Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất và thực tiễn trong việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện Nam Giang – Quảng Nam

Với huyện Nam Giang, trong những năm qua, công tác qui hoạch sử dụng đất đã được cấp chính quyền và các ngành quan tâm thực hiện, đã từng bước tăng cường hiệu lực quản lý của chính quyền đối với việc sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận những bất cập trong qui hoạch sử dụng đất, đó là chưa kịp thời, chưa phù hợp với sự điều chỉnh về địa giới hành chính cấp xã; công tác quản lý sau khi qui hoạch ở một số xã còn rời rạc, chưa chặt chẽ, để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất đai, phá vỡ qui hoạch.v.v.đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình qui hoạch xây dựng nông thôn mới tại các địa phương. Bên cạnh đó, đất qui hoạch của địa phương hiện nay mới chỉ đến giai đoạn 2015, do đó gây khó khăn cho các ngành và địa phương khi qui hoạch xây dựng nông thôn mới của các xã đến năm 2020 trong thời gian đến, trước mắt là đối với 02 xã làm điểm: Tà Bhing, La Dêê.

doc38 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 05/12/2013 | Lượt xem: 3479 | Lượt tải: 18download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất và thực tiễn trong việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện Nam Giang – Quảng Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
địa phương. 1.3.2. Sự cần thiết của thực hiện pháp luật qui hoạch với xây dựng nông thôn mới Từ mối quan hệ mật thiết giữa QHSDĐ và xây dựng nông thôn mới như đã phân tích trên đây, thì việc thực hiện pháp luật QHSDĐ để xây dựng nông thôn mới là cần thiết, nó vừa đảm bảo về mặt pháp luật trong quản lý, sử dụng đất, đồng thời tạo được sự thống nhất trong định hướng phát triển về kinh tế- xã hội tại vùng nông thôn, nhất là tại các địa phương miền núi cao, biên giới để nhằm thực hiện thành công các mục tiêu về xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết số 26-NQ/TW Trung ương 7 khóa X ngày 05/8/2008. Đặc biệt là trong những năm gần đây, khi dân số vẫn đang tiếp tục tăng, trong khi đó, diện tích đất có hạn, đất nông nghiệp dần thu hẹp, nếu không thực hiện pháp luật về QHSDĐ sẽ gây ra những tranh chấp, lấn chiếm, sử dụng đất không đúng mục đích, ảnh hưởng lớn đến việc sắp xếp vùng sản xuất, cụm dân cư, đất xây dựng cơ sở hạ tầng.v.v.từ đó tác động tiêu cực đến quá trình thực hiện đổi mới toàn diện ở nông thôn mà mục tiêu đã đề ra. Vì vậy, để tăng cường trong công tác quản lý sử dụng đất, cũng như đảm bảo các định hướng, qui hoạch về phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng nông thôn mới đi vào qui cũ, thống nhất. Nhất thiết việc thực hiện pháp luật QHSDĐ thực hiện trên thực tiễn. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT Pháp luật về QHSDĐ bao gồm hệ thống các quy định của Luật đất đai 2003 về các vấn đề liên quan đến QHSDĐ nhằm tạo cơ sở pháp lý để hoạt động QHSDĐ có thể thực hiện tốt trong đời sống xã hội. Hiện nay, vấn đề QHSDĐ được quy định rất cụ thể từ điều 21 đến điều 30 tại chương 2 mục II Luật đất đai 2003 và được hướng dẫn từ điều 12 đến điều 29 nghị định số 181/2004/NĐ – CP. Ngoài ra, các nội dung QHSDĐ còn được hướng dẫn tại quyết định số 04/2005/QĐ – BTNMT và thông tư 04/2006/TT – BTNMT. Các quy định này tạo thành một hệ thống các quy phạm điều chỉnh các quan hệ về QHSDĐ và được quy định cụ thể như sau: 2.1 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất QHSDĐ có tính tổng thể rất cao, nội dung đề cập tương đối rộng nên khi lập phương án QHSDĐ cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật đất đai. Trước đây Luật đất đai 1993 chưa có các quy định đề cập đến các nguyên tắc lập quy hoạch. Chỉ đến khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực thì các nguyên tắc lập QHSDĐ mới được pháp luật quy định. Điều 21 Luật đất đai 2003 đã nêu lên tám nguyên tắc lập QHSDĐ. Các nguyên tắc lập QHSDĐ như sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lập quy hoạch. 2.2 Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất Khi lập QHSDĐ, nếu như chỉ tuân thủ vào các nguyên tắc của việc lập QHSDĐ mà không có các căn cứ để định hướng cho việc thực thi quy hoạch thì các phương án QHSDĐ sẽ không mang tính khả thi. Vì thế, chúng ta cần phải có những căn cứ để các phương án QHSDĐ có thể thực hiện một cách hiệu quả nhất. Luật đất đai 2003 đã quy định về các căn cứ lập QHSDĐ dựa trên sự kế thừa của Nghị định 68/2001/NĐ-CP của chính phủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai. Các căn cứ QHSDĐ được quy định tại điều 22 Luật đất đai 2003. Cụ thể, các căn cứ xây dựng quy hoạch phải xuất phát từ: Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường; Hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất; Định mức sử dụng đất; tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất; Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước [18,27] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003). Luật đất đai, Nhà xuất bản chính trị quốc gia . 2.3. Nội dung của quy hoạch sử dụng đất Từ những nguyên tắc và các căn cứ lập QHSDĐ, ta thấy nội dung của QHSDĐ luôn biến đổi phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở kế thừa những quy định về nội dung QHSDĐ của Luật đất đai 1993 và Nghị định 68/2011/NĐ – CP. Luật đất đai 2003 đã quy định nội dung QHSDĐ cụ thể như sau: Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử dụng đất, đánh giá tiềm năng đất đai; xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch; Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án; Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường; Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất [18,29] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), luật đất đai, Nhà xuất bản chính trị quốc gia . 