Quá trình hình thành và nguyên tắc phát hành tiền giấy

Qua nghiên cứu quá trình hình thành tiền giấy, chúng ta đã hiểu hơn về sự ra đời của tiền giấy. Có thể thấy, tiền giấy ra đời với tư cách là dấu hiệu của kim loại tiền tệ (tiền vàng), được phát hành ra để thay thế cho tiền kim loại trong việc thực hiện chức năng tiền tệ nhằm khắc phục những nhược điểm của tiền tệ kim loại. Chính vì vậy, tiền giấy vẫn được sử dụng với giá trị như giá trị tiền tệ kim loại mà nó đại diện mặc dù giá trị thực của nó thấp hơn nhiều. Việc phát hành tiền giấy cũng cần phải dựa trên những nguyên tắc nhất định, mà nguyên tắc được sử dụng ngày nay là nguyên tắc phát hành dựa trên sự đảm bảo bằng hàng hóa, sự phát hành dựa trên nguyên tắc này, giúp cho tiền tệ được lưu thông ổn định. Tuy phát hành tiền giấy là nguyên nhân chính gây ra tình trạng lạm phát, nhưng tiền giấy cũng có rất nhiều những lợi ích: Việc sử dụng tiền giấy đã giúp cho mọi người có thể dễ dàng cất trữ và vận chuyển tiền; Tiền giấy cũng có đủ các mệnh giá từ nhỏ tới lớn phù hợp với qui mô các giao dịch của bạn; Về phía chính phủ, cái lợi thấy rõ nhất của tiền giấy là việc in tiền giấy tốn chi phí nhỏ hơn nhiều so với những giá trị mà nó đại diện và có thể phát hành không phụ thuộc vào số lượng các hàng hoá dùng làm tiền tệ như trước đây; Ngoài ra, chính phủ luôn nhận được khoản chênh lệch giữa giá trị mà tiền giấy đại diện với chi phí in tiền khi phát hành tiền giấy. Con người luôn có xu hướng thanh toán cho những dịch vụ hàng hóa theo cách thức đơn giản nhanh chóng, hiệu quả, ít tốn kém nhất, và trong tương lai không xa, có thể tiền giấy sẽ được thay thế hoàn toàn bằng những thẻ thanh toán điện tử với quy mô thanh toán toàn cầu. Tuy nhiên, có thể nói cho tới thời điểm này, tiền giấy vẫn được coi là hình thức tiền tệ tiên tiến nhất.

docx12 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 30/01/2013 | Lượt xem: 5372 | Lượt tải: 5download
Tóm tắt tài liệu Quá trình hình thành và nguyên tắc phát hành tiền giấy, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ --------Ô&Í-------- Tiểu luận Môn: Kinh tế Chính trị QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NGUYÊN TẮC PHÁT HÀNH TIỀN GIẤY Họ tên: Nguyễn Thị Huyền Thương Lớp: Pháp 2 – NNTM2 – K49 Giáo viên: Th.Sĩ Vũ Thị Quế Anh HÀ NỘI, THÁNG 5 NĂM 2010 MỤC LỤC Trang PHẦN MỞ ĐẦU Vấn đề nghiên cứu Từ rất sớm trong lịch sử loài người đã xuất hiện nhu cầu phải có một hình thức tiền tệ làm trung gian trao đổi. Thổ dân ở các bờ biển châu Á, châu Phi, trước đây đã dùng vỏ sò, vỏ ốc làm tiền tệ. Lúa mì và đại mạch được sử dụng ở vùng Lưỡng Hà, gạo được dùng ở quần đảo Philippines, trước Công nguyên, ở Trung Quốc kê và lụa được sử dụng làm tiền tệ… Dùng tiền tệ bằng hàng hoá như trên có những bất tiện nhất định trong quá trình phục vụ trao đổi, như dễ hư hỏng, không đồng nhất,… nên không được mọi người mọi nơi chấp nhận, do đó dẫn đến việc sử dụng tiền tệ bằng kim loại. Nhưng số lượng các kim lọai quý như vàng bạc không có nhiều so với nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng tăng của mọi người, từ đó đã dẫn đến sự ra đời và phát triển của tiền giấy. Tiền giấy được coi là loại tiền tệ tiên tiến nhất. Vậy tại sao tiền giấy lại ra đời và nó được phát hành dựa trên nguyên tắc nào? Tiểu luận này chính là nghiên cứu về cơ sở hình thành và nguyên tắc phát hành tiền giấy. Mục đích nghiên cứu Chỉ ra lịch sử hình thành và chức năng của tiền tệ, từ đó, đưa ra quá trình hình thành tiền giấy, cùng với các nguyên