Quá trình hình thành, giáo lý cơ bản, sự truyền bá cũng như ảnh hưởng của đạo hồi đến đời sống kinh tế xã hội

Việt Nam chủ yếu chỉ có người Chăm theo Hồi giáo. Vì vậy, Hồi giáo gắn bó với dân tộc Chăm, mà cư dân Chăm là một dân tộc có nền văn hoá đa dạng và phong phú; có truyền thống yêu nước, gắn kết với dân tộc và cách mạng, đã có nhiều đóng góp trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Là một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng bào Chăm Hồi giáo luôn phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống đoàn kết, yêu nước gắn bó với cộng đồng các dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc. Hơn nữa, từ khi có Đảng đồng bào Chăm Hồi giáo luôn đi theo và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; làm tốt nghĩa vụ công dân, ủng hộ sự nghiệp đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo, góp phần viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

docx16 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 04/12/2015 | Lượt xem: 9104 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Quá trình hình thành, giáo lý cơ bản, sự truyền bá cũng như ảnh hưởng của đạo hồi đến đời sống kinh tế xã hội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ-ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI Bộ môn: Lịch sử văn minh thế giới QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ,GIÁO LÝ CƠ BẢN,SỰ TRUYỀN BÁ CŨNG NHƯ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO HỒI ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI . NHÓM 2: NGUYỄN THỊ THƯ NGUYỄN THỊ TÚ ANH NGUYỄN TÚ ANH LÊ THỊ NHƯ QUỲNH ĐỖ ĐOÀN DIỆU LINH Hà Nội, 2015 MỤC LỤC 1/ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỦA ĐẠO HỒI 3 1.1 Hoàn Cảnh Lịch Sử Dẫn Đến Sự Ra Đời Của Hồi Giáo. 3 1.2 Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hồi giáo. 3 1.3 Một vài nét về chúa ALLAH và sứ giả MÔHAMET 4 1.4 Một vài nét về tên gọi 4 2/ GIÁO LÝ CƠ BẢN CỦA ĐẠO HỒI. 5 3/ SỰ TRUYỀN BÁ CỦA ĐẠO HỒI. 6 3.1/ Năm cột trụ của Hồi giáo 6 3.2/ Vài nét chính trong 2 nghi lễ quan trọng : Nhịn chay tháng Ramadan và lễ hành hương tại Mecca 7 3.3/ Sự phân chia giáo phái trong Đạo Hồi 8 4/ ẢNH HƯỞNG CỦA HỒI GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HÔI. 9 5/ MỞ RỘNG HỒI GIÁO Ở VIỆT NAM 13 1/ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỦA ĐẠO HỒI 1.1, Hoàn Cảnh Lịch Sử Dẫn Đến Sự Ra Đời Của Hồi Giáo. Hồi giáo (tôn giáo của tộc người Hồi) là cách gọi của người Trung Quốc gọi đạo Islam (theo tiếng Ảrập nghĩa là phục tùng theo ý chân chủ) xuất hiện ở bán đảo Ảrập vào khoảng thế kỷ thứ VII, là một tôn giáo độc thần thuộc nhóm giáo Abraham. Ảrập Xêut là quê hương của Hồi giáo. Hồi giáo ra đời do hàng loạt nguyên nhân kinh tế, xã hội, tư tưởng gắn liền với sự chuyển biến từ chế độ công xã nguyên thủy sang xã hội có giai cấp của các tộc người vùng Trung cận Đông và yêu cầu thống nhất các bộ lạc trong bán đảo Ảrập thành một nhà nước phong kiến thần quyền do đó cần một tôn giáo độc thần để thay thế những tôn giáo đa thần tồn tại ở đó từ trước. 1.2, Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Hồi giáo. Sự ra đời của Hồi giáo gắn liền với tên tuổi một người nổi tiếng là giáo chủ Mohammed (Mahomet). Mohammed (570 – 632) là một người thuộc gia tộc Casimu ở Mecca. Tục truyền rằng khi Mohammed được 40 tuổi (năm 610) ông một mình vào trong một hang nhỏ ớ núi Xira, ngoại thành Mecca để tu luyện và trầm ngâm suy tưởng. Trong một đêm thánh Allah (Ala – Chân chủ) đã cử thiên sứ Gabrien đến truyền đạt Thần dụ và lần đầu tiên “khải thị” cho ông chân lý của Kinh Coran khiến ông trở thành “Thánh thụ mệnh” và ông tự xưng là đã tiếp thụ sứ mệnh của chân chủ trao cho và bắt đầu truyền đạo. Đầu tiên ông bí mật truyền giáo trong số những bạn bè thân thiết và họ trở thành những tín đồ đầu tiên, về sau sự truyền đạo trở nên công khai, đối tượng mở rọâng tới quần chúng ở Mecca nhưng bị giới quý tộc đả kích và bức hại. Môhamet đã trốn được đến Yathrib (sau đổi thành Madinah – Thành phố tiên tri). Ơû đây ông phát động và tổ chức quần chúng đấu tranh và cuộc cách mạng của ông giành được thắng lợi. Sau đó ông tổ chức vũ trang cho các tín đồ (Muslim) và dùng khẩu hiệu “Chiến đấu vì Allah” và đè bẹp được giới quý tộc ở Mecca. Cùng với việc mở rộng phạm vi truyền đạo Mohamet còn liên minh với các bộ tộc và dùng sức mạnh buộc các thế lực còn lại phải quy thuận theo Hồi giáo. Có thể nói cuộc cách mạng do Mohammed lãnh đạo là một cuộc cách mạng tôn giáo và cải cách xã hội kết hợp với nhau. Sự ra đời của Hồi giáo đã mở ra một thời kỳ lịch sử mới thống nhất trên bán đảo Ảrập. Hiện nay trên thế giới có khoảng 900 triệu tín đồ Hồi giáo có mặt ở hơn 50 quốc gia trên khắp các châu lục nhưng tập trung chủ yếu ở các nước Ảrập (trừ Li băng và Ixraen) và chiếm đại đa số ở các nước như Iran, Irắc, Pakistan, Apganistan, Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước vùng Trung Á và cả ở Đông nam Á (chủ yếu ở Inđonesia). Một