Phụ nữ di cư trong nước - Hành trình gian nan tìm kiếm cơ hội

Như nhiều phân tích ở trong báo cáo này, tính dễ bị tổn thương của phụ nữ nhập cư là một vấn đề có tính hai chiều. bên cạnh những hạn chế về khung pháp lý và chính sách, nhận thức và thái độ của lao động nhập cư cũng là một yếu tố dẫn đến tính dễ bị tổn thương. điển hình là vấn đề liên quan đến gần 1/3 phụ nữ lao động nhập cư không tham gia bHXH, bHYT. đây không hoàn toàn là kết quả do sự tắt trách, trốn tránh trách nhiệm của người sử dụng lao động mà chính bản thân nhiều phụ nữ lao động nhập cư cũng không có nhận thức đúng về sự cần thiết phải tham gia bHXH, bHYT như quy định. Như vậy, đảm bảo quyền của phụ nữ nhập cư, giảm tính dễ bị tổn thương của phụ nữ nhập cư là một vấn đề cần thiết phải có trách nhiệm của chính những người phụ nữ lao động nhập cư. Ở góc độ đó, báo cáo này đưa ra một số khuyến khị cụ thể sau: • Trước hết, trước khi quyết định di cư, cần tìm hiểu thông tin về công việc, địa bàn nơi đến để có sự chuẩn bị cần thiết. đây không chỉ là một vấn đề cần quan tâm đối với lao động nữ xác định di cư là một sinh kế mà ngay cả với những phụ nữ quyết định di cư như là một biện pháp ứng phó ngắn hạn. Hiểu về tình hình công việc và điều kiện sinh hoạt là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sự chuẩn bị của phụ nữ trước thay đổi lớn về công việc và cuộc sống của họ.

pdf39 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 04/12/2015 | Lượt xem: 1233 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Phụ nữ di cư trong nước - Hành trình gian nan tìm kiếm cơ hội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g di cư không tham gia bHXH, bHYT là hệ quả từ cả hai phía: nhận thức của người lao động về bảo hiểm và hành vi của người sử dụng lao động. Bảng 4. 6. Tỷ lệ phụ nữ lao động di cư có BHyT Trung bình Theo công việc Theo địa phương Công nhân Lđ tự do Hải Phòng quảng Ninh TP HCM Có bảo hiểm 52,5 73,6 30,7 40,7 60,0 56,7 Không có bảo hiểm 47,5 26,4 69,3 59,3 40,0 43,3 Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước, 2011 Câu hỏi đặt ra với vấn đề này là vai trò của các cơ quan chính quyền, tổ chức công đoàn, các đoàn thể như thế nào? Trong thực tế, đảm bảo quyền cho người lao động được tiếp cận với bHXH, bHYT là một trách nhiệm của hệ thống chính quyền và tổ chức công đoàn. Ở giác độ này, kết quả khảo sát cho thấy chính quyền địa phương đã có những nỗ lực nhất định nhưng chưa có hiệu quả cao vì công tác thanh kiểm tra mới chỉ rất hạn chế. Trong khi đó, tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp tư nhân, những đơn vị sử dụng nhiều lao động nữ di cư trong diện khảo sát của báo cáo này còn rất hạn chế, chưa có tính đại diện tốt được cho quyền lợi chính đáng của người lao động. 58| |59Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội 4.2.2 Tiếp cận với dịch vụ giáo dục và y tế Tiếp cận với dịch vụ giáo dục là một yếu tố cơ bản cấu thành quyền xã hội và quyền dân sự của phụ nữ di cư. Tiếp cận với giáo dục đối với phụ nữ di cư ở đây gồm hai khía cạnh: bản thân phụ nữ di cư có cơ hội được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; và con cái đi kèm với phụ nữ di cư có khả năng tiếp cận với giáo dục tại nơi đến. Ở cả hai khía cạnh này, kết quả khảo sát đều đưa ra một bức tranh không tích cực, thậm chí là đáng lo ngại, về khả năng tiếp cận với dịch vụ giáo dục đối với phụ nữ di cư và con cái của họ. về khía cạnh tiếp cận với các cơ hội đào tạo để nâng cao năng lực chuyên môn và tay nghề, hầu hết phụ nữ di cư đều không có cơ hội để đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn. Như đã phân tích ở Chương 2, đây là một thực tế có thể dự đoán được vì động cơ di cư của lao động nữ chủ yếu là để đi làm, tạo thu nhập chứ không phải là để tìm kiếm cơ hội đào tạo phát triển chuyên môn. Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết phụ nữ di cư được hỏi trong mẫu khảo sát chủ yếu thực hiện việc học tập ngoài thời gian di cư, tức hầu hết đã đạt đến trình độ học tập này trước khi thực hiện việc di cư (94,5%). Họ không học thêm được gì trong quá trình di cư. Cơ hội học hỏi đáng kể duy nhất với phụ nữ di cư làm công nhân là đào tạo ngắn hạn dưới dạng ‘cầm tay chỉ việc’ và ‘vừa học vừa làm’ tại cơ sở sản xuất khi mới được tuyển dụng. Ở một số nhà máy xí nghiệp có hình thức thi nâng bậc tay nghề và thi để nâng bậc lương cho các công nhân. Tuy nhiên, với tính chất lao động phổ thông, những đào tạo này cũng chỉ giúp cho các nữ công nhân có thể thực hiện được một số thao tác trong một vài khâu của cả dây chuyền sản xuất. đối với những nữ lao động trong khu vực phi chính thức với các ngành nghề tự do thì việc chị em được học tập, trau dồi kiến thức mới là gần như không có. về phía bản thân phụ nữ di cư, việc vừa lao động sản xuất vừa tiếp tục học tập nâng cao trình độ là điều khó khăn. một trong những rào cản lớn đó là quỹ thời gian còn lại của phụ nữ di cư quá eo hẹp. Như đã phân tích ở trên, thời gian làm việc trung bình của phụ nữ di cư là 9,2 giờ/ngày và gần như không có ngày nghỉ cuối tuần. bên cạnh đó, chi phí sinh hoạt cao (như dưới đây) đi đôi với thu nhập không cao nên khó đảm bảo để phụ nữ di cư có thể trang trải được sinh hoạt phí, gửi tiền về gia đình tại nơi xuất cư mà vẫn có thể đủ tiền trang trải cho đào tạo nâng cao tay nghề. Chính vì thế cơ hội thay đổi nghề nghiệp theo chiều dọc (từ lao động thủ công lên lao động có kỹ thuật chuyên môn, từ cấp thấp lên cấp cao) ở nữ lao động di cư thường ít mà chủ yếu là thay đổi nghề nghiệp theo chiều ngang (vẫn là lao động thủ công nhưng chuyển từ công ty này sang công ty khác hay chuyển từ nghề này sang nghề khác). đối với các nữ lao động di cư có con nhỏ đi cùng, kết quả khảo sát cho thấy việc tiếp cận với giáo dục gặp nhiều khó khăn về học phí, về trường học và các thủ tục cho trẻ đến trường. Do không có hộ khẩu thường trú nên lao động nữ di cư phải gửi con em của họ đến các cơ sở tư nhân (chủ yếu là mầm non, tiểu học). Ở khía cạnh này, kết quả khảo sát tại hiện trường cho thấy có nhiều cơ sở gửi trẻ tư nhân ở những nơi tập trung nhiều lao động nhập cư nên chi phí cũng không quá cao so với thu nhập trung bình của lao động nhập cư. Nhưng vấn để quan trọng là chất lượng của những cơ sở này không theo tiêu chuẩn chính thức nào, chủ yếu chỉ là mang tính tự phát ở quy mô nhỏ. với một số phụ nữ di cư có con học trong các trường công lập thì thường phải đóng góp thêm các khoản phí để ‘có chỗ’. Tại địa bàn khảo sát của nghiên cứu này, mới chỉ có rất ít các đơn vị sản xuất quy mô lớn có chính sách xây dựng nhà trẻ mẫu giáo cho công nhân gửi trẻ nhỏ nhưng số lượng những đơn vị này còn quá ít nên chưa thể giải quyết được khó khăn này cho phụ nữ di cư. Hộp 4.6 dưới đây ghi nhận một số ý kiến của phụ nữ di cư về những khó khăn phổ biến mà họ gặp phải khi cho con cái tiếp cận với giáo dục. Lưu ý rằng cả phụ nữ di cư làm công nhân và lao động tự do đều phải đối mặt với khó khăn này ở mức độ gần như tương tự. vấn đề sức khỏe là một trong những vấn đề trọng tâm khi tìm hiểu về tình hình đời sống của lao động di cư nói chung và lao động nữ di cư nói riêng. đồng thời, sức khỏe cũng là một trong những yếu tố thể hiện tính dễ bị tổn thương của lao động nữ di cư đặc biệt là vấn đề sức khỏe sinh sản đối với các nữ lao động di cư. Ở khía cạnh này, các phân tích ở trên đã đề cập đến mức độ tham gia bHYT. Kết quả khảo sát cho thấy có gần ½ phụ nữ di cư không tham gia bHYT và vì vậy sẽ phải bỏ tiền túi cho các chi phí chăm sóc y tế phát sinh. Ngoài ra, kết quả khảo sát có phát hiện một số vấn đề khác liên quan đến mức độ sử dụng các dịch vụ y tế của phụ nữ di cư. Như đã phân tích trong chương 2, hơn 60% phụ nữ di cư là ở trong độ tuổi từ 15 đến 29; đồng thời hơn ½ phụ nữ di cư đã lập gia đình. với đặc thù này, nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho phụ nữ di cư là khá lớn. Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết phụ nữ di cư đều rất ít đi khám sức khỏe (trừ khi khám sức khỏe là yêu cầu của người sử dụng lao động khi tuyển dụng). Theo ý kiến của nhiều nữ công nhân, một số đơn vị sử dụng lao động có tổ chức khám sức khỏe theo định kỳ cho công nhân. Tuy nhiên việc khám sức khỏe định kỳ này khá đơn giản, chỉ dừng lại ở việc đo chiều cao, cân nặng hay đo mắt đơn thuần cho công nhân. 4.3 Tính dễ bị tổn thương trong đời sống sinh hoạt Kết quả khảo sát đưa ra một số phát hiện quan trọng về tính dễ bị tổn thương của phụ nữ lao động di cư trên các khía cạnh về (i) điều kiện sinh hoạt (nhà ở, sử dụng điện, sử dụng nước); (ii) sinh hoạt văn hóa tinh thần và hòa nhập cộng đồng. 4.3.1 Điều kiện sinh hoạt: nhà ở, sử dụng điện, sử dụng nước một trong những khó khăn đầu tiên mà phụ nữ nhập cư gặp phải chính là khó khăn về nơi cư trú. Kết quả khảo sát trình bày trong bảng 4.7 cho thấy hầu hết phụ nữ nhập cư đều sống trong nhà cấp 4 (gần 71% ); một số ít (khoảng 8%) phải sống trong các nhà tạm bợ. Xét về địa bàn khảo sát, TP HCm có tỷ lệ phụ nữ nhập cư phải ở nhà tạm nhiều nhất trong số 3 địa điểm khảo sát với 11,7% (so với Hải Phòng và Quảng Ninh là 4,9 và 8,3%). Tỷ lệ phụ nữ nhập cư ở nhà cấp 4 cũng cao nhất ở nhóm mẫu thành phố Hồ Chí minh với 76,7% (cao hơn so với tỷ lệ này ở Quảng Ninh là 3 điểm %, so với Hải Phòng là 14 điểm %). Quan sát tại hiện trường cho thấy nhà ở dạng cấp 4 của phụ nữ nhập cư thường rất đơn giản. Quan sát thường gặp nhất là một căn phòng có diện tích trên dưới 10 m2, với từ 2-4 phụ nữ nhập cư cùng sinh sống, không có tiện nghi gì đáng giá (chủ yếu chỉ có tủ quần áo và một số thiết bị rất đơn sơ). Hầu hết các phòng trọ đều không có nhà tắm, nhà vệ sinh riêng mà sử dụng chung với chủ nhà trọ hoặc với các phòng trọ khác. Khó khăn về chỗ ở, điều kiện ở tồi tàn là một nỗi bức xúc lớn của lao động nhập cư. Nhiều cấp chính quyền cũng rất chia sẻ với khó khăn này nhưng chưa có biện pháp gì đáng kể để hỗ trợ cho lao động nhập cư đỡ khó khăn về chỗ ở. Theo kết quả khảo sát, có đến 68% phụ nữ di cư thuê nhà nhưng không có hợp đồng thuê nhà nên rất rủi ro, có thể bị người cho thuê lấy lại nhà vì bất kỳ lý do gì mà không báo trước; những quyền hợp pháp khác của người thuê nhà cũng không được đảm bảo. Hộp 4.7 dưới đây ghi lại những phản ánh phổ biến của phụ nữ di cư về tình trạng nhà ở của họ. Hộp 4. 6. Khó khăn trong tiếp cận giáo dục với con cái của phụ nữ di cư “Khó khăn trong cuộc sống thì có thể nói là nhiều... việc học hành cho con cái cũng rất khó, ở Gò Vấp có thể nói là áp lực trường học rất là lớn... tại vì dân nhập cư động cho nên mình phải giải quyết hết [không có hỗ trợ gì cả]” (PvS, Cb phụ nữ, Gò vấp, TP HCm) “Công nhân nữ có con thì cực khổ trong việc gởi con ở mẫu giáo, nhà trẻ... nhà trẻ nhà nước thì đa số các phường có nhưng mà không đủ để nhận số lượng trẻ cho nên nhiều khi người ta phải gởi ở ngoài, những nhóm trẻ gia đỉnh, gởi những người quen này nọ để người ta đi làm.” (PvS, Cb phòng LđTb&XH, Gò vấp, tpHCm) “Con thì chưa gửi vì bé quá trường công người ta chưa nhận, còn trường tư thì phí đắt quá nên trông con khó khăn lắm.” (PvS số 2.25, Lđ tự do, 32 tuổi) “Tiền đóng cao so với ở quê, gần 2 triệu đấy là tiền đầu năm học. Rồi nhiều tiền phát sinh khác, tháng đóng hơn 600.000 đồng. Rồi nhiều thứ phát sinh khác, như lợp mái tôn, khám BHYT...” (TLN, Lđ tự do, Hải Phòng) Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước, 2011 60| |61Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội đi kèm với điều kiện về chỗ ở là sử dụng điện và nước sinh hoạt. Như đã chỉ ra trong một số nghiên cứu khác (ví dụ như Desingkar và cộng sự 2006), lao động nhập cư thường phải trả chi phí cao hơn cho sử dụng nước sinh hoạt và sử dụng điện. Lý do chính là vì hầu hết lao động nhập cư đều thuê phòng trọ của người cho thuê là các chủ hộ tư nhân, không có đồng hồ nước và công-tơ điện riêng nên phải chịu mức chi phí trả cho nước sinh hoạt và điện cao hơn nhiều so với mức quy định. Kết quả khảo sát trong nghiên cứu này cũng khẳng định lại thực tế nêu trên. về khía cạnh sử dụng nước, ngoài vấn đề giá nước sinh hoạt phải trả cho chủ nhà trọ cao hơn so với mức giá thông thường, có rất nhiều ý kiến cho rằng chất lượng nước sinh hoạt còn rất kém, không đảm bảo vệ sinh. Hộp 4.8 ghi nhận một số ý kiến phổ biến tại các cuộc phỏng vấn hoặc thảo luận nhóm với phụ nữ di cư trong đó những vấn đề như “nước đục, bẩn”, “nước bị ô nhiễm”, “chỉ sử dụng được cho giặt giũ” là những phản ánh về chất lượng nguồn nước sinh hoạt. Hộp 4. 8. Nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh “Nước dùng nước máy nhưng mà không sạch, nước máy bẩn Họ xả khí có nước váng, rỉ vàng. Uống có mùi tanh. Nước bẩn bị dị ứng ngứa da. Hai đứa bị viêm phụ khoa vì bẩn quá.” (PvS số 2.1, công nhân, 24 tuổi) “Nước thì toàn nước giếng thôi không được sạch như quê mình. Nước bị vẩn đục, nước giếng lọc không được sạch” (PvS số 2.2, công nhân, 20 tuổi) “Nước thì dùng nước máy và cả nước giếng khoan, nước máy hay mất lắm, nước giếng khoan thì có nhiễm phèn” (PvS số 2.23, tự do, 34 tuổi) “Nước đó cũng đục Nói chung là mình chỉ tắm rửa giặt giũ thôi chứ ăn uống thì không nấu nước đó” (PvS số 3.26, tự do, 24 tuổi) Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước, 2011 Bảng 4. 7. Loại hình nhà ở của phụ nữ lao động nhập cư (%) Trung bình Theo công việc Theo địa phương Công nhân Lđ tự do Hải Phòng quảng Ninh TP HCM Nhà tạm 8,3 11,0 5,6 4,9 8,3 11,7 Nhà cấp 4 70,7 69,2 72,2 62,3 73,3 76,7 Nhà mái bằng 10,5 7,7 13,3 14,8 10,0 6,7 Nhà tầng 8,8 8,8 8,9 18,0 6,7 1,6 Nhà chung cư/ tập thể 1,7 3,3 0,0 0,0 1,7 3,3 Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước, 2011 Hộp 4. 7. Phụ nữ di cư gặp rất nhiều khó khăn về nhà ở “Mỗi lần đi tìm nhà trọ rất khó. Ở nhà người thân mấy tháng rồi mới mướn được” (TLN, tự do, Hồ Chí minh) “Người ta lấy nhà lại, nhiều khi lãnh lương không có tiền đóng thì phải chuyển chỗ khác ở” (TLN, công nhân, Hồ Chí minh) “Nhà trọ cho thuê thì đang vẫn ở đây, ăn tết xong phải chuyển chỗ khác” (PvS số 2.24, tự do, 35 tuổi). “Nhà ở cũng có một căn phòng nhỏ, 4 đứa ở cũng không thoải mái, chật chội” (PvS 1.11, công nhân, 17 tuổi. “Nhà cửa phòng chật chội lắm, cửa sổ không có, bí, không thoáng mát” (PvS số 2.1, công nhân, 24 tuổi). “...thuê quán mất hơn 1 triệu, ăn ngủ tại quán luôn, rất chật chội nhiều khi phải ngủ với hóa chất, thuê phòng có 13 m2 mà vừa ăn vừa sinh hoạt, ở một mình nhưng mà rất nhiều đồ (TLN, tự do, Hải Phòng) “Cái khó khăn nhất là điều kiện sống sinh hoạt gặp nhiều khó khăn vì đối tượng này họ phải thuê các khu nhà trọ, mà ở đây các nhà trọ không đủ điêu kiện vệ sinh cho họ.” (PvS 1.33, cán bộ LđLđ, Hải Phòng) Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước, 2011 về điện sinh hoạt, đa số các khu lao động nữ di cư thuê trọ đều có điện và nguồn điện đủ sinh hoạt trong gia đình. Tuy nhiên, cũng như những nghiên cứu trước đây đã chỉ ra, lao động di cư thường phải trả giá điện cao hơn so với mức quy định. Tại các khu vực khảo sát có đông nữ lao động di cư thuê trọ, giá điện thường dao động từ 2.500 đồng đến 3.500 đồng một số điện. Trong thực tế, giá sử dụng điện là cao vì các chủ nhà trọ tính giá điện vào khung giá có mức sử dụng điện lớn. vì chỉ có một công-tơ điện nên chủ nhà trọ phải trả tiền điện ở khung giá cao dẫn đến giá điện mà họ yêu cầu người lao động nhập cư trả cũng cao. bên cạnh đó, theo ý kiến chia sẻ của nhiều phụ nữ trong diện phỏng vấn, một số chủ nhà trọ cố tình nâng mức giá điện lên cao như là một khoản phụ trội. Cùng với tiền thuê nhà, tiền điện hàng tháng mà các nữ lao động di cư phải trả cũng chiếm một khoản đáng kể trong các khoản chi tiêu của họ. 4.3.2 Hạn chế trong hòa nhập cộng đồng mức độ hòa nhập với sinh hoạt chính trị, xã hội, và văn hóa tại nơi đến là một yếu tố quyết định đối với đảm bảo quyền dân sự và chính trị, quyền văn hóa và xã hội của phụ nữ nhập cư được đảm bảo. Ở khía cạnh này, phụ nữ di cư lao động trong diện được khảo sát có tính dễ bị tổn thương rất cao về khía cạnh hòa nhập xã hội. việc chuyển đến một nơi ở mới tạo ra những thách thức cho những người phụ nữ nhập cư trong việc hòa nhập vào môi trường xã hội và cộng đồng xa lạ đối với họ. biểu 4.1 dưới đây trình bày kết quả điều tra một số khía cạnh phản ánh mức độ hòa nhập cộng đồng của đối tượng phụ nữ di cư. Xét về khía cạnh tham gia các hoạt động cộng đồng, kết quả khảo sát cho thấy phụ nữ di cư ít tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng nơi họ đăng ký tạm trú. Có đến 64% số người được hỏi nó họ “chưa bao giờ tham gia sinh hoạt cộng đồng” tại nơi cư trú, 68% chưa bao giờ tham gia sinh hoạt tổ dân phố. Sinh hoạt Hội Phụ nữ cũng rất hạn chế đối với lao động nữ di cư. Kết quả khảo sát cho thấy có đến 66% phụ nữ di cư chưa bao giờ tham gia vào sinh hoạt của các chi Hội phụ nữ tại nơi đến. Các hoạt động sinh hoạt cộng đồng tự nguyện khác như sinh hoạt câu lạc bộ, sinh hoạt hội đồng hương cũng còn rất hạn chế. Biểu đồ 4. 1. Mức độ tham gia các quan hệ xã hội cộng đồng (%) Chưa bao giờ 100% 50% 0% Tham gia họp tổ dân cư Sinh hoạt chi hội phụ nữ Gặp gỡ sinh hoạt nhóm đồng hương Gặp gỡ đồng nghiệp Tham gia hoạt động cộng đồng nơi cư trú Thỉnh thoảng Thường xuyên Nguồn: điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước, 2011 62| |63Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội Hạn chế trong mức độ hòa nhập với cộng đồng nơi cư trú đặt là một dấu hỏi lớn về nguyên nhân. Kết quả khảo sát định tính gợi ý nhiều lý do, cản trở mức độ hòa nhập cộng đồng của phụ nữ nhập cư. Hộp 4.9 dưới đây tóm tắt một số kết quả định tính về vấn đề này. Trong số những nguyên nhân được nhắc đến thì có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Từ góc độ phụ nữ nhập cư, họ bận đi làm cả ngày nên cũng không có thời gian quan tâm nhiều đếu các công việc khác. một số phụ nữ có bày tỏ quan tâm nhưng họ cũng chưa chủ động trong việc tìm kiếm các cơ hội hòa nhập cộng đồng. Từ góc độ chính quyền và các tổ chức đoàn thể, kết quả khảo sát cũng gợi ý rằng lao động di cư chưa được chú ý đúng mức nên họ còn chưa phải là đối tượng ưu tiên trong chính sách của chính quyền các cấp hay hoạt động của các tổ chức đoàn thể. về vấn đề này, nhiều cán bộ ở địa bàn khảo sát chia sẻ những khó khăn trong triển khai hoạt động đoàn thể với đội ngũ lao động nữ di cư. Những khó khăn này một phần cũng xuất phát từ điều kiện công việc của người lao động; họ phải làm việc cả ngày nên việc tiếp cận gặp khó khăn, trong khi đó các chủ doanh nghiệp nhiều khi không hợp tác tốt với chính quyền và tổ chức đoàn thể trong tổ chức những sinh hoạt cộng đồng cho người lao động. Hộp 4. 