2.4. Kỳ quy hoạch sử dụng đất. Kỳ QHSDĐ là khoảng thời gian mà nhà nước đặt ra để chính quyền các cấp có cơ sở xây dựng chiến lược từ tổng thể đến chi tiết để thực hiện các nội dung QHSDĐ. Điều 24 luật đất đai 2003 quy định về kỳ QHSDĐ của tất cả các cấp là mười năm. Quy định về kỳ quy hoạch là một quy định mới so với các văn bản pháp luật điều chỉnh về QHSDĐ trước đây. Việc quy định về kỳ QHSDĐ giúp nhà nước quản lý đúng tiến độ thực hiện QHSDĐ của các cấp trong cả nước cũng như khoảng thời gian để nhà nước có thể kịp thời điều chỉnh những biến động về QHSDĐ theo quy định hiện hành (10 năm) vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý. Chúng ta áp dụng kỳ quy hoạch chung cho tất cả các cấp trong khi đó nhu cầu sử dụng đất, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở mỗi cấp quy hoạch lại khác nhau. So với quy hoạch của cả nước thì khoảng thời gian này còn tương đối ngắn, trong khi đó đối với cấp xã thì thời gian này khá dài, chưa phù hợp được với yêu cầu của quá trình đổi mới. Vì vậy cần phải xem xét lại các quy định về kỳ QHSDĐ cho phù hợp với khả năng và yêu cầu thực tế. 2.5. Trách nhiệm lập và xét duyệt quy hoạch sử dụng đất. Lập và xét duyệt QHSDĐ là một trong những bước quan trọng trong quá trình xây dựng QHSDĐ. Theo đó trách nhiệm lập và xét duyệt QHSDĐ được quy định rất cụ thể tại điều 25, 26 luật đất đai 2003 và được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định 181/2004/NĐ – CP của chính phủ về thi hành luật đất đai 2003. - Thứ nhất là các quy định của pháp luật về trách nhiệm lập QHSDĐ. Việc quy định trách nhiệm lập QHSDĐ là nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành khảo sát và lập QHSDĐ. Điều này nhằm tách bạch trách nhiệm của tập thể với trách nhiệm của cá nhân đồng thời tăng cường ý thức trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền. Việc lập QHSDĐ được pháp luật quy định tại điều 25 Luật đất đai 2003, điều 15 Nghị định 181/2004/NĐ – CP của Chính phủ. Theo đó: Chính phủ tổ chức và thực hiện lập QHSDĐ của cả nước; UBND tỉnh tổ chức thực hiện QHSDĐ của cấp mình; UBND huyện thuộc tỉnh có trách nhiệm lập QHSDĐ của cấp huyện và UBND huyện thuộc thành phố trung ương lập QHSDĐ của cấp xã thuộc khu vực đô thị; UBND xã có trách nhiệm lập QHSDĐ của cấp xã không thuộc quy hoạch phát triển đô thị [18,30] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003). Luật đất đai, Nhà xuất bản chính trị quốc gia. . - Thứ hai là về quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất QHSDĐ muốn đi vào thực hiện trong cuộc sống phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và phê duyệt. Xét duyệt là công đoạn cuối cùng trước khi các phương án quy hoạch được công bố và đưa vào thực hiện trong cuộc sống. Đây là bước mà cơ quan cấp trên xác nhận lại một lần cuối tính hợp lý và hợp pháp của các phương án QHSDĐ của cấp dưới. Thẩm quyền quyết định và phê duyệt QHSDĐ được quy định tại điều 26 luật đất đai 2003 cụ thể như sau: Quốc hội quyết định QHSDĐ của cả nước do Chính phủ trình. Chính phủ xét duyệt QHSDĐ của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét duyệt QHSDĐ của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp. UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt QHSDĐ cấp xã không thuộc vùng quy hoạch phát triển đô thị [18,31] Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Nghị định 181/2004/NĐ - CP của chính phủ thi hành luật đất đai. . 2.6. Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất Điều chỉnh QHSDĐ là việc cơ quan nhà nước thay đổi một số nội dung của QHSDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Việc điều chỉnh chỉ thực hiện khi có một số thay đổi của các yếu tố có liên quan làm cho các QHSDĐ đã được xét duyệt không còn phù hợp và khi đi vào thực hiện không có tính khả thi. Việc điều chỉnh QHSDĐ được quy định tại điều 27 đã quy định rất cụ thể các trường hợp điều chỉnh QHSDĐ, về nội dung cũng như thẩm quyền quyết định xét duyệt QHSDĐ của các cấp. Những quy định về điểu chỉnh đảm bảo được yêu cầu về tính khả biến của QHSDĐ. Đặc biệt quy định cơ quan có thẩm quyền xét duyệt QHSDĐ cấp nào thì có thẩm quyền xét duyệt điều chỉnh QHSDĐ cấp ấy là quy định hợp lý. Bên cạnh đó, pháp luật cũng đã quy định cụ thể hồ sơ xét duyệt và hồ sơ điều chỉnh xét duyệt QHSDĐ tại điều 17, 19, 20, 21 và 26 Nghị định 181/2004/NĐ - CP, theo đó mỗi cấp lập quy hoạch sẽ có những hồ sơ khác nhau. Nhìn chung các quy định của pháp luật về điều chỉnh QHSDĐ là khá đầy đủ và hợp lý. Tuy nhiên, hồ sơ xét duyệt điều chỉnh QHSDĐ chưa đề cập đến báo cáo đánh giá môi trường chiến lược như các quy định của luật bảo vệ môi trường. Qua đó cho thấy sự thống nhất của Luật đất đai 2003 và Luật bảo vệ môi trường 2005 là chưa cao. 2.7. Công bố quy hoạch sử dụng đất Từ trước tới nay, người dân thường khó tiếp cận với các phương án QHSDĐ, phần lớn việc làm quy hoạch cho đến trình tự pháp lý để được phê duyệt và có hiệu lực đều do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, người dân không có được đầy đủ thông tin hoặc nếu có thì cũng chỉ là những thông tin không chính xác về quy hoạch. Chính vì vậy, pháp luật đã quy định các cơ quan nhà nước phải công khai toàn bộ các tài liệu về QHSDĐ nhằm tạo điều kiện cho người sử dụng đất biết để thực hiện đúng quy hoạch. Đồng thời cũng tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với các phương án QHSDĐ, tránh tình trạng một số người lợi dụng thông tin quy hoạch để trục lợi cho bản thân. Việc công bố QHSDĐ được thực hiện theo điều 28 luật đất đai 2003 và điều 27 Nghị định 181/2004/NĐ - CP của Chính phủ. Theo đó: - Bộ tài nguyên môi trường có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu về QHSDĐ của cả nước đã được quốc hội quyết định. Hình thức công bố bao gồm: Công bố tại trụ sở cơ quan trong suốt kỳ QHSDĐ, đăng công báo, công bố trên mạng thông tin quản lý nhà nước của chính phủ và trích đăng trên báo hằng ngày của trung ương. - Sở TNMT và phòng TNMT có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu QHSDĐ của địa phương đã được xét duyệt. Hình thức công bố bao gồm: công bố tại trụ sở cơ quan trong suốt thời kỳ QHSDĐ, công bố trên mạng thông tin quản lý nhà nước của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và trích đăng trên báo của địa phương. - UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu về QHSDĐ chi tiết và các dự án đầu tư đã được xét duyệt tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn trong suốt kỳ QHSDĐ. Những quy định trên giúp người dân có thể tiếp cận đầy đủ thông tin về QHSDĐ để biết và thực hiện, các cơ quan nhà nước thể hiện sự công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng, lập, phê duyệt và đưa quy hoạch vào đời sống đồng thời thể hiện sự dân chủ, công khai trong công tác quy hoạch. Hình thức công bố thông tin QHSDĐ cũng được quy định đa dạng, người dân có thể tiếp cận thông tin QHSDĐ trên mạng Internet, báo chí… Song những quy định này trên thực tế vẫn còn mang tính hình thức, chưa thực sự mang lại nguồn thông tin hữu ích cho người dân. Người dân không biết đến các phương án quy hoạch, gây khó