tắc phát hành tiền giấy từ đó giải thích hiện tượng lạm phát. I. TIỀN TỆ Tiền giấy được coi là loại tiền tệ tiên tiến nhất. Do đó, để có thể biết được quá trình hình thành tiền giấy, cần biết được lịch sử ra đời và chức năng của tiền tệ. Lịch sử ra đời và bản chất của tiền tệ Tiền tệ có giá trị không phải vì nó có giá trị tự thân mà vì những gì tiền tệ có thể trao đổi được. Lịch sử của tiền tệ chính là lịch sử phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao, từ hình thái giản đơn cho đến hình thái đầy đủ nhất là tiền tệ. Sự phát triển các hình thái giá trị Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên: Đây là hình thái phôi thai của giá trị, nó xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hoá, trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, người ta trao đổi trực tiếp vật này lấy vật khác. Ví dụ: 1m vải = 10 kg thóc. Ở đây, giá trị của vải được biểu hiện ở thóc. Còn thóc là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của vải. Hàng hoá (vải) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (thóc) thì gọi là hình thái giá trị tương đối. Còn hàng hoá (thóc) mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoá khác (vải) gọi là hình thái vật ngang giá. Hình thái giá trị tương đối và hình thái vật ngang giá là hai mặt không thể tách rời, đồng thời là hai cực đối lập của một phương trình giá trị. Trong hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên thì tỷ lệ trao đổi chưa thể cố định. Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng: Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, sau phân công lao động xã hội lần thứ nhất. Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, một hàng hóa này có thể quan hệ với nhiều hàng hóa khác. Tương ứng với giai đoạn này là hình thái đầy đủ hay mở rộng. Ví dụ: 10 kg thóc hoặc 1m vải = 2 con gà hoặc ... 0,1 chỉ vàng hoặc … Đây là sự mở rộng hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên. Trong ví dụ trên, giá trị của 1m vải được biểu hiện ở 10kg thóc hoặc 2 con gà hoặc 0,1 chỉ vàng… Như vậy, hình thái vật ngang giá đã được mở rộng ra ở nhiều hàng hóa khác nhau. Tuy nhiên là trao đổi chưa cố định. Hình thái chung của giá trị: Với sự phát triển cao hơn của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, hàng hóa được đưa ra trao đổi thường xuyên, đa dạng và nhiều hơn. Nhu cầu trao đổi trở nên phức tạp hơn, người có vải muốn đổi thóc, người có thóc lại không cần vải mà lại cần thứ khác. Trong tình hình đó người ta chấp nhận đi đường vòng, mang hàng hóa của mình đổi lấy thứ hàng hóa được nhiều người ưa chuộng, rồi đem hàng hóa đó đổi lấy thứ hàng hóa mình cần. Khi đó, thì hình thái chung của giá trị xuất hiện. Ví dụ: 10 kg thóc Hoặc 2 con gà = 1m vải Hoặc 0,1 chỉ vàng v.v… Ở đây, tất cả các hàng hóa đều biểu hiện giá trị của mình ở cùng một thứ hàng hóa đóng vai trò là vật ngang giá chung. Tuy nhiên, vật ngang giá chung chưa ổn định ở một thứ hàng hóa nào. Mỗi địa phương lại có hàng hóa ưa chuộng khác nhau. Hình thái tiền tệ Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơn nữa, sản xuất hàng hóa và thị trường ngày càng mở rộng làm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn, đòi hỏi khách quan dẫn đến phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất. Khi vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật độc tôn và phổ biến thì hình thái tiền tệ của giá trị xuất hiện. Lúc đầu có nhiều kim loại đóng vai trò tiền tệ, nhưng về sau được cố định lại ở kim loại quý: vàng, bạc và cuối cùng là vàng. Đến đây, giá trị trao đổi hàng hóa đã có một phương tiện biểu hiện thống nhất. Tỉ lệ trao đổi được cố định. Bản chất của tiền tệ C.Mác đã nghiên cứu và tìm thấy nguồn gốc và bản chất của tiền tệ. Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa người sản xuất hàng hóa. Các chức năng của tiền tệ Thước đo giá trị Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa. Để đo lường giá trị hàng hóa không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỉ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó. Phương tiện lưu thông Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa. Để làm chức năng lưu thông hàng hóa ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hóa lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hóa. Phương tiện cất trữ: Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thức giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Phương tiện thanh toán: Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế… Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này, trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hóa. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ thế giới: Khi trao đổi hàng hóa vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng hóa, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của của cải nói chung của xã hội. II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TIỀN GIẤY Nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của tiền giấy Trong quá trình lưu thông trao đổi hàng hoá, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông trao đổi, tiền vàng, bạc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó, nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền vàng, bạc đủ giá trị. Như vậy, giá trị thực của tiền đã tách rời khỏi giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện trao đổi chỉ đóng vai trò trong chốc lát, người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng tiền để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện trao đổi, tiền không nhất thiết phải có đầy đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Lịch sử hình thành tiền giấy Tiền giấy lần đầu tiên xuất hiện dưới dạng các giấy chứng nhận (gold certificate, silver certificate) có khả năng đổi ra bạc hoặc vàng do các ngân hàng thương mại phát hành. Đây là cam kết cho phép người nắm giữ giấy này có thể đến ngân hàng rút ra số lượng vàng hay bạc ghi trên giấy. Do có thể đổi ngược ra vàng và bạc nên các giấy chứng nhận này cũng được sử dụng trong thanh toán. Sự ra đời những giấy chứng nhận như vậy đã giúp cho việc giao dịch cũng như vận chuyển chúng trở nên thuận lợi hơn rất nhiều. Dần dần, các giấy chứng nhận nói trên được chuẩn hoá thành các tờ tiền giấy có in mệnh giá và có khả năng đổi ra vàng một cách tự do theo hàm lượng vàng qui định cho đồng tiền đó. Ví dụ: ở Anh trước đây bên cạnh những đồng pound sterling tiền đúc còn lưu hành đồng bảng Anh bằng giấy do các ngân hàng phát hành và được đổi tự do ra vàng theo tỷ lệ 1 bảng Anh tương đương 123,274 grain (đơn vị trọng lượng bằng 0,0648 gram), tương đương với 7,32238 gr vàng nguyên chất. Việc đổi từ tiền giấy ra vàng được thực hiện tại các ngân hàng phát hành ra nó. Loại tiền giấy này rất phổ biến ở châu Âu trong thời gian trước chiến tranh thế giới thứ nhất, thường được gọi là tiền ngân hàng hay giấy bạc ngân hàng (bank note). Việc sử dụng nó hoàn toàn mang tính tự nguyện. Sau Đại chiến thế giới thứ nhất, nhằm siết chặt quản lý trong việc phát hành tiền