Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn tại Quảng Ninh trong năm 2004 - 2005 - 2006

Mục lục Trang Phân I: Giới thiệu về chuyên đề 2 Phần II: Phần thu thập thông tin 3 1.Khái quát quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin 3 2. Kết quả của quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin 4 Phần III. Đánh giá thực trạng áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn tại Quảng Ninh 5 1. Tình hình kinh tế xã hội ở Quảng Ninh 2. Căn cứ ly hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình 5 6 3. Đánh giá thực trạng ly hôn ở tỉnh Quảng Ninh 8 3.1. Thực trạng ly hôn 8 3.2. Nguyên nhân, lý do của việc ly hôn 10 Phần I.V. Nhận xét và kiến nghị 14 I. Nhận xét 14 II. Một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng ly hôn ở tỉnh Quảng Ninh 16 Phần I: Giới thiệu về chuyên đề Quảng Ninh là một trong 3 tỉnh nằm trong khu tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng- Quảng Ninh trong những năm gần đây đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ về kinh tế, đang làm cho bộ mặt của tỉnh ngày càng đựơc cải thiện đáng kể, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao. Nhưng bên cạnh đó thì đời sống hôn nhân gia đình lại là một vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp trong đó tình trạng ly hôn ngày càng có xu hướng tăng cao do nhiều nguyên nhân khác nhau, tính chất của các vụ ly hôn ngày càng phức tạp. Điều đó có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đã và đang đặt ra ở địa phương, trong khuôn khổ của một chuyên đề thực tập tốt nghiệp em mong rằng sẽ nêu ra được những nét khái quát nhất về thực trạng ly hôn, cũng như là đưa ra được những giải pháp, ý kiến, quan điểm của mình nhằm hạn chế việc ly hôn trên địa bàn huyện, góp phần nhỏ bé vào việc xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc, xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Với yêu cầu của một chuyên đề thực tập tốt nghiệp cuối khoá của sinh viên do vậy em kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để có thể đánh giá được bản chất và thực trạng ly hôn, từ đó làm sáng tỏ những yêu cầu chung của đề tài, cũng như tình hình thực tế ly hôn tại địa phương. Đó là phương pháp thống kê tổng hợp, phân tích, so sánh và phương pháp logic để hoàn thành tốt đề tài em đã lựa chọn. Do lần đầu tiếp xúc việc nghiên cứu đề tài thực tập tốt nghiệp, kết hợp cả tính lý luận và thực tiễn, cùng với phạm vi nghiên cứu khá rộng, trong khi đó thời gian có hạn, nhiều nội dung chưa được đầu tư thoả đáng vì thế chất lượng chuyên đề còn nhiều hạn chế và không tránh khỏi những sai sót vì vậy em rất mong được sự quan tâm chỉ bảo của thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn! Phần II. Quá trình thu thập thông tin 1. Khái quát về quá trình tìm hiểu thu thập thông tin Tìm hiểu và thu thập thông tin là một việc quan trọng trong quá trình thực tập của sinh viên, bởi nó giúp cho mỗi sinh viên thêm tầm hiểu biết và phục vụ tốt nhất cho việc viết đề tài. Nhận thức được tầm quan trọng của quá trình tìm hiểu thu thập thông tin vì vậy ngay từ khi đi thực tập bản thân em đã xác định đề tài để viết báo cáo thực tập và có sự chuẩn bị cho việc thu thập thông tin, tài liệu nhằm hoàn thành tốt nhất cho việc nghiên cứu cũng như là viết đề tài thực tập tốt nghiệp mà mình đã lựa chọn. Được sự giúp đỡ của cơ quan nơi thực tập đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của lãnh đạo Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, các Thẩm phán, Thư ký trong quá trình thực tập, trong quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin. Vì thế mà các số liệu em trình bầy trong đề tài này mang tính sát thực. Số liệu được rút ra từ các báo cáo tháng, quý và báo cáo năm của cơ quan Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, các số liệu được rút ra từ sổ thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình, từ sổ theo giõi kết quả xét xử sơ thẩm các vụ án về hôn nhân gia đình của Toà án nhân dân tỉnh, từ các hồ sơ vụ án về hôn nhân gia đình trong các năm 2004-2005- 2006 . Tuy nhiên các số liêu không thể đưa vào bài viết một cách thuần tuý mà còn phải thông qua quá trình xử lý thông tin, đánh giá và đưa ra được bản chất của vấn đề cầm xem xét là “Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn tại địa phương”. Quá trình tìm hiểu thu thập thông tin phục vụ cho việc viết chuyên đề thực tập diễn ra từ ngày đầu tiên thực tập tại Toà án và trong suốt quá trình thực tập đến khi hoàn thành chuyên đề. Trong quá trình đó như đã trình bày ở trên ngoài