Sở hữu tư nhân, vai trò của sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

A. Mở đầu B. Nội dung I. Lý luận chung về sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 1. Khái niệm chung 2. Sự xuất hiện và tồn tại của chế độ sở hữu tư nhân 3. Bản chất kinh tế - xã hội của sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân. II. Vị trí, vai trò của sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa III. Thực trạng và những biến động của sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân trong thời kỳ trong thị kỳ đổi mới cơ chế kinh tế ở Việt Nam. 1. Những thành tựu đạt được 2. Những hạn chế còn tồn tại IV. Những chính sách và giải pháp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân, các loại hình kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 1. Những giải pháp đặt ra 2. Những giải pháp của Đảng và nhà nước ta V. Phương hướng xã hội hoá sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa C. Kết luận

doc21 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 22/02/2013 | Lượt xem: 4116 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sở hữu tư nhân, vai trò của sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A. Mở đầu Ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, ý thức về xã hội, về cộng đồng người còn hạn chế nhưng người nguyên thuỷ đã biết chiếm giữ hoa quả tự nhiên, chim thú săn bắt được, những công cụ lao động giản đơn để phục vụ cho nhu cầu của mình.Thời kỳ đó, Sở hữu được hiểu là việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động của xã hội loài người.            Sở hữu là phạm trù cơ bản, phức tạp và hàm xúc của kinh tế - chính trị học, thường được bàn nhiều và cũng đang tồn tại không ít ý kiến khác nhau, thậm chí  đối lập nhau.  Nhưng tựu trung đều dựa trên  phương pháp luận coi sở hữu như quá trình chiếm hữu. Ngày nay "Vấn đề sở hữu" còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học xã hội khác với các góc độ tiếp cận khác nhau, như: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật; Luật dân sự; Luật hôn nhân và gia đình; Luật doanh nghiệp; Luật đất đai; Kinh tế môi trường vv... Đây còn là vấn đề quan tâm có tính chất sống còn của mọi giai cấp, mọi tổ chức và cá nhân: Sở hữu về tư liệu sản xuất  là cơ sở kinh tế đầu tiên quyết định địa vị thống trị xã hội của giai cấp cầm quyền; Sở hữu là cơ sở kinh tế và là cơ sở pháp lý để các chủ thể thực hiện các quyền năng pháp lý trên đó. Đối với nước ta hiện nay, thực hiện việc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển TBCN là một mô thức không có tiền lệ thì việc đòi hỏi phải củng cố và hoàn thiện một hệ thống lý luận khoa học sắc bén, trong  đó có lý luận về vấn đề sở hữu" là tất yếu khách quan. Nó không chỉ là kim chỉ nam cho hành động kinh tế của đất nước, mà còn góp phần giải quyết, tháo gỡ vướng mắc, khắc phục sai lầm lệch lạc của thực tiễn quản lý điều hành phát sinh  vì sự hoàn thiện của chế độ sở hữu XHCN, từ đây tạo ra cái nền vật chất pháp lý cho công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, phấn đấu cho mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Trong bài tập học kì lần này, em xin được trình bày vấn được nêu trên – “Sở hữu tư nhân, vai trò của sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. B. Nội dung I. Lý luận chung về sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.  1. Khái niệm chung a. Sở hữu tư nhân Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu của từng cá nhân về tư liệu sinh hoạt, tiêu dùng và những tư liệu sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân. b. Chủ thể của sở hữu tư nhân Chủ thể của sở hữu tư nhân là từng cá nhân. Nếu một tài sản hoặc một tập hợp tài sản thuộc quyền sở hữu của hai hay nhiều người thì chủ sở hữu là từng người trong số họ; họ được gọi là đồng chủ sở hữu. Theo khoản 2 Điều 15 BLDS : Mọi cá nhân dù đã trưởng thành hay chưa trưởng thành có hay không có năng lực hành vi dân sự hoặc năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ đều có quyền sở hữ , quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Cá nhân có quyền sở hữu đối với những thi nhập do lao động trong các ngành kinh tế quốc dân, trong kinh tế tập thể. Chủ thể của sở hữu tư nhân còn được sở hữu đối với những tư liệu sản xuất trong các thành phần kinh tế khác. c. Khách thể của sở hữu tư nhân. Khách thể của sở hữu tư nhân là những tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân công dân. Tài sản đó có thể là những tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng. 2. Sự xuất hiện và tồn tại của chế độ sở hữu tư nhân: Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ ở gian đoạn cuối do sự phát triển của lực lượng sản xuất sau ba cuộc phân công lao động xã hội (lần 1, ngành trăn nuôi tách khỏi trồng trọt; lần 2, thủ công nghiệp tách khỏi công nghiệp; lần 3,với sự xuất hiện của tầng lớn thương nhân). Do năng xuất lao động đã lao hơn trước, con người