khăn cho việc thu hồi đất và bàn giao mặt bằng để nhà nước thực hiện các dự án đầu tư. Trong thời gian tới, các cơ quan chức năng nên làm tốt việc công bố thông tin QHSDĐ góp phần nâng cao hiệu quả của các phương án QHSDĐ trong cuộc sống, đảm bảo tính ổn định và chiến lược lâu dài. 2.8. Thực hiện quy hoạch sử dụng đất Thực hiện QHSDĐ là việc triển khai áp dụng các nội dung trong QHSDĐ và thực tiễn sử dụng đất. Đây chính là việc các cơ quan nhà nước thực hiện các hành vi quản lý đất đai theo quy định của pháp luật và theo ý đồ sử dụng đất đã được xét duyệt. Việc thực hiện QHSDĐ được quy định tại điều 29 luật đất đai 2003 theo đó: Chính phủ tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện QHSDĐ của cả nước, kiểm tra việc thực hiện QHSDĐ của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. UBND cấp tỉnh và cấp huyện chỉ đạo việc thực hiện QHSDĐ của địa phương, kiểm tra việc thực hiện QHSDĐ của địa phương cấp dưới trực tiếp. UBND xã chỉ đạo thực hiện QHSDĐ của địa phương, phát hiện, ngăn chặn các hành vi sử dụng đất trái với QHSDĐ đã được công bố [18,34] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật đất đai, Nhà xuất bản chính trị quốc gia . 2.9. Quản lý, giám sát quy hoạch sử dụng đất Quản lý là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng các biện pháp hành chính để thực hiện việc triển khai, giám sát quy hoạch. Điều 28 Nghị định 181/2004/NĐ – CP quy định quản lý QHSDĐ như sau: - UBND tỉnh và huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng theo đúng QHSDĐ. Chủ tịch UBND cấp tỉnh và huyện có trách nhiệm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm tại địa phương. - UBND xã theo dõi thực hiện QHSDĐ tại địa phương, khi có vi phạm xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý. Chủ tịch UBND xã chịu trách nhiệm về việc không ngăn chặn, không xử lý kịp thời để xảy ra các hành vi vi phạm QHSDĐ đã được xét duyệt tại địa phương. - Sở TNMT, Phòng TNMT và cán bộ địa chính cấp xã tổ chức thanh tra việc thực hiện QHSDĐ. Trường hợp có vi phạm về thực hiện QHSDĐ vào mục đích ANQP thì sở TNMT có văn bản gửi Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An để xử lý. Từ những phân tích về các quy định pháp luật QHSDĐ, tác giả đưa ra sơ đồ thể hiện trình tự, thẩm quyền xây dựng QHSDĐ của các cấp trong cả nước như sau: Tên QHSDĐ Thứ tự Bước 1 Bước 2 Bước 3 Bước 4 Bước 5 Bước 6 Lập Thông qua Xét duyệt Công bố Thực hiện Điều chỉnh Lập hồ sơ xét duyệt Thẩm quyền xét duyệt QHSDĐ cả nước Chính phủ Quốc hội Quốc hội Bộ TNTMT Chính phủ Bộ TNMT Quốc hội QHSDĐ cấp tỉnh UBND tỉnh HĐND tỉnh Chính phủ Sở TNMT UBND tỉnh UBND tỉnh Chính phủ QHSDĐ cấp huyện UBND huyện HĐND huyện UBND tỉnh Phòng TNMT UBND huyện UBND huyện UBND tỉnh QHSDĐ cấp xã thuộc KVĐT UBND huyện HĐND huyện UBND tỉnh UBND xã UBND xã UBND huyện UBND tỉnh QHSDĐ cấp xã không thuộc KVĐT UBND xã HĐND xã UBND huyện UBND xã UBND xã UBND xã UBND huyện QHSDĐ ANQP Bộ CA Bộ QP Bộ TNMT Chính phủ Bí mật quốc gia Bộ CA Bộ QP Bộ TNMT Chính phủ * sơ đồ 2: Sơ đồ thể hiện trình tự, thẩm quyền xây dựng QHSDĐ của các cấp Qua sơ đồ trên, ta thấy giữa các cơ quan trong quá trình xây dựng quy hoạch có mối quan hệ mật thiết với nhau. Cơ quan cấp trên luôn thực hiện chức năng giám sát cấp dưới làm cho các QHSDĐ của các cấp hợp lý và phù hợp với quy hoạch tổng thể chung trong cả nước. Với cơ chế như trên, quá trình xây dựng, lập, quyết định xét duyệt vừa tập trung thống nhất từ trung ương đến địa phương, vừa phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước và thẩm quyền chuyên môn của cơ quan quản lý đất đai. Tóm lại, nội dung của pháp luật về QHSDĐ đã góp phần làm cơ sở pháp lý quan trọng để các phương án quy hoạch có hiệu lực pháp luật trong thực tế. Pháp luật quy định rất cụ thể các nguyên tắc, căn cứ cũng như trình tự thủ tục xây dựng các phương án QHSDĐ giúp cho các phương án quy hoạch mang lại hiệu quả cao. Đặc biệt, đối với các QHSDĐ chi tiết pháp luật đã quy định phải lấy ý kiến đóng góp của người dân. Đây là một quy định tiến bộ thể hiện được quyền dân chủ của công dân. Bên cạnh đó, pháp luật cũng đã chia QHSDĐ cấp xã thành hai trường hợp để đáp ứng được nhu cầu thực tế khách quan. So với Luật đất đai 2003 và Nghị định 68/2001/NĐ – CP thì Luật đất đai 2003 đã thể hiện được một bước phát triển mới trong hoạt động QHSDĐ. Tuy nhiên, những quy định đã không còn phù hợp với yêu cầu mới của xã hội nhưng Pháp luật vẫn còn áp dụng các quy định chung cho tất cả các cấp quy hoạch trong khi đó ở mỗi cấp lại có nhu cầu, hiện trạng sử dụng đất khác nhau mà Pháp luật vẫn chưa có cơ chế rõ ràng trong việc chịu trách nhiệm của cá nhân, vẫn còn quy định trách nhiệm chịu tập thể và đặc biệt chưa chú ý tới nguyên tắc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Nhiều quy định thiếu tính ổn định, tính chiến lược và thiếu tính khả thi. Chính vì thế trong thời gian tới pháp luật cần có những chính sách đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai về QHSDĐ để hoạt động QHSDĐ thực sự là công cụ hữu hiệu để nhà nước thực hiện tốt vai trò quản lý đất đai. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUY HOẠCH ĐẤT XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM 3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam và những ảnh hưởng của điều kiện đó đến việc thực hiện pháp luật qui hoạch sử dụng đất trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn 3.1.1. Điều kiện tự nhiên Nam Giang là một trong hai huyện miền núi cao, biên giới của tỉnh Quảng Nam, cách tỉnh lỵ Tam Kỳ 120 Km về phía Tây Bắc. Có tổng diện tích tự nhiên là 184.288,66 ha, trong đó: + Đất nông nghiệp : 153.314,49 ha, chiếm 83,20% tổng diện tích tự nhiên (trong đó đất sản xuất nông nghiệp 5.212,23 ha, đất lâm nghiệp 148.068,17 ha, còn lại là đất nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác). + Đất phi nông nghiệp : 3.744,02 ha + Đất chưa sử dụng : 27.230,15 ha Địa hình chủ yếu đất đồi núi dốc cao, chia cắt mạnh; diện tích rừng núi, đất rừng chiếm tỷ lệ lớn so với tổng diện tích tự nhiên. 3.1.2. Đơn vị hành chính Trước khi Nghị quyết 03/2011/NQ-CP ngày 10/01/2011 của Chính phủ ra đời, toàn địa bàn huyện có 09 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 06 xã vùng cao, biên giới. Sau khi Nghị quyết 03/2011/NQ-CP ngày 10/01/2011 của Chính phủ Về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, thì huyện Nam Giang có 12 đơn vị hành chính cấp xã, với 63 thôn. Trong đó có 06 xã biên giới trên tổng số 09 xã vùng cao, biên giới của huyện. 