những thuận lợi cơ bản thì qúa trình thu thập thông tin còn gặp những khó khăn nhất định như: Những thông tin lưu trữ dưới dạng thủ công, không cụ thể và rõ ràng, số liệu không tập trung do vậy việc thống kê và thu thập thông tin còn gặp khó khăn. Nhưng với tinh thần hăng say, nhiệt tình của một sinh viên thực tập đã giúp em hoàn thành tốt quá trình thu thập và xử lý thông tin phục vụ cho việc viết chuyên đề. Để đạt kết quả trong việc xử lý các số liệu thu thập được em phải thông qua rất nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp phân tích, thống kê tổng hợp, đối chiếu so sánh Xuất phát từ phương pháp luận triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận chung về nhà nước và pháp luật từ đó sâu chuỗi lôgic các vấn đề lại. Ngoài ra các thông tin của bài viết này được tìm hiểu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: Đài, báo, sách vở và rút ra từ gia đình, bạn bè và ý thức của bản thân. Đặc biệt bản thân em còn được cơ quan nơi thực tập tạo điều kiện cho việc thâm nhập thực tế, bằng những kinh ngiệm thực tiễn thu thập đựơc góp phần quan trọng vào việc hoàn thành đề tài này. 2. Kết qủa của quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin. Sau một thời gian không lâu kể từ khi thực tập tại Toà án, với sự giúp đỡ tận tình của lãnh đạo Toà án, các cán bộ hướng dẫn thực tập, sự nỗ lực của bản thân trong quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin. Kết quả thu được là rất tốt, nó thể hiện được nội dung cốt lõi của vấn đề cần ngiên cứu đó là: “Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn tại Quảng Ninh trong năm 2004- 2005- 2006”. Qua những số liệu em thu thập được giúp em đánh giá được thực trạng, tìm hiểu được nguyên nhân cũng như là đưa ra được những giải pháp nhằm hạn chế tình trạng ly hôn. Cụ thể những thông tin thu được thể hiện ngắn gọn ở bảng số liệu sau:

doc19 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 21/02/2013 | Lượt xem: 1851 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn tại Quảng Ninh trong năm 2004 - 2005 - 2006, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Mục lục Trang Phân I: Giới thiệu về chuyên đề 2 Phần II: Phần thu thập thông tin 3 1.Khái quát quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin 3 2. Kết quả của quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin 4 Phần III. Đánh giá thực trạng áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn tại Quảng Ninh 5 1. Tình hình kinh tế xã hội ở Quảng Ninh 2. Căn cứ ly hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình 5 6 3. Đánh giá thực trạng ly hôn ở tỉnh Quảng Ninh 8 3.1. Thực trạng ly hôn 8 3.2. Nguyên nhân, lý do của việc ly hôn 10 Phần I.V. Nhận xét và kiến nghị 14 I. Nhận xét 14 II. Một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng ly hôn ở tỉnh Quảng Ninh 16 Phần I: Giới thiệu về chuyên đề Quảng Ninh là một trong 3 tỉnh nằm trong khu tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng- Quảng Ninh trong những năm gần đây đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ về kinh tế, đang làm cho bộ mặt của tỉnh ngày càng đựơc cải thiện đáng kể, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao. Nhưng bên cạnh đó thì đời sống hôn nhân gia đình lại là một vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp trong đó tình trạng ly hôn ngày càng có xu hướng tăng cao do nhiều nguyên nhân khác nhau, tính chất của các vụ ly hôn ngày càng phức tạp. Điều đó có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đã và đang đặt ra ở địa phương, trong khuôn khổ của một chuyên đề thực tập tốt nghiệp em mong rằng sẽ nêu ra được những nét khái quát nhất về thực trạng ly hôn, cũng như là đưa ra được những giải pháp, ý kiến, quan điểm của mình nhằm hạn chế việc ly hôn trên địa bàn huyện, góp phần nhỏ bé vào việc xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc, xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Với yêu cầu của một chuyên đề thực tập tốt nghiệp cuối khoá của sinh viên do vậy em kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để có thể đánh giá được bản chất và thực trạng ly hôn, từ đó làm sáng tỏ những yêu cầu chung của đề tài, cũng như tình hình thực tế ly hôn tại địa phương. Đó là phương pháp thống kê tổng hợp, phân tích, so sánh và phương pháp logic… để hoàn thành tốt đề tài em đã lựa chọn. Do lần đầu tiếp xúc việc nghiên cứu đề tài thực tập tốt nghiệp, kết hợp cả tính lý luận và thực tiễn, cùng với phạm vi nghiên cứu khá rộng, trong khi đó thời gian có hạn, nhiều nội dung chưa được đầu tư thoả đáng vì