9. Các yếu tố cản trở hòa nhập cộng đồng “Không phải là không muốn [tham gia sinh hoạt cộng đồng] mà là không có thời gian, đi làm về mệt thì chỉ nghỉ ngơi thôi chứ cũng chẳng muốn tham gia hoạt động gì cả” (PvS 1.12, công nhân, 18 tuổi) “Mình cũng không để ý đến chỉ đi làm rồi về, rồi lại đi làm thôi chứ cũng không tham gia sinh hoạt gì cả.” (PvS số 2.3, công nhân, 20 tuổi) “Em không tham gia mà cũng chẳng thấy ai mời gì cả. Các chị em ở đây cũng thế, chỉ đi làm rồi về nhà ngủ thôi chứ chẳng có tổ chức hay hoạt động gì ở đây cả chị ạ” (PvS 1.16, công nhân, 17 tuổi) “Không tham gia các sinh hoạt địa phương do mình tỉnh lẻ cũng không có ai hỏi Cũng không có, đi làm hoài cũng không hỏi Tết trung thu thì không cho quà, không thấy gì cả.” (PvS số 3.26, tự do, 24 tuổi) “Mình thì chưa biết mà cũng chưa nghe đến chương trình nào cho chị em phụ nữ nhập cư cả. Mình cũng chỉ là người tạm trú ở đây nên có khi họ có những hoạt động mà không thông báo cho mình ... Hơn nữa mình làm xa nhà quần quật suốt ngày cũng không có thời gian đâu mà tham gia... Chưa bao giờ mình thấy mời mình đi họp hay là tham gia hoạt động gì” (PvS 1.29, TD, 33 tuổi) Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước, 2011 điều kiện làm việc căng thẳng, thu nhập không cao, hòa nhập cộng đồng kém dẫn đến sinh hoạt văn hóa tinh thần của phụ nữ lao động nhập cư tại địa bàn khảo sát rất nghèo nàn. Không tham gia đáng kể gì vào các hoạt động sinh hoạt cộng đồng, đi làm từ sáng đến tối khuya nên sinh hoạt văn hóa tinh thần của người phụ nữ di cư giới hạn lại trong phạm vi hẹp của chính những phụ nữ di cư. Sự xa cách giữa người phụ nữ nhập cư và gia đình của họ ở quê khiến cho cuộc sống của họ thêm áp lực và khó khăn. Nỗi nhớ nhà và sự cô đơn khi xa quê: “Chỉ là hơi buồn vì xa gia đình vì mình mới ở quê lên thành phố hơi nhớ nhà (PvS 1.15, công nhân, 18 tuổi). Hay vì di cư phải chia cách với con cái và chồng con: “Cuộc sống ở đây thì xa quê xa nhà thì nhớ lắm, đặc biệt là con thì lại còn nhỏ, mới có 3 tuổi thôi nên nhiều lúc nhớ con cứ nằm ôm gối khóc. Rồi thương con nữa, bé thế mà để ở nhà, hai bố con cứ lụi cụi một mình.” (PvS số 3.11, công nhân, 30 tuổi). Khi đó, cuộc sống đặc biệt khó khăn hơn khi ốm đau, bệnh tật không có ai bên cạnh: “Xa quê lúc ốm đau không có người thân bên cạnh chăm sóc” (TLN, tự do, Hải Phòng). Những phân tích trong chương 3 đã chỉ rõ nhiều phụ nữ di cư là kết quả của sự thôi thúc do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, cần tìm việc làm để có thêm thu nhập. Trong hoàn cảnh đó, áp lực từ các đô thị về việc làm, thu nhập, và một phần là do bạn bè/người thân giới thiệu đã dẫn rất nhiều phụ nữ đến quyết định di cư. bên cạnh đó một bộ phận chị em phụ nữ khi di cư cũng cân nhắc đến triển vọng được cải thiện cuộc sống và tìm kiếm cơ hội phát triển. Trong điều kiện đó, Chương 4 này cho thấy một khoảng cách rất lớn giữa ‘kỳ vọng’ và ‘thực tế’. Ngoại trừ mục tiêu kiếm thêm thu nhập, phụ nữ di cư phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, tính dễ bị tổn thương của họ rất cao vì các quyền cơ bản không được đảm bảo: điều kiện nhà ở khó khăn, tiếp cận dịch vụ y tế/giáo dục hạn chế, chi phí sinh hoạt cao, ít tham gia sinh hoạt cộng đồng, đời sống văn hóa tinh thần nghèo nàn. Di cư với phụ nữ, trong nghiên cứu này, là một hành trình đầy gian nan. Phần 5: CHíNH sáCH đốI vớI PHỤ Nữ DI Cư: THựC TRạNG vÀ MỘT số đề XuấT 64| |65Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội Trên cơ sở những phân tích ở trên, Chương cuối cùng của báo cáo này tập trung vào hai nội dung chính. Phần thứ nhất chỉ ra rằng khung pháp lý và chính sách đối với lao động di cư còn rất hạn chế. Trên cơ sở đó, căn cứ vào những phân tích về đặc thù của lao động nữ di cư, động cơ di cư, và đặc biệt là tính dễ bị tổn thương của phụ nữ di cư, phần cuối sẽ đưa ra một số khuyến nghị về chính sách. 5.1 Khung pháp lý và chính sách với lao động nữ di cư một số nghiên cứu gần đây như uN (2010a,b) đã tổng kết một số vấn đề liên quan đến di cư trong nước và chỉ ra rằng ngoại trừ một khung pháp lý chặt chẽ bảo vệ các quyền của mọi công dân, trong đó bao gồm người lao động di cư, việt Nam chưa có bất kỳ chính sách đáng kể gì mang tính đặc thù đối với đối tượng di cư trong nước. Những khung pháp lý này được xác định bởi Hiến Pháp, một số Công ước và Tuyên ngôn quốc tế công nhận về quyền của lao động di cư trong nước vì lý do kinh tế, cam kết của việt Nam với trong thực hiện các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (và được cụ thể hóa thêm bởi các mục tiêu Phát triển việt Nam), và trong những văn kiện chiến lược như Chiến lược Phát triển Kinh tế-Xã hội 2001- 2010, 2011-2020 và các Kế hoạch Phát triển Kinh tế-Xã hội 5 năm trong thời gian gần đây. một bộ phận rất quan trọng của khung pháp lý này là một số bộ luật có tác động đến người lao động (trong đó có lao động di cư) như Luật Lao động, Luật bảo hiểm Xã hội, Luật Cư trú, Luật Dân sự, Luật khám chữa bệnh, Luật trợ giúp pháp lý. Riêng đối với đối tượng phụ nữ di cư, còn có các công ước quốc tế và bộ luật liên quan khác như Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDaW), Luật bình đẳng Giới. đáng lưu ý nhất là hệ thống khung pháp lý này dù chặt chẽ nhưng phạm vi điều chỉnh hầu hết là chung, không giới hạn đối với di cư. Di cư là một vấn đề gắn với phát triển. Tuy nhiên, di cư trong nước có vai trò như thế nào với phát triển kinh tế-xã hội còn là một vấn đề đang tiếp tục được xem xét. Trong Chiến lược Phát triển Kinh tế-Xã hội 2001-2010 (và các bản kế hoạch 5 năm trong giai đoạn chiến lược này), vấn đề di cư tự do được nhắc đến với chủ trương kiềm chế di cư tự do. đến Chiến lược Phát triển Kinh tế-Xã hội 2011-2020, vấn đề di cư hoàn toàn không được nhắc đến. Thay vào đó, nội dung lao động nông thôn được đề cập với mục tiêu tạo việc làm cho lao động nông thôn, đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn. Chiến lược này tiếp tục nhấn mạnh đến ưu tiên hỗ trợ cho người nghèo và các nhóm yếu thế khác nhưng không nhắc đến đối tượng lao động di cư nghèo ở các đô thị như là một đối tượng cần có quan tâm đặc biệt. Thay vào đó, văn kiện chiến lược này tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu cải thiện hệ thống an sinh xã hội, tập trung vào các trọng tâm bHXH, bHYT và các hỗ trợ giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Ngay cả trong văn bản Chiến lược Toàn diện về tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo (CPRGS) – một văn kiện chiến lược đóng vai trò là khung cho các nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo của việt Nam với các đối tác phát triển cũng chỉ đề cập đến vấn đề di cư khi đặt ra yêu cầu phải “giải quyết tốt di dân đô thị” khi đề cập đến “Công nghiệp và phát triển đô thị”. Trong bối cảnh vấn đề di cư trong nước