số quốc gia tự coi mình là quốc gia Hồi giáo. Tuy nhiên Hồi giáo ở các quốc gia khác nhau nên đã phân chia thành các hệ phái khác nhau nhưng về cơ bản không đối lập nhau. 1.3, Một vài nét về chúa ALLAH và sứ giả MÔHAMET. Chúa Allah : Tín đồ hồi giáo cho rằng ngoài chúa Allah thì không có vị thần nào khác.Tất cả những gì trên trời ,dưới đất đều thuộc về chúa Allah.Allah đã dựng nên vòm trời mà không cần dùng cột,chế ngự được mặt trời,mặt trăng ,tạo ra mặt đất và đặt trên đó,đây là núi ,kia là song.Allah cũng sinh ra loài người và biết linh hồn mỗi người ra sao.Allah có một số thiên thần giúp việc làm thư ký ghi chép những hành vi thiện ác của mỗi người và làm sứ giả. Mohammet : Người được chúa ALLAH giao cho sứ mệnh truyền bá tôn giáo nên chỉ là sứ giả của allah và là tiên tri của tín đồ .Mohamet cũng công nhận rằng trước ông đã có nhiều vị tiên tri như Adam,Noe,Kito,nhưng ông là vị tiên tri cuối cùng và vĩ đại nhất. 1.4, Một vài nét về tên gọi Nguyên nghĩa của « Hồi giáo » trong tiếng Ả Rập là Islam và có nghĩa là "vâng mệnh, quy phục Thượng Đế". Người theo Islam, trong tiếng Ả Rập gọi là Muslim, do đó có các chữ muslim, moslem tiếng Anh và musulman tiếng Pháp. Danh từ « Hồi giáo » xuất xứ từ dân tộc Hồi Hột. Hồi Hột là nước láng giềng phương bắc của Trung Quốc từ năm 616 đến 840. Lúc rộng lớn nhất lãnh thổ họ đông đến Mãn Châu, tây đến Trung Á ,và họ đã giúp nhà Đường dẹp được loạn An Lộc Sơn. Với thời gian, cách gọi đổi thành « Hồi Hồi ». Tài liệu xưa nhất dùng danh từ « Hồi Hồi » là Liêu Sử, soạn vào thế kỷ 12.Đời nhà Nguyên (1260 - 1368), tại Trung Quốc, cụm từ « người Hồi Hồi » được dùng để chỉ định người Trung Á, bất luận theo tín ngưỡng nào. Đến đời Minh (1368 - 1644), cụm từ « người Hồi Hồi » mới dần dần đổi nghĩa để chỉ định tín đồ Islam. Trước đó, người Hán thường gọi Islam là « Đại Thực giáo » hay « đạo A-lạp-bá ».« A-lạp-bá » là phiên âm tiếng Hán của danh từ « Ả Rập ». « Đại Thực » là phiên âm của chữ « Tazi », tiếng Ba Tư dùng gọi người « Ả Rập », vì « Tazi » là tên một bộ tộc người « Ả Rập » tiếp xúc nhiều với Ba Tư thời xưa. Bởi « Hồi Hồi » là tên gọi chủng tộc, không phải là dịch nghĩa của chữ Islam hay một tôn chỉ của Islam, nên một số người hạn chế dùng danh từ « Hồi giáo » hay « đạo Hồi ». Trường hợp các tên « Đại Thực » hay « A-lạp-bá » cũng thế. Bởi thế, tại Trung Quốc, ngay từ năm 1335, thời nhà Nguyên, đã có người đề ra cụm từ Thanh Chân giáo (清真教) để thích nghi hơn với tiếng Hán[17]. Đề nghị này được hưởng ứng rộng rãi nên ngày nay Thanh Chân giáo là cụm từ được ghi trong nhiều từ điển tiếng Hán [18]. Tại Trung Quốc ngày nay cũng có nhiều "Thanh Chân tự" (清真寺) (thánh đường Islam) và "Thanh Chân thực đường" (清真菜堂) (quán ăn, nhà ăn halal). Ngày nay tại Trung Quốc người ta cũng thường gọi Islam theo phiên âm là Y Tư Lan giáo (伊斯蘭教 Yīsīlán jiào).Cơ quan đại diện Islam chính thức tại Trung Quốc có tên là "Trung Quốc Y Tư Lan giáo hiệp hội" (中国伊斯兰教协会 Zhōngguó Yīsīlánjiào xiéhuì) được ra đời ngày 11 tháng 5 năm 1953, trực thuộc chính quyền và có trụ sở tại Bắc Kinh. Wikipedia Trung văn cũng dùng danh từ Y Tư Lan giáo. Nhiều tài liệu, văn bản trong tiếng Việt từ nhiều năm nay cũng dùng danh từ đạo Islam hay đạo Ixlam. Tuy nhiên, nhiều tín hữu Islam nói tiếng Việt vẫn dùng danh từ Hồi giáo vì đã quen nghĩ đến, nói đến danh từ này một cách tôn kính. 2/ GIÁO LÝ CƠ BẢN CỦA ĐẠO HỒI. Đặc điểm giáo lý của Hồi giáo là rất đơn giản nhưng luật lệ và lễ nghi rất phức tạp và nghiêm khắc thậm chí đến mức khắt khe và nhiều khi nó vượt ra khỏi phạm vi tôn giáo và trở thành một chuẩn mực pháp lý của xã hội. Trong Hồi giáo khó thấy ranh giới giữa cái thiêng và cái tục. Giáo lý cơ bản của Hồi giáo là Kinh Coran (Coran theo nguyên nghĩa tiếng Ảrập là “tụng đọc”) vì đó là những lời nói của Môhamet được ghi lại và những lời này do thánh Allah thông qua thiên sứ Gabrien “khải thị” cho Mohammed. Kinh Coran tổng cộng có 30 quyển, 114 chương hơn 6200 tiết (là những đoạn thơ). Nội dung Kinh Coran vô cùng phong phú đại thể bao gồm những tín ngưỡng cơ bản và chế độ tôn giáo của đạo Hồi và những ghi chép về tình hình xã hội trên bán đảo Ảrập đương thời cùng với những chính sách về chủ trương xã hội, quy phạm luân lý đạo đức Giáo lý Hồi giáo gồm các điểm cơ bản sau: Chỉ tôn thờ một Thiên Chúa (tiếng Á Rập là Allah). Vinh danh và kính trọng cha mẹ. Tôn trọng quyền của người khác. Hãy bố thí rộng rãi cho người nghèo. Cấm giết người, ngoại trừ trường hợp đặc biệt (*). Cấm ngoại tình. Hãy bảo vệ và chu cấp trẻ mồ côi. Hãy cư xử công bằng với mọi người. Hãy trong sạch trong tình cảm và tinh thần. Hãy khiêm tốn Trường hợp đặc biệt được phép giết người mà không bị trọng tội là: 1) Trong khi kháng cự hoặc chiến đấu chống lại những kẻ lùng giết người đạo mình nhằm cưỡng bách bỏ đạo. Nhưng nếu chiến thắng, phải noi gương thiên sứ Muhammad, tha thứ và đối xử nhân đạo với phần đông kẻ bại trận. 2) Giết những tên sát nhân để trừ hại cho dân lành. Ngoài ra tín đồ Hồi giáo có một số luật lệ: Về quan hệ gia đình ,đạo Hồi thừa nhận chế độ đa thê nhưng chỉ cho lấy nhiều nhất 4 vợ .