giấy, các nhà nước đã ngăn cấm các ngân hàng thương mại phát hành giấy bạc ngân hàng, mọi việc phát hành chỉ do một ngân hàng duy nhất gọi là ngân hàng trung ương thực hiện. Hàm lượng vàng của đồng tiền giấy bây giờ được qui định theo luật từng nước. Ví dụ: hàm lượng vàng của đồng đô la Mỹ công bố tháng 1 năm 1939 là 0,888671g. Vì vậy mà người ta còn gọi tiền giấy này là tiền pháp định (Fiat money). Thế nhưng chẳng bao lâu sau khi xuất hiện, do ảnh hưởng của chiến tranh cũng như khủng hoảng kinh tế, đã nhiều lần tiền giấy bị mất khả năng được đổi ngược trở lại ra vàng (ở Pháp là vào các năm 1720, 1848 – 1850, 1870 – 1875, 1914 – 1928 và sau cùng là kể từ 1/10/1936 tới nay; ở Mỹ trong thời gian nội chiến, từ năm 1862 – 1863 nhà nước phát hành tiền giấy không có khả năng đổi ra vàng và chỉ tới năm 1879 khi cuộc nội chiến kết thúc nó mới có lại khả năng đó). Thậm chí có những thời kỳ cả tiền giấy được đổi ra vàng và tiền giấy không đổi được ra vàng cùng song song tồn tại. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ còn duy nhất đồng USD là có thể đổi ra vàng, tuy nhiên tới năm 1971, với việc Mỹ tuyên bố ngừng đổi đồng USD ra vàng, sự tồn tại của đồng tiền giấy có thể đổi ra vàng trong lưu thông thực sự chấm dứt. Bản chất tiền giấy Ngày nay, tiền giấy thực chất chỉ là các giấy nợ (IOU) của ngân hàng trung ương (NHTW) với những người mang nó. Nhưng không như hầu hết các giấy nợ, chúng hứa trả cho người mang nó chỉ bằng các tờ tiền giấy khác, tức là NHTW thanh toán các giấy nợ này bằng các giấy nợ khác. Và vì vậy, giờ đây, khi chúng ta mang tờ 100.000 đồng ra ngân hàng người ta sẽ chỉ đổi cho chúng ta các đồng tiền với mệnh giá nhỏ hơn như 20.000, 10.000, 5000 đồng chứ không phải là vàng. Khi phát hành tiền giấy thì tiền giấy trở thành tài sản của người sở hữu chúng, nhưng đối với NHTW lại là một khoản nợ về giá trị (hay về sức mua) của lượng tiền đã phát hành ra. Chính vì vậy, khi phát hành ra một lượng tiền bao giờ lượng tiền này cũng được ghi vào mục Tài sản Nợ trong bảng tổng kết tài sản của Ngân hàng Trung ương. Qua nghiên cứu quá trình hình thành tiền giấy, có thể thấy, tiền giấy ra đời với tư cách là dấu hiệu của kim loại tiền tệ (tiền vàng), được phát hành ra để thay thế cho tiền kim loại trong việc thực hiện chức năng tiền tệ nhằm khắc phục những nhược điểm của tiền tệ kim loại. Chính vì vậy, tiền giấy vẫn được sử dụng với giá trị như giá trị tiền tệ kim loại mà nó đại diện mặc dù giá trị thực của nó thấp hơn nhiều. Tờ giấy bạc 10 USD trước năm 1970 mặc dù được in ấn khá công phu trên chất liệu giấy đắt tiền vẫn không thể có giá trị bằng 8,88671g vàng mà nó đại diện. Và với việc in thêm chỉ một con số 0 nữa chúng ta cũng sẽ có một tờ 100 USD với chi phí rẻ hơn nhiều so với 88,8671g vàng mà nó đại diện. Cũng vì thế tiền giấy còn được gọi là tiền tệ dưới dạng dấu hiệu giá trị hay là tiền danh nghĩa (token money). Tiền giấy ngày nay không còn khả năng đổi ngược trở lại tiền tệ kim loại (tiền vàng) như trước. Việc xã hội chấp nhận sử dụng tiền giấy mặc dù giá trị thực của nó thấp hơn nhiều so với giá trị mà nó đại diện là vì tiền giấy được quy định trong luật là phương tiện trao đổi, vì mọi người tin tưởng vào uy tín của cơ quan phát hành (tức NHTW), và vì người ta thấy việc sử dụng tiền giấy là tiện lợi. Thế nhưng một khi mất lòng tin vào cơ quan phát hành, không còn tin rằng NHTW có thể đảm bảo cho giá trị danh nghĩa của tiền giấy được ổn định thì người ta sẽ không sử dụng tiền giấy nữa. III. NGUYÊN TẮC PHÁT