thế chất lượng chuyên đề còn nhiều hạn chế và không tránh khỏi những sai sót vì vậy em rất mong được sự quan tâm chỉ bảo của thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn! Phần II. Quá trình thu thập thông tin 1. Khái quát về quá trình tìm hiểu thu thập thông tin Tìm hiểu và thu thập thông tin là một việc quan trọng trong quá trình thực tập của sinh viên, bởi nó giúp cho mỗi sinh viên thêm tầm hiểu biết và phục vụ tốt nhất cho việc viết đề tài. Nhận thức được tầm quan trọng của quá trình tìm hiểu thu thập thông tin vì vậy ngay từ khi đi thực tập bản thân em đã xác định đề tài để viết báo cáo thực tập và có sự chuẩn bị cho việc thu thập thông tin, tài liệu nhằm hoàn thành tốt nhất cho việc nghiên cứu cũng như là viết đề tài thực tập tốt nghiệp mà mình đã lựa chọn. Được sự giúp đỡ của cơ quan nơi thực tập đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của lãnh đạo Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, các Thẩm phán, Thư ký trong quá trình thực tập, trong quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin. Vì thế mà các số liệu em trình bầy trong đề tài này mang tính sát thực. Số liệu được rút ra từ các báo cáo tháng, quý và báo cáo năm của cơ quan Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, các số liệu được rút ra từ sổ thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình, từ sổ theo giõi kết quả xét xử sơ thẩm các vụ án về hôn nhân gia đình của Toà án nhân dân tỉnh, từ các hồ sơ vụ án về hôn nhân gia đình trong các năm 2004-2005- 2006... Tuy nhiên các số liêu không thể đưa vào bài viết một cách thuần tuý mà còn phải thông qua quá trình xử lý thông tin, đánh giá và đưa ra được bản chất của vấn đề cầm xem xét là “Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn tại địa phương”. Quá trình tìm hiểu thu thập thông tin phục vụ cho việc viết chuyên đề thực tập diễn ra từ ngày đầu tiên thực tập tại Toà án và trong suốt quá trình thực tập đến khi hoàn thành chuyên đề. Trong quá trình đó như đã trình bày ở trên ngoài những thuận lợi cơ bản thì qúa trình thu thập thông tin còn gặp những khó khăn nhất định như: Những thông tin lưu trữ dưới dạng thủ công, không cụ thể và rõ ràng, số liệu không tập trung do vậy việc thống kê và thu thập thông tin còn gặp khó khăn. Nhưng với tinh thần hăng say, nhiệt tình của một sinh viên thực tập đã giúp em hoàn thành tốt quá trình thu thập và xử lý thông tin phục vụ cho việc viết chuyên đề. Để đạt kết quả trong việc xử lý các số liệu thu thập được em phải thông qua rất nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp phân tích, thống kê tổng hợp, đối chiếu so sánh… Xuất phát từ phương pháp luận triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận chung về nhà nước và pháp luật từ đó sâu chuỗi lôgic các vấn đề lại. Ngoài ra các thông tin của bài viết này được tìm hiểu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: Đài, báo, sách vở… và rút ra từ gia đình, bạn bè và ý thức của bản thân. Đặc biệt bản thân em còn được cơ quan nơi thực tập tạo điều kiện cho việc thâm nhập thực tế, bằng những kinh ngiệm thực tiễn thu thập đựơc góp phần quan trọng vào việc hoàn thành đề tài này. 2. Kết qủa của quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin. Sau một thời gian không lâu kể từ khi thực tập tại Toà án, với sự giúp đỡ tận tình của lãnh đạo Toà án, các cán bộ hướng dẫn thực tập, sự nỗ lực của bản thân trong quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin. Kết quả thu được là rất tốt, nó thể hiện được nội dung cốt lõi của vấn đề cần ngiên cứu đó là: “Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn tại Quảng Ninh trong năm 2004- 2005- 2006”. Qua những số liệu em thu thập được giúp em đánh giá được thực trạng, tìm hiểu được nguyên nhân cũng như là đưa ra được những giải pháp nhằm hạn chế tình trạng ly hôn. Cụ thể những thông tin thu được thể hiện ngắn gọn ở bảng số liệu sau: 1.Công tác thụ lý và giải quyết các vụ án ly hôn năm 2004 T. lý Giải quyết Lý do ly hôn 1204 TĐC ĐC QĐCN HG Mâu thuẫn N. tình Bệnh tật không con Ma tuý cờ bạc 62 63 446 62 324 161 63 131 2.Công tác thụ lý và xét xử vụ án ly hôn năm 2005 T. lý Giải quyết Lý do ly hôn 1274 TĐC ĐC QĐCN HG Mâu thuẫn N. tình Bệnh tật không con Ma tuý cờ bạc 45 32 451 72 352 146 78 128 3.Công tác thụ lý và xét xử vụ án ly hôn năm 2006 T. lý Giải quyết Lý do ly hôn 1270 TĐC ĐC QĐCN HG Mâu thuẫn N. tình Bệnh tật không con Ma tuý cờ bạc 39 28 4455 62 301 152 61 121 Như vậy toàn ngành đã thụ lý 1227 vụ, giải quyết 1212 vụ đạt 95,1% trong đó toà án tỉnh đá thụ lý 62 vụ, đã giải