không được đề cập một cách rõ ràng trong những văn kiện mang ý nghĩa chiến lược ở tầm cao nhất, một hệ quả là hệ thống chính sách do các bộ/ ngành liên quan cũng ít có những trọng tâm cụ thể vào vấn đề di cư từ nông thôn ra thành thị. điều đó cũng một phần xuất phát từ thực tế là đối tượng di cư trong nước gần như không thuộc phạm vi quản lý nhà nước của một bộ/ngành cụ thể nào. bộ NN&PTNN có thời gian đã chịu trách nhiệm về vấn đề di cư nhưng là trong khuôn khổ các chương trình di cư kinh tế mới trong thập niên 1980. bộ Công an cũng có trách nhiệm về quản lý lao động nhập cư thông qua thực hiện việc đăng ký hộ khẩu theo Luật Cư trú. bộ Giáo dục, bộ Y tế chịu trách nhiệm nói chung về tiếp cận với giáo dục và y tế nhưng không có trách nhiệm cụ thể đối với đối tượng lao động nhập cư. bộ LđTb&XH là bộ có liên quan nhiều nhất đến các vấn đề về lao động di cư. Liên quan trực tiếp đến đối tượng lao động di cư, bộ LđTb&XH có CHÍNH SáCH đỐI vỚI PHỤ NỮ DI CƯ: THỰC TRẠNG vÀ mộT SỐ đỀ XuẤT 66| |67Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội chức năng quản lý nhà nước về các chính sách xã hội (bảo trợ xã hội, giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, bình đẳng giới, bảo vệ và chăm sóc trẻ em). Tuy nhiên, bộ LđTb&XH cũng chưa có chính sách cụ thể gì đáng kể tập trung riêng vào đối tượng lao động di cư. văn bản chính sách liên quan trực tiếp nhất của bộ LđTb&XH về vấn đề này là Thông tư 13/2009/TT-bLđTbXH ngày 06/5/2009 về hướng dẫn các vấn đề về quản lý người lao động, quản lý thông tin, nội quy lao động, thỏa ước tập thể, lương tại các khu công nghiệp, chế xuất. về các chính sách, chương trình hỗ trợ giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn, việt Nam đã có một hệ thống rất nhiều các chương trình/chính sách khác nhau, từ các chương trình mục tiêu quốc gia đến các chương trình tiếp cận có trọng điểm theo đối tượng đặc thù, theo vùng, hay theo các lĩnh vực cụ thể. Phạm (2010) và Jones và cộng sự (2010) đã đưa ra những đánh giá khá toàn diện về hệ thống hơn 40 chương trình/chính sách giảm nghèo của việt Nam. đối tượng mục tiêu của tất cả các chương trình/chính sách giảm nghèo đều là người nghèo ở các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa hay một số đối tượng đặc thù khác. Tuy nhiên, chưa có bất kỳ chương trình/chính sách nào đề cập một cách trực tiếp đến đối tượng lao động di cư từ nông thôn ra thành thị - là một đối tượng yếu thế mà nghiên cứu này chỉ ra là có tính dễ bị tổn thương cao. bên cạnh đó, cũng cấn nhấn mạnh rằng ngay cả khi một số đối tượng lao động di cư đáp ứng đủ tiêu chuẩn của một số chương trình/chính sách hỗ trợ giảm nghèo (ví dụ như là hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số...) thì gia đình của họ tại nơi xuất cư sẽ được thụ hưởng chính sách chứ cá nhân người lao động di cư không có hộ khẩu thường trú tại nơi đến không thể được thụ hưởng những chính sách đó. về khía cạnh lao động nữ, việt Nam có một hệ thống khung pháp lý gồm các Hiến pháp, Công ước Quốc tế, Luật, và các văn bản quy phạm pháp luật đồ sộ về bình đẳng giới. việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham gia Công ước từ năm 1980. vấn đề bình đẳng giới được thể chế hoá trong hầu hết các văn bản pháp luật, đã tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, như: Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư, bộ luật Lao động, Luật bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề, Luật Giáo dục, Luật Khoa học và công nghệ, bộ luật Dân sự, bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Luật Khiếu nại tố cáo, Luật Cư trú, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Pháp lệnh cán bộ, công chức và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như các nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành. đặc biệt, việt Nam thông qua Luật bình đẳng giới năm 2006, Luật ngăn chặn và chống bạo lực gia đình năm 2007. Tuy nhiên, trong hệ thống pháp lý đồ sộ này, khó có thể tìm thấy nội dung cụ thể nào chỉ liên quan đến đối tượng phụ nữ di cư. Trong khung pháp lý và chính sách hiện hành liên quan đến vấn đề di cư, quy định về đăng ký hộ khẩu gia đình là một trong những quy định có ý nghĩa tác động trực tiếp nhất đến các đối tượng di cư. Hệ thống hộ khẩu có một chiều dài lịch sử đã từ rất lâu, được sử dụng để kiểm soát và giám sát những thay đổi trong cư trú. Hệ thống hộ khẩu đã từng được sử dụng để kiểm soát di cư, làm cơ sở cho phân phối hàng hóa trong thời kỳ bao cấp. mặc dù môi trường pháp lý ở việt Nam đã thay đổi rất đáng kể trong thời kỳ đổi mới nhưng chế độ hộ khẩu vẫn được duy trì. Thay đổi đáng kể nhất là sau khi Luật Cư trú được ban hành năm 2007, kể từ đó các loại hộ khẩu được đơn giản hóa chỉ còn hai loại là cư trú thường xuyên và tạm trú, các điều kiện để được đăng ký hộ khẩu thường trú cũng được nới lỏng. Tuy nhiên, việc thực hiện còn có nhiều bất cập và thiếu thống nhất. Gần đây, một số thành phố lớn lại đưa ra những quy định riêng về hạn chế đăng ký hộ khẩu thường xuyên (như trường hợp của đà Nẵng đầu năm 2012). Trong thực tế, hộ khẩu vẫn là một trong những loại giấy tờ cần thiết khi thực hiện các thủ tục hành chính như mua bán quyền sử dụng đất, sở hữu nhà, tiếp cận với dịch vụ y tế, giáo dục, sử dụng điện, nước, vay ngân hàng, khai sinh cho con cái, thụ hưởng các chương trình/chính sách hỗ trợ và rất nhiều thủ tục khác. với rất nhiều dịch vụ công, có đăng ký hộ khẩu thường trú là điều kiện cơ bản để sử dụng dịch vụ; các loại hộ khẩu tạm trú hoặc gặp khó khăn trong tiếp cận, hoặc phải trả phí dịch vụ cao hơn khi sử dụng dịch vụ. đối với lao động di cư, nếu có đăng ký thì sẽ là loại hộ khẩu tạm trú. đây là một hạn chế lớn đối với khả năng tiếp cận dịch vụ công, và trở ngại đáng kể đối với lao động di cư khi thực hiện các thủ tục hành chính tại nơi đến. Trong điều kiện khung pháp lý và chính sách cho đối tượng di cư còn nhiều bất cập, một điểm đáng mừng là chính quyền một số tỉnh/thành phố - là điểm đến của nhiều dòng di cư từ nông thôn đã có một số chính sách áp dụng trong phạm vi hẹp của địa phương để hỗ trợ cho lao động di cư. điển hình là TP HCm với Qđ 90/2005/Qđ- ub của ubND TP HCm và Hướng dẫn số 2211/ LđTbXH.HD của Sở Lao động Thương binh Xã hội TP. HCm về quản lý lao động theo Quy chế quản lý cư trú và lao động của người tạm trú có thời hạn trên địa