Đàn ông Hồi giáo cũng có thể lấy người theo đạo Kito hoặc Do Thái nhưng không được lấy người theo đa thần giáo.Tuy cho lấy nhiều vợ nhưng đạo Hồi cấm không cho phép lấy nàng hầu trừ Mohamet thì ngoại lệ ( ông có 10 vợ và 2 nàng hầu ) Một lần trong đời, họ phải hành hương về thánh địa Mecca, nhưng với điều kiện họ không vay mượn hay xin phí tổn. Trước khi đi, họ phải lo cho gia đình vợ con đầy đủ những nhu cầu cần thiết trong thời gian họ vắng mặt hành hương. Nghiêm cấm ăn máu, thịt con vật đã chết trước khi được cắt tiết theo nghi thức; không được ăn thịt lợn vì lợn là con vật ô uế. Nghiêm cấm uống rượu và các thức uống lên men. Nghiêm cấm cờ bạc. Nghiêm cấm gian dâm và trai gái quan hệ xác thịt trước khi cưới hỏi. Nghiêm cấm ăn những con vật ăn thịt sống hay ăn tạp (như chó, mèo, chuột, v.v.). Người Hồi giáo chỉ được ăn thịt halal, tức là thịt đã được giết mổ theo nghi thức của đạo Hồi. Tuy nhiên, trong trường hợp tuyệt đối không có gì ăn, họ được ăn mọi thứ để duy trì sự sống. Hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và biết thương xót người nghèo. Tháng này tính theo lịch Mặt Trăng. Trong tháng này, khi còn ánh sáng Mặt Trời, họ không được ăn và uống, đến đêm thì mới ăn. Cũng trong tháng này, con người phải tha thứ và sám hối, vợ chồng không được gần nhau vào ban ngày nhưng ban đêm vẫn có thể ân ái với nhau. Trẻ em và phụ nữ có mang không phải thực hiện Ramadan. Hồi giáo nghiêm cấm kỳ thị chủng tộc và tôn giáo, tín đồ Hồi giáo không được phép chỉ trích cũng như phán xét người khác. Đó là việc của Allah Đấng Toàn Năng. 3/ SỰ TRUYỀN BÁ CỦA ĐẠO HỒI. 3.1/ Năm cột trụ của Hồi giáo A. Tuyên đọc câu Kalimah Sahadah: Ash Ha Du Allah Ila Ha Il Lallah Wa Ash ha du an na Muhammader rosu Lullah, có nghĩa Tôi công nhận Allah là thượng đế duy nhất và ngoài ra không có ai khác cả và tôi công nhận Muhammad là vị sứ giả cuối cùng của Ngài B.Cầu nguyện ngày năm lần: Buổi bình minh, trưa, xế trưa, buổi hoàng hôn và tối. C.Bố thí. D.Nhịn chay tháng Ramadan. E.Hành hương tại Mecca. 3.2/ Vài nét chính trong 2 nghi lễ quan trọng : Nhịn chay tháng Ramadan và lễ hành hương tại Mecca A/ Nhịn Chay Ramadan : Mỗi năm đến tháng Ramandan phải trai giới 1 tháng ,tháng Ramadan là tháng 9 lịch hồi ,nhưng vì Mohamet thay đổi lịch cũ ,bỏ tháng nhuận nên tháng Ramadan cứ lùi dần,không tương ứng với một tháng cố định nào của dương lịch .Trong suốt 29 ngày của tháng Ramadan ,từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn,tín đồ phải nhịn ăn uống ,hút thuốc và những ham muốn khác.Nhưng trẻ con, người già ,người ốm,phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú ,người đi đường xa thì được miễn.Ngày đầu tiên sau tháng Ramanda là ngày phá giới,tín đồ mặc quần áo mới, gặp nhau thì ân cần chào hỏi ,tặng quà lẫn nhau, bố thí cho người nghèo và đi tảo mộ. B/ Hành Hương Tại Mecca –ARAP SAUDI : Theo quy định của hồi giáo, mỗi giáo dân ít nhất một lần trong cuộc đời phải hành hương về thánh địa Mecca bằng chính kinh phí của bản thân mình và trước khi đi phải chuẩn bị đồ ăn thức uống cho người thân (những người ở nhà, không đi hành hương) trong thời gian mà họ đi vắng. Vào tháng Ramadan, người Hồi giáo hành hương về đây (và chỉ có người Hồi giáo mới được về đây.Sau khi hành hương đến Mecca, tín đồ đạo Hồi sẽ có được danh hiệu là "Haj" hoặc "Haji". Hành hương về Thánh địa Mecca, thành phố quê hương của Tiên tri Mohammed, trung tâm của thế giới Islam giáo, nơi có đền Kaaba thiêng liêng là ước nguyện cả đời người của mỗi tín đồ Islam giáo và cũng là bổn phận của họ. Nhưng vì nhiều lí do khác nhau như tuổi tác, sức khoẻ, tiền bạc, v.v nên không phải tín đồ Islam giáo nào cũng thực hiện được nghĩa vụ này. Song đối với ai đã hoàn thành nghĩa vụ này thì sự tưởng thưởng đối với họ sẽ là rất lớn. Đó không chỉ là sự thoả mãn về tinh thần mà còn là uy tín và sự kính trọng trong cộng đồng Islam giáo. Hằng năm, có khoảng trên dưới 2 triệu tín đồ Islam giáo từ khắp các châu lục hành hương về nơi đất thánh này. Ngoài năm cột trụ trên, nhiều người còn cho rằng, “Thánh chiến” (Jihad) cũng là một nghĩa vụ bắt buộc đối với tín đồ Islam giáo. Đây được coi là cột trụ thứ sáu của Islam giáo. Jihad nghĩa đen theo tiếng Arập là “cố gắng”, “phấn đấu”. Đây là viết tắt của một mệnh đề: “Phấn đấu theo con đường của Thượng Đế”. Người Islam giáo diễn giải khái niệm này như biểu tượng của cuộc đấu tranh tinh thần nhằm chống lại những điều trái với giáo lí, giáo luật Islam giáo, bảo vệ những giá trị tôn giáo và xã hội của nó. Ngày nay, Jihad còn được một số người diễn giải là các hoạt động của các nhóm vũ trang Islam giáo cực đoan trong thế giới Islam giáo chống lại các cộng đồng tôn giáo khác. 3.3/ Sự phân chia giáo phái trong Đạo Hồi A/ Dòng SUNNI Hồi giáo dòng Sunni chiếm 75%–90% số người theo Đạo Hồi. Dòng Sunni cũng có tên Ahl as-Sunnah nghĩa là "người truyền