có kinh nghiệm hơn v.v... Trong xã hội có sản phẩm dư thừa và xuất hiện những người chiếm đoạt của cải dư thừa đó và trở thành giàu có, (tư hữu riêng) lại có những người do yếu kém mà nghèo đói... Tất cả đẩy nhanh quá trình phân hoá tầng lớp xã hội và giai cấp xuất hiện. Có giai cấp thì tất yếu có đấu tranh giai cấp. Để cuộc đấu tranh giai cấp nằm trong vòng trật tự nhất định không phá vỡ xã hội thì có một tổ chức đặc biệt ra đời, tựa hồ như đứng trên xã hội và quản lý xã hội. Đó là Nhà nứơc. * Trong chế độ chiếm hữu nô lệ: Pháp luật của nhà nứơc chủ nô duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu của chủ nô đối với tất cả các tư liệu sản xuất của xã hội ngay cả sở hữu bản thân người nô lệ (nô lệ là công cụ biết nói không được xem là người). ở đây, trình độ tư hữu của còn thấp nhưng tính chất khắc nghiệt và bất bình đẳng là tuyệt đối. * Trong xã hội phong kiến: Sở hữu đẳng cấp phong kiến thể hiện rõ ở chế độ"phong tước, cấp điền" của các vua chúa phong kiến. Nhà nước và pháp luật phong kiến bảo vệ, duy trì chế độ sở hữu của địa chủ lãnh chúa phong kiến đối với ruộng đất và duy trì tình trạng nửa phong kiến của nông dân và giai cấp phong kiến. * Trong chế độ tư bản chủ nghĩa: Trên cơ sở tan rã dần của sở hữu phong kiến đã xuất hiện và phát triển quan hệ sở hữu tư sản. Đó là chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư (do công nhân làm thuê sáng tạo ra bị giai cấp tư sản chiếm không) ở đây là giai đoạn của trình độ tư hữu gắn với đặc trưng của xã hội tư bản. Chế độ tư hữu được qui định là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Giai cấp tư sản với phương pháp, thủ đoạn bóc lột mới với trình độ cao tư hữu trong xã hội tư bản chủ nghĩa nằm chủ yếu tập trung trong tay giai cấp tư sản, các tập đoàn tư bản, các nhà tư bản nắm trong tay tư liệu sản xuất. * Trong thời kỳ quá độ lên CNXH: Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin thì có 2 phương thức quá độ lên CNXH. Đối với những nước như nứơc ta quá độ lên CNXH từ một nước nghèo, lạc hậu chưa qua giai đoạn phát triển TBCN, thì nhất thiết cần có một thời kỳ lịch sử với sự tồn tại của đa thành phần kinh tế với đa hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân để sử dụng sức mạnh và ưu thế của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế hàng hoá, tất cả nhằm tạo ra tiền đề xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho CNXH. Mặc dù vậy, trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta hiện nay nhằm phát triển lực lượng sản xuất thì sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo để định hướng cho sở hữu tư nhân nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung đi theo đúng quĩ đạo. Chính C.Mác và F. Ănghen trong tác phẩm tuyên ngôn của Đảng cộng sản, ông đã nhấn mạnh "chủ nghĩa cộng sản không xoá bỏ của ai quyền chiếm hữu các của cải mà chỉ xoá bỏ việc dùng những của cải ấy để nô dịch lao động của người khác". 3. Bản chất kinh tế - xã hội của sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân. Sự phân công lao động đã làm xuất hiện chế độ tư hữu và đến lượt nó, chế độ tư hữu lại đưa sức sống mới cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Chế độ tư hữu đã tạo nên động lực cho kinh tế hàng hóa và cũng chính chế độ tư hữu về tài sản là tiền đề kinh tế cho sự ra đời của nhà nước và pháp luật. Có thể nói ý thức về sở hữu (tư hữu) trong đời sống kinh tế là thành quả vô cùng lớn lao của con người, đánh dấu “con người mông muội” chuyển thành “con người văn minh”. Lịch sử tiến hóa cho thấy, trong rất nhiều nguyện vọng và lợi ích của con người, sự quan tâm tới việc chiếm hữu của cải vật chất đã chiếm một vị trí thích đáng, thể hiện ở sự cảm nhận đặc biệt: ý thức về người chủ, về người sở hữu. Nói cụ thể hơn, điều đó có nghĩa là: sở hữu đẻ ra tự tin của con người trong việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế – xã hội và do đó, gắn bó họ với các hoạt động ấy bằng những sợi dây lợi ích vững chắc, kích thích sự quan tâm thường xuyên của họ tới việc tạo ra của cải vật chất và bảo vệ thành quả lao động cũng như các “tặng vật của thiên nhiên” trong thế giới xung quanh. Ngược lại, nếu làm cho con người tách khỏi mọi sản vật, tước bỏ khả năng cảm thấy mình là người chủ, sẽ tạo ra sự bàng quan, hờ hững và có khi cả sự chối bỏ, khó chịu đối với những gì họ coi là xa lạ, không phải của mình. Một khi con người vô trách nhiệm với những vật trong thế giới xung quanh chỉ vì chúng không phải là của mình, thì không thể nói tới một sự quan tâm chăm sóc nào của họ. Có rất nhiều ví dụ chứng minh cho điều này. Ví dụ điển hình là thái độ của người nông dân đối với mảnh đất 5% và ruộng đất của HTX, hoặc một chiếc xe đạp của cơ quan và cũng chiếc xe đạp ấy khi đã nhượng lại cho cá nhân, hoặc ngôi nhà khi còn thuộc sở hữu nhà nước và cũng ngôi nhà ấy khi đã được hóa giá. Đây là những hiện tượng giản đơn về ý thức người chủ, người sở hữu mà ai cũng thấy. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, không phải sở hữu tư nhân lúc nào cũng được đối xử công bằng. Vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80, các nước Tây Âu đã khởi động quá trình tư hữu hóa. Vào thời điểm này, khu vực kinh tế nhà nước hoạt động đã giảm hiệu quả. Các xí nghiệp nhà nước có tiếng là “thành trì cổ xưa”, là “những con voi một ngà nặng cân và khan hiếm” cũng bị đình trệ về mặt sản xuất do tập trung hóa cao độ và tệ nạn quan liêu. Tất cả điều này dù muốn hay không cũng đã phá vỡ các quy luật thị trường và kìm hãm tinh thần chủ động kinh doanh của các tập thể và cá nhân. Bắt đầu từ chính phủ bảo thủ của M. Thatchez ở Anh và sau đó là các chính phủ Pháp, Bỉ, Italia, Tây Đức, Hà Lan cũng như các chính phủ do những người xã hội dân chủ lãnh đạo ở Tây Ban Nha, Áo và Thụy Điển đã tuyên bố bắt tay vào tư hữu hóa một phần khu vực kinh tế nhà nước. Ở các quốc gia Đông Âu và SNG, vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX cũng diễn ra quá trình cùng một ý nghĩa có tên gọi là phi nhà nước hóa và tư nhân hóa với tất cả tính phức tạp của chúng. Như vậy, những gì diễn ra ở Tây Âu vào những năm 70, 80 và ở Đông Âu cùng các nước SNG vào những năm 90 của thế kỷ XX, tất cả cũng trong khuôn khổ tái lập lại sự cảm nhận “ý thức về người chủ, người sở hữu” hay nói cách khác đi là nhận thức lại sở hữu tư nhân và vận dụng kinh tế tư nhân một cách hợp lý nhằm tạo động lực cho nền kinh tế. Một lần nữa lịch sử nhắc nhở chúng ta rằng loại hình kinh tế mà ở đó lợi nhuận sau khi trừ đi thuế hoàn toàn thuộc quyền chi phối của người chủ đầu tư là loại hình có động lực kinh doanh mạnh mẽ nhất. Thế nhưng, sẽ là sai lầm nếu coi sở hữu tư nhân chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế thị trường. Tình hình ấy nếu có thì cũng đã lâu rồi. Kinh tế thị trường hiện đại về cơ bản bao gồm các hình thức sở hữu liên doanh, hỗn hợp, tập thể và sở hữu nhà nước. Hiện nay, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa theo kiểu kinh tế thị trường điển hình cũng chỉ khoảng 10 đến 15% tư liệu sản xuất thuộc về sở hữu tư nhân, 60-70% thuộc sở hữu tập thể cùng sở hữu cổ phần, 15-25% là sở hữu nhà nước. Nếu tính theo sự đóng góp vào GDP thì khu vực kinh tế tư nhân cũng chỉ đóng góp khoảng 15 đến 20% GDP. II. Vị trí, vai trò của sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa  Vị trí, vai trò của sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Lợi thế về động lực phát triển của kinh tế tư nhân trong quan hệ với khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Nhận thức lại vị trí của các khu vực kinh tế và các loại hình kinh tế trong nền kinh tế đổi mới ở chủ nghĩa xã hội.  Từ vị trí mới, kinh tế tư nhân đang tạo thành một đối chứng hiện thực năng động để các khu vực kinh tế khác đối chiếu và luôn tự đổi mới, tự hoàn thiện. Khu vực kinh tế tư nhân góp phần khơi dậy một bộ phận quan trọng tiềm năng của đất nước, tăng nguồn nội lực, tham gia phát triển nền kinh tế quốc dân; Đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Góp phần thu hút một bộ phận lớn lực lượng lao động vào đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế đối ngoại, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường thế giới.  Mối quan hệ giữa kinh tế tư nhân với các khu vực kinh tế, với các loại hình kinh tế khác và vị trí của kinh tế tư nhân trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.  Ở nước ta kinh tế tư bản tư nhân đang hình thành phát triển. Đây là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tự nhân TBCN về tư liệu sản xuất. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, sở hữu tư bản tư nhân, bao gồm cả doanh nghiệp của các nhà tư sản và các đơn vị kinh tế mà phần lớn. Vốn do một hoặc một số tư nhân góp lại, thuê lao động sản xuất- kinh doanh dưới hình thức xí nghiệp tư doanh hay công ty cổ phần tư nhân. Nó cũng bao gồm cả hình thức kinh tế tư bản tư nhân nước ngoài đầu tư 100% vốn hoặc nắm giữ tỷ lệ vốn khống chế. Trong thời kỳ quá độ phát triển sản xuất TBCN không còn nguyên vẹn nữa. Bởi thế, kinh tế tư bản tư nhân ở nước ta chỉ hoạt động với tư cách là một thành phần kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần, được Bác hô quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp. III. Thực trạng và những biến động của sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân trong thời kỳ trong thị kỳ đổi mới cơ chế kinh tế ở Việt Nam.  Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân là đối tượng cải tạo, phải xoá bỏ, do đó không có cơ sở pháp lý để tồn tại. Sự phát triển của sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân, một số đặc điểm về động thái phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế từ 1986 đến nay. Những tác động tích cực của kinh tế tư nhân. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn và những vấn đề đặt ra cần giải quyết để tiếp tục phát triển, hoàn thiện sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân của nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ nay đến năm 2020.  1. Những thành tựu đạt được Trong tiến trình đổi mới, Đảng và Chính phủ ta đã có đường lối và nhiều chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế tư nhân. Các đường lối chủ trương chính sách đã được từng bước luật pháp hóa và cụ thể hóa, đã tạo ra môi trường pháp lý và môi trường kinh tế thuận lợi cho các khu vực kinh tế phát triển, trong đó có khu vực kinh tế tư nhân. Nhìn lại thời gian qua, kinh tế tư nhân đã phát triển rất rực rỡ và có những đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển chung của đất nước. Trước hết nói về hộ kinh doanh cá thể, loại hình này đã được phát triển rộng khắp qua nhiều năm, tính đến năm 2000, cả nước có 9.793.878(1) hộ kinh doanh cá thể, trong đó có 7.656.165 hộ nông nghiệp ngoài hợp tác xã, 2.137.713 hộ kinh doanh phi nông nghiệp. Trong số hộ kinh doanh cá thể thì số hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ chiếm 51,89%, số hộ sản xuất nông nghiệp chiếm 30,21%, giao thông vận tải chiếm 11,63%, xây dựng 0,81%, các hoạt động khác chiếm 5,46%. Luật doanh nghiệp đã mang lại xung lực mới cho nền kinh tế. Khi luật này được thực hiện, số lượng các doanh nghiệp tư nhân đã tăng rất nhanh. Nếu năm 1991 có 132 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, thì năm 2001 cả nước đã có 66.780 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh. Trong đó doanh nghiệp tư nhân chiếm 58,75%, công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 38,68%, công ty cổ phần chiếm 2,55%, công ty hợp doanh chiếm 0,01%. Trong cái nhìn nghiêm túc của nhiều người thì đây thực sự là một bước phát triển rực rỡ. Đánh giá về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã chỉ rõ: “Hơn 10 năm qua, thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, được sự đồng tình và hưởng ứng tích cực của nhân dân, kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và loại hình doanh nghiệp tư nhân đã phát triển rộng khắp trong cả nước; đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội của đất nước. Cùng với các thành phần kinh tế khác, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng thêm số lượng công nhân, lao động và doanh nhân Việt Nam, thực hiện các chủ trương xã hội hóa y tế, văn hóa, giáo dục…”. Lượng hóa vấn đề trên, ta thấy kinh tế tư nhân có những đóng góp tích cực sau đây: - Thứ nhất, đóng góp nổi trội nhất của kinh tế tư nhân trong thời gian qua là tạo thêm được nhiều việc làm, góp phần quan trọng thu hút nhiều lao đ0ộng trong xã hội, nhất là những người đến tuổi lao động chưa có việc làm, giải quyết số lao động dôi dư từ các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước do tinh giảm biên chế hay giải thể. Năm 2000, khu vực kinh tế tư nhân với gần 10 triệu hộ kinh doanh cá thể và khoảng 40 ngàn doanh nghiệp đã tạo công việc làm cho trên 21 triệu người, chiếm trên 56% lao động có việc làm trong cả nước. - Thứ hai, huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Vốn đầu tư của kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số vốn đầu tư phát triển của toàn xã hội. Vốn sử dụng, vốn đầu tư phát triển và vốn đăng ký kinh doanh đều tăng. Năm 2000 vốn đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân tăng rất nhanh, đạt gần 14.000 tỷ đồng, gấp 4,5 lần so với năm 1996. Kinh tế tư nhân đã đầu tư mua hơn 20% cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa. Trong các ngành phi nông nghiệp, năm 2000, kinh tế tư nhân có tổng số vốn sử dụng gần 174.000 tỷ đồng, tăng gần 38,5% so với năm 1999. Vốn đầu tư phát triển trong thời gian này của kinh tế tư nhân cũng tăng nhanh và đạt mức gần 18.000 tỷ, tăng 16,5% so với năm 1999. Trong ngành nông nghiệp, năm 2000 vốn đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân đạt 1.036 tỷ đồng; vốn sản xuất kinh doanh của các trang trại đạt gần 5.250 tỷ đồng; vốn đầu tư phát triển của hộ đạt gần 17.640 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 1999. - Thứ ba, đóng góp vào GDP với tỷ trọng khá lớn và ổn định. Trong những năm qua, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp với tỷ trọng khá lớn vào sự ổn định trong GDP. Năm 2000, kinh tế tư nhân đạt gần 187.720 tỷ đồng, chiếm hơn 42% GDP toàn quốc (khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm 39%). Nếu xem xét cụ thể, riêng hộ kinh doanh đóng góp trên 154.560 tỷ đồng, chiếm gần 82,35%; doanh nghiệp đóng góp trên 33.150 tỷ đồng, chiếm trên 17,60% GDP của kinh tế tư nhân. - Thứ tư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy cạnh tranh, tăng thêm số lượng công nhân và doanh nhân Việt Nam. Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần mở mang nhiều ngành nghề và lưu thông hàng hóa, sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở từng vùng và trong cả nước. Một số sản phẩm đã góp phần chặn đứng và đẩy lùi được sự xâm nhập của hàng ngoại nhập. Kim ngạch xuất – nhập khẩu trực tiếp của kinh tế tư nhân ở khu vực phi nông nghiệp tăng khá nhanh, năm 2001 nhập khẩu đạt trên 3,30 tỷ USD, xuất khẩu đạt trên 2,85 tỷ USD. Đã xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động tốt, tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường, sản phẩm hàng hóa được người tiêu dùng tín nhiệm. Số lượng công nhân lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp của kinh tế tư nhân tăng lên nhanh. Năm 2000, số lao động làm việc trong công nghiệp trên 2,1 triệu người, chiếm gần 45,70% lao động trong khu vực phi nông nghiệp của kinh tế tư nhân, tăng trên 18,70% so với năm 1999. Đây là mức tăng khá cao. Những con số trên nói lên một điều: nền kinh tế Việt Nam sẽ không phát triển nếu vắng bóng kinh tế tư nhân và nó cũng khẳng định chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là một chủ trương của “ý Đảng, lòng Dân”. 2. Những hạn chế còn tồn tại Bên cạnh những đóng góp tích cực cho sự phát triển, kinh tế tư nhân cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém, khó khăn. - Phần lớn có quy mô nhỏ, vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, ít đầu tư vào lĩnh vực sản xuất. Trong các doanh nghiệp phi nông nghiệp, số doanh nghiệp có dưới 200 lao động chiếm trên 97,70%. Số doanh nghiệp có vốn thực tế sử dụng dưới 10 tỷ đồng chiếm trên 94,90%; bình quân vốn thực tế sử dụng của một doanh nghiệp là 3,7 tỷ đồng. Ở các doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp, quy mô còn nhỏ hơn. Năm 2000 số lao động trung bình của một doanh nghiệp là 12,7 người; số vốn đăng ký là 248 triệu đồng. Trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp và tay nghề của người lao động còn yếu, phần lớn chưa qua đào tạo, hiểu biết về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước còn ít, khả năng tiếp thị trong và ngoài nước còn hạn chế. Về công nghệ, nhìn tổng thể, máy móc thiết bị và công nghệ của kinh tế tư nhân phần lớn còn lạc hậu, chắp vá, chậm đổi mới; nhiều doanh nghiệp thành lập mới nhưng sử dụng công nghệ thải loại từ doanh nghiệp nhà nước. Năm 2000, qua đánh giá hiệu quả của 3.181 doanh nghiệp của tư nhân tại 10 địa phương có 14,6% doanh nghiệp bị lỗ, khoảng 20% doanh nghiệp có lãi nhưng rất ít và được coi như hòa vốn, còn khoảng 75% doanh nghiệp có lãi. Phần đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng còn rất nhỏ bé. Tính đến cuối năm 2001 có 53 dự án với tổng vốn đăng ký là 33,6 triệu USD, nhưng vốn đầu tư thực hiện mới đạt 4,94 triệu USD, trong đó phần đầu tư của tư nhân chiếm khoảng gần một phần tư. - Kinh tế tư nhân cũng gặp nhiều khó khăn vướng mắc về vốn, về mặt bằng sản xuất kinh doanh, về môi trường pháp lý và môi trường tâm lý xã hội. Hiện nay, bình quân vốn sử dụng vào sản xuất kinh doanh của một hộ nông nghiệp mới chỉ đạt gần 29,80 triệu đồng, của một trang trại là 94 triệu đồng, vốn đầu tư cho phát triển của một hộ nông nghiệp khoảng 1,4 triệu đồng; của một doanh nghiệp phi nông nghiệp bình quân dưới 1 tỷ đồng, của doanh nghiệp nông nghiệp bình quân 248 triệu đồng. Kinh tế tư nhân vay vốn từ các ngân hàng thương mại và vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước tại Quỹ hỗ trợ phát triển còn ít và chiếm tỷ trọng thấp (vay từ ngân hàng thương mại khoảng 29% trong tổng doanh số cho vay, khoảng 8% trong tổng số cho vay của Quỹ hỗ trợ phát triển). Mặt bằng sản xuất kinh doanh đang là một trở ngại lớn đối với các cơ sở kinh tế tư nhân. Hầu hết các hộ kinh doanh phi nông nghiệp phải sử dụng nhà ở, đất ở của gia đình trong khu dân cư làm mặt bằng sản xuất kinh doanh, gây nên những khiếu kiện về môi trường và cũng khó mở rộng sản xuất kinh doanh. Môi trường pháp lý tuy đã thuận lợi hơn trước rất nhiều, song cũng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các quy định pháp luật và chính sách của nhà nước, do một số quy định chưa đồng bộ, thiếu nhất quán hay thay đổi. Nhiều cơ sở doanh nghiệp tư nhân còn chưa đủ sức nên gặp nhiều khó khăn trong tiếp nhận thông tin về chính sách xuất nhập khẩu, về tiếp thị trong nước và nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp còn bị một số cơ quan nhà nước thanh tra, kiểm tra chồng chéo và kéo dài. Môi trường tâm lý xã hội đã có sự chuyển biến tích cực, nhưng nhìn chung, quan niệm xã hội về kinh tế tư nhân vẫn chưa tương xứng với chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh những vấn đề nêu trên, nhiều đơn vị kinh tế tư nhân chưa thực hiện tốt những quy định của pháp luật về lao động, hợp đồng lao động, chế độ bảo hiểm, tiền lương, tiền công, bảo hộ lao động, giờ làm việc cho người lao động. Cũng không ít đơn vị kinh tế tư nhân vi phạm pháp luật, trốn lậu thuế, gian lận thương mại, kinh doanh trái phép. Theo Bộ thương mại, từ năm 1999 đến giữa năm 2001, số vụ bị xử lý về buôn bán hàng cấm, hàng giả và vi phạm giấy phép kinh doanh là 185.239 vụ, trong đó 25% là buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu, 4% số vụ là sản xuất và buôn bán hàng giả, 50% số vụ là kinh doanh trái phép và 21% là các vi phạm khác (mà phần đáng kể là kinh tế tư nhân)…. IV. Những chính sách và giải pháp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân, các loại hình kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  Những giải pháp đặt ra Để vận hành có hiệu quả cơ cấu sở hữu đồng thời thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu và phát huy vai trò của các thành phần kinh tế; a. Nhóm giải pháp chính trị pháp lý: Đảng cộng sản Việt Nam ban hành các chủ trương, chính sách sở hữu đúng đắn, kịp thời, phù hợp... Nhà nước kịp thời thể chế hoá chúng thành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ sở hữu xã hội vận hành tốt. Với các chính sách tập trung như: chính sách sở hữu; chính sách đối với việc sử dụng, quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước của các cơ quan, tổ chức cá nhân; hoàn thiện pháp luật về sở hữu, chính sách đối với các thành phần kinh tế vv... Những dự báo khoa học, những nhân tố kinh tế - xã hội trong nước và quan hệ quốc tế ảnh hưởng đến xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các chính sách thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân và các loại hình kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: Chính sách thừa nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài, bảo hộ sở hữu và lợi ích hợp pháp của kinh tế tư nhân, thực hiện bình đẳng giữa kinh tế tư nhân, thực hiện bình đẳng giữa kinh tế tư nhân và các loại hình kinh tế khác; Chính sách tích tụ và tập trung sản xuất nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm; Chính sách công nghệ đối với doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân; Chính sách đất đai; Chính sách tài chính (tín dụng và thuê); Chính sách thị trường, giá cả; Chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia các quan hệ kinh tế đối ngoại; Chính sách đào tạo nguồn nhân lực và xử lý các quan hệ lao động trong khu vực kinh tế tư nhân.  b. Các giải pháp kinh tế - xã hội Nhằm tạo ra cơ sở kinh tế - vật chất - kỹ thuật để bảo đảm, cũng như tạo ra môi trường kinh tế - xã hội ổn định, lành mạnh cho các quan hệ sở hữu tự do vận hành trong khuôn khổ pháp luật trong đó: - Các thành phần kinh tế nhà nước, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong thị trường, có sự quản lý của nhà nước. - Giáo dục ý thức pháp luật, trách nhiệm xã hội giáo dục truyền thống lịch sử và các kiến thức hiểu biết về sở hữu cho mọi công dân. Để từ đó có thái độ xử sự đúng đắn, hợp pháp. - Giải quyết vấn đề sở hữu để tạo động lực cho phát triển kinh tế trong sự nghiệp đổi mới, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Như giải quyết vấn đề phân biệt rõ quyền sở hữu, quyền quản lý và quyền sử dụng... hay vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Những giải pháp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân: Hoàn thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện để huy động mọi nguồn lực của dân cư vào đầu tư phát triển, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh doanh; Đổi mới quản lý của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân; Thực hiện thường xuyên việc giao lưu đối thoại giữa cơ quan nhà nước với các doanh nghiệp tư nhân để tháo gỡ những vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh; Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra của Nhà nước và các cơ quan chức năng; Hạn chế tiêu cực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, phát triển khu vực kinh tế tư nhân.  c. Trong việc cải tạo các quan hệ sở hữu cần lưu ý các vấn đề sau: - Vấn đề cơ chế tác động của sở hữu tái thị trường - Nội dung cải tạo các quan hệ sở hữu. - Vấn đề "phi nhà nước hoá" và "tư nhân hoá" - Vấn đề tổ chức và quản lý khu vực kinh tế nhà nước. - Những doanh nghiệp nào là đối tượng của tư nhân hoá, cổ phần hoá. 2. Những giải pháp của Đảng và nhà nước ta Quán triệt Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, để phát huy mạnh mẽ tiềm năng to lớn của khu vực kinh tế tư nhân cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX với cái nhìn thẳng thắn đã vạch ra phương hướng nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách nhằm phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có mấy vấn đề cơ bản sau đây: * Một là, thống nhất về các quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân. Thực ra, quan điểm về phát triển kinh tế tư nhân đã được ghi trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, thế nhưng có một số vấn đề cụ thể cần được làm rõ để tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và trong hành động. Đó là cần thống nhất về các quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài nhằm góp phần nâng cao nội lực của đất nước. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp, khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển bình đẳng với các thành phần kinh tế. Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục các chủ doanh nghiệp nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, gắn bó với lợi ích đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. * Hai là, tạo môi trường thuận lợi về thể chế và tâm lý xã hội cho sự phát triển của kinh tế tư nhân. Để có môi trường thuận lợi về thể chế, cần sửa đổi bổ sung Luật doanh nghiệp và một số quy định chưa thống nhất giữa các văn bản pháp luật đã ban hành về những vấn đề liên quan đến kinh tế tư nhân theo hướng xóa bỏ phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế; tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong pháp luật và thủ tục hành chính; Quy định rõ những ngành nghề, lĩnh vực kinh tế tư nhân không được phép kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện; Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong đăng ký kinh doanh và quản lý hoạt động của kinh tế tư nhân; Sửa đổi, bổ sung một số quy định theo hướng tạo thuận lợi nhưng phải chặt chẽ trong cấp đăng ký kinh doanh, theo yêu cầu “một cửa, một dấu”. Để tạo môi trường thuận lợi về tâm lý xã hội, cần làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc phát triển kinh tế tư nhân. Cổ vũ và biểu dương kịp thời những doanh nhân, đơn vị sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội đất nước. * Ba là, sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế về cơ hội và khả năng lựa chọn các điều kiện để phát triển. - Đối với chính sách đất đai, sửa đổi, bổ sung Luật đất đai theo hướng: những diện tích đất của tư nhân đã được cấp quyền sử dụng, đang được dùng làm mặt bằng sản xuất kinh doanh do được chuyển nhượng một cách hợp pháp hoặc được nhà nước giao và đã nộp tiền sử dụng đất thì được tiếp tục sử dụng mà không phải nộp thêm tiền thuê đất cho nhà nước khi dùng đất này vào sản xuất kinh doanh. Nhà nước có chính sách xây dựng những khu công nghiệp với cơ sở hạ tầng cần thiết, cho các doanh nghiệp thuê với giá cả phù hợp làm mặt bằng sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp tư nhân được dùng giá trị quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn ngân hàng hoặc góp cổ phần liên doanh với doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đẩy nhanh tiến trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở cho nhân dân. - Đối với chính sách tài chính, tín dụng. Thực hiện chính sách tài chính, tín dụng đối với kinh tế tư nhân bình đẳng với các thành phần kinh tế khác; bảo đảm để kinh tế tư nhân tiếp cận và được hưởng các ưu đãi của nhà nước cho kinh tế hộ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho đầu tư vào các mục tiêu mà nhà nước khuyến khích. Nhà nước hỗ trợ về xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc…, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển. Với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đó có kinh tế tư nhân, Nhà nước sớm ban hành những quy định về chế tài, sớm triển khai hoạt động các quỹ bảo lãnh tín dụng, sớm sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán. Tiếp tục đổi mới chế độ kê khai và nộp thuế cho phù hợp với đặc điểm của các hộ kinh doanh, chống thất thu thuế. Có chính sách bảo hiểm rủi ro cho hoạt động kinh tế tư nhân, khuyến khích thành lập và tham gia quỹ bảo hiểm tương hỗ với sự hỗ trợ của Nhà nước. Ban hành quy định và đăng ký sở hữu tài sản, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh. Kinh tế tư nhân được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để thế chấp ngân hàng. - Đối với chính sách lao động tiền lương. Kinh tế tư nhân phải thực hiện đúng quy định của Bộ luật lao động về việc ký kết hợp đồng lao động, tiền lương, thời gian làm việc, bảo đảm các điều kiện vệ sinh an toàn lao động; bổ sung chế tài cần thiết để xử lý vi phạm. Sớm ban hành đồng bộ các quy định về bảo hiểm xã hội để người lao động trong hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân đều được tham gia. Nghiên cứu ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo hướng người sử dụng lao động và người lao động cùng đóng góp, có sự hỗ trợ một phần của nhà nước. - Đối với chính sách hỗ trợ về đào tạo, khoa học và công nghệ. Nhà nước trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ hiểu biết đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, trình độ chuyên môn kỹ thuật cho chủ doanh nghiệp và người lao động. Phát triển các trung tâm dạy nghề của nhà nước, đặc biệt ở các vùng nông thôn, miền núi; khuyến khích các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước mở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, cán bộ doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Xây dựng hệ thống thị trường thông tin lao động. Mở rộng hệ thống dịch vụ tư vấn khoa học, công nghệ cho các hộ kinh doanh và doanh nghiệp; hỗ trợ các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin, thuê, mua trả góp các thiết bị