HÀNH TIỀN GIẤY Nguyên tắc phát hành tiền giấy Ngân hàng nhà nước Việt Nam trực thuộc chính phủ, chính phủ uỷ quyền cho ngân hàng nhà nước thực hiện quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ ngân hàng. Ngân hàng nhà nước độc quyền phát hành tiền, nhưng không vì thế mà phát hành một cách tự ý, tuỳ tiện. Trước khi phát hành tiền ngân hàng nhà nước phải căn cứ vào các nguyên tắc Nguyên tắc phát hành dựa trên cơ sở trữ kim làm đảm bảo Nguyên tắc này quy định khối lượng giấy bạc ngân hàng phát hành vào lưu thông phải được đảm bảo bằng dự trữ kim loại quý hiện có trong kho dự trữ của ngân hàng. Việc đảm bảo này phải được duy trì theo một trong các hình thức sau: - Nhà nước quy định một hạn mức phát hành giấy bạc ngân hàng, khối lượng giấy bạc ngân hàng phát hành nằm trong hạn mức thì không cần phải có kim loại quý (vàng) làm đảm bảo, nhưng nếu vượt quá hạn mức đó thì khối lượng vượt quá hạn mức đòi hỏi phải có 100% vàng làm đảm bảo. - Nhà nước sẽ quy định mức tối đa lượng giấy bạc trong lưu thông mà không quy định mức dự trữ vàng đảm bảo cho lượng giấy bạc đó. Nhưng nếu phát hành giấy bạc vượt quá mức quy định đó thì phải có vàng làm đảm bảo. - Nhà nước quy định mức dự trữ vàng tối thiểu cho khối lượng giấy bạc phát hành, phần còn lại phải được đảm bảo bằng các chứng từ có giá như thương phiếu, chứng khoán chính phủ và các tài sản có khác của ngân hàng trung ương. Nguyên tắc phát hành tiền có đảm bảo bằng hàng hoá Cùng với sự phát triển sản xuất hàng hoá, khối lượng hàng hoá lưu thông ngày càng tăng, đòi hỏi phải có nhiều tiền để đáp ứng cho nhu cầu trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Mặt khác do yêu cầu đáp ứng chi tiêu của chính phủ. Sau chiến tranh thế giới II, nguyên tắc 1. gần như được chấm dứt. Thay vào đó là sự đảm bảo bằng hàng hoá cho việc phát hành tiền. Mặt khác quá trình lưu thông xuất hiện mới nhận thức về tiền, thế giới đã phi tiền tệ hoá vai trò của vàng, các loại tiền dấu hiệu ra đời và thay thế cho tiền kim loại vàng trong lưu thông. Để lưu thông tiền tệ ổn định, ngân hàng trung ương đặt ra nguyên tắc phát hành tiền được đảm bảo bằng giá trị hàng hoá. Theo nguyên tắc này, đảm bảo duy nhất cho khối lượng tiền trong lưu thông giờ đây là hàng hoá, thông qua các chứng khoán của chính phủ hoặc các giấy nhận nợ được phát hành từ các doanh nghiệp. Yêu cầu phát hành tiền dựa vào cơ sở hàng hoá nhằm duy trì vừa đủ cho nhu cầu của nền kinh tế, trên cơ sở phương trình trao đổi của Fisher với nội dung như sau: M.V=P.Y M: Khối lượng tiền cần được tạo ra cho nền kinh tế P: Mức giá cả bình quân của hàng hoá Y: Tổng sản lượng V: Vòng quay tiền tệ Dựa vào nguyên tắc trên ngân hàng trung ương cần phải dự tính khối lượng tiền phát hành, tức là dự kiến mức cầu tiền. Ta có thể tính nhu cầu tiền theo công thức: M=P.Q-V M : Tốc độ tăng trưởng của tiền cung ứng. P : Mức biến động giá dự tính. Q : Tỷ lệ tăng trưởng thực tế dự tính. V : Sự biến động tốc độ lưu thông tiền tệ dự tính. Các kênh phát hành tiền Thông qua nghiệp vụ tín dụng giữa Ngân hàng trung ương với các Ngân hàng thương mại Căn cứ vào nhu cầu tín dụng của nền kinh tế, căn cứ vào lượng tiền cung ứng tăng thêm trong năm kế hoạch, dựa vào mục tiêu của chính sách tiền tệ, nhu cầu vay vốn của các tổ chức tín dụng. Ngân hàng trung ương cho các tổ chức tín dụng vay ngắn hạn dưới hình thức tái cấp vốn: Chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá, cho vay có đảm bảo bằng các chứng từ có giá và các loại cho vay khác. Khi Ngân hàng trung ương cho các tổ chức tín dụng vay làm tăng bộ phận tiền mặt trong lưu thông hoặc làm tăng số dư tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại Ngân hàng trung ương. Kết quả làm tăng tiền trung ương (MB). Như vậy, qua việc Ngân hàng trung ương cho các Ngân hàng thương mại vay, Ngân hàng trung ương đã phát hành một lượng tiền vào lưu thông còn ngân hàng thương mại nhận được một khoản tín dụng từ ngân hàng trung ương là một nguồn vốn giúp ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động kinh doanh. Kênh thị trường mở Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, ngân hàng thương mại mua các giấy tờ có giá trên thị trường, nghĩa là đã đưa một khối lượng tiền vào lưu thông, hàng hoá mà Ngân hàng trung ương mua là các tín phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá ngắn hạn. Khi Ngân hàng trung ương mua các chứng từ có giá trên thị trường thì tiền từ Ngân hàng trung ương ra lưu thông, kết quả là tiền cung ứng sẽ tăng lên bằng đúng giá trị của chứng từ có giá đó. Các chứng từ có giá được Ngân hàng trung ương nắm giữ trở thành tài sản có của Ngân hàng trung ương tương ứng với nó là một sự tăng lên của bên tài sản nợ hoặc tiền mặt hoặc tiền dự trữ. Kênh này đang được sử dụng phổ biến, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển vì đây là kênh rất linh hoạt. Kênh phát hành tiền thông qua ngân sách nhà nước Trong quá trình hoạt động thu chi của ngân sách, thông thường thu có tính chất thời vụ mà chi thì diễn ra thường xuyên, do đó tại một thời điểm ngân sách có thể bị thiếu vốn ngắn hạn. Để đáp ứng nhu cầu chi, được sự đồng ý của chính phủ, Quốc hội, Ngân hàng trung ương tạm ứng cho ngân sách theo quy định của chính phủ bằng nhiều hình thức để xử lý thiếu hụt. Như vậy Ngân hàng trung ương đã cung ứng một khối lượng tiền cho ngân sách chi tiêu. Điều đó có nghĩa là Ngân hàng trung ương đã phát hành tiền thông qua kênh ngân sách. Phát hành tiền thông qua kênh ngoại hối Khi Ngân hàng trung ương thực hiện mua ngoại hối trên thị trường hối đoái, đây cũng là một kênh phát hành tiền. Khi ngân hàng trung ương mua ngoại tệ làm dự trữ ngoại tệ của ngân hàng trung ương tăng, đồng thời một lượng tiền cũng được đưa vào lưu thông qua việc thanh toán tiền cho các tổ chức cá nhân bán ngoại tệ cho ngân hàng trung ương. Ngược lại khi ngân hàng trung ương bán ngoại tệ, dự trữ ngoại tệ của ngân hàng trung ương giảm, tiền trung ương cũng giảm. Như vậy, tuy theo từng điều kiện nhất định mà các kênh cung ứng tiền của mỗi quốc gia được ngân hàng trung ương sử dụng phạm vi rộng, hẹp khác nhau. Song dù tiền được cung ứng theo kênh nào cũng phải đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Phát hành tiền nguyên nhân chính gây ra lạm phát Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ thay đổi của mức giá chung và được tính như sau: Mức giá (năm t) – Mức giá (năm t-1) Tỷ lệ lạm phát (năm t) = x 100 Mức giá (năm t-1) Như ta đã biết, nhà nước có thể in tiền giấy ném vào lưu thông. Nhưng vì bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là kí hiệu của tiền vàng (hay ngày nay là kí hiệu của một lượng hàng hóa), nên Nhà nước không thể tùy ý in bao nhiêu tiền giấy cũng được mà phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy. Quy luật đó chính là nguyên tắc phát hành tiền giấy được nói ở trên. Khi khối lượng tiền giấy do Nhà nước phát hành và lưu thông vượt quá khối lượng tiền cần cho lưu thông, thì giá trị của tiền tệ bị giảm xuống, tình trạng lạm phát xuất hiện. Cho đến nay, tại Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, lạm phát vẫn là mối đe dọa thường xuyên đối với sự phát triển của nền kinh tế. Lạm phát làm cuộc sống mỗi người thêm phần lo âu suy nghĩ đối phó, làm giảm chất lượng cuộc sống của những người thu nhập thấp, ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong xã hội. Ảnh hưởng lạm phát sẽ làm giảm sức mua của người nghèo và làm tăng bất bình đẳng về thu nhập, làm chựng lại các mối quan hệ kinh tế mua bán, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng của nền kinh tế. Nguyên nhân lạm phát của những năm gần đây là do hậu quả của những năm trước đây gây ra: Chủ yếu do những năm trước đây Chính phủ (tại Việt nam cũng như các nước khác) đã in tiền ra chi tiêu để bù đắp vào phần thiếu hụt của Ngân sách, hoặc do Chính phủ in tiền cho các tổ chức kinh tế khác vay để đầu tư sản xuất, xây dựng cơ bản,… nhưng Chính phủ không có được vật đối chứng để đảm bảo giá trị đồng tiền. Xã hội bán hàng hóa cho Chính phủ và thu được tiền nhưng xã hội lại không có hàng hóa khác để mua, do Chính phủ không có được vật đối chứng tương ứng để đảm bảo giá trị những đồng tiền đó, vì vậy đã tạo áp lực gây ra sự mất cân đối Tiền- Hàng trong nền kinh tế, gây ra lạm phát. Đó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân gây ra lạm phát trước đây cũng như hiện nay. Các nguyên nhân khác như lạm phát chi phí đẩy, lạm phát cầu kéo,… cũng đều do từ nguyên nhân đó mà ra. KẾT LUẬN Qua nghiên cứu quá trình hình thành tiền giấy, chúng ta đã hiểu hơn về sự ra đời của tiền giấy. Có thể thấy, tiền giấy ra đời với tư cách là dấu hiệu của kim loại tiền tệ (tiền vàng), được phát hành ra để thay thế cho tiền kim loại trong việc thực hiện chức năng tiền tệ nhằm khắc phục những nhược điểm của tiền tệ kim loại. Chính vì vậy, tiền giấy vẫn được sử dụng với giá trị như giá trị tiền tệ kim loại mà nó đại diện mặc dù giá trị thực của nó thấp hơn nhiều. Việc phát hành tiền giấy cũng cần phải dựa trên những nguyên tắc nhất định, mà nguyên tắc được sử dụng ngày nay là nguyên tắc phát hành dựa trên sự đảm bảo bằng hàng hóa, sự phát hành dựa trên nguyên tắc này, giúp cho tiền tệ được lưu thông ổn định. Tuy phát hành tiền giấy là nguyên nhân chính gây ra tình trạng lạm phát, nhưng tiền giấy cũng có rất nhiều những lợi ích: Việc sử dụng tiền giấy đã giúp cho mọi người có thể dễ dàng cất trữ và vận chuyển tiền; Tiền giấy cũng có đủ các mệnh giá từ nhỏ tới lớn phù hợp với qui mô các giao dịch của bạn; Về phía chính phủ, cái lợi thấy rõ nhất của tiền giấy là việc in tiền giấy tốn chi phí nhỏ hơn nhiều so với những giá trị mà nó đại diện và có thể phát hành không phụ thuộc vào số lượng các hàng hoá dùng làm tiền tệ như trước đây; Ngoài ra, chính phủ luôn nhận được khoản chênh lệch giữa giá trị mà tiền giấy đại diện với chi phí in tiền khi phát hành tiền giấy. Con người luôn có xu hướng thanh toán cho những dịch vụ hàng hóa theo cách thức đơn giản nhanh chóng, hiệu quả, ít tốn kém nhất, và trong tương lai không xa, có thể tiền giấy sẽ được thay thế hoàn toàn bằng những thẻ thanh toán điện tử với quy mô thanh toán toàn cầu. Tuy nhiên, có thể nói cho tới thời điểm này, tiền giấy vẫn được coi là hình thức tiền tệ tiên tiến nhất. TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. NXB Chính trị quốc gia. Năm 2010. Một số tư liệu trong tiểu luận được lấy từ các trang web:

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxQuá trình hình thành và nguyên tắc phát hành tiền giấy.docx
Luận văn liên quan