quyết 58 vụ, còn lại tạm đình chỉ 4vụ (Ly hôn sơ thẩm thụ lý 29 vụ, đã giải quyết 29 vụ đạt 100%; ly hôn phúc thẩm thụ lý 33 vụ, giải quyết 33 vụ đạt 100%);toà án huyện thị thụ lý 1212 vụ giải quyết 1150 vụ đạt 94,8%. Phần III. Đánh giá thực trạng áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn tại Quảng Ninh Đặc thù kinh tế – chính trị- xã hội của tỉnh Quảng Ninh Quảng Ninh là một tỉnh có nền kinh tế rất phát triển của khu vực kinh tế trọng điểm miền Bắc. Quảng Ninh có vị trí địa lý thuận lợi tài nguyên phong phú, có cưả khẩu Móng Cái giáp với Trung Quốc, nhiều nguồn lợi về đánh bắt thủy hải sản, du lịch, phát triển kinh tế vùng… Do vậy đời sống nhân dân tương đối được đảm bảo, có điều kiện để phát triển toàn diện về con người. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều huyện miền núi trung du, xa khu vực phát triển nên trình độ nhân thức còn lạc hậu, đời sống không được đảm bảo. 2. Căn cứ ly hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình và các văn bản pháp luật có liên quan. Từ khi dành được chính quyền đến nay Đảng và nhà nước ta không ngừng chăm lo đến đời sống của gia đình nói riêng và đời sống của nhân dân nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ rất sớm đã ban hành nhiều sắc lệnh quy định về kết hôn và các điều kiện để kết hôn, trải qua một thời gian dài nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật có hiệu lực pháp lý cao như luật hôn nhân và gia đình năm 1959; luật hôn nhân gia đình năm 1986 và gần đây có luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong đó có quy định căn cứ ly hôn cụ thể có hai căn cứ như sau: Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án cho ly hôn. Căn cứ ly hôn quy định tại điều 89 của luật hôn nhân và gia đình được Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn chi tiết ở điểm 8 của nghị quyết 02/2000/NQ- HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 cụ thể như sau: a. Theo quy định tại khoản 1 điều 89 thì toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trần trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được. - Được coi là tình trạng trầm trọng khi: Vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích, họ hàng, cơ quan, tổ chức, nhắc nhở hoà giải nhiều lần. Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi nhau, hành hạ nhau, như hành vi thường xuyên đánh đập hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích, họ hàng, cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo, hoà giải nhiều lần. Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng, bà con thân thích, cơ quan làng xón khuyên bảo nhưng vẫn có quan hệ ngoại tình. - Để có cơ sở xác định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại mục a của thông tư này. Nếu thực tế đã được hoà giải nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình, sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chông không thể kéo dài được. - Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ Chồng, không bình đẳng về quyền và nghĩa vụ vủa vợ chồng, không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng, không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của vợ chồng, không giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. b. Theo quy định của khoản 2 điều 98 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 trong trường hợp vợ chồng của những người bị Toà án tuyên bố mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn thực tiễn cho thấy có thể xãy ra hai trường hợp sau: - Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người vợ hoặc người chồng của mình mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn. Trong trường hợp này nếu Toà án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyết cho ly hôn, nếu Toà án chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích thì bác yêu cầu của người vợ hoặc người chồng. - Người vợ hoặc người chồng đã bị Toà án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Sau khi bản án của Toà án tuyên bố người vợ hoặc người chồng mất tích mà có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc người vợ của người đó có quyền yêu cầu xin ly hôn. Như vậy luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và nghị quyết 02/2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có quy định rất rõ ràng căn cứ ly hôn, chỉ khi thoả mãn một trong hai điều kiện nêu trên thì Toà án xem xét quyết định cho ly hôn. ngoài ra pháp luật còn hạn chế ly hôn trong một số trường hợp 3. Đánh giá thực trạng ly hôn ở tỉnh quảng ninh 3.1. Thực trạng ly hôn Trong những