3.1.3. Điều kiện xã hội: Toàn huyện có tổng dân số là 22.982 người, trong đó: đồng bào dân tộc thiểu số là 17.967 người, chiếm 78,17% tổng số dân trên địa bàn. Kết quả điều tra hộ nghèo trên địa bàn huyện Nam Giang năm 2011, đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 654/QĐ-UBND ngày 29/12/2011 Phê duyệt kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2011 tỉnh Quảng Nam là 69,13%, với 3.661 hộ nghèo; hộ cận nghèo chiếm 4,38%, với 232 hộ. 3.1.4. Điều kiện về kinh tế Là một huyện miền núi, với phần lớn là đồng bào DTTS, sinh sống chủ yếu bằng sản xuất thuần nông, phương thức canh tác giản đơn, nhỏ lẻ và phân tán. Vì vậy, Nam Giang có điều kiện kinh tế xuất phát điểm thấp, phần lớn nông sản làm ra trước mắt là phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và ổn định lương thực tại chỗ. - Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm: 5.966,2 ha/ 6.000 ha đạt 99,4 % kế hoạch. Trong đó, diện tích cây lương thực có hạt: 3.561,8 ha ( vụ Đông- Xuân: 767 ha, Hè- Thu: 2.794,8 ha ); diện tích gieo trồng lúa nước đạt 719,9 ha, bằng 99,3% kế hoạch; diện tích gieo trồng các loại cây trồng khác đạt từ 90,5% trở lên so với kế hoạch giao. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt : 6.202,6 tấn đạt 98,4% kế hoạch giao. Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc : 15.025 con. Trong đó: Đàn bò: 5.216 con, bằng 86,9% so với kế hoạch; đàn trâu: 1.323 con; đàn heo: 7.534 con, bằng 94,1% kế hoạch; đàn dê: 737 con, bằng 92,5% kế hoạch. Tổng đàn gia cầm: 28.305 con, bằng 94,3% kế hoạch. -Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thực hiện ước đạt: 272,372 tỷ đồng. Trong đó, thu trên địa bàn do huyện quản lý thu ước đạt 13,485 tỷ đồng. Nhìn chung thu ngân sách trên địa bàn hằng năm có tăng, song vẫn còn thấp so với nhu cầu chi của địa phương, thu ngân sách của huyện chưa đảm bảo tự cân đối. Phần đảm bảo chi cho đầu tư phát triển và chi cho các hoạt động khác hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách của tỉnh và từ các chương trình mục tiêu của Trung ương phân bổ.v.v. Lâm nghiệp: Cung cấp 285.000 giống cây keo cho nhân dân 03 xã, thị trấn vùng thấp để tổ chức trồng rừng ( sản xuất ) phân tán trong dân, tương đương với 114 ha/150ha, bằng 76% kế hoạch giao. Gía trị sản xuất ngành nông- lâm nghiệp ước đạt 44,37 tỷ đồng, bằng 99,7% kế hoạch. Trong đó, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp 38,37 tỷ đồng, bằng 99,65 % kế hoạch giao ( ngành chăn nuôi đạt 9,1 tỷ đồng, bằng 87,5% kế hoạch ). Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, Giá trị sản xuất ước đạt 8,87 tỷ đồng, bằng 111,4% kế hoạch năm. Trong đó: riêng giá trị sản xuất ngành chế biến đạt 6,49 tỷ đồng ( tăng 28,3% so với năm 2010 ); ngành công nghiệp khai thác đạt 1,17 tỷ đồng, tăng 55,3% so với năm 2010; gía trị sản xuất và phân phối điện nước trong năm đạt 1,205 tỷ đồng. Sản phẩm dệt đạt 9.300 m2 ( bao gồm cả sản phẩm của HTX Dệt thổ cẩm Zơ Ra ) . - Đầu tư xây dựng, tổng kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2011 là 69,131 tỷ đồng ( dự toán chi đầu tư XDCB năm 2011 là 29,907 tỷ đồng; vốn chuyển nguồn năm 2010 là 9,740 tỷ đồng; tỉnh bổ sung năm 2011 29,033 tỷ đồng, bổ sung từ các nguồn khác 451 triệu đồng ). - Giáo dục và đào tạo, năm học 2011-2012, ngành giáo dục trên địa bàn huyện có 26 trường và 01 Trung tâm dạy nghề, với 6.717 học sinh/275 lớp. Trong đó: Mầm non- Mẫu giáo: 1.422/57 lớp, TH 2.343/132 lớp, THCS 1.750/57 lớp, THPT 1.202/29 lớp. Kết quả học tập năm học 2010-2011: học có 413 em hoàn thành chương trình Tiểu, đạt tỷ lệ 100%; 532 em hoàn thành chương trình THCS, đạt tỷ lệ 99,2%; chương trình THPT 291 em, đạt tỷ lệ 91,22%; chương trình THBT 32 học sinh, đạt tỷ lệ 55,2%. Trên địa bàn có 9/12 xã có trạm y tế, còn 03 xã mới chia tách chưa được đầu tư xây dựng Trạm Y tế. - Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình: Tỷ lệ giảm sinh năm 2011 thực hiện 3,08%o, vượt 2,38%o so với kế hoạch giao. - Văn hoá - thông tin Trên toàn địa bàn huyện có 4.015/4.358 hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa, tỷ lệ 93,13%; có 42/63 thôn đạt chuẩn thôn văn hóa, chiếm tỷ lệ 66%. * Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của đặc điểm tự nhiên - kinh tế xã hội đối với công tác quản lý sử dụng đất: Những thuận lợi: - Nam Giang có vị trí địa lý - kinh tế - quốc phòng quan trọng, có đường biên giới với nước bạn Lào anh em mang tính chiến lược không những của tỉnh mà cả miền Trung. Nam Giang có tuyến đường xuyên Việt Hồ Chí Minh chạy qua đây là tuyến đường quan trọng huyết mạch nối liền Bắc-Nam và nối với tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây, nối Việt Nam với các nước Đông Nam á. Có Quốc lộ 14 B đi thành phố Đà Nẵng và thông sang nước bạn Lào theo đường Quốc lộ 14 D qua cửa khẩu Đắc ốc. Đường Hồ chí Minh, Quốc lộ 14B, quốc lộ 14 D sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Nam Giang phát triển kinh tế và mở rộng giao lưu hàng hoá với các tỉnh và với các nước trong khu vực. - Tiềm năng đất đai để phát triển nông nghiệp rất lớn, đất hoang hoá có khả năng sử dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp nhiều, là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nông lâm nghiệp, đặc biệt phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại. - Điều kiện khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng, con vật nuôi. - Tài nguyên rừng phong phú, có nhiều động thực vật quý hiếm rất có giá trị kinh tế, nghiên cứu bảo tồn. - Tiềm năng lớn về khoáng sản, đặc biệt đá vôi là nguyên liệu cho nhà máy Xi măng và một số khoáng sản chưa được thăm dò về trữ lượng. - Tài nguyên nhân văn phong phú với sự pha trộn bản sắc văn hoá đặc trưng của các dân tộc vùng cao. Hệ sinh thái động thực vật đa dạng, môi trường trong lành, cảnh quan hùng vĩ sẽ là điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành du lịch sinh thái, nghĩ dưỡng, nghiên cứu. - Nền kinh tế của huyện bước đầu có tăng trưởng, kinh tế-xã hội có những thay đổi đáng kể. Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật như giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc ... đang được nhà nước quan tâm đầu tư, từng bước cải thiện, tạo những tiền đề cơ bản nhằm khai thác đồng bộ vùng đất ẩn chứa nhiều tiềm năng to lớn này. Những khó khăn, hạn chế: - Là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Quảng Nam, kinh tế có bước phát triển nhưng tốc độ còn chậm. Tích luỹ nội bộ nền kinh tế huyện không đáng kể, điều kiện giao lưu tiếp thu các tiến bộ vào đời sống sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội hạn chế. - Kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn là ngành sản xuất chủ yếu nhưng còn gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Thị trường tiêu thụ nông sản phẩm không ổn định, chuyển đổi cơ cấu cây trồng con vật nuôi còn chậm, chưa đạt hiệu quả cao, chưa có nhiều loại cây trồng, vật nuôi mang tính sản xuất hàng hoá. Năng lực đầu tư thâm canh trong nông nghiệp, giá trị thu được trên một diện tích đất nông nghiệp còn thấp so với nhiều vùng trong tỉnh. Kinh tế hợp tác và hợp tác xã hỗ trợ cho kinh tế hộ chưa được phát triển. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp còn nhiều hạn chế. Thông tin về thị trường của các sản phẩm nông nghiệp cũng như việc gắn phát triển nông nghiệp với phát triển ngành công nghiệp chế biến chưa được hình thành đã ảnh hưởng lớn quá trình sản xuất với quy mô lớn và sức cạnh tranh trên thị trường. - Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân trong huyện còn nghèo nàn. Trình độ dân trí thấp, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu. Trình độ lao sản xuất còn thấp kém, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp chưa phổ biến, vẫn dựa vào thiên nhiên là chủ yếu. Đây là một trong những trở ngại lớn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đầu tư thâm canh phát triển sản xuất. - Lực lượng cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật còn thiếu và trình độ còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. - Cơ sở hạ tầng yếu kém, giao thông nội vùng chưa phát triển nên việc đi lại khó khăn, giao lưu kinh tế, văn hoá còn nhiều bất cập. Các công trình phúc lợi công cộng thiếu và chất lượng phục vụ chưa cao, nên các bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, tiêu chảy thường xuyên xảy ra làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và lao động sản xuất. - Địa hình đồi núi phức tạp, chia cắt mạnh, độ dốc lớn lượng mưa lớn và tập trung vào các tháng 9,10,11 hàng năm do đó đất đai dễ bị xói mòn rữa trôi mạnh làm mất khả năng sản xuất của đất. - Đất sản xuất nông nghiệp nằm phân tán, manh mún gây khó khăn cho việc đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Nhìn chung, về điều kiện kinh tế- xã hội trên địa bàn huyện trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều khởi sắc, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Đặc biệt là về hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhất là tại địa bàn các xã vùng cao, trong đó có 03 xã mới chia tách là: Tà Pơ, Đắc Tôi và Chơ Chun, cơ sở hạ tầng thiết yếu còn rất nhiều hạn chế. Đời sống của nhân dân chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, năng suất còn thấp, giá trị canh tác trên một ha đất nông nghiệp chưa cao, tư duy và phương thức sản xuất của nhân dân vẫn mang nặng tính truyền thống manh mún, nhỏ lẻ.v.v. 3.2. Thực trạng công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Nam Giang nói chung và công tác qui hoạch sử đất để xây dựng nông thôn mới 3.2.1. Thực trạng công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Nam Giang nói chung Xác định rõ được tầm quan trọng trong công tác QHSDĐ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, trong những năm qua các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương luôn quan tâm chú trọng đến công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Đến nay công tác QHSDĐ trên địa bàn huyện đã đạt được kết quả như sau. + Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện thời kỳ 2002-2010. + Quy hoạch sử dụng đất xã Chà Vàl thời kỳ 2003-2015 + Quy hoạch sử dụng đất xã La Dê thời kỳ 2003-2015 + Quy hoạch sử dụng đất xã Đắc Pring thời kỳ 2004-2015 + Quy hoạch sử dụng đất xã Đắc Pre thời kỳ 2004-2015 + Quy hoạch sử dụng đất xã Cà Dy thời kỳ 2005-2015 + Quy hoạch sử dụng đất thị trấn Thạnh Mỹ thời kỳ 2006-2015 + Quy hoạch sử dụng đất xã La Ê thời kỳ 2006-2015 + Quy hoạch sử dụng đất xã Tà Bhing thời kỳ 2007-2015. Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đã hết thời hạn vào năm 2010, hiện tại huyện tập trung điều tra lập QHSDĐ đất cấp huyện giai đoạn 2012 – 2022. Đối với công tác QHSDĐ cấp xã đến nay đã thực hiện được 8/12 xã, còn lại 04 xã chưa lập QHSDĐ (trong đó có 01 xã cũ và 03 xã mới chia tách năm 2012). Công tác lập kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập theo giai đoạn 5 năm: giai đoạn 2001-2005, 2005-2010 và 2010-2015. * Đánh giá chung công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện được thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật từ các bước điều tra thu thập số liệu đến lập quy hoạch, trình xét duyệt và công bố quy hoạch. Sau khi có quyết định phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các cơ quan chuyên môn và UBND các xã, thị trấn đã tổ chức quản lý đất đai theo quy hoạch, việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, … đều thực hiện đúng theo quy hoạch, kế hoạch được duyệt, vai trò quản lý đất đai ở các địa phương ngày càng được tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng đất. Tuy nhiên công tác QHSDĐ trên địa bàn huyện vẫn còn một số mặt tồn tại, hạn chế sau: Công tác lập QHSDĐ chưa được thực hiện kịp thời, hiên nay vẫn còn 4/12 xã chưa có QHSDĐ đã ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý đất đai và phân bổ đất đai phục vụ cho việc phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Một số xã chưa quản lý chặt đất đai theo quy hoạch, còn để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất đai xây dựng nhà ở trái phép gây ảnh hưởng lớn đến việc thu hồi đất, giao đất và triển khai các công trình xây dựng theo quy hoạch. Các tổ chức, cá nhân chưa quan tâm đến công tác đăng ký kế hoạch sử dụng đất do vậy khi triển khai xây dựng phải điều chỉnh, bổ sung QHSDĐ làm thay đổi quy hoạch chung của huyện. Bên cạnh đó có một số tổ chức đăng kế hoạch sử dụng đất và đã được quy hoạch phân bổ đất đai nhưng không tiến hành thực hiện, dẫn đến tình trạng quy hoạch treo, lãng phí đất đai. Việc phân bổ kinh phí cho phát triển kinh tế-xã hội với công tác quy hoạch sử dụng đất chưa có sự thống nhất, do vậy quy hoạch sử dụng đất không đạt theo kế hoạch. Qua kết quả đánh giá thực hiện QHSDĐ những năm qua chỉ đạt từ 50%-60% kế hoạch, mà nguyên nhân chủ yếu là do không được phân bổ kinh phí thực hiện các dự án theo quy hoạch. 