thống (của Muhammad ) Người theo Sunni tin rằng bốn Khalip đầu tiên là những người thừa kế hợp pháp của Muhammad; vì Chúa không chỉ định bất kỳ lãnh đạo đặc biệt nào để kế thừa ông và những người này được bầu ra. Người theo Sunni tin rằng bất cứ ai là người công chính và chỉ có thể là một khalip nhưng họ phải hành động theo kinh Qur'an và Hadith. Sunni theo Quran, sau đó là Hadith. Sau đó, các vấn đề pháp lý không được tìm thấy trong Kinh Qur'an hoặc Hadith, họ theo bốn madh'habs (trường phái tư tưởng): Hanafi, Hanbali, Maliki và Shafi'i, được thành lập xung quanh những lời dạy tương ứng của Abū Hanifa, Ahmad bin Hanbal, Malik ibn Anas và al-Shafi'i. Tất cả 4 chấp nhận tính hợp pháp của nhau và Đạo Hồi có thể chọn bất kỳ một để theo.Salafi (hay Ahl al-Hadith (Arabic: أهل الحديث; The people of hadith), hoặc từ miệt thị Wahhabi theo cách gọi của đối thủ họ) là một phong trào Hồi Giáo cực kỳ chính thống đã đưa lớp người Hồi Giáo đầu tiên là một hình mẫu điển hình. B/ Dòng SHIA Shi'a chiếm 10–20% số người theo đạo Hồi và là nhánh lớn thứ 2. Trong khi Sunni tin rằng Muhammad không chỉ định một người kế nhiệm và do đó kế nhiệm ông sẽ được chọn bởi cộng đồng thì Shia tin rằng trong lần hành hương cuối cùng của Muhammad đến Mecca, ông đã chỉ định con nuôi của ông là Ali ibn Abi Talib, làm người kế vị trong Hadith of the pond of Khumm. Và thế là họ tin rằng Ali ibn Abi Talib là Imam (lãnh đạo) đầu tiên, và bác bỏ tính hợp pháp của các khalip Hồi giáo trước Abu Bakr, Uthman ibn al-Affan và Umar ibn al-Khattab. Hồi Giáo Shia có nhiều nhánh, nhánh lớn nhất là Twelvers phát triển phần lớn ở Iran, Iraq, Azerbaijan, Bahrain, Ấn Độ, Pakistan và Liban. Tiếp theo là Zaidis và Ismaili. Sau cái chết của Imam Jafar al-Sadiq (cháu lớn của Abu Bakr và Ali ibn Abi Talib) được xem là lãnh tụ thứ 6 của người Shia, Ismailis bắt đầu theo con trai ông Isma'il ibn Jafar và Twelver Shia's (Ithna Asheri) bắt đầu theo con trai khác của ông Musa al-Kazim làm Imam thứ 7. Zaydis theo Zayd ibn Ali, chú của lãnh tụ Jafar al-Sadiq, là lãnh tụ thứ 5. Các nhóm khác nhỏ hơn gồm Bohra và Druze,cũng như Alawites và Alevi. 4/ ẢNH HƯỞNG CỦA HỒI GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HÔI. A/. Biến động tín đồ Hồi giáo trên thế giới. Nghiên cứu về Hồi giáo cho thấy đến giai đoạn hiện nay, tôn giáo này đã nhanh chóng trở thành một trong hai tôn giáo lớn nhất thế giới với tốc độ tăng trưởng tín đồ rất cao và hiện hữu tại mọi vùng, miền, mọi châu lục. Nghiên cứu mới đây của Pew Research Center đã đưa ra thông tin mang tính tổng thể về sự phát triển mạnh mẽ của Hồi giáo thể hiện ở số lượng tín đồ Hồi giáo tăng nhanh tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Khảo sát tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ đã cho kết quả là tính đến năm 2009, toàn thế giới có khoảng 1,57 tỷ tín đồ Hồi giáo thuộc mọi thành phần dân số, mọi lứa tuổi và số lượng tín đồ này chiếm tới 23% dân số toàn cầu ước tính 6,8 tỷ người. B/. Biến động của các trào lưu Hồi giáo. Một khuynh hướng nổi bật trong quá trình phát triển của Hồi giáo hiện đại là sự biến động của đức tin Hồi giáo, sự hình thành của các trường phái tư tưởng Hồi giáo mang tính chất “cải cách” và hướng tới tạo ra cho thế giới bên ngoài nhìn nhận tích cực và thiện cảm hơn về các tín đồ Hồi giáo. Cùng lúc đó, một khuynh hướng khác cũng đang diễn ra: quá trình Hồi giáo và các luật lệ tôn giáo bị siết chặt hơn, đẩy tôn giáo này vào xu thế quay lại với trào lưu chính thống, hình thành Hồi giáo cấp tiến hoặc “cực đoan hóa” để trở thành Hồi giáo cực đoan. * Hồi giáo tự do (Liberal Islam). Mặc dù một trong những khuynh hướng chủ đạo của Hồi giáo trong thời kỳ phát triển hiện đại là Hồi giáo theo trào lưu chính thống (Fundamentalist Islam) nhưng trong nội tại quá trình phát triển của tôn giáo này vẫn có một số các khuynh hướng phát triển theo hướng tự do để tìm tòi cách cách thức thay thế khác nhau giúp cho đức tin Hồi giáo có thể thích ứng với bối cảnh của thế giới thời hiện đại. Các khuynh hướng phát triển này được biết tới với tên gọi Hồi giáo tự do (Liberal Islam). Các truyền thống Hồi giáo được hình thành từ một số nguồn bao gồm: Kinh Koran, các truyện kể Hadith và diễn giải hai văn bản này (được coi là các Sách Mặc Khải) của các học giả. Trong quá trình phát triển nhiều thế kỷ của Hồi giáo, các khuynh hướng chủ đạo vẫn là sự nổi trội của trào lưu Hồi giáo chính thống với khẳng định rằng việc diễn giải các sách Mặc Khải là không thể thay đổi, ngay cả đối với những văn bản mang đặc tính tôn giáo dân gian không xác định được là có liên hệ trực tiếp tới nhà tiên tri Mohammed. Tuy nhiên, một khuynh hướng biến động đáng quan tâm trong thời hiện đại là việc nhìn nhận lại cách thức tiếp cận các sách thánh đó của Hồi giáo cũng như nhìn nhận, diễn giải về các luật lệ Hồi giáo mà điển hình là Luật Sharia. Những người đi theo khuynh hướng tiếp cận mới này được coi là theo trào lưu Hồi giáo tự do. Hồi giáo tự do nhìn chung được