năm vừa qua số vụ án về ly hôn mà Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh thụ lý và giải quyết chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số các loại án mà Toà án tỉnh Quảng Ninh thụ lý và giải quyết. Điều đó cho thấy rằng tình trạng ly hôn ngày càng nhiều, theo thống kê trong báo cáo Hội đồng nhân dân Tỉnh Quảng Ninh ngày 08 tháng 01 năm 2004 thì số vụ án ly hôn mà Toà án tỉnh Quảng Ninh thụ lý năm 2006 là 62 vụ, đã giải quyết 58 vụ, còn lại 4 vụ đã tạm đình chỉ.Như vậy qua những số liệu nêu trên cho chúng ta thấy rằng tình trạng ly hôn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đang ở mức đáng báo động, mặc dù năm 2006 trở lại đây số vụ án về ly hôn mà Toà án thụ lý và giải quyết giảm dần qua các năm, tuy nhiên vẫn ở mức trên 20 vụ mỗi năm, đặc biệt mấy tháng đầu năm 2006 số vụ án về ly hôn tăng đột biến gần bằng 50% vụ án về ly hôn cùng kỳ những năm trước đó. Có thể khái quát thực trạng ly hôn ở tỉnh Quảng Ninh bằng bảng số liệu và thể hiện bằng biểu đồ dưới đây. Đơn vị: Vụ 2004 2005 2006 Thụ lý 1204 1274 1270 Biểu đồ 1 Hiện trạng ly hôn ở tỉnh Quảng Ninh Quảng Ninh là một tỉnh miền núi phía Bắc có 13 huyện thị và thành phố trực thuộc tỉnh là thành phố Hạ Long nền kinh tế tương đối phát triển, đời sống nhân dân thuộc vào mức cao so với các tỉnh khác trong cả nước điều đó cho chúng ta thấy rằng mặt trái của nền kinh tế thị trường đã có tác động không nhỏ đến tình trạng ly hôn, nơi có nền kinh tế phát triển thì nhu cầu hưởng thụ cao hơn do vậy thường xuyên nảy sinh ra các hiện tượng tiêu cực trong xã hội và đó là môt nguyên nhân dẫn đến ly hôn ngày càng nhiều. Mặc dù trong những năm gần đây số vụ án về ly hôn có xu hướng giảm dần thế nhưng về tính chất của nó thì lại đáng lo ngại bởi vì: Số vụ án về ly hôn mà có vợ và chồng còn trẻ chiếm tỷ lệ lớn, đã có những vụ án ly hôn do một bên nghiện ma tuý, hoặc có những vụ án ly hôn mà chồng ngược đãi, hành hạ nhau, đặc biệt có rất nhiều vụ án ly hôn mà có con nhỏ… Điều đó đã và đang đặt ra cho các cấp,các ngành ở địa phương những vấn đề nan giải, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của vợ chồng cũng như đời sống xã hội trong huyện. 3.2. Nguyên nhân, lý do của việc ly hôn. Các vụ án về ly hôn ở tỉnh Quảng Ninh trong những năm vừa qua cho thấy những lý do dân đến việc các cặp vợ chồng ly hôn là khác nhau, trong năm 2005-2006nguyên nhân, lý do ly hôn được thống kê ở bảng số liệu sau: Đơn vị: Vụ Mâu thuẫn gia đình Ngoại tình Không con Nghiện ma tuý Mâu thuẫn kinh tế 2005 352 146 78 128 86 2006 301 152 61 121 83 Bảng 3 - Do mâu thuẫn vợ chồng Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có ấm no hạnh phúc thì xã hội mới phát triển được, thê nhưng không phải bất cứ gia đình nào cũng hạnh phúc mà trong cuộc sống nó phát sinh rất nhiều mâu thuẫn. Những vụ án năm 2005-2006 mà Toà án đã thụ lý và giải quyết thì nguyên nhân chủ yếu là do mâu thuẫn gia đình chiến hơn 80% các vụ án về ly hôn. Năm 2003 số vụ án ly hôn do mâu thuẫn gia đình, đánh đập, ngược đãi là 33 vụ chiếm 84%. Mâu thuẫn gia đình chủ yếu phát sinh do bất đồng quan điểm sống, cách suy nghĩ, sự khó khăn về kinh tế trong gia đình cũng như là các hành vi ứng xử trong gia đình. Mâu thuẫn gia đình cũng có thể xuất phát từ những xích mích, hiểu lầm, ghen tuông, sự đố kỵ nhau trong cuộc sống, từ sự thiếu hiểu biết của một bên hoặc cả hai bên về quyền và nghĩa vụ của mình đối với gia đình. Ví dụ như: Vụ ly hôn giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hà, bị đơn là anh Nguyễn Tiến Nhung. Đều trú tại tổ 7 Thị trấn Đầm Hà- Huyện Đầm Hà- Quảng Ninh, vụ án này được thụ lý ngày 28 tháng 11 năm 2003 Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử theo bản án số 05/DSST ngày 16 tháng 06 năm 2004. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là do kinh tế gia đình khó khăn, không có vốn để làm ăn phải đi vay mượn, vợ chồng không tin tưởng nhau, dẫn đến mâu thuẫn mà hai bên không thể giải quyết được, hai bên nội ngoại cũng không khuyên bảo được dẫn tới mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị Hà thờ ơ lạnh nhạt với anh Nhung, anh Nhung lại có tính hay ghen, làm cho tình cảm vợ chồng không còn nữa và hai bên đã ly hôn. Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì mâu thuẫn gia đình dẫn tới cuộc sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được đó là một căn cứ để Toà án quyết định cho ly hôn. Để có thể giảm bớt tình trạng ly hôn do mâu thuẫn gia đình thì thiết nghĩ các cặp vợ chồng cần phải sống gắn bó, có trách nhiệm với nhau và trách nhiệm với gia đình, chăm sóc và xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Trong năm 2004 trong số các vụ án về ly hôn thì có 13 vụ do mâu thuẫn gia đình chiếm 52%. Năm 2005 vụ án về ly hôn với lý do mâu thuẫn gia đình là 18/21 vụ chiếm 85,7%. Qua số liệu trên cho chúng ta thấy rằng mâu thuẫn gia đình là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng ly hôn ngày càng nhiều ở Quảng Ninh hiện nay. - Do một bên bỏ nhà đi Ngoài lý do ly hôn do mâu thuẫn gia đình thì các lý do khác chiếm một tỷ lệ không lớn, tuy nhiên nó đang đặt ra bức thiết cần nghiên cứu kỹ trong đó có lý do một bên bỏ nhà đi không về. Đây không phải là một nguyên nhân mới, tuy nhiên trong những năm vừa qua nó lại xuất hiện nhiều khiến người ta phải quan tâm. Đi tìm hiểu về nguyên nhân này thấy rằng Quảng Ninh là một địa bàn khá phức tạp, nền kinh tế xét trên mặt bằng chung tương đối phát triển nhưng vẫn còn đó một đại bộ phận dân cư còn sống trong tình cảnh khó khăn, thu nhập không đủ nuôi sống bản thân và gia đình trong khi đó ở các thành phố, các khu công nghiệp còn thiếu lao động… Từ đó dẫn tới một hiện tượng đi làm ăn xa lâu ngày không về, làm cho cuộc sống gia đình ngày càng phai nhạt dần, thiếu sự quan tâm đùm bọc chăm sóc lẫn nhau dẫn tới mâu thuẫn gia đình và ly hôn. Tuy nhiên không phải tất cả các vụ bỏ nhà đi là do đi làm ăn xa, mà bỏ nhà đi còn có nhiều lý do khác. Theo thống kê năm 2003 số vụ án về ly hôn do bỏ nhà đi la 6/39 vụ chiếm 15,3%. Năm 2004 7/25 vụ chiếm 28%. Ví dụ: Ngày 17 tháng 03 năm 2003 Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh thụ lý vụ án xin ly hôn giữa anh Phạm Huy Liệu và chị Phạm Thị Lợi. Đều trú tại khu 2- phường Giếng Đáy-T.P Hạ Long- Quảng Ninh. Toà án đã giải quyết theo bản án số 01/DSST ngày 12 tháng 02 năm 2004. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là: Vợ chồng không tin tưởng nhau, nghi ngờ lẫn nhau, kinh tế gia đình giảm sút, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa và chị Lợi đã bỏ nhà đi từ năm 2000, sau khi thụ lý vụ án này Toà án đã làm các thủ tục nhắn tin tìm chị Lợi theo luật định nhưng hết thời gian chị Lợi vẫn không có mặt, và Toà án đã giải quyết vắng mặt cho anh Liệu được ly hôn với lý do vợ bỏ nhà đi. Theo thống kê năm 2005 thì số vụ án về ly hôn với lý do bỏ nhà đi giảm xuống chỉ còn 1 vụ, so với năm 2003-2004 con số này là không đáng kể chiếm 4% tổng số vụ án về ly hôn năm 2005, bằng 0,55% số vụ án về ly hôn do mâu thuẫn gia đình. Điều đó cho thấy rằng mặc dù nó chiếm tỷ lệ nhỏ trong các nguyên nhân về ly hôn nhưng nó có xu hướng tăng trong điều kiện hiện nay. - Do ngoại tình Các nguyên nhân do một bên vợ hoặc chồng ngoại tình dẫn đến ly hôn chiếm một tỷ lệ nhỏ, năm 2003 là 1/39 vụ, năm 2004 là 1/25 vụ, năm 2005 là 1/21 vụ. Một điều đặc biệt là hầu hết các vụ ly hôn do ngoại tình thường có bị đơn là vợ, duy nhất có năm 2004 bị đơn là chồng. Điều đó cho thấy một quan niệm tồn tại lâu nay là chồng ngoại tình thì có thể chấp nhận được, còn vợ mà ngoại tình thì không chấp nhận được và hệ quả bị đơn là vợ chiếm tỷ lệ lớn. Theo thống kê năm 2002 số vụ án về ngoại tình là 6 vụ bằng 2,14% cả 6 vụ này đều có vợ là bị đơn. Ngoại tình là vấn đề rất nhạy cảm đến đời sống của vợ chồng, cũng như ảnh hưởng đến thuần phong mỹ thục của cộng đồng. Chính vì thế mà ly hôn với lý do ngoại tình thường ít hơn rất nhiều so với các lý do khác. Ví dụ: Ngày 02 tháng 04 năm 2004 Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh thụ lý vụ án về ly hôn giữa chị Bùi Thị Liên và anh Phạm Văn Thái, cả hai trú tại khu 9- Thị trấn Tiên Yên- Tiên Yên- Quảng Ninh. Theo bản án số 06/DSST ngày 20 tháng 07 năm 2004 thì nguyên nhân dẫn tới ly hôn là do chồng ngoại tình. Năm 1995 anh Thái có chung sống như vợ chồng với một cô gái ở Ngọc Lạc- Cẩm thuỷ- Thanh hoá, sau đó tiếp tục quan hệ với cô Huế ở Đắc lắc khi đi làm ăn trong Tây nguyên và hai người đã có một con chung. Tuy nhiên anh Thái và chị Liên không đăng ký kết hôn do vậy Toà án không công nhận quan hệ giữa họ là vợ chồng. Như vậy chúng ta có thể thấy do không hiểu biết pháp luật nên anh Thái và chị Liên không đăng ký kết hôn do vậy mà pháp luật không công nhận họ là vợ chồng, nên về hôn nhân pháp luật không bảo vệ. - Còn lại các lý do khác Các lý do khác dẫn tới ly hôn chiếm một tỷ lệ nhỏ và chủ yếu xuất hiện ở những năm gần đây như: Nguyên nhân ly hôn do nghiện ma tuý, duy nhất năm 2004 có 2 vụ đây là nguyên nhân mới xuất hiện nhưng tính chất của nó rất phức tạp, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của các bên, con cái