bàn, trong đó đưa ra các biện pháp quản lý lao động nhập cư để có kế hoạch đào tạo nghề và giới thiệu việc làm. Thêm vào đó là Quyết định 75/2006/Qđ-ubND ngày 17/5/2006 của ubND TP.HCm ban hành quy chế quản lý nhà cho công nhân, người lao động thuê để ở trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, mới chỉ có rất ít tỉnh/thành phố làm được những động thái tích cực này để hỗ trợ lao động di cư. Ngoài ra, một số tổ chức phi chính phủ quốc tế trong thời gian gần đây cũng có một số can thiệp ở quy mô nhỏ để hỗ trợ cho lao động di cư. Chương trình “Thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ nghèo đô thị việt Nam” của tổ chức aav là một ví dụ trong số này. 5.2 một số khuyến nghị Những phân tích ở trên cho thấy khung pháp lý và chính sách ở việt Nam hiện hành chưa có một ưu tiên cụ thể nào hướng đến đối tượng lao động di cư trong nước, thậm chí có một số quy định còn tạo ra nhiều khó khăn cho người di cư tại điểm đến. Ngoài các quyền lợi hợp pháp được bảo vệ theo Hiến pháp và các bộ luật áp dụng chung cho mọi đối tượng lao động, lao động nhập cư (cụ thể hơn là lao động nhập cư nữ) chưa phải là đối tượng quan tâm chính trong các chương trình, chính sách của các bộ ngành và địa phương. đây có lẽ là lý do cơ bản và chủ yếu dẫn đến quyền của phụ nữ lao động di cư chưa được đảm bảo như phát hiện trong nghiên cứu này. vì vậy, phụ nữ lao động di cư phải chịu nhiều rủi ro, tính dễ bị tổn thương cao là một hệ quả có thể dự đoán trước được. Trong bối cảnh đó, báo cáo này đưa ra một số khuyến nghị cụ thể sau đây. Về quan điểm: Cần coi lao động di cư là một vấn đề phát triển đây là một vấn đề cần sớm được thống nhất trong các văn kiện chiến lược quốc gia để từ đó trở thành nguyên tắc trong lập chính sách và ra quyết định. mặc dù di cư có thể kéo theo những hệ quả xã hội nhất định (biến động về cư trú, trật tự xã hội, tệ nạn xã hội, quá tải của hệ thống cở sở hạ tầng đô thị...) nhưng di cư rõ ràng là một vấn đề phát triển trong điều kiện hiện nay ở việt Nam. Từ góc độ nơi xuất cư, di cư là một lựa chọn của nhiều người trong lực lượng lao động muốn thay đổi nơi cư trú để có việc làm, tạo ra thu nhập cho bản thân, trợ giúp thu nhập gia đình. Ở khía cạnh này, di cư đã giúp nhiều hộ nghèo ở nông thôn cải thiện thu nhập và điều kiện sống. Ở góc độ nơi đến, lao động di cư là nguồn lao động bổ sung cần thiết, nhất là đối với các công việc lao động phổ thông trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ đòi hỏi sử dụng nhiều lao động. vì vậy, luồng di cư cần được xem là một nguồn lực kinh tế có đóng góp nhất định đối với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo. Chỉ đến khi luồng lao động di cư được đặt đúng với ý nghĩa của nó thì các quan điểm tiêu cực về di cư, kiểm soát và hạn chế di cư, thậm chí là có tính phân biệt đối xử với lao động di cư mới được xóa bỏ. Quan điểm này cần được thể hiện trong những văn kiện có ý nghĩa chiến lược ở cấp cao nhất của quốc gia để có thể trở thành một chủ trương chính thức đối với quản lý vấn đề phát triển là di cư trong nước. 68| |69Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội Về quản lý nhà nước: lao động di cư cần phải là một vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước thống nhất của một bộ/ngành chức năng Như đã phân tích ở trên, lao động di cư là một vấn đề khá phức tạp và cho đến nay vẫn chưa thuộc trách nhiệm cụ thể của một bộ/ngành chức năng nào. đây có thể là một lý do quan trọng dẫn đến thực trạng là lao động di cư gần như vẫn “nằm ngoài” phạm vi điều chỉnh của các chính sách, chương trình của Chính phủ. Lao động di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn hay được coi là một động thái mang tính ‘phi chính thức’, làm việc trong khu vực ‘phi chính thức’ và không chịu sự quản lý trực tiếp của một cơ quan chức năng cụ thể nào. Ở góc độ này, báo cáo cho rằng quản lý nhà nước về lao động di cư cần phải là một chức năng chính thức của bộ LđTb&XH; theo đó, đối tượng lao động di cư, nhất là đối tượng phụ nữ di cư, sẽ phải được cân nhắc như một phần các đối tượng thụ hưởng của những chính sách xã hội do bộ LđTb&XH trực tiếp quản lý. bên cạnh đó, bộ LđTb&XH sẽ phải có trách nhiệm phối hợp với các bộ ngành liên quan khác (như y tế, giáo dục) để đưa ra những biện pháp phù hợp đối với lao động di cư. Cũng liên quan đến quản lý nhà nước, chính quyền địa phương có một vai trò quan trọng vì họ là cấp chính quyền có tác động trực tiếp nhất đối với lao động di cư. Ở góc độ này, trước hết cần có sự quán triệt về chủ trương đối với chính quyền các cấp về quan điểm lao động di cư là một luồng lao động bổ sung cho địa phương; di cư là một vấn đề phát triển chứ không phải là một ‘vấn đề xã hội’ hay thậm chí là ‘vấn đề dẫn đến tệ nạn’. đây là một điều kiện cơ bản để các cấp chính quyền địa phương có thể đưa ra những quyết định chính sách theo hướng ‘vì người lao động di cư’. Cũng cần nhấn mạnh rằng yếu tố ‘quá tải’ về cơ sở hạ tầng và dịch vụ công là một mối quan ngại chính dẫn đến một số quan điểm có phần tiêu cực về lao động nhập cư của chính quyền các đô thị lớn. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng với đà tăng trưởng kinh tế và nhu cầu sử dụng các dịch vụ tiện ích công cộng tăng nhanh chóng như thời gian qua, hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh và giáo dục ở những thành phố lớn hầu hết đều gặp phải tình trạng quá tải. Sự xuất hiện của lao động nhập cư, đặc biệt là ngắn hạn, có tác động làm cho mức độ ‘quá tải’ ở đây trở nên trầm trọng hơn chứ không phải là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiện tượng ‘quá tải’ này. Nguyên nhân cơ bản là vì hạn chế trong năng lực cung cấp dịch vụ và đây là khó khăn chính mà chính quyền địa phương cần tập trung chứ không phải là hạn chế/kiểm soát di cư để ‘giảm tải’ cho hệ thống cung cấp dịch vụ công cộng. Về cải cách pháp lý: cải cách hệ thống đăng ký hộ khẩu gia đình là cấp thiết Luật Cư trú năm 2007 đã đánh dấu một bước thay đổi lớn về chế độ hộ khẩu ở việt Nam thông qua việc chỉ quy định hình thức cư trú lâu dài và tạm thời (thay vì 4 loại đăng ký hộ khẩu như trước đây). Luật Cư trú cũng nới lỏng những yêu cầu đối với đăng ký hộ khẩu thường trú và bãi bỏ một số quy định về việc sử dụng hộ khẩu thường trú trong những thủ tục hành chính, pháp lý. Tuy nhiên, hạn chế cơ bản nhất là hộ khẩu thường