3.2.2. Thực trạng công tác qui hoạch sử đất xây dựng nông thôn mới ở huyện Nam Giang Tháng 12 năm 2010, huyện Nam Giang thành lập Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới, giai đoạn 2010-2020 huyện Nam Giang. Thời gian đầu, tập trung chủ yếu vào lập Đề án xây dựng mô hình Nông thôn mới của 09 xã; qui hoạch xây dựng nông thôn mới 02 xã làm điểm, giai đoạn 2011-2015, gồm xã: La Dêê và Tà Bhing. Trong đó: Tại xã La Dêê: Tổng diện tích tự nhiên là 11.378,75 ha - Phạm vi ranh giới qui hoạch về đất đai, gồm : phía Tây giáp xã La Ê và biên giới Việt- Lào ; phía Đông giáp xã Chà Vàl; phía Nam giáp xã Đắc Tôi và Chà Vàl và phía Bắc giáp xã La Ê. - Qui mô đất đai qui hoạch của giai đoạn 2011-2015 là: 11.378,75 ha. Trong đó: đất nông nghiệp 9.497,97 ha, chiếm 83,47% diện tích tự nhiên; đất phi nông nghiệp 471,98 ha,chiếm 4,15% diện tích tự nhiên; đất chưa sử dụng 1.408,8 ha, chiếm 12,38% diện tích tự nhiên. + Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật: * Chỉ tiêu sử dụng đất: đất ở >25m2/người, đất xây dựng công trình dịch vụ >05m2/người, đất cho giao thông và hạ tầng kỹ thuật >05m2/người, cây xanh công cộng>02m2/người. * Chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật: đất xây dựng công sở cấp xã 1.000 m2; nhà trẻ, trường mầm non >12m2/trẻ; trường tiểu học > 10m2/ học sinh; diện tích đất xây dựng trạm y tế > 500m2; trung tâm văn hóa thể thao ( nhà văn hóa xã >1.000 m2, nhà văn hóa thôn >500m2, các công trình thể thao > 4.000 m2 ); chợ > 1.500 m2; điểm phục vụ bưu chính viễn thông > 16m2/ điểm; nghĩa trang nhân dân (mộ hung táng 3.000 m, khoảng cách đến các công trình xây dựng khác 1.000 m); đường giao thông nông thôn ( chiều rộng đường > 3,5m ). Tại xã Tà Bhing: Tổng diện tích tự nhiên là 13.472,47 ha - Phạm vi ranh giới qui hoạch về đất đai, gồm : phía Tây giáp xã Tà Pơ; phía Đông giáp xã Cà Dy ; phía Nam giáp xã Đắc Pring và huyện Phước Sơn và phía Bắc giáp xã Cà Dy và Tà Pơ. - Qui mô đất đai qui hoạch của giai đoạn 2011-2015 là: 11.378,75 ha. Trong đó: đất nông nghiệp 10.949,29 ha, chiếm 81,27% diện tích tự nhiên; đất phi nông nghiệp 436,12 ha,chiếm 3,23% diện tích tự nhiên; đất chưa sử dụng 2.087,6 ha, chiếm 15,5% diện tích tự nhiên. + Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật: * Chỉ tiêu sử dụng đất: đất ở >25m2/người, đất xây dựng công trình dịch vụ >05m2/người, đất cho giao thông và hạ tầng kỹ thuật >05m2/người, cây xanh công cộng>02m2/người. * Chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật: đất xây dựng công sở cấp xã 1.000 m2; nhà trẻ, trường mầm non >12m2/trẻ; trường tiểu học >10m2/ học sinh; diện tích đất xây dựng trạm y tế > 500m2; trung tâm văn hóa thể thao (nhà văn hóa xã >1.000 m2, nhà văn hóa thôn >500m2, các công trình thể thao > 4.000 m2); chợ > 1.500 m2; điểm phục vụ bưu chính viễn thông > 16m2/ điểm; nghĩa trang nhân dân ( mộ hung táng 3.000 m, khoảng cách đến các công trình xây dựng khác 1.000 m ); đường giao thông nông thôn (chiều rộng đường > 3,5m). Đối với việc qui hoạch đất xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Nam Giang có những thuận lợi cơ bản đó là, giai đoạn từ 2003 huyện đã tiến hành lập qui hoạch sử dụng đất đến năm 2015 đối với xã La Dêê và giai đoạn 2007 đến 2015 đối với xã Tà Bhing. Tuy nhiên, thời điểm qui hoạch này được thực hiện trước khi có Nghị quyết 03/NQ/2011/NQ-CP ngày 10/01/2011 của Chính phủ về về chia tách địa giới hành chính xã, thành lập xã mới thuộc huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam. Trong đó, chia xã La Dêê thành 02 xã, gồm: xã La Dêê và xã Đắc Tôi; xã Tà Bhing thành 02 xã: Tà Bhing và Tà Pơ. Chính vì thế, diện tích đất qui hoạch trước có những điểm không phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương sau chia tách, vì vậy phải tính toán điều chỉnh qui hoạch sử dụng đất trước đây của 02 xã này cho phù hợp với thực tiễn. Ngoài ra, hiện nay trên địa bàn huyện mới chỉ qui hoạch sử dụng đất huyện Nam Giang đến năm 2010; bên cạnh đó, đến nay có 04 xã chưa tiến hành lập qui hoạch sử dụng đất. Chính vì vậy trong quá trình thực hiện qui hoạch xây dựng nông thôn mới của các xã còn lại trong thời gian đến sẽ gặp rất nhiều khó khăn, trước hết là về qui hoạch đất sản xuất, khu dân cư, đất trụ sở.v.v. tạo sự lúng túng, không thống nhất trong thực hiện; nảy sinh các vấn đề phức tạp về tranh chấp đất đai, nhất là trong điều kiện hiện nay khi hàng loạt đất sản xuất của nhân dân bị mất do xây dựng các dự án thủy điện trên địa bàn. Từ đó, ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ, mục tiêu xây dựng nông thôn mới trên địa bàn trong những năm tới đây. Đối với địa phương đã được qui hoạch sử dụng đất, qui hoạch đất xây dựng nông thôn mới, thì vẫn còn một số nơi chưa làm tốt công tác quản lý sau qui hoạch, tình trạng xâm lấn đất qui hoạch để xây dựng cơ sở hạ tầng còn diễn ra, việc phát triển sản xuất chưa theo qui hoạch, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp, dẫn đến phá vỡ qui hoạch.v.v. Chính vì vậy, một giải pháp tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với qui hoạch đất xây dựng nông thôn mới từ giai đoạn 2011-2015 và đến 2020 cần phải được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm tăng cường. Có như vậy, việc phát triển kinh tế- xã hội ở vùng nông thôn mới đi đúng định hướng và đạt được mục tiêu đề ra. CHƯƠNG 4. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRONG CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUY HOẠCH ĐẤT XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM 4.1. Phương hướng, nhiệm vụ Xuất phát từ quan điểm của Đảng về giải phóng mọi tiềm năng của đất nước, tạo ra những động lực to lớn để phát triển kinh tế-xã hội. Pháp luật đất đai cũng đã khẳng định Nhà nước quản lý sử dụng đất đai theo quy hoạch, kế hoạch. Do vậy công tác QHSDĐ là nhiệm vụ quan trọng hang đầu, là cơ sở để phân bổ đất đai, định hướng sự phát triển cho các ngành, các lĩnh vực và các vùng. Do vậy cần phải tập trung thực hiện tốt công tác QHSDĐ phù hợp với điều kiện kinh tế của địa phương. Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất là phân bố về mặt không gian, làm cơ sở xác định đối tượng quản lý đối với từng loại đất. Xây dựng QHSDĐ dài hạn và kế hoạch sử dụng đất hang năm là xác lập cơ sở pháp lý có tính khoa học để quản lý và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, sử dụng đất đai tiết kiệm, bảo vệ môi trường và đảm bảo cân bằng sinh thái theo hướng bền vững. Quy hoạch sử dụng không mang tính bất biến mà nó luôn luôn biến động theo quá trình phát triển của xã hội. Do vậy các địa phương đã có QHSDĐ cần phải rà soát đánh giá tính khả thi của phương án quy hoạch để điều chỉnh bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của địa phương. Đối với các xã chưa QHSDĐ thì cần phải tập trung thực hiện công tác QHSDĐ để làm cơ sở cho việc phân bổ đất đai phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội. Xây dựng nông thôn mới nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, từng bước giảm khoảng cách chênh lệch về đời sống vật chất tinh thần của nhân dân vùng nông thôn và thành thị. Trong quá trình thực hiện công tác QHSDĐ và quy hoạch xây dựng nông thôn mới cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật đất đai về QHSDĐ. - Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất + Việc lập QHSDĐ phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. + Việc lập QHSDĐ phải được lập từ tổng thể đến chi tiết, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên, kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt. + Việc lập QHSDĐ của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới. + QHSDĐ là công cụ để Nhà nước thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai, do đó việc lập QHSDĐ phải tiết kiệm và có hiệu quả. + Khi tiến hành lập QHSDĐ cần khai thác hợp lý nguyền tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. + Khi lập QHSDĐ phải dân chủ và công khai. + QHSDĐ của mỗi thời kỳ phải được quyết định, xét duyệt trong năm cuối của thời kỳ trước đó. + Qua những nguyên tắc cơ bản của việc lập QHSDĐ, ta thấy việc lập QHSDĐ được nhà nước và pháp luật đặc biệt quan tâm. Việc đưa ra các nguyên tắc trên buộc các cơ quan chức năng thực hiện tốt chính sách đất đai cũng như các chính sách của Đảng và Nhà nước. Việc lập QHSDĐ không được thực hiện một cách tùy tiện, QHSDĐ nào cũng cần phải tuân thủ những nguyên tắc của luật đất đai, có như vậy chúng ta mới có những phương án QHSDĐ một cách hợp lý và có tình bền vững. - Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất Các căn cứ xây dựng quy hoạch phải xuất phát từ: Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường; Hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất; Định mức sử dụng đất; tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất; Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước. - Nội dung của quy hoạch sử dụng đất Nội dung QHSDĐ cụ thể như sau: Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử dụng đất, đánh giá tiềm năng đất đai; xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch; Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án; Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường; Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất. - Kỳ quy hoạch sử dụng đất. Kỳ QHSDĐ của tất cả các cấp là mười năm, tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện nếu xét thấy không đảm bảo so với tình hình phát triển kinh tế xã của địa phương thì có thể điều chỉnh cho phù hợp, không nhất thiết phải thực hiện cho đến hết kỳ quy hoạch mới tiến hành điều chỉnh quy hoạch. - Về việc lập và xét duyệt quy hoạch sử dụng đất. Việc lập QHSDĐ được pháp luật quy định tại điều 25 Luật đất đai 2003, điều 15 Nghị định 181/2004/NĐ – CP của Chính phủ. UBND tỉnh tổ chức thực hiện QHSDĐ của cấp mình; UBND huyện thuộc tỉnh có trách nhiệm lập QHSDĐ của cấp huyện và UBND huyện thuộc thành phố trung ương lập QHSDĐ của cấp xã thuộc khu vực đô thị; UBND xã có trách nhiệm lập QHSDĐ của cấp xã không thuộc quy hoạch phát triển đô thị. Thẩm quyền quyết định và phê duyệt QHSDĐ phải thực hiện đúng theo quy định: UBND tỉnh xét duyệt QHSDĐ của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp. UBND huyện xét duyệt QHSDĐ cấp xã không thuộc vùng quy hoạch phát triển đô thị. - Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất Việc điều chỉnh chỉ thực hiện khi có một số thay đổi của các yếu tố có liên quan làm cho các QHSDĐ đã được xét duyệt không còn phù hợp và khi đi vào thực hiện không có tính khả thi. - Công bố quy hoạch sử dụng đất Sauk hi QHSDĐ đã được phê duyệt, Sở TNMT và phòng TNMT có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu QHSDĐ của địa phương đã được xét duyệt. Hình thức công bố bao gồm: công bố tại trụ sở cơ quan trong suốt thời kỳ QHSDĐ, công bố trên mạng thông tin quản lý nhà nước của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và trích đăng trên báo của địa phương. UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu về QHSDĐ chi tiết và các dự án đầu tư đã được xét duyệt tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn trong suốt kỳ QHSDĐ. - Thực hiện quy hoạch sử dụng đất Thực hiện QHSDĐ là vấn đề quyết định đến kết quả của phương án quy hoạch và sự phát triển của địa phương, do vậy phải giao trách nhiệm cho từng đơn vị cụ thể triển khai thực hiện. Đồng thời phải bố trí nguồn tài chính phù hợp để triển khai các nội dung theo QHSDĐ đã được phê duyệt, nhằm trách tình trạng “Quy hoạch treo” gây lãng phí đất đai. - Quản lý, giám sát quy hoạch sử dụng đất Phải thường thực hiện công tác Quản lý, giám sát QHSDĐ. Tăng cường công tác quản lý đất đai của cấp xã và vai trò của Chủ tịch UBND xã trong việc quản lý QHSDĐ tại địa phương (theo điều 28, Nghị định 181/2004/NĐ-CP) 4.2. Giải pháp. Quản lý và khai thác tốt nguồn tài nguyên đất đai trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất là một yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi vùng lãnh thổ và đòi hỏi nhằm tăng cường hiệu lực của các cấp chính quyền. Nếu đất đai không được quản lý và khai thác theo quy hoạch thì chắc chắn nguồn tài nguyên nay không những nhanh chóng bị cạn kiệt mà còn có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường sinh thái. Yêu cầu lớn nhất đối với công tác QHSDĐ hiện nay là phải giải quyết cho được mối quan hệ giữa đất chuyên dụng, đất sản xuất và đất ở, giữa đất nghĩa địa và đất sản xuất. Việc thiếu vắng những nghĩa địa tập trung làm lãng phí đất đai và gây ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường. Công tác quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp tỉnh phải hoạch định cho được các vùng chuyên canh, thâm canh cây công nghiệp và cây thực phẩm, phải có giải pháp để sử dụng vùng đất trống đồi núi trọt và các vùng đất chưa sử dụng khác còn rộng lớn hiện nay. Để khắc phục những tồn tại, đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả, cần tập trung giải quyết một số nôi dung sau: - Để QHSDĐ đạt được kết quả cao trước tiên cần phải thực hiện tốt công tác điều tra cơ bản, đánh giá đúng thực trạng tình hình sử dụng đất và tiềm năng đất đai, cũng như những tìm lực hiện có của địa phương, như vậy mới có thể đề ra một phương án quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả. - Trên cơ sở QHSDĐ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, các cấp, các ngành, các địa phương cần tập trung triển khai thực hiện, đi đôi với quá trình này là quá trình rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của các cấp, các ngành. Điều này bảo đảm được lợi ích một cách lâu dài của nhà nước và người sử dụng đât, thứ nhất: Nhà nước chủ động trong việc quy hoạch phát triển các cụm kinh tê, khu công nghiệp, khu chế xuất, mở rộng đô thị,.. thứ hai: Đối với người dân, khi biết được quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì họ sẽ chủ động trong tính toán đầu tư, sử dụng đất có hiệu quả hơn. - Nâng cao hiệu lực pháp lý của các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, coi đây là cơ sở để thực hiện các nhu cầu sử dụng đất của các cấp các ngành, các lĩnh vực. - Nâng cao vai trò quản lý đất đai theo quy hoạch của cấp xã theo quy định tại điều 28 Nghị định 181/2004/NĐ-CP. Trước mắt đối với huyện Nam Giang cần tập trung thực hiện tốt các nôi dung sau: - Sớm hoàn thành quy hoạch sử dụng đất cấp huyện giai đoạn 2012-2020 và quy hoạch sử dụng đất chi tiết cho các xã chưa lập quy hoạch SD đất, để làm cơ sở cho công tác quản lý đất đai trên địa bàn. - Tập trung quy hoạch các vùng chuyên canh nông nghiệp như Lúa, Bắp, đậu nhằm đảm bảo nguồn lương thực tại chỗ cho nhân dân . - Tiếp tục triển khai các dự án phát triển rừng phủ xanh đất trống đồi trọc, phát triển các loại cây công nghiệp như Cao Su, Mây, … - Khuyến kích nhân dân phát triển các mô hình kinh tế trang trạng Nông-Lâm kết hợp, Vườn - Rừng, VRC, VAC, … - Đẩy nhanh việc thực hiện quy hoạch phát triển khu kinh tế Của khẩu Nam Giang. Quy hoạch mở rộng Khu tâm tâm cụm xã vùng cao tại Chà Vàl. - Khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, quy hoạch các điểm, cụm dân cư, các khu vực sản xuất kinh doanh dọc đường Hồ Chí Minh. - Quy hoạch mở rộng không gian thị trấn Thạnh Mỹ và Khu trung tâm huyện lỵ Bến Giằng. - Quy hoạch mở rộng các tuyến giao thông liên xã, liên thôn để khai thác có hiệu quả các khu vực đất chưa sử dụng và tạo điều kiện cho nhân dân giao lưu hàng hóa với các vùng khác, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho nhân dân. Trong công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới, cần chú trọng quy hoạch phân bổ đất đai theo các nội dụng sau: - Phân bổ đất đai cho các công trình công cộng: Trường học, Trạm y tế, Khu văn hóa xã và các Cụm văn hóa thôn. - Ưu tiên phát triển đất trồng lúa nước, nhằm đảm bảo nguồn lương thực tại chỗ cho nhân dân. - Tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, chuyển đổi những khu vực đất nương rẫy kém hiệu quả sang trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lấy gỗ. Tiếp tục tập trung chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới ở 2 xã là Tà Bhing và La Dê. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện, sơ kết đánh giá để rút ra những bài học kinh nghiệp để triển khai cho các xã còn lại. III. PHẦN KẾT LUẬN Đổi mới toàn diện nông thôn là quan điểm và mục tiêu thực tiễn, phù hợp với khách quan, với qui luật phát triển. Là là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt. Chính vì vậy, để thực hiện các nhiệm vụ đó thì các cấp chính quyền phải gắn việc xây dựng nông thôn mới với công tác qui hoạch sử dụng đất, có nhu vậy, thì những định hướng về phát triển kinh tế- xã hội mới dễ đạt được các mục tiêu đề ra. Với huyện Nam Giang, trong những năm qua, công tác qui hoạch sử dụng đất đã được cấp chính quyền và các ngành quan tâm thực hiện, đã từng bước tăng cường hiệu lực quản lý của chính quyền đối với việc sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận những bất cập trong qui hoạch sử dụng đất, đó là chưa kịp thời, chưa phù hợp với sự điều chỉnh về địa giới hành chính cấp xã; công tác quản lý sau khi qui hoạch ở một số xã còn rời rạc, chưa chặt chẽ, để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất đai, phá vỡ qui hoạch.v.v.đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình qui hoạch xây dựng nông thôn mới tại các địa phương. Bên cạnh đó, đất qui hoạch của địa phương hiện nay mới chỉ đến giai đoạn 2015, do đó gây khó khăn cho các ngành và địa phương khi qui hoạch xây dựng nông thôn mới của các xã đến năm 2020 trong thời gian đến, trước mắt là đối với 02 xã làm điểm: Tà Bhing, La Dêê. Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu các nội dung trên tại địa bàn huyện Nam Giang, trên cơ sở các văn bản pháp luật như: luật đất đai năm 2003, các văn bản hướng dẫn qui hoạch sử dụng đất; Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, khóa luận đã đạt được một số nội dung sau: - Đưa ra được các kiến thức tổng quát về QHSDĐ và các vấn đề liên quan đến xây dựng nông thôn mới; các mối liên hệ giữa thực hiện pháp luật QHSDĐ và QHĐ xây dựng nông thôn mới, từ đó xác định được tầm quan trọng của việc qui hoạch sử dụng đất trong xây dựng nông thôn mới. - Cung cấp được các kiến thức cơ bản về nội dung của pháp luật QHSDĐ. - Cung cấp được thực trạng qui hoạch sử dụng đất trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Nam Giang là nhiệm vụ hết sức khó khăn, qua đó đánh giá sự bất cập; đề ra các giải pháp trong thời gian đến. Đề tài “Pháp luật về qui hoạch sử dụng đất và thực tiễn trong việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam” là đề tài mới, do đó tài liệu về lý luận và thực tiễn còn hạn chế, nhất là đối với một huyện miền núi nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các anh, chị ở cơ quan chức năng để bản thân đúc rút kinh nghiệm để đưa vào thực tiễn công tác trong thời gian đến. Xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn và phòng Kinh tế Hạ Tầng, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, phòng Tài nguyên Môi trường, Văn phòng HĐND – UBND huyện và các cơ quan địa phương liên quan của huyện Nam Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho bản thân hoàn thành cơ bản tiểu luận này. MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docbc_thuc_tap_anh_son_binh_sua_ok_9745.doc