cũng như là đối với xã hội. Ví dụ: vụ án giữa nguyên đơn là chị Đào Thị Hoa và bị đơn là anh Nguyên Văn Hoà, đều trú tại khu 7- Thị trấn Mạo Khê- Đông Triều- Quảng Ninh. Theo lời khai của anh Hoà, anh đã thừa nhận mình nghiện ma tuý và nhiễm HIV. Vì thế mà kinh tế gia đình sa sút, anh thường xuyên cờ bạc rượu chè, chị Hoa động viên chồng đi cai nghiện nhưng không thành công, do dó mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng và quyết định đi tới việc ly hôn . Nguyên nhân do vợ chồng không có con, năm 2004 có một vụ. Trên thực tế số vụ án về ly hôn mà vợ chồng không có con không phải là ít, thế nhưng từ lý do không có con mà mâu thuẫn giũa vợ chồng phát sinh dẫn tới việc ly hôn với lý do khác. Ví dụ sâu đây điển hình về không có con: Ngày 23 tháng 04 năm 2004 Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã thụ lý vụ án xin ly hôn giữa anh Võ Văn Hoà và chị Lê Thị Hằng, hai bên xin ly hôn với lý do là giữa hai vợ chồng sau 3 năm sinh sống với nhau mà không có con, chị Hằng đi khám và chữa bệnh nhiều lần nhưng mà vẫn không có khả năng sinh con do vậy mà cả hai vợ chồng trở nên mâu thuẫn nhau và cả hai bên đều thống nhất thuận tình ly hôn. Nhìn chung các nguyên nhân dẫn tới các vụ ly hôn ở huyện Cẩm thuỷ là rất đa dạng, không phải mỗi vụ án ly hôn chỉ đơn thuần một nguyên nhân mà nó là tổng thể các nguyên nhân, có khi vì không có con cho nên dẫn tới mâu thuẫn và thường cộng thêm vào đó là ngoại tình, hoặc do khó khăn về kinh tế dẫn tới bỏ nhà ra đi và hệ quả đó là mâu thuẫn gia đình và ly hôn. Có thể đánh giá tỷ lệ % giữa các nguyên nhân dẫn tới ly hôn trong hai năm 2005-2006 bằng bảng số liệu sau: Đơn vị: % Mâu thuẫn gia đình Ngoại tình Bỏ nhà đi Không con Nghiện ma tuý Đang Thi hành án 2005 84.6 2.56 15.3 0 0 0 2006 52.0 4.0 28.0 4.0 8.0 4.0 Bảng 4 Phần IV. Nhận xét và kiến nghị Nhận xét Ly hôn và thực trạng ly hôn ở Quảng Ninh đã và đang đặt ra nhiều vấn đề bức thiết đòi hỏi các cấp, các ngành chức năng phải quan tâm hơn để có thể hạn chế những tác động của việc ly hôn đến đời sống xã hội trong huyện. Qua một thời gian thực tập tiếp xúc với thực tế, tìm hiểu về thực trạng ly hôn cũng như là công tác giải quyết các vụ án ly hôn của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh em thấy rằng trong những năm gần đây số vụ án về ly hôn ngày càng nhiều và luôn ở mức trên 20 vụ mỗi năm. Đặc biệt là năm 2003 số vụ án về ly hôn là 39 vụ, so với các huyện khác trong tỉnh đây là con số khiêm tốn nhưng so với một địa bàn miền núi như huyện Cẩm thuỷ thì đây lại là một con số khá cao. Mặt khác án về ly hôn lai chiếm một phần lớn các loại án mà Toà án thụ lý và giải quyết. Đặc biệt những tháng đầu năm 2006 số vụ án về ly hôn trên địa bàn huyện tăng đột biến 12 vụ ( Đây là con số thống kê chưa chính thức). Thực trạng này là đáng báo động đòi hỏi phải có những biện pháp để hạn chế. Với quan điểm của chủ nghĩa Mác-lênin nhìn nhận vấn đề ly hôn ở hai mặt, tác động tích cực của việc ly hôn đến cuộc sống của đương sự, cũng như tác động tích cực của nó đến mọi mặt của đời sống. Tuy nhiên việc ly hôn củng có những ảnh hưởng tiêu cực đến các quan hệ xã hội nói chung, trong đó có quan hệ về hôn nhân. Là một địa phương như Cẩm thuỷ, điều kiện kinh tế còn kém phát triển, nhận thức của người dân còn hạn chế, còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến, nho giáo. do vậy hiện tượng ly hôn lại càng có những tác động mạnh mẽ hơn. Cụ thể nó được thể hiện ở hai mặt. 1. Những tác động tích cực của việc ly hôn đến đời sống xã hội của tỉnh. Ly hôn là giải pháp để giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng, khi mà cả hai vợ chồng đều không tìm được hướng giải quyết cho mâu thuẫn của mình. Trong quan hệ hôn nhân cả vợ, cả chồng đều hướng tới xây dựng một cuộc sống ấm no hạnh phúc, vợ chồng thương yêu, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng tổ ấm gia đình. Vì thế khi mà giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống của gia đình luôn căng thẳng, mục đích của hôn nhân không đạt được thì ly hôn là một giải pháp tối ưu, giải thoát cho nhau khỏi sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ đối với nhau, tạo điều kiện cho vợ hoặc chồng có thể tìm cho mình một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, tránh được những xung đột, bạo lực trong gia đình. Đó chính là nền tảng và là cơ sở quan trọng để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, góp phần vào việc ổn định xã hội, tạo điều kiện để ổn định và phát triển kinh tế gia đình cũng như là phát triển kinh tế xã hội chung trong toàn huyện, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Mặt khác khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn thường luôn đi kèm theo những hành vi chửi bới, lăng nhục, thậm chí còn đánh đập hành hạ nhau, đó là những hành vi vi phạm quyền con người, vi phạm những điều cấm của pháp luật mà hậu quả chủ yếu của nó là do người phụ nữ phải gánh chịu, từ đó dẫn đến tình trạng mất an ninh làng xóm, thôn bản. Để có thể khắc phục được những hậu quả đó thì ly hôn là một giải pháp. 2. Những tác động tiêu cực của việc ly hôn đến đời sống của tỉnh Ngoài những mặt tích cực mà việc ly hôn mang lại thì ly hôn cũng có những mặt tiêu cực của nó, đó là quan hệ vợ chồng chấm dứt, mặc dù là quan hệ giữa cha mẹ và con không vẫn tồn tại, nhưng khi cha mẹ ly hôn nó tác động rất xấu đến tâm lý của những đứa trẻ. Con người, đặc biệt là trẻ em rất cần cho mình một mái ấm gia đình, có điều kiện học hành…, mà ở đó các thành viên thương yêu đùm bọc lẫn nhau, thông thường khi ly hôn những người con không có nhiều sự lựa chọn cho cuộc sống sau này. Mặt khác khi ly hôn các quan hệ về tài sản không phải mọi trường hợp đều phát sinh, tuy nhiên khi phat sinh mà giữa các bên không thống nhất được cách giải quyết mà phải nhờ đến sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thường rất phức tạp, rất nhiều trường hợp nó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác, mặt khác nó gây tốn kém cho nhà nước. Những tác động này gián tiếp hoặc trực tiếp nó có tác động đến đời sống gia đình cũng như đời sống xã hội của huyện, gây mất trật tự xã hội từ đó phát sinh các tệ nạn xã hội khó lường trước. II. một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng ly hôn ở tỉnh Quảng Ninh . Qua việc ngiên cứu đề tài “ Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn tại địa phương nơi thực tập” của chuyên đề thực tập cuối khoá của một sinh viên luật, với vốn kiến thức hiểu biết của mình, cũng như là những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn cuộc sống hằng ngày, em đưa ra một số những giải pháp để nhằm hạn chế ly hôn ở tỉnh Quảng Ninh nơi em thực tập tốt nghiệp. Khi đưa ra những giải pháp này em không có tham vọng gì nhiều mà chỉ mong các cơ quan chức năng có thẩm quyền ở địa phương có những giải pháp hạn chế ly hôn, và những người quan tâm có thể hiểu được một phần nào đó thực trạng của vấn đề đang đạt ra bức thiết ở địa phương. Cụ thể cần một số giải pháp sau: 1. Phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật về hôn nhân gia đình. Nâng cao dân chí nói chung, nâng cao ý thức pháp luật nói riêng là định hướng chiến lược của Đảng và nhà nước ta, nhất là trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay. Với trình độ dân trí nhìn chung còn thấp và không đồng đều giữa các vùng trong huyện thì công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật nhất là luật hôn nhân và gia đình gặp không ít những khó khăn. Tuy nhiên để góp phần hạn chế được tình trạng ly hôn ngày càng nhiều ở Quảng Ninh trong những năm vừa qua, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của việc ly hôn đến đời sống xã hội thì tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật về hôn nhân gia đình là một trong những giải pháp hữu hiệu. Ví dụ: có những vụ ly hôn do một bên hoặc cả hai bên vợ chồng không có sự hiểu biết đầy đủ về quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của họ đối với gia đình, với các thành viên trong gia đình như không chăm sóc vợ con khi ốm đau, không yêu thương đùm bọc lẫn nhau, dẫn đến những mâu thuẫn không đáng có từ đó dẫn tới ly hôn. Để có thể giúp được các cặp vợ chồng hiểu được quyền cũng như là trách nhiệm của mình đối với gia đình thì cần phải có những hình thức tuyên truyền, phổ biến luật hôn nhân và gia đình một cách phù hợp như phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng với các cơ quan chuyên môn, có như vậy công tác tuyên truyền mới đạt hiệu quả cao. 2. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chấ, tinh thầnt của người dân trong huyện. Đẩy mạnh phát triển kinh tế là một giải pháp có vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế tình trạn ly hôn tại địa phương. Quảng Ninh là một tỉnh có nền kinh tế tương đối phát triển, nếu xét mặt bằng chung thì đời sống nhân dân tương đối cao tuy vậy ở một số huyện miền núi hải đảo thì nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, đời sống nhân dân chưa được đảm bảo đúng mức nên không tránh được việc các cặp vợ chồng có mâu thuẫn do nguyên nhân kinh tế.Trong những năm gần đây ly hôn do nguