tại thị trương Việt Nam. 2.4.1.1 Ngành dệt may Cùng với sự phát triển của đất nước ngành dệt may đã có sự phat triển vượt bậc có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân theo thống kê năm 1999 giá trị xuất khẩu đạt 1.73 tỷ USD thì đến năm 2009 giá trị xuất khẩu đã tăng lên hơn 5 lần Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt 9,1 tỷ USD bằng với năm trước và trở thành ngành xuất khẩu dẫn đầu cả nước, trong đó Vinatex đạt 1,7 tỷ USD, tăng 3% so cùng kỳ năm 2008. Ðây là thành tích lớn của ngành góp phần quan trọng vào việc giảm nhập siêu năm 2009. Tỷ lệ nội địa hóa của hàng dệt - may Việt Nam tăng lên 44% so với mức 38% của năm 2008; sản xuất vải trong nước tăng 9%; doanh thu bán hàng nội địa tăng 10%; diện tích trồng bông nguyên liệu tăng gần 2,5 lần. Tuy vậy một mảng thị trường rất quan trọng mà các doanh nghiệp Việt Nam chưa coi trọng dó là thị trường nội địa. Nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp trên thế giới ba giờ cũng quan tâm đến thị trường nội địa, lấy thị trường nội địa làm gốc, làm nền tảng. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam lại bỏ ngõ thị trường này. Trên thực tế những doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong những năm gần đây đã có quan tâm đén thị trường nội địa nhưng sản phẩm của ngành dệt may ở trong nước vẫn còn rất khiêm tốn hơn năm 2009 hơn 85% giá trị sản xuât là xuất khẩu hàng nội địa chỉ chiếm gần 15% trong nước. Các công ty may có uy tín như công ty may 10 công ty dệt may Chiến Thắng, Thăng Long... thì dung lượng thị trương rất hẹp. Chỉ đáp ứng một phần nhỏ thị trường trong nước. Hiện nay trên thực tế vải nội địa chỉ chiếm 20% thị phần còn lại 80% thị phần cho hàng vải ngoại nắm giữ. Trong đó hàng Trng Quốc chiếm giữ 690% thị phần. Mặc dùa tổng công ty may Việt Nam hiện nay đã có đủ các loại vải của các nước danh tiếng sản xuất vải trên thế giói nhưng ngành sản xuất vải của Việt Nam cũng chưa có khả nang cạnh tranh với các đối thủ như Anh,Mỹ,Ý... bằng nhiều con đường, các đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh thị phần thông qua việc bán hạ giá các mặt hàng của mình, đặc biệt là mặt hàng vải Trung Quốc. Giá hàng vải Trung Quốc chỉ bằng 1/3-1/2 hàng sản xuất trong nước. Một mét vải Trung Quốc giá từ 12.000- 15000đ tùy theo khổ và màu, trong khi đó vải sui Long An là 21.000đ. Loại vải Mousseline Trung Quốc hoa màu chỉ từ 16.000-18000đ . Các loại vải phin, thô, lanh... chưa đến 10.000đ/m. Quần áo Trung Quốc giá rất rẻ, lại thích hợp với vóc dáng người Việt Nam. Nếu mua một bộ comlet tương đối đẹp ở một quán hàng hiệu của Trung Quốc phải lên tới 2 triệu đồng trong khi đó cung mua một bộ tương tự như ở các của hàng của Việt Nam thì chỉ khỏang vài trăm đế 1 triệu đồng Lý giải tại sao hàng Trung Quốc lại rẻ hơn hàng Việt Nam, mặc dù phải chụi chi phí chuyên chở, tiền lãi cho các nhà xuất khẩu nước ngoài và tiền lãi cho các nhà nhập khẩu Việt Nam. Báo diễn đàn doanh nghiệp cho rằng “xuất khẩu ra nước ngoài với giá rẻ, nhiều khi rẻ hơn giá sản xuất trong nước đã giúp xí nghiệp đạt công xuất tối đa, doanh thu và lợi nhuận đều cao hơn trường hợp bán trong nước với giá cao nhưng vì xí nghiệp không đạt được công xuất tối đa, chụi chi phí bất biến cao cuối cùng chỉ đạt lợi nhuận thấp. Một tình trạng đáng lưu ý là việc hàng ngoại nhập vào thị trường Việt Nam thông qua con đường buôn lậu bằng đường biển, qua các đường biên giới đáng báo động. Biện pháp bảo vệ thị trường nội địa Khuyến khích người tiêu dùng Việt Nam dùng hàng trong nước sản xuất Có những chính sách khuyến khích đầu tư vào ngành dẹt may và ngành sản xuất nguyên liệu. Theo kế hoạch đến nay 2020, ngành dệt may sẽ phải chủ động tới 70% nguyên phụ liệu để đáp ứng 2/3 nhu cầu sử dụng. Đồng thời, Nhà nước cần tăng cường đầu tư vào các cơ sở sản xuất này, trang bị những công nghệ hiện đại, tạo ra sự gắn kết giữa dệt và may. Đầu tư vào các cơ sở đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân may, cần có sự quan tâm hơn nũa về vấn đề thời trang. 2.4.1.2 Mặt hàng xe đạp Theo tin từ Bộ Thương mại, xuất khẩu xe đạp và phụ tùng trong hai tháng vừa qua ước đạt 43 triệu USD, tăng 72% so với cùng kỳ, là mặt hàng có mức tăng trưởng cao. Đây là mặt hàng được Bộ Thương mại đưa vào danh sách những mặt hàng chủ lực tập trung tìm biện pháp cụ thể đẩy mạnh xuất khẩu cả về lượng và giá trong năm 2004. Hiện kim ngạch xe đạp và phụ tùng chiếm 1,3% trên tổng số kim ngạch xuất khẩu. Dự kiến trong quí 1-2004 kim ngạch xuất khẩu xe đạp và phụ tùng sẽ đạt 70 triệu USD, tăng 83% so với cùng kỳ năm 2003. Xuất khẩu mặt hàng này tăng nhanh chủ yếu do nhiều doanh nghiệp mở rộng qui mô xuất khẩu và thị trường mới. Những thị trường chủ yếu của mặt hàng này hiện nay là: Anh, Đức, Canada, Đài Loan, Áo, Đan Mạch, Ý... Khi chuyển sang cơ chế thị trường, do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân quan trọng đó là hàng nhập lậu trốn thuế bán với giá rẻ, khiến cho hang xe đạp nội địa không cạnh tranh nổi, ngành xe đạp bị tổn thương nặng. BỐn trung tâm sản xuất xe đạp lớn trước đây của cả nước nay chỉ còn lại hai trung tâm là Hà Nội và Thàng phố Hồ Chí Minh hoạt động cầm chừng. Từ việc sản xuất mổi năm là 500.000 chiếc đến nay chỉ còn 150.000 chiếc. Hiệp hội xe đạp Việt Nam thành lập năm 1991 có 96 thành viên nay chỉ còn lại 43 thành viên Trong khi nhu cầu xe đạp trong nước rất lớn khoảng 500.000- 600.000 xe/năm , khả năng sản xuất trong nước có thể đáp ứng được, nhưng chúng ta đã nhường ¾ thị phần cho xe đạp nhập khẩu từ Nhật, Pháp, Singapo và chủ yếu là hàng Trung Quốc đa phần là nhập lậu trốn thuế, mẫu mã đẹp và thay đổi liên tục, giá bán rẻ chấc lượng thì tương đương với hang Việt Nam nhưng kiểu dáng đẹp hơn các đaij lý xe đạp Trung Quốc có thể chụi vốn do đó bỏ xa hàng Việt Nam. 2.4.2 Thực trạng bán phá giá hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam Ngày nay, đứng trước thách thức về cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường nội địa, các quốc gia đã tăng cường sử dụng các công cụ bảo hộ ngày càng tinh vi thông qua các biện pháp bảo đảm thương mại công bằng của WTO, trong đó có thuế chống bán phá giá.Vì vậy, các vụ kiện bán giá xảy ra trên thế giới ngày càng tăng về số lượng chủ thể tham gia và ngày càng mở rộng phạm vi hàng hoá áp dụng. Theo số liệu của Ban Thư ký WTO, từ năm 1995 đến hết năm 2004 trên thế giới đả tiến hành 2647 cuộc điều tra về chống bán phá giá, đứng đầu danh sách là Ấn độ (399 vụ) Hoa Kỳ (354 vụ) và EU (303 vụ). Trong số 97 nước bị kiện, các nước đứng đầu là Trung Quốc (386 vụ) Hàn Quốc (94 vụ) Hoa Kỳ (146 vụ)... Đối với Việt Nam tính đến tháng 3/2006 đã phải đối phó với 21 vụ kiện chống bán phá giá, trong đó có 13 vụ Việt Nam phải chịu thuế chống bán phá giá. EU là nước khởi kiện Việt Nam nhiều nhất (8 vụ) với mức thuế cao nhất lên đến 93% đối với mặt hàng Oxyde kẽm. Điều đáng chú ý là số lượng các cuộc điều tra chống bán phá giá tăng mạnh trong thời gian gần đây. Nếu trong giai đoạn 1994-2001, Việt Nam chỉ chịu 1-2 vụ kiện/năm thì đến năm 2004 phải đối phó với 7 vụ kiện liên tiếp liên quan đến nhiều mặt hàng công nghiệp xuất khẩu. Tính riêng năm 2009 là năm giữ kỷ lục về số lượng các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam với 42 vụ kiện. Một trong những ví dụ điển hình nhất, ngày 22/12/2009, liên minh châu Âu (EU) đã bỏ phiếu chính thức thông qua đề xuất của Ủy ban châu Âu (EC) kéo dài thời hạn áp thuế chống bán phá giá đối với giày mũ da nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc thêm 15 tháng. Điều này gây ảnh hưởng lớn đến toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam. Hơn nữa, nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tiêu dùng châu Âu. Điều này được thể hiện rõ qua những phản ứng gay gắt từ các nước thành viên EU. Đặc biệt, nhiều nhà bán lẻ giày dép lớn như Clarks và Adidas, liên minh Giày dép châu Âu (EFA) cũng phản đối các biện pháp này của EC và kêu gọi chấm dứt ngay lập tức loại thuế chống bán phá giá này. Ở thời kỳ trước, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam bị áp dụng thuế chống bán phá giá chưa phải là những mặt hàng chiến lược, vì vậy ảnh hưởng chưa lớn đến kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Nhưng từ vụ kiện cá tra, cá ba sa năm 2002 đến nay có thể thấy không chỉ một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam: thuỷ sản, giày dép... mà cả những mặt hàng xuất khẩu có số lượng chưa lớn nhưng mới thâm nhập thị trường đều có thể trở thành đối tượng của kiện bán phá giá do phương thức tính gộp tổng lượng hàng hoá liên quan từ nhiều nguồn nhập khẩu (không được quá 7%) của nước khởi kiện như: khoá Inôx (EU) săm lốp xe đap, xe máy (Thổ Nhĩ Kỳ), đèn huỳnh quang (Ai Cập). Điển hình trong năm 2002 vụ kiên bán phá giá sản phảm fillet cá tra, cá basa của Mỹ với các doanh nghiệp Việt Nam là tâm điểm thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp Việt Nam và các nước trên thế giới. Cá tra, cá basa đươc xuất khẩu sang nước sang nước Mỹ tù năm 1997 nhờ và chấc lượng và giá cả nên cá tra và cá basa của Việt Nam đã nhanh chống chiếm được thị trường Mỹ ba luân điểm mà các chủ trang trại cá nheo Mỹ đã đưa ra chống lại việc nhập khẩu cá tra và cá basa Việt Nam bao gồm: Một là ; họ cho rằng cá da trơn Việt Nam đã nhập khẩu ồ ạt vào Mỹ làm cho cá nheo nước Mỹ giảm theo Hai là ; cá da trơn Việt Nam nuôi trong môi trường bi ô nhiễm thậm chí trên những dòng sông con dư lượng chấc dioxin (chấc độc màu da cam) do Mỹ rãi xuống nên không đảm bảo chấc lượng Ngày 27 tháng 01 năm 2003 Bộ thương mại Mỹ đã ra quyết định kết luận người nuôi cá da trơn và các công ty xuất khẩu thủy sản Việt Nam bán phá giá mặt hàng cá tra, cá basa vào thị trường nước này gây tổn thất cho ngành xuât khẩu cá tra cá basa và cho nền kinh tế. Ba là ; sản phẩm cá da trơn Việt Nam cũng được gọi là catfish nên tạo ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng Mỹ Dự báo, các vụ kiện bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam sẻ còn tiếp tục xảy ra không chỉ từ các nước phát triển mà còn từ các nước đang phát triển. Đối với các mặt hàng có mức tăng trưởng xuất khẩu cao vào một số thị trường cũng sẽ có nguy cơ đối đầu với các vụ kiện bán phá giá trong thời gian tới 2.5 Các giải pháp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của Việt Nam Để bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam, tạo điều kiện thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, cần phải thực hiện các giải pháp sau: 2.5.1 Chủ động phòng chống các vụ kiện bán phá giá của nước ngoài Chính phủ tích cực triển khai đàm phán song phương,đa phương để tranh thủ nhiều nước thừa nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường, do đó không áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với Việt Nam. Dự báo danh mục các ngành hàng và các mặt hàng Việt Nam có khả năng bị kiện phá giá trên cơ sở rà soát theo tình hình sản xuất,xuất khẩu từng ngành hàng của Việt Nam và cơ chế chống bán phá giá của từng quốc gia để từ đó có sự phòng tránh cần thiết. Xây dựng chiến lược đa dạng hoá sản phẩm và đa phương hoá thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp để phân tán rủi ro, tránh tập trung xuất khẩu với khối lượng lớn vào một nước vì điều này có thể tạo ra cơ sở cho các nước khởi kiện bán phá giá. Theo hướng đó các doanh nghiệp cần chú trọng đến các thị trường lớn (Trung Quốc, Nhật Bản..) các thị trường mới nổi (Hàn Quốc, Úc..) các thị trường mới (SNG, Trung Đông, Nam Phi...). Bên cạnh đó cần tăng cường khai thác thị trường nội địa - một thị trường có tiềm năng phát triển. Đây là những kinh nghiệm ta đã rút ra được từ các vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa của Mỹ trước đây. Tăng cường áp dụng các biện pháp cạnh tranh phi giá để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu thay cho cạnh tranh bằng giá thấp. Đó là phải đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh các dịch vụ hậu mãi, tiếp thị quảng cáo, áp dụng các điều kiện mua bán có lợi cho khách hàng... Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về thị trường xuất khẩu,về luật thương mại quốc tế,luật chống bán phá giá của các nước... và phổ biến, hướng dẫn cho các doanh nghiệp Việt Nam các thông tin cần thiết nhằm tránh những sơ hở dẫn đến các vụ kiện. 2.5.2Các giải pháp đối phó với vụ kiện chống bán phá giá đã xảy ra * Về phía chính phủ: cần tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp trong kháng kiện - Thành lập quỹ trợ giúp theo đuổi các vụ kiện để hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp kháng kiện. - Cung cấp cho các doanh nghiệp các thông tin cần thiết về các thủ tục kháng kiện, giới thiệu các luật sư giỏi ở nước sở tại có khả năng giúp cho doanh nghiệp thắng kiện... * Về phía các hiệp hội ngành hàng: cần phát huy vai trò là tổ chức tập hợp và tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong ngành nhằm nâng cao năng lực kháng kiện của các doanh nghiệp. - Thông qua hiệp hội quy định hành vi bảo vệ lẫn nhau, phối hợp giá cả trên thị trường, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh có thể tạo ra cớ gây ra các vụ kiện của nước ngoài. - Thiết lập cơ chế phối hợp trong tham gia kháng kiện và hưởng lợi khi kháng kiện thành công để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia kháng kiện. + Tổ chức cho các doanh nghiệp nghiên cứu thông tin về giá cả,định hướng phát triển thị trường, những quy định pháp lý của nước sở tại về chống bán phá giá... để các doanh nghiệp kháng kiện có hiệu quả giảm bớt tổn thất do thiếu thông tin. * Về phía các doanh nghiệp: cần chủ động theo đuổi các vụ kiện khi bị nước ngoài kiện bán phá giá. - Hoàn thiện hệ thống sổ sách chứng từ kế toán phù hợp với các quy định của luật pháp và chuẩn mực quốc tế, lưu trữ đầy đủ hồ sơ về tình hình kinh doanh nhằm chuẩn bị sẵn sàng các chứng cứ, các lập luận chứng minh không bán phá giá của doanh nghiệp, tổ chức nhân sự, dự trù kinh phí, xây dựng các phương án bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp... - Tạo ra những mối liên kết với các tổ chức lobby để vận động hành lang nhằm lôi kéo những đối tượng có cùng quyền lợi ở nước khởi kiện ủng hộ mình. Như trong vụ kiện tôm đã có “Liên minh hành động ngành thương mại công nghiệp tiêu dùng Mỹ” (CITAC) “Hiệp hội các nhà nhập khẩu và phân phối tôm Mỹ” (ASDA) đứng về phía các doanh nghiệp Việt Nam chống lại vụ kiện bán phá giá của Mỹ. - Chủ động thương lượng với chính phủ của nước khởi kiện thực hiện cam kết giá nếu doanh nghiệp thực sự có hành vi phá giá, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp cùng ngành hàng của nước nhập khẩu. Cam kết giá là việc nhà sản xuất, xuất khẩu cam kết sửa đổi mức giá bán (tăng giá lên) hoặc cam kết ngừng xuất khẩu với giá bị coi là bán phá giá hàng hoá. Đây là một thoả thuận tự nguyện giữa các nhà sản xuất, xuất khẩu và nước nhập khẩu. Khi một cam kết giá được chấp thuận. quá trình điều tra sẽ chấm dứt. Hiện nay, cam kết giá được coi là một biện pháp đối phó chủ động của các nước xuất khẩu trong các vụ kiện chống bán phá giá, đặc biệt đối với các sản phẩm công nghiệp. Trong giai đoạn 1995-2001 trên thế giới đã có 34 nước thực hiện cam kết giá, trong đó có 10 nước chưa phải là thành viên WTO. Cam kết giá có ưu điểm là nhanh chóng hơn và ít tốn kém hơn so với việc phải hoàn tất cuộc điều tra của cơ quan điều tra về bán phá giá. Hơn nữa các nhà sản xuất, xuất khẩu ở nước bị kiện sẽ được hưởng phần lớn chênh lệch trước và sau cam kết tăng giá bán thay cho việc nộp thuế chống bán phá giá cho nước nhập khẩu. Tuy nhiên, nhà xuất khẩu lúc này cũng phải đối mặt với việc giảm khả năng cạnh tranh về giá của hàng xuất khẩu,chấp nhận thực hiện các thủ tục hành chính nghiêm ngặt và phức tạp hơn trong giao dịch xuất khẩu... Vì vậy cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố về kinh tế, xã hội, luật pháp, khả năng cạnh tranh... trước khi thực hiện biện pháp này. Có thể thấy, với mức tăng trưởng xuất khẩu hàng năm gần 20% trong thời gian gần đây và việc một số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam đã bước đầu có được chỗ đứng vững chắc tại các thị trường lớn đã dẫn đến khả năng các vụ kiện chống bán phá giá ngày càng gia tăng. Điều này về lâu dài sẽ kìm hãm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, để giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực do các vụ kiện bán phá giá gây ra, các doanh nghiệp Việt Nam cần có các biện pháp không chỉ ứng phó có hiệu quả mà phải chủ động ngăn ngừa những nguy cơ xảy ra các vụ kiện chống bán phá giá. Đó là phải thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm và thị trường xuất khẩu, tăng cường vai trò của các hiệp hội ngành hàng, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về thông tin, tiến hành cam kết giá khi cần thiết... 2.6 Các biện pháp phòng vệ chống bán phá giá, chống trợ cấp . 2.6.1 Sẵn sàng với các vụ kiện Theo LS Trần Hữu Huỳnh – Phó Tổng Thư ký, kiêm Trưởng Ban Pháp chế VCCI: Các vụ kiện có thể sẽ không chỉ diễn ra ở các mặt hàng truyền thống, thị trường truyền thống mà diễn ra ở nhiều mặt hàng và trên nhiều thị trường khác. Chính vì vậy, các hiệp hội DN và các DN cần phối hợp và có tiếng nói chung trong chiến lược XK. Đối với DN, không nên chú trọng sản xuất và XK hàng giá rẻ. Nếu thấy có nguy cơ bị kiện chống bán phá giá, hay chống trợ cấp phải chuẩn bị sẵn các điều kiện như hồ sơ sổ sách kế toán, cơ sở pháp lý cũng như sự phối hợp chặt chẽ giữa các DN cùng ngành nghề để chuẩn bị theo kiện. Các hiệp hội DN cũng cần phải chủ động hướng dẫn DN về các điều kiện pháp lý, cũng như tập hợp các DN để đưa ra các biện pháp phòng vệ tích cực. Vai trò của hiệp hội DN hơn lúc nào hết cần được thể hiện rõ trong trường hợp có khiếu kiện chống bán phá giá, TS Peter John Koenig - Luật sư cao cấp của Hãng luật Squire Sanders (Hoa Kỳ) đã đưa ra một số lưu ý khi các DN VN phải đối diện với các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp tại Mỹ. Trước tiên phải nói tới vai trò của Bộ Thương mại Mỹ. Đây là cơ quan có thể đưa ra những quyết định độc lập về áp thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với hàng hóa NK vào Mỹ. VN, Trung Quốc và một số nền kinh tế khác vẫn bị Bộ Thương mại Mỹ coi là nền kinh tế phi thị trường. Do đó, việc khởi kiện các hàng hóa VN XK sang thị trường Mỹ và áp dụng thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp luôn luôn có thể xảy ra. Khi bị khởi kiện, Bộ Thương mại Mỹ thường căn cứ tham chiếu từ các thị trường tương tự như VN về giá thuê đất, lãi suất ngân hàng, các yếu tố cấu thành giá trị sản phẩm... để đưa ra phán quyết hàng hóa VN có phá giá trị trường không, có được trợ cấp không? Ngoài ra, khi XK hàng hóa vào thị trường Mỹ, các DN VN cũng cần lưu ý đối với các mặt hàng giá rẻ hoặc gây ảnh hưởng, thiệt hại tới sản xuất của các DN Mỹ. Đây là những mặt hàng có nguy cơ bị khởi kiện cao. TS Peter John Koenig cũng tỏ ra bất bình trước việc Bộ Thương mại Mỹ coi VN là nền kinh tế phi thị trường. Trong khi đáng ra phải coi VN là nền kinh tế định hướng thị trường. 2.6.2 Chủ động để thắng kiện Nếu được chuẩn bị kỹ VN vẫn có thể là người thắng kiện. Vụ kiện túi bán phá giá túi PE là một ví dụ. Thông qua các số liệu giải trình, Bộ Thương mại Mỹ đã phải bác bỏ 31 trên 34 lý do chống bán phá giá của DN Mỹ đưa ra đối với DN VN. Dự kiến ngày 18/3/2010, Bộ Thương mại Mỹ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng về sản phẩm túi PE của VN. Theo bà Chi Mai – Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương, sản phẩm túi PE của VN có thể bị áp dụng mức thuế trung bình khoảng 2,7%. (đây mà mức thuế khá thấp – nhận xét của một chuyên gia pháp luật Mỹ). Cũng theo đại diện Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương), việc tham vấn giữa VN và Hoa Kỳ về vụ kiện chống bán phái giá tôm sẽ được diễn ra vào ngày 23/3/2010. Đây là vụ kiện mà VN là nguyên đơn kiện Hoa Kỳ theo phương pháp quy về 0 (zeroing) sử dụng trong tính toán biên độ phá giá. Có nghĩa là nhiều mặt hàng VN XK vào Mỹ giá cao cũng cần được tính biên độ phá giá là âm, chứ không thể giá cao đều coi là không bán phá giá. Những mặt hàng có biên độ phá giá cao là (âm) sẽ bù lại những mặt hàng có giá thấp, biên độ phá giá (dương). Như vậy, nhiều mặt hàng của VN có giá thấp cũng không thể bị coi là bán phá giá. Nhiều quốc gia khác như các nước EU, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan.... cũng đã từng khởi kiện đối với Hoa Kỳ xoay quanh việc áp dụng phương pháp qui về 0, theo quy định biên độ phá giá của WTO. Không ít quốc gia đã thắng kiện. Tuy nhiên, Bộ Thương mại Mỹ chỉ áp dụng phương pháp quy về 0 này đối với quốc gia nào khởi kiện mình. VN hoàn toàn có thể thắng kiện nếu chuẩn bị đầy đủ các điều kiện pháp lý cần thiết. Đồng thời, đây cũng là việc các bên đều phải làm tốt vai trò của mình từ DN, hiệp hội DN và cả Chính phủ PHẦN KẾT LUẬN Việt nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đã có những bước phát triển ngoạn mục. Vớ gia nhập vào nền kinh tế thế giới và nền kinh tế khu vực tạo điều kiên cho Việt Nam phát triển toàn diện nền kinh tế. Nhưng những thử thách đối với Việt Nam là không nhỏ đối với các ngành các lĩnh vực hoạt động ngoại thương buôn bán còn non trẻ điên hình là việc đầu tư nhiều vốn sức lao động nhưng lợi nhuận thu lại thì không đáng kể. các ngành có tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam như hàng dệt may cá tra, cá basa, xe đạp … thì khả năng bị các công ty nước ngoài áp thuế chống bán phá giá là khá lớn điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khâu Việt Nam cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài. Các công ty nước ngoài khả năng cũng bán phá giá một số hàng hóa vào Việt Nam như sắt, thép, xi măng… . Nhưng vì lợi ích kinh tế nhu cầu sủ dụng công cụ thuế chống bán phá giá chưa xuất hiện. điều này đòi hỏi áp dụng thuế chống bán phá giá như thế nào để phù hợp với lợi ích của toàn xã hội là không dễ dàng. Do đó trong thời gian tới Việt Nam cần nhanh chống ban hành luật chống bán phá giá để sớm điều chỉnh các quan hệ liên quan đến bán phá giá và chống bán phá giá. Tạo điều kiện đêt thúc đấy hơn nữa sự phát triển của nền kinh tế nước nhà chống bán phá giá của Việt Nam để có đầy đủ cơ sở pháp lý đối phó với các vụ kiên bán phá giá của các nước trên thế Kiến nghị các cấp cơ thẩm quyền nhanh chóng ban hành luật chóng bán phá giá tạo cơ sở pháp lý giải quyết các vụ kiện chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu. Cần nhanh chống đào tạo nguồn nhân lực ở nhiều ngành khác nhau liên quan đến vấn đề này Khuyến khích các nhà sản xuất các doanh nghiệp thành lập hiệp hội. Thông qua các hiệp hội này các doanh nghiệp sẻ dể dàng hơn trong việc khởi kiện bán phá giá hàng nhập khẩu từ nước ngoài TÀI LIỆU THAM KHẢO Pháp lệnh về việc chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam 2004. Nghị định 90/2005/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam. Nghị định 04/2006/NĐ-CP về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Nghị định 06/2006/NĐ-CP về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh. Thông tư 106/2005/TT-BTC ngày 5/12/2005 hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và các khoản bảo đảm thanh toán thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng. Hiệp định chống ban phá giá của WTO hiệp định thực thi điều VI của hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 Luật chống bán phá giá của Liên minh châu Âu (EU) ban hành ngày 22/12/1995 trên cơ sở pháp lý là Hiệp định về chống bán phá giá của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Đoàn Tất Thắng, Những giải pháp giúp các doanh nghiệp Việt Nam đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá, Tạp chí Thương mại, số 10, 2005.Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, “Pháp luật về Chống bán phá giá – Những điều cần biết”, 2004 Vũ Kim Dũng, Bán phá giá và hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 94, 2005 Trang web: http:// chongbanphagia.vn;

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPháp luật về chống bán phá giá trên thế giới và thực tiễn chống bán phá giá tại Việt Nam.doc
Luận văn liên quan