Quốc hội - Cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất cảu nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Ðại biểu Quốc hội được cử tri bầu ra tại các đơn vị bầu cử, chịu trách nhiệm trước cử tri bầu ra mình và trước cử tri cả nước. Quốc hội có 3 chức năng chính: chức năng lập pháp; chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Vì thế, trong bộ máy nhà nước ta, Quốc hội chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nuớc cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

doc8 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/02/2013 | Lượt xem: 3396 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Quốc hội - Cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất cảu nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Ðại biểu Quốc hội được cử tri bầu ra tại các đơn vị bầu cử, chịu trách nhiệm trước cử tri bầu ra mình và trước cử tri cả nước. Quốc hội có 3 chức năng chính: chức năng lập pháp; chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Vì thế, trong bộ máy nhà nước ta, Quốc hội chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nuớc cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. I/ Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân (cơ quan đại diện dân cử cao nhất) Về mặt chính trị, quyền lực nhà nước ở Việt Nam là ý chí thống nhất của nhân dân lao động được thực hiện thông qua nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Về mặt pháp lý, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân cả nước bầu ra thông qua phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Trên thực tế, Quốc hội của nước ta ngay từ khi ra đời đến nay luôn luôn được tổ chức theo cơ cấu thống nhất, không phân chia thành hai viện, và tất cả các đại biểu Quốc hội đều do nhân dân trực tiếp bầu ra để thay mặt nhân dân nắm giữ quyền lực nhà nước. Điều đó nói lên rằng, Quốc hội của nước ta là cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân thống nhất. Tính đại diện cao nhất của Quốc hội nước ta thể hiện trên các yếu tố: cách thức thành lập Quốc hội, Quốc hội có cơ cấu thành phần đại biểu đại diện rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân; Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình dựa vào sự tín nhiệm của nhân dân, do nhân dân uỷ quyền và Quốc hội chịu trách nhiệm trước nhân dân. Về cách thức thành lập Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo 4 nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Để đảm bảo việc thực hiện các nguyên tắc này, hàng loạt biện pháp đã được quy định trong Hiến pháp và trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội. Ví dụ điều 54 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật”. Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định: “Điều 40: Mỗi cử tri chỉ có quyền bỏ một phiến bầu. Cử tri phải tự mình đi bầu, không được nhờ người khác bầu thay, không được bầu bằng cách gửi thư, trừ những trường hợp nói tại Điều 41 của Luật này. Điều 41: Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì có thể nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự tay mình bỏ phiếu. Nếu vì tàn tật không tự bỏ phiếu được, thì cử tri có thể nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được, có thể đề nghị Tổ bầu cử mang hòm phiếu và phiếu bầu đến nơi ở để bỏ phiếu. Trong trường hợp này, Tổ bầu cử có thể tổ chức hòm phiếu phụ mang đến nơi ở của cử tri để tiếp nhận phiếu bầu. Điều 42: Lúc cử tri viết phiếu, không ai được đến xem, kể cả nhân viên Tổ bầu cử. Nếu viết hỏng cử tri có quyền đề nghị Tổ bầu cử đổi cho phiếu bầu khác.”. Như vậy, cử tri cả nước (tức là những công dân Việt Nam ) bầu ra những đại biểu Quốc hội thật sự ưu tú để nhân dân ủy quyền, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước của nhân nhân thông qua con đường Nhà nước.Trong nhiệm kỳ, nếu đại biểu nào tỏ ra không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân có thể bị cử tri bãi nhiệm, miễn nhiệm. Về cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội do toàn dân bầu ra có cơ cấu thành phần phản ánh sự đoàn kết rộng rãi các giai cấp, tầng lớp, dân tộc. Hồ Chủ tịch đã nêu rõ: “Các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam”; “Quốc hội là tiêu biểu cho ý chí thống nhất của dân tộc ta, một ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi”. Quốc hội  là nơi quy tụ bộ phận tinh hoa của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc anh em đang sống trên mọi vùng lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam . Quốc hội thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Ví dụ trong danh sách trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XII. Trong số 876 ứng cử viên, cử tri đã lựa chon được 493 người trở thành đại biểu Quốc hội, trong đó có 153 Đại biểu do Trung ương giới thiệu. Đại biểu Quốc hội cao tuổi nhất đã 80 tuổi, Đại biểu ít tuổi nhất là 24 tuổi. Trong tổng số các đại biểu Quốc hội, có 245 Đại biểu lần đầu tham gia Quốc hội, 138 người tái cử và 1 người ứng cử. Có 164 Đại biểu có trình độ trên đại học (chiếm 33,27%), 309 Đại biểu có trình độ đại học (chiếm 62,68%). Đại biểu là dân tộc thiểu số có 87 người, Đại biểu là phụ nữ có 127 người, ngoài Đảng 43 người, trẻ tuổi 68 người. Dựa vào danh sách này ta có thể thấy được sự tập trung dân chủ, tập trung trí tuệ của nhân dân cả nước trong cơ cấu, thành phần Đại biểu Quốc hội. Về thẩm quyền Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn to lớn trong việc thiết lập trật tự chính trị, pháp lý trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở nước ta Quốc hội là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia và những vấn đề trọng đại khác của đất nước. Mọi quyết định của Quốc hội đều bắt nguồn từ ý chí nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân và đều nhằm phục vụ cho lợi ích chung của toàn dân tộc. Trong kỳ họp Quốc hội, Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn về các vấn đề của đất nước. Điều 98 Hiến pháp 1992 quy định: “Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp; trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản. Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm. Người phụ trách của các cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định.”. Quốc hội chịu trách nhiệm trước nhân dân Tính đại diện của Quốc hội còn thể hiện ở việc Quốc hội chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Đây là mối quan hệ ràng buộc hai chiều giữa đại biểu Quốc hội với nhân dân. Bắt nguồn từ nhân dân và được sự tín nhiệm của nhân dân, các đại biểu quốc hội có trách nhiệm gần gũi, lắng nghe ý kiến của nhân dân, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân, phải xuất phát từ lợi ích của đông đảo nhân dân để quyết định các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội. Quốc hội và các đại biểu Quốc hội chịu sự giám sát của nhân dân thông qua việc bảo đảm cho nhân dân theo dõi quá trình làm việc của Quốc hội (tham dự các phiên họp, nghe chất vấn và trả lời chất vấn), thông qua việc các đại biểu Quốc hội phải báo cáo hoạt động tại đơn vị đã bầu cử mình. Điều 97 Hiến pháp 1992 quy định: “Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước. Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan Nhà nước hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó. Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội.”. II/ Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo Hiến pháp 1992, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tính quyền lực nhà nước của Quốc hội thể hiện ở thẩm quyền của Quốc hội và được cụ thể hoá thành các chức năng và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể. Quốc hội nước ta có các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn: lập hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; tổ chức nhà nước; giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Chức năng lập hiến và lập pháp Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền thông qua hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, thông qua luật và sửa đổi luật. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, quy định các vấn đề quan trọng nhất về quyền lực Nhà nước và cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước, về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chế độ văn hoá - xã hội, về cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước, về quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… Hiến pháp và Luật thể hiện đường lối cơ bản và những chủ trương lớn của Đảng đã được Nhà nước thể chế hoá và có hiệu lực thi hành trên toàn lãnh thổ nước ta. Luật là văn bản có hiệu lực pháp lý cao sau Hiến pháp. Chỉ có Quốc hội mới có quyền đưa ra các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất. Các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước khác ban hành không được trái với tinh thần và nội dung của Hiến pháp và luật. Điều này đã được quy định tại điều 83 và điều 84 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Quốc hội còn có quyền quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Đây là một điểm mới mà Hiến pháp 1980 chưa quy định. Hiến pháp 1992 đã bổ sung quyền này tại khoản 1 điều 84 nhằm bảo đảm cho hoạt động của Quốc hội có hiệu quả hơn. Chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội có quyền quyết định những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội; những vấn đề quốc kế, dân sinh; những vấn đề đối nội, đối ngoại và quốc phòng an ninh của đất nước. Về lĩnh vực kinh tế - ngân sách, Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế. Ví dụ: Chiều 16/6, dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên, Quốc hội làm việc tại Hội trường, thông qua Nghị quyết phê chuẩn quyết toán Ngân sách Nhà nước năm 2008, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi) và Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi). Với 85,8% số đại biểu Quốc hội tán thành, Nghị quyết phê chuẩn quyết toán Ngân sách Nhà nước năm 2008 đã được Quốc hội thông qua, với Tổng thu cân đối Ngân sách Nhà nước là 548.529 tỷ đồng (bao gồm cả thu chuyển nguồn từ năm 2007 sang năm 2008, thu từ quỹ dự trữ tài chính, thu huy động đầu tư của các địa phương theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và thu kết dư ngân sách địa phương năm 2007); Tổng chi cân đối Ngân sách Nhà nước năm 2008 là 590.714 tỷ đồng (bao gồm cả chi chuyển nguồn năm 2008 sang năm 2009); Số bội chi ngân sách Nhà nước là 67.677 tỷ đồng, bằng 4,58% GDP (không bao gồm kết dư ngân sách địa phương). Quốc hội còn quyết định những vấn đề quan trọng khác như vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác nhằm bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia; quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của nhà nước; quyết định đại xá; quyết định việc trưng cầu ý dân. Quốc hội còn có nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng là quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước. Chức năng tổ chức nhà nước Quốc hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, củng cố và phát triển bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Bộ máy nhà nước ta từ trung ương đến địa phương, từ các cơ quan quyền lực nhà nước đến cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát được tổ chức theo mô hình nào, nguyên tắc hoạt động ra sao đều do Quốc hội xem xét lựa chọn, quyết định tại các kỳ họp và được thể hiện trong Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức chính phủ, Luật tổ chức tòa án nhân dân, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân. Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội, thành lập Chính phủ, bầu Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; phê chuẩn đề nghị của Chủ tich nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Theo quy định của Hiến pháp 1980, Chủ tịch, Phó chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng bộ trưởng đều do Quốc hội bầu ra và bãi miễn. Hiến pháp 1992 quy định Quốc hội chỉ bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm Thủ tướng chính phủ còn các Phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ do Thủ tướng lựa chọn, đề nghị trình Quốc hội xem xét. Nếu tán thành đề nghị đó của Thủ tướng thì Quốc hội ra nghị quyết phê chuẩn. Trên cơ sở nghị quyết của Quốc hội, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt. Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội. Quốc hội còn quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm cấp ngoại giao và những hàm cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước. Chức năng giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật Điều 83 của Hiến pháp năm 1992 và Điều 1 của Luật tổ chức Quốc hội quy định: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”. Cùng với các chức năng lập hiến, lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát là một trong những chức năng chủ yếu của Quốc hội. Chức năng giám sát của Quốc hội đã được xác định xuyên suốt tất cả các văn bản Hiến pháp của nước ta (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992). Đồng thời, chức năng này cũng đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động của Nhà nước đúng pháp luật vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đảm bảo cho các cơ quan nhà nước hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định, làm cho bộ máy nhà nước ta hoạt động nhịp nhàng, có hiệu quả, không chồng chéo, chống các biểu hiện tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền. Tuỳ từng chủ thể thực hiện quyền giám sát của Quốc hội mà có đối tượng, hình thức và nội dung giám sát cụ thể. - Quốc hội (tại kỳ họp Quốc hội): Xem xét các báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; có thể bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; có thể miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. - Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Thường xuyên giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát, hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân, bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, giải tán Hội đồng nhân dân trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân; trong thời gian Quốc hội không họp, phê chuẩn hoặc không phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. - Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội: Trong phạm vi lĩnh vực được Luật tổ chức Quốc hội quy định, tiến hành giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan, cá nhân có liên quan. - Đại biểu Quốc hội: Thực hiện quyền chất vấn Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác nhau của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; có quyền yêu cầu, giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của cử tri. Ví dụ về hoạt động giám sát của Quốc hội: “Nhằm đánh giá thực trạng hoạt động quảng cáo và thi hành Pháp lệnh Quảng cáo trong 9 năm qua (từ 2001 đến nay), từ trung tuần tháng 12/2010 Ủy ban Văn hóa, Giáo dục TN, TN và NĐ tổ chức giám sát việc thực hiện Pháp lệnh Quảng cáo tại một số tỉnh thành phố. Đợt giám sát tập trung làm rõ những bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quảng cáo; quản lý Nhà nước về quảng cáo, trong đó có quy hoạch quảng cáo, vấn đề quản lý hoạt động của các tổ chức, cá nhân quảng cáo và kinh doanh quảng cáo; và thực trạng hoạt động quảng cáo hiện nay trên báo chí, internet, xuất bản phẩm, qua các chương trình văn hóa, thể thao... Vấn đề liên doanh, liên kết trong hoạt động quảng cáo hay đào tạo chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ quảng cáo cũng sẽ được quan tâm... Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ sẽ đưa ra các đề xuất, kiến nghị xây dựng Luật Quảng cáo.”. III/ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội Về hoạt động cung cấp thông tin cho Đại biểu Quốc hội, tại điều 37 quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội và đoàn Đại biểu Quốc hội (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 08/2002/QH11, ngày 16 tháng 12 năm 2002) đã quy định: “1. Đại biểu Quốc hội được cung cấp những tài liệu và dịch vụ sau đây: Các tài liệu của kỳ họp Quốc hội Công báo của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Báo Nhân dân, báo địa phương, báo Người đại biểu nhân dân (nay là báo Đại biểu nhân dân), tạp chí nghiên cứu lập pháp và các tài liệu, văn bản liên quan đến hoạt động của Quốc hội Dịch vụ thông tin, nghiên cứu, thư viện và internet khi có yêu cầu Đại biểu Quốc hội là thành viên Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội còn được cung cấp thông tin về hoạt động của Hội đồng dân tộc hoặc của Ủy ban mà mình là thành viên. Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Đại biểu Quốc hội được bầu hoặc nơi Đại biểu Quốc hội chuyển đến sinh hoạt (nếu có) cung cấp các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, các văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân và các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương cho Đại biểu Quốc hội.”. Xét về mặt pháp lý, đã có những quy định khá cụ thể và chi tiết, đặc biệt là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và cả luật năm 1996 cũng quy định các tài liệu của kỳ họp Quốc hội phải được gửi đến Đại biểu Quốc hội trước ngày khai mạc kỳ họp là 20 ngày. Nhưng trên thực tế thì các quy định trên đây có tính khả thi không cao Một điểm khác nữa là trong nhiều năm qua, các cơ quan của Quốc hội đã tổ chức rất nhiều cuộc nghiên cứu, hội thảo, khảo sát, trao đổi kinh nghiệm ở nước ngoài, nhưng các bản báo cáo kết quả và kiến nghị qua các cuộc hội thảo, báo cáo kết quả chuyến đi nghiên cứu ở nước ngoài chất lượng ra sao và sử dụng như thế nào chưa được đánh giá, kết luận và phổ biến KẾT LUẬN Quốc hội nước ta thực sự đại diện cho ý chí, lợi ích của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đây là một tổ chức hành chính thể hiện rất rõ tính chất đại diện và tính chất quần chúng. Các đại biểu Quốc hội là những công nhân, nông dân, trí thức và những người lao động ưu tú thuộc mọi dân tộc trong cả nước được nhân dân tín nhiệm bầu ra chịu trách nhiệm thay mặt nhân dân cả nước quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Với vị trí và tính chất như trên Quốc hội mang chủ quyền Nhà nước, mọi quyền lực Nhà nước tập trung thống nhất vào Quốc hội. Chính vì thế mà Quốc hội trở thành cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nuớc cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docQuốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất cảu nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.doc