trú vẫn được sử dụng như một điều kiện cơ bản để có thể tiếp cận được với dịch vụ công cốt yếu ở địa phương. và như vậy, đây vẫn là một quy định tạo ra khó khăn cho lao động nhập cư, thậm chí là hạn chế việc sử dụng dịch vụ công của họ. mặc dù đây là một hạn chế của Luật Cư trú nhìn từ góc độ của lao động nhập cư, nhưng hạn chế này gắn với một vấn đề lớn hơn đó là quan điểm chủ đạo về lao động nhập cư. Sự tồn tại của hạn chế hành chính này có thể coi là một kết quả của quan điểm cho rằng lao động nhập cư là một vấn đề cần được kiểm soát và hạn chế. Rõ ràng, đây đã là một quan điểm lỗi thời và không phù hợp trong bối cảnh phát triển kinh tế-xã hội hiện nay ở việt Nam. Cần nhấn mạnh rằng di cư là một vấn đề phát triển. việc hạn chế di cư bằng các biện pháp hành chính sẽ không giảm được di cư mà chỉ làm tăng tính dễ bị tổn thương của đối tượng đặc biệt này. Trong điều kiện đó, báo cáo này cho rằng cần có sự cải cách triệt để hơn trong hệ thống đăng ký hộ khẩu gia đình. Luật Cư trú năm 2007 cần được sửa đổi để chỉ giữ chế độ hộ khẩu như là một công cụ quản lý hành chính về biến động dân số, hỗ trợ cho tính toán và quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Yêu cầu về hộ khẩu thường trú khi sử dụng các thủ tục pháp lý và hành chính, tiếp cận dịch vụ công cần phải được loại bỏ. Lưu ý rằng đây không phải là vấn đề gì mới mẻ mà đã được quy định ngay trong Hiến Pháp của việt Nam (điều 52). để đảm bảo việc sửa đổi này có thể được thực hiện, như đã phân tích ở trên, quan điểm về lao động nhập cư là một vấn đề phát triển cần được quán triệt một cách rộng rãi từ cấp trung ương đến chính quyền cơ sở. đặc biệt, các thành phố lớn nơi tập trung nhiều đối tượng lao động nhập cư cần có sự chuẩn bị cho cải cách quy định đăng ký hộ khẩu gia đình theo hướng này. mặc dù báo cáo này khuyến nghị cần xem xét di cư là một vấn đề phát triển và loại bỏ các biện pháp quản lý hành chính đối với di cư, báo cáo cũng cho rằng đối với điều kiện đặc thù hiện nay ở việt Nam thì lao động nhập cư vẫn là một lĩnh vực cần có quản lý nhà nước. đối với một số tỉnh/ thành phố có sự tập trung cao của lao động nhập cư thì có thể vẫn phải đặt ra câu hỏi: hạn chế di cư như thế nào để không gây ra khó khăn cho công tác quản lý, hỗ trợ lao động nhập cư trên địa bàn? Quan điểm của báo cáo này là những công cụ sử dụng để quản lý lao động nhập cư cần thiết phải là công cụ mang tính kinh tế. Duy trì chế độ hộ khẩu để kiểm soát hành chính với đối tượng nhập cư là không phù hợp, và như đã nói ở trên, chỉ làm tăng tính dễ tổn thương của lao động nhập cư. Phát huy vai trò của chính quyền địa phương để giảm tính dễ bị tổn thương của lao động nữ nhập cư • Do đặc thù lao động nhập cư hiện nay là một vấn đề tâp trung chính ở một số tỉnh/thành phố có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh, chính quyền các tỉnh/thành phố này cần phải đi đầu trong những nỗ lực về chính sách đối với lao động nhập cư trong khi chờ đợi những thay đổi về quan điểm và chính sách từ trung ương về vấn đề di cư trong nước. Kết quả khảo sát trong báo cáo này gợi ý rất nhiều vấn đề mà chính quyền địa phương cần thiết phải can thiệp để đảm bảo quyền chính đáng cho lao động nhập cư, đặc biệt là lao động nữ. Cụ thể, báo cáo đưa ra một số khuyến nghị sau đây: • Do hầu hết lao động nữ nhập cư là lao động phổ thông, làm công việc đơn giản ít hoặc không đòi hỏi trình độ kỹ thuật, chuyên môn (may mặc, da giày, ...) nên độ ổn định của việc làm thấp. để hỗ trợ cho lao động nhập cư giảm tính dễ bị tổn thương do công việc bấp bênh, cần có kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nhập cư, để họ có thể dễ tìm việc làm khi mất việc. • Cần xây dựng các cơ chế tiếp cận thông tin về di cư cả ở nơi đi và nơi đến, quan tâm đến nhóm phụ nữ di cư. việc cung cấp đầy đủ và đúng đắn các thông tin liên quan đến di cư (cơ hội việc làm, ngành nghề, các quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động, khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội khác, giá cả sinh hoạt) không chỉ giúp cho phụ nữ cân nhắc trước khi đi đến quyết định có di cư hay không, mà còn phòng ngừa những rủi ro, bất trắc đối với phụ nữ di cư trong cuộc sống (bị lạm dụng, lừa đảo, xâm hại). Ở khía cạnh này, chính quyền địa phương có thể chỉ đạo các trung tâm giới thiệu việc làm thuộc Sở LđTb&XH là đầu mối cho việc cung cấp thông tin cần thiết cho lao động nhập cư. 70| |71Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội • Các cấp chính quyền, đoàn thể cần vận động các chủ nhà trọ, các cơ sở mầm non không tăng giá thuê nhà, không tăng học phí trông trẻ. Giúp phụ nữ di cư giảm bớt khó khăn trong điều kiện lương thấp, giá cả sinh hoạt tăng. Các cấp chính quyền địa phương cần biết những khó khăn mà người dân di cư gặp phải khi mới đến đồng thời cần hỗ trợ họ hòa nhập với nơi đến và đảm bảo việc tiếp cận của họ với các chương trình xóa đói giảm nghèo. • Cần có sự kiểm tra và giám sát việc thực hiện Luật Lao động của các đơn vị sử dụng nhiều lao động nhập cư tại địa phương để đảm bảo người lao động được ký hợp đồng lao động. Cần phải đẩy mạnh tuyên truyền về nghĩa vụ và quyền lợi khi mua bHYT, bHXH. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy định của Nhà nước về bHYT, bHXH, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm nhằm tăng phạm vi lao động nhập cư tham gia bHYT, bHXH. • Chỉ đạo các tổ chức đoàn thể tích cực có những hoạt động nhằm thúc đẩy hòa nhập cộng đồng của lao động nhập cư tại nơi đến. vai trò của tổ chức Công đoàn, đoàn Thanh niên trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng. Riêng đối với lao động nữ nhập cư, Hội Phụ nữ cần phải là tổ chức đoàn thể đi đầu trong tổ chức các sinh hoạt giúp phụ nữ nhập cư hòa nhập được tốt với cộng đồng tại nơi cư trú. • Riêng với đối tượng lao động di cư nữ, việc trang bị cho phụ nữ di cư kiến thức về sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục và HIv/aIDS, cùng với các kỹ năng phòng ngừa sự lây truyền các bệnh qua đường tình dục và HIv/aIDS là vấn đề cần được quan tâm. điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người lao động có thu nhập thấp ở các khu vực đô thị và đối với phụ nữ trẻ làm việc và sinh sống tại các khu công nghiệp. Ở đằng sau tất cả các biện pháp như trên, cần thiết phải có sự thống nhất giữa các cấp chính quyền về quan điểm quản lý đối với đối tượng lao động nhập cư. báo cáo này nhấn mạnh rằng việc thực hiện các biện pháp đề xuất ở trên sẽ không hiệu quả, chỉ là ‘nửa vời’ nếu như lao động nhập cư vẫn bị coi là một ‘vấn đề xã hội’ cần được quản lý. Là bên tác động trực tiếp đến người lao động nhập cư, chính quyền địa phương cần coi trọng lao động nhập cư như là một nguồn lực kinh tế quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương. Lao động di cư nữ và trách nhiệm của chính họ với giảm tính dễ bị tổn thương Như nhiều phân tích ở trong báo cáo này, tính dễ bị tổn thương của phụ nữ nhập cư là một vấn đề có tính hai chiều. bên cạnh những hạn chế về khung pháp lý và chính sách, nhận thức và thái độ của lao động nhập cư cũng là một yếu tố dẫn đến tính dễ bị tổn thương. điển hình là vấn đề liên quan đến gần 1/3 phụ nữ lao động nhập cư không tham gia bHXH, bHYT. đây không hoàn toàn là kết quả do sự tắt trách, trốn tránh trách nhiệm của người sử dụng lao động mà chính bản thân nhiều phụ nữ lao động nhập cư cũng không có nhận thức đúng về sự cần thiết phải tham gia bHXH, bHYT như quy định. Như vậy, đảm bảo quyền của phụ nữ nhập cư, giảm tính dễ bị tổn thương của phụ nữ nhập cư là một vấn đề cần thiết phải có trách nhiệm của chính những người phụ nữ lao động nhập cư. Ở góc độ đó, báo cáo này đưa ra một số khuyến khị cụ thể sau: • Trước hết, trước khi quyết định di cư, cần tìm hiểu thông tin về công việc, địa bàn nơi đến để có sự chuẩn bị cần thiết. đây không chỉ là một vấn đề cần quan tâm đối với lao động nữ xác định di cư là một sinh kế mà ngay cả với những phụ nữ quyết định di cư như là một biện pháp ứng phó ngắn hạn. Hiểu về tình hình công việc và điều kiện sinh hoạt là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sự chuẩn bị của phụ nữ trước thay đổi lớn về công việc và cuộc sống của họ. • Tích cực hơn trong tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, của các tổ chức đoàn thể để tăng cường hòa nhập với cộng đồng nơi đến là một vấn đề phụ nữ lao động nhập cư cần quan tâm. với đặc thù của công việc lao động phổ thông đòi hỏi nhiều thời gian, lại hay làm thêm, làm ca đêm để bổ sung thu nhập, phụ nữ nhập cư thường rất ít chú ý đến khía cạnh hòa nhập cộng đồng. điều đó dẫn đến nhiều bất cập trong sinh hoạt và đời sống văn hóa tinh thần của họ tại địa bàn cư trú. báo cáo này cho rằng hòa nhập cộng đồng, trở thành một phần của cộng đồng là một định hướng cơ bản để biến quyết định di cư thành một quyết định có đóng góp vào phát triển con người. Tài liệu tham khảo đào, bích Hà (2009), “Hiện trạng công việc và đời sống của nữ nhập cư làm giúp việc nhà tại thành phố Hồ Chí minh”, Tạp chí Xã hội học, số 106, tr. 51-58. Desingkar, P., a. Winkels, S. akter, và Trần Chiến Thắng, (2006), Life of Migrants in Vietnam, báo cáo nghiên cứu của Overseas Development Institute, London. IRC (2010a), Phân tích Nghèo đô thị: Kết quả từ khảo sát Nghèo đô thị (UPS), báo cáo nghiên cứu của Công ty Nghiên cứu và Tư vấn đông Dương (IRC). IRC (2010b), Báo cáo Việt Nam trên Đường đạt đến Mục tiêu Phát triển Thiên Niên Kỷ, báo cáo của Công ty Nghiên cứu và Tư vấn đông Dương (IRC) cho bộ KH&đT và uNDP về tình hình thực hiện các mục tiêu mDG. Jones, R., Trần Thị Hạnh, và Nguyễn anh Phương, Trương thị Thu Trang (2009), Rà soát tổng quan các chương trình dự án giảm nghèo ở Việt Nam, báo cáo nghiên cứu của uNDP Hà nội. Nguyễn, Thị bích Nga (2003), “việc làm và đời sống của người lao động theo thời vụ từ nông thôn ra Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội và xã Xuân Thượng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam định)”, Tạp chí Xã hội học, 1 (81), tr. 42-52. Niimi, Y., b. Reilly, và Phạm Thái Hưng, (2009), ‘Determinants of Remittances: Evidence from Internal migrants in vietnam’, Asian Economic Journal, 23(1), 19–39 Phạm, Thái Hưng (2010), Bối cảnh kinh tế-xã hội mới và những thách thức đặt ra cho giảm nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số, báo cáo nghiên cứu cho CEma và uNDP. Phạm, Thái Hưng; bùi anh Tuấn; đào Lê Thanh (2009), Việc làm Phi nông nghiệp ở Nông thôn có phải là con đường giảm nghèo cho nông thôn Việt Nam, báo cáo nghiên cứu cho Chương trình Nghiên cứu chính sách kinh tế (PEP) Tổng Cục Thống kê (TCTK) (2010), Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam: Kết quả toàn bộ, NXH Thống kê: Hà nội. Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và môi trường trong phát triển (CGFED) (2007), nghiên cứu người Công giáo di cư từ các địa phương về Hà Nội, báo cáo nghiên cứu uN việt Nam (2008), Giới và biến đổi khí hậu ở Việt Nam: nghiên cứu các tài liệu hiện có, báo cáo của các cơ quan Liên Hợp Quốc tại việt Nam. uN việt Nam (2010a), Di cư trong nước: cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam, báo cáo của các cơ quan Liên Hợp Quốc tại việt Nam. uNDP việt Nam (2010b), Di cư trong nước và phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam: Kêu gọi hành động, báo cáo của các cơ quan Liên Hợp Quốc tại việt Nam. van de Walle, D. và D. Cratty (2003), ‘Is the Emerging Non-Farm market Economy the Route Out of Poverty in vietnam?’, Policy Research Working Paper No. 2950, Development Research Group, World bank, Washington, D.C. bùi, Thị Thanh Hà (2009), “Công nhân nhập cư và việc tìm kiếm bạn đời”, Tạp chí Xã hội học, số 106, tr. 41-50. viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (2004), Lao động nhập cư tại một số đô thị của Việt Nam, báo cáo nghiên cứu. World bank (2006), Accelerating Vietnam’s rural development: growth, equity and diversification. Volume 1: Overviews, văn phòng World bank tại việt Nam. Ghi chú: Theo dự kiến ban đầu, nghiên cứu có sử dụng phương pháp tình huống để tìm hiểu sâu hơn thông tin về một số khía cạnh cụ thể. Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn lực nên số lượng nghiên cứu trường hợp không nhiều. Kết quả của các nghiên cứu trường hợp cũng không đưa ra nhiều thông tin gì mới so với những kết quả phân tích dựa trên những công cụ khác. 72| Phụ nữ Di cư trong nước:Hành trình Gian nan Tìm kiếm Cơ hội Tổ CHứC ACTIoNAID quốC TẾ TạI vIệTNAM địa chỉ: 14 - 16 Hàm Long, Hoàn Kiếm, Hà Nội, việt Nam Tel: +84 (4) 39439866 * Fax: +84 (04) 39439872 website:actionaid.org/vi/vietnam

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfaav_baocaopndicu_vn_4761.pdf
Luận văn liên quan