xác định trong khuôn khổ việc diễn giải về tôn giáo với quan tâm đặc biệt tới các vấn đề như dân chủ, tách biệt tôn giáo khỏi hoạt động chính trị, quyền của phụ nữ, tự do tư tưởng và thúc đẩy tiến bộ của con người. Những người theo trào lưu Hồi giáo tự do cho rằng luật Hồi giáo Sharia có tính chất linh hoạt hơn rất nhiều so với những yếu tố đang được hệ thống pháp lý Hồi giáo chính thống quy định và nhiều học giả Hồi giáo hiện đại tin rằng luật này cần được đổi mới, các nhà luật học cổ điển không nên bảo lưu những thẩm quyền đặc biệt của mình. Quan điểm như vậy đòi hỏi phải tạo lập cách thức thực thi luật mới phù hợp với thế giới hiện đại và áp dụng luật trong bối cảnh phát triển mới. Trào lưu Hồi giáo tự do không tìm cách thách thức các giá trị nền tảng của Hồi giáo mà tìm cách làm rõ, xóa bỏ các diễn giải sai lầm để từ đó tạo điều kiện cho việc đổi mới địa vị của thế giới Hồi giáo với vai trò một trung tâm tư tưởng hiện đại, tự do. Trong giai đoạn phát triển thời hiện đại, các xu hướng phát triển tự do đã hiện hữu và được thúc đẩy mạnh mẽ ngay bên trong thế giới Hồi giáo và từ đó, kinh Koran cùng các Hadith đã được diễn giải theo bối cảnh cụ thể của mỗi nhóm dân cư, mỗi cộng đồng Hồi giáo chứ không còn dựa theo quan điểm truyền thống của Hồi giáo thời trung cổ nữa. Tín đồ Hồi giáo tự do tuyên bố rằng họ vẫn hoàn toàn tin tưởng vào những giáo lý căn bản của đạo Hồi, chẳng hạn như sự thừa nhận đối với Năm trụ cột của Hồi giáo và Sáu đức tin. Dù vậy, người Hồi giáo tự do cho rằng họ đang quay trở lại với những nguyên tắc căn bản của cộng đồng Hồi giáo giai đoạn đầu tiên, trước khi các nguyên tắc này bị làm cho biến đổi vào thời trung cổ. Sự khác biệt chủ yếu của trào lưu tự do chính là ở cách nhận thức, nắm bắt và áp dụng các giá trị Hồi giáo cốt lõi vào cuộc sống thời hiện đại. * Hồi giáo cấp tiến và Chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo (Radical Islam and Islamic Extremism). Một khuynh hướng đáng chú ý khác của Hồi giáo thời kỳ phát triển hiện đại là sự nhấn mạnh tới các giá trị được cho là “giá trị Hồi giáo chính thống” của các tín đồ và khuy hướng này được biết tới với tên gọi Hồi giáo cấp tiến. Trong khi đa số tín đồ Hồi giáo đang tin theo những dạng thức tôn giáo hòa bình thì một bộ phận nhỏ các tín đồ Hồi giáo cấp tiến muốn xây dựng một xã hội dựa hoàn toàn vào kinh Koran và sách thánh Hadith, phủ nhận cách thức diễn giải kinh sách hiện đại được coi là kết quả của nhiều thế kỷ đổi mới và điều chỉnh. Các tín đồ Hồi giáo cấp tiến lập luận rằng những ảnh hưởng thế tục của ngoại bang đang làm sai lệch và đầu độc xã hội Hồi giáo và do vậy cần phải gây sức ép để tất cải phải quay lại với nhận thức ban đầu về Hồi giáo. Thánh chiến (Jihad) và đòi hỏi cải giáo theo đạo Hồi (Dawa) là cách thức để đạt tới mục đích này. Phong trào Hồi giáo cấp tiến đã đặt ra những yêu cầu và cách thức hành động cụ thể để tác động tới người Hồi giáo cũng như toàn thể thế giới. Các tín đồ Hồi giáo cấp tiến nhấn mạnh tới sự cần thiết phải áp dụng Luật Hồi giáo Sharia cho toàn thể xã hội hiện đại. Họ cũng phát triển ý tưởng về việc xây dựng một thế giới Hồi giáo mở rộng và xóa bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của phương Tây trong thế giới Hồi giáo. Đối với các tín đồ Hồi giáo cấp tiến, mục tiêu cuối cùng là khôi phục Caliphate – một nhà nước Hồi giáo nhất nguyên do một lãnh đạo tối cao là Caliph cai quản. Đây được coi là nhà nước Hồi giáo có khả năng phát triển đạo Hồi ra toàn thế giới và bắt toàn bộ các quốc gia khác phải quy phục. Một dạng thức được đẩy lên mức cao nhất của Hồi giáo cấp tiến được biết tới với tên gọi Chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo. Khuynh hướng phát triển này của Hồi giáo đặc biệt được nhắc tới trong giai đoạn phát triển của thế giới thời hiện đại sau sự kiện khủng bổ 11/9/2001 tại Hoa Kỳ và tiếp nối sau đó là cuộc đấu tranh chống khủng bố do Hoa Kỳ phát động trên toàn cầu. Về cơ bản, chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo có thể được coi như một khuynh hướng phát triển của Hồi giáo hiện đại và bao hàm hai nội dung chính: (1) Chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo thể hiện ở quan điểm bảo thủ đến mức cực đoantrong áp dụng, thực thi các giáo lý của đạo Hồi. Việc giữ quan điểm bảo thủ cực đoan không nhất thiết bao hàm các hành động bạo lực nhưng chắc chắn sẽ có tác động tiêu cực trong quy định về các hành vi, lối sống của các tín đồ Hồi giáo và các nhà nước Hồi giáo (2) Chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo thể hiện ở việc sử dụng các phương thức đấu tranh cực đoan và bạo lực như khủng bố, đánh bom tự sátvv để đạt tới các mục tiêu tôn giáo. Hồi giáo cực đoan phát triển rất mạnh kể từ năm 1996 khi Osama Bin Laden đưa ra Fatwah - một quyết định tôn giáo chính thức kêu gọi những người Hồi giáo giết lính Mỹ đang đóng quân ở Saudi Arabia. Năm 1998, Fatwah viết “Giết những người Mỹ và đồng minh của chúng – cả lực lượng dân sự và quân