để đổi mới công nghệ. * Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện và tăng cường quản lý nhà nước. Xác định rõ chức năng quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân là: xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý và ban hành chính sách, cơ chế quản lý đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh; xây dựng, quy hoạch và trợ giúp đào tạo cán bộ quản lý; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, chế độ, quy định của nhà nước tại doanh nghiệp, nắm cho được tình hình đăng ký kinh doanh và hoạt động của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở các bộ, ngành và các tỉnh, thành phố từ khi thành lập, quá trình hoạt động đến khi chấm dứt hoạt động kinh doanh. Các cơ quan bảo vệ pháp luật chỉ kiểm tra, thanh tra khi doanh nghiệp tư nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Các cơ quan quản lý nhà nước phải có chương trình thanh tra, kiểm tra định kỳ đối với doanh nghiệp, thông báo trước cho doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các kết luận thanh tra, kiểm tra của mình. * Thứ năm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng qua việc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng thông qua luật pháp, chính sách đối với kinh tế tư nhân; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong các doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ và các hiệp hội doanh nghiệp đối với việc phát triển kinh tế tư nhân. V. Phương hướng xã hội hoá sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa  Tạo lập môi trường nền móng cho việc xã hội hoá sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân. Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa văn minh, hiện đại. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỷ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là tiền đề căn bản thứ hai cho quá trình xã hội hóa sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân ở nước ta; Từng bước xã hội hoá sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân theo hướng phát triển các hình thức sở hữu hỗn hợp tiêu biểu nhất; Chú trọng phát triển các công ty có quy mô lớn, hiện đại, các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia, các công ty cổ phần. Vì vậy, không những không nên hạn chế, xoá bỏ kinh tế tư nhân, mà cần thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển theo những nấc thang xã hội hoá từ thấp đến cao, từng bước tạo ra một tất yếu cho quá trình chuyển hoá sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân thành các tổ chức kinh tế của chủ nghĩa xã hội.  C. Kết luận Vấn đề sở hữu đặt ra là khách quan mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Với tính chất, đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH của nước ta là thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Trong khi cần phải thúc đẩy lực lượng sản xuất còn thấp kém phát triển thì tất yếu phải thừa nhận các hình thức sở hữu đa dạng tồn tại đan xen, hoà quyện với nhau, bổ sung và cùng phát triển. Hiện nay việc hoàn thiện cơ sở lý luận và tổng hợp thực tiễn của "vấn đề sở hữu" là vấn đề búc xúc cần giải quyết, để nước ta vừa phát huy được "nội lực", lại mở cửa, hoà nhập tranh thủ sự giao lưu hợp tác quốc tế và chống được 4 nguy cơ: Tụt hậu, chệch hướng, diễn biến hoà bình, và tham nhũng, buôn lậu... Tất cả nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp để nâng cao đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước, nâng cao thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế. Qua phân tích sở hữu chúng ta còn thấy giữa sở hữu và giá trị có cơ sở chung thống nhất. Sở hữu mặt định tính của quan hệ kinh tế, còn giá trị là mặt định lượng của các quan hệ này. Như thế sở hữu đem lại nội dung cho các quan hệ giá trị và thị trường . Do đó nó bộc lộ mối quan hệ giữa sở hữu và thị trường. Sở hữu chỉ tồn tại và phát triển trong những điều kiện thị trường, nhờ thế hình thành cơ chế tác động giữa chúng. Đó là cơ chế thực hiện các lợi ích kinh tế của sở hữu và cơ chế cạnh tranh giữa các hình thức sở hữu. Danh mục tài liệu tham khảo Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập I, Nxb. CAND, Hà Nội, 2009 Lê Đình Nghị ( chủ biên ), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2009 Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học về tài sản trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2001 Bộ luật dân sự năm 2005 Quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993. Văn kiện Đại hội IX của Đảng. Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các Nghị quyết Trung ương khóa IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Về sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, NGÔ ĐẠT, ThS. GV Khoa Khoa học cơ bản trường ĐH Luật TP.HCM. Quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docSở hữu tư nhân, vai trò của sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.doc
Luận văn liên quan