đội – là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người Hồi giáo, những người có thể làm một điều gì đó cho đất nước của mình”; và “Tự do cho al-Aqsa Mosque và xoá sạch quân đội Mỹ và đồng minh trên những mảnh đất của người Hồi giáo”. Bin Laden đã thành lập tổ chức cực đoan al-Qaeda với mục tiêu “Xoá bỏ mọi ảnh hưởng của tư tưởng nước ngoài trong các nước Hồi giáo, và hình thành những nhà nước Hồi giáo mới”. Al-Qaeda đã phát động phong trào Jihad trên khắp thế giới để chống lại phương Tây và các tôn giáo khác và gây ra nhiều vụ khủng bố lớn, chẳng hạn như sự kiện khác - Nguy cơ Hồi giáo hóa xã hội: Các nhóm Hồi giáo cấp tiến tập trung vào thúc đẩy Dawa - việc cải giáo theo đạo Hồi, coi đó là cách để mở rộng hệ tư tưởng Hồi giáo cấp tiến ra toàn xã hội. Việc cải giáo có thể là tự nguyện nhưng cũng có thể là cưỡng bức và một trong những trọng tâm được tín đồ Hồi giáo cấp tiến chú ý là tăng cường ảnh hưởng tại các cộng đồng Hồi giáo thiểu số đang sinh sống tại các quốc gia phương Tây, tuyên truyền về việc giúp họ thoát khỏi “áp bức” và không bị “tẩy não” bởi bàn tay của những kẻ ngoại đạo. Đây được coi như một dạng thánh chiến về văn hóa dẫn tới xu hướng “cấp tiến hóa” và “cực đoan hóa” các cộng đồng Hồi giáo thiểu số, gây ra những nguy cơ lớn tới an ninh và ổn định của nhiều quốc gia. - Bạo lực và khủng bố: Đây là nguy cơ nhãn tiền của Hồi giáo cấp tiến và các tổ chức cực đoan Hồi giáo. Thánh chiến Jihad được thúc đẩy hết mức để các tín đồ Hồi giáo cấp tiến đấu tranh bạo lực chống lại những “kẻ thù” của đạo Hồi. Các tổ chức chủ trương thánh chiến, khủng bố, bạo lực thường được nhắc tới là al-Qaeda, Hamasđã và đang sử dụng các biện pháp cực đoan và biến những nguy cơ lớn này trở thành sự hủy hoại thực sự trong nhiều trường hợp.Ngày nay chúng ta có thêm một tổ chức khủng bố mới đó là IS –nhà nước hồi giáo tự xưng đánh chiếm đa vùng Syria và gây ra những thiệt hại ,thương vong cũng như là một trong những nguyên nhân gây ra sự khủng hoảng di cư đến Châu Âu vừa qua . Hồi giáo là một tôn giáo lớn với vai trò và tầm ảnh hưởng quan trọng hàng đầu trên thế giới trong giai đoạn phát triển thời hiện đại. Với số lượng tín đồ khoảng hơn 1,5 tỷ người và tốc độ tăng nhanh nhất trong tương quan với các tôn giáo khác, dự kiến trong thời gian 10 năm tới Hồi giáo chắc chắn sẽ khẳng định được vị trị là tôn giáo lớn nhất thế giới xét về số lượng tín đồ. Tìm hiểu về quá trình hình thành, phát triển của Hồi giáo cũng như các khuynh hướng phát triển của tôn giáo này trong thời hiện đại đã cho thấy một số nét đáng chú ý: - Hồi giáo là tôn giáo được biết tới nhiều nhất trong giai đoạn phát triển ngày nay do hầu hết những biến động lớn về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa trên thế giới đều có liên quan tới yếu tố tôn giáo và có sự can dự của các tín đồ Hồi giáo. - Trung Đông là khu vực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các tôn giáo lớn trên thế giới và là nơi cả Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo hình thành phát triển. Với đặc điểm là nơi khởi nguồn của các tôn giáo lớn như vậy đã khiến cho Trung Đông trở thành khu vực rất nhạy cảm về tôn giáo và trên thực tế Hồi giáo đã có ảnh hưởng vô cùng to lớn tới các quốc gia Trung Đông, trong nhiều trường hợp Hồi giáo đã giữ vai trò kiểm soát cả về thế quyền và thần quyền tại các quốc gia này. Như vậy, mỗi biến động trong khuynh hướng phát triển của Hồi giáo đều có tác động trực tiếp tới các quốc gia Trung Đông và tác động đó có khả năng lan tỏa ra khắp cộng đồng các tín đồ Hồi giáo cũng như tới thế giới bên ngoài. - Khuynh hướng phát triển hiện đại cho thấy sự tách biệt giữa hai dòng Hồi giáo Sunni và Shia dường như đang mạnh hơn, rõ nét hơn và trong nhiều trường hợp những mâu thuẫn giữa hai trào lưu bên trong một tôn giáo đã là nguyên nhân của xung đột và bạo lực. Khuynh hướng phát triển này của Hồi giáo thời hiện đại khiến cho tính chất bất ổn tôn giáo có xu hướng gia tăng và cần được theo dõi chặt chẽ để giảm thiểu các tác động tiêu cực có thể có. - Giai đoạn phát triển thời hiện đại cũng cho thấy Hồi giáo và các tín đồ Hồi giáo đang chịu sức ép rất lớn từ thế giới bên ngoài với lý do cho rằng một số trào lưu phát triển của tôn giáo này đang tiềm ẩn những nguy cơ nhất định đối với an ninh, ổn định và phát triển của thế giới. Trong khi trào lưu Hồi giáo tự do với nhiều quan điểm tiến bộ, phù hợp với bối cảnh phát triển mới đang được thế giới bên ngoài ghi nhận với nhiều thiện cảm thì xu hướng “cấp tiến hóa” và chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo đã gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới hòa bình, an ninh trên toàn cầu. Khuynh hướng phát triển của Hồi giáo theo hướng cực đoan đã bị cả thể giới lên án do khuynh hướng này luôn gắn với hàng loạt các sự kiện khủng bố, đánh bom tự sát, bạo lực, xung đột vũ trangvv. Đây thực sự là một hướng biến động tiêu cực và thực tế cho thấy khuynh hướng này vẫn đang diễn ra một cách mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu bất chấp các nỗ lực của cộng đông quốc tế tìm cách ngăn chặn trào lưu cực đoan này. - Sự phát triển tương đối nhanh của Hồi giáo cấp tiến và sự lớn mạnh của chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo với các tác động tiêu cực tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, tôn giáovv của nhiều quốc gia trong mọi trường hợp vẫn cần được coi là mang tính tất yếu và là một khuynh hướng phát triển không thể tránh khỏi trong môi trường quốc tế hết sức bất ổn và biến động khó dự đoán giai đoạn hiện nay. Hồi giáo cấp tiến và xu hướng cực đoan hóa cần được lý giải với các nguyên nhân sâu xa về kinh tế, xã hội, chính trị, lịch sử tồn tại bên trong các xã hội Hồi giáo trong đó chủ yếu có thể kể tới lý do kinh tế khó khăn của một bộ phận lớn người dân tại các quốc gia Hồi giáo khiến họ mất phương hướng trong cuộc sống và dễ bị lôi kéo vào các phong trào Hồi giáo cực đoan để tìm đường giải thoát cho bản thân và gia đình và sự can thiệp của nước ngoài vào các vấn đề của xã hội Hồi giáo khiến tâm lý chống phương Tây, chống Mỹ càng thêm gay gắt. Tóm lại, tìm hiểu về thực trạng Hồi giáo và các khuynh hướng phát triển của tôn giáo này cho thấy Hồi giáo thực sự là một vấn đề phát triển mang đủ các sắc thái kinh tế, chính trị cũng như văn hóa, tư tưởng với các tác động to lớn tới mọi mặt đời sống của người dân trên toàn thế giới. Với số lượng tín đồ đang tăng rất nhanh và các tư tưởng tôn giáo đang mở rộng ra nhiều cộng đồng dân cư, rõ ràng Hồi giáo đang ngày càng bành trướng phạm vi ảnh hưởng và mở rộng tới các không gian địa lý, văn hóa, tinh thần vô cùng rộng lớn. Xét về mặt lịch sử, các tôn giáo lớn của thế giới như Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo đều có chung một nguồn gốc: được khởi nguồn từ tổ phụ Abraham, cùng có niềm tin vào Thiên Chúa. Trong kinh Koran của người Hồi giáo, hay kinh Torah của người Do Thái và Kinh Thánh của người Thiên Chúa giáo đều xác định nguồn gốc này. Tuy nhiên, khuynh hướng mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Hồi giáo như hiện nay cùng với những tác động của hoàn cảnh lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và các quan điểm khác nhau về đức tin, lối sống khiến cho tại nhiều nơi trên thế giới và đặc biệt là tại khu vực Trung Đông đã có những cuộc xung đột tôn giáo lớn. Hầu hết các đánh giá đều cho rằng dường như chưa thể có giải pháp nào thực sự hữu hiệu có thể giải quyết triệt để các vấn đề mâu thuẫn, xung đột phát sinh trong quan hệ giữa các nhóm tôn giáo với vai trò nổi bật của Hồi giáo. Tìm hiểu về Hồi giáo và các vấn đề phát triển, tác động của tôn giáo này trên thế giới luôn là vấn đề phức tạp, vấn đề “nóng”, vấn đề “nhạy cảm”. Mặc dù vậy, đây là vấn đề không thể bỏ qua đối với tất cả các quốc gia đang cùng tồn tại, phát triển trong thời đại toàn cầu hóa với những mối liên hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau rất chặt chẽ. 5/ MỞ RỘNG: HỒI GIÁO Ở VIỆT NAM 5.1, Sự du nhập Hồi giáo vào Việt Nam Hồi giáo truyền vào khu vực Đông Nam Á khá sớm, khoảng thế kỷ XI, XII. Nếu so với các khu vực Hồi giáo khác trên thế giới, thì việc truyền bá Hồi giáo vào Đông Nam Á chủ yếu bằng con đường "hoà bình" qua những thương nhân Ảrập, Ấn Độ, Ba Tư. Những thế kỷ đầu sau khi ra đời, Hồi giáo phát triển nhanh như vũ bão bằng chiến tranh với công thức “thanh gươm - vó ngựa - kinh Qur'an". Tuy nhiên, khi chinh phục được Ấn Độ, đoàn quân Hồi giáo đã mệt mỏi, lại đứng trước biển cả mênh mông đã cản bước tiến quân các chiến binh Hồi giáo đến khu vực Đông Nam Á nên Hồi giáo đành phải truyền bá đến đây qua các thương nhân và các giáo sỹ. Chính sự du nhập và phát triển bằng con đường "hoà bình", lại từ nguồn Hồi giáo Ấn Độ đã dung hoà với văn hoá Ấn Độ nên Hồi giáo ở khu vực Đông Nam Á thường bị pha trộn với tín ngưỡng, phong tục tập quán địa phương. Điều này khác hẳn với những nơi Hồi giáo bành trướng bằng những cuộc chiến tranh chinh phục. Hồi giáo khu vực Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam nói riêng ít chịu ảnh hưởng của tư tưởng chủ nghĩa Hồi giáo như một số khu vực khác. Hồi giáo du nhập vào Việt Nam qua các thời điểm khác nhau. Theo Tống sử Trung Quốc thì thế kỷ X đã thấy người Chăm khi giết trâu để cúng, họ đều cầu nguyện câu kinh đề cao Thượng đế Allah của người Hồi giáo, điều này có thể giả định từ thế kỷ thứ X, Hồi giáo đã được truyền vào đất Chiêm Thành. Vậy có thể nói: Từ thế kỷ X, tín ngưỡng Hồi giáo đã manh nha ở Vương quốc Chămpa thông qua các thương nhân từ Trung Cận Đông đem vào, gây ảnh hưởng nhất định trong đời sống tâm linh người Chămpa. Nhưng Hồi giáo không phát triển, có lẽ vì lòng sùng tín thần thánh Bàlamôn giáo, tập tục, lễ nghi cùng chế độ mẫu hệ đã bén rễ ăn sâu, trở thành truyền thống trong xã hội Chămpa, trải qua hơn nghìn năm không dễ gì thay đổi. Vì vậy, ở Vương quốc Chămpa cổ vào khoảng trước năm 1470 Hồi giáo chưa phải là tôn giáo chính thống của người Chăm. Sau năm 1470, một bộ phận cư dân Chămpa lưu tán đã tiếp xúc với người Malaysia, Indonesia, Campuchia... và họ bắt đầu tìm hiểu Hồi giáo ở các nước đó, nhiều người Chăm bỏ tôn giáo truyền thống (đạo Bàlamôn) để theo Hồi giáo. Những người Chăm khi tiếp thu được tôn giáo mới, họ quay về nước để truyền lại cho đồng bào mình. Từ đó Hồi giáo có chỗ đứng đáng kể trong cộng đồng cư dân Chămpa và chính thời điểm này sự giao hoà giữa đạo Islam và đạo Bàlamôn đã sản sinh ra một tôn giáo mới của người Chăm, đó là đạo Bàni tại miền Nam Trung bộ. Vào năm 1840, dưới triều Nguyễn, quan bảo hộ Chân Lạp là Trương Minh Giảng bị quân của An Dương - Campuchia đánh bại phải rút chạy về vùng thượng nguồn sông Tiền (Châu Đốc - An Giang ngày nay) mang theo quân lính và người Chàm, người Mã lai theo Hồi giáo, lúc đó nhà Nguyễn dựa vào lực lượng này lập các đội quân để giữ biên giới. Từ đó hình thành vùng thứ hai theo Hồi giáo chính thống của người Chăm - đạo Islam. Những năm cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, vùng Sài Gòn - Gia Định mở rộng giao lưu buôn bán với một số quốc gia phương tây, từ đó trở thành trung tâm buôn bán của Nam bộ. Các thương nhân đã thu nhận người Malaysia, Indonesia, Ấn Độ theo Hồi giáo. Tuy nhiên, cho mãi đến cuối thế kỷ XIX khi Nam bộ bị Pháp chiếm đóng, quá trình giao thương với bên ngoài ngày càng phát triển, là môi trường và điều kiện để cho người Malaysia và Indonesia nhập cư vào đất này đông hơn. Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ năm 1880 - 1890, ở Gia Định cũng xuất hiện một bộ phận người Ấn Độ, Pakistan có tín ngưỡng Hồi giáo là những thương nhân làm nghề buôn bán tơ lụa, đồ gia vị cho những tiệm buôn, quán ăn. Đó là nguồn gốc hình thành cộng đồng cư dân ngoại lai theo Hồi giáo ở TP. Hồ Chí Minh cho tới ngày nay. 5.2, Những đặc điểm chủ yếu Ở nước ta, cộng đồng cư dân Chăm theo Hồi giáo mang tính đặc thù rõ nét, được chia thành 2 dòng khác nhau. Người ta thường gọi là Chăm Islam và Chăm Bàni với những đặc điểm chủ yếu sau đây: A, Truyền thống gắn bó và đồng hành cùng dân tộc Việt Nam chủ yếu chỉ có người Chăm theo Hồi giáo. Vì vậy, Hồi giáo gắn bó với dân tộc Chăm, mà cư dân Chăm là một dân tộc có nền văn hoá đa dạng và phong phú; có truyền thống yêu nước, gắn kết với dân tộc và cách mạng, đã có nhiều đóng góp trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Là một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng bào Chăm Hồi giáo luôn phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống đoàn kết, yêu nước gắn bó với cộng đồng các dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc. Hơn nữa, từ khi có Đảng đồng bào Chăm Hồi giáo luôn đi theo và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; làm tốt nghĩa vụ công dân, ủng hộ sự nghiệp đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo, góp phần viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. B, Tính chính thống của Hồi giáo có thay đổi Bởi tác động của bản sắc văn hoá dân tộc vùng Đông Nam Á, trong đó nền tín ngưỡng, tôn giáo bản địa cổ Bàlamôn chiếm địa vị chủ yếu. Sự tác động này được gọi là quá trình “Chăm hoá”. Như khi nghiên cứu, để chinh phục thế giới Ảrập và bành trướng thế lực, Hồi giáo chủ trương mở rộng “đất thánh” bằng các cuộc thánh chiến, với khẩu hiệu “Thanh gươm, vó ngựa, kinh Qur'an”. Nhưng khi Hồi giáo truyền bá xuống phía Đông bị cản trở bởi đại dương nên không thể tiến hành thánh chiến mà các giáo sĩ truyền đạo thông qua thương thuyền theo con đường mậu dịch để truyền bá và phát triển Hồi giáo ở vùng này. Chúng ta có thể khẳng định khi Hồi giáo truyền bá xuống phía Đông đã chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi bản sắc văn hoá truyền thống lâu đời của vùng Á Đông và tín ngưỡng cổ Bàlamôn với chế độ mẫu hệ, làm cho tính cách Hồi giáo phải biến đổi phù hợp với nền văn hóa bản địa. C, Tính quốc tế của Hồi giáo Hồi giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất thế giới, đang trong xu thế của quá trình “Hồi giáo hoá thế giới”. Hơn nữa, thế giới đang đứng trước nguy cơ xung đột sắc tộc và tôn giáo trong mối quan hệ “toàn cầu hoá”. Đảng ta chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế theo phương châm “Việt Nam là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Các tôn giáo ở Việt Nam, nhất là Chăm Hồi giáo đã, đang và sẽ tiếp tục chịu sự tác động nhiều mặt của Hồi giáo thế giới. Theo đó, một số sinh hoạt tôn giáo truyền thống của Hồi giáo vốn mang tính quốc tế nay được mở rộng. Nó vừa là nhu cầu, vừa là đặc điểm phổ biến đang phát triển. Cùng với xu thế hội nhập quốc tế của Nhà nước, Hồi giáo Việt Nam cũng mở rộng và phát triển giao lưu với các cá nhân, tổ chức Hồi giáo ngoài nước. Mối quan hệ đó không chỉ vì mục đích tôn giáo mà còn có những mục đích chính trị - xã hội. Nhằm thúc đẩy hoạt động Hồi giáo nước ta hội nhập vào cộng đồng Hồi giáo thế giới.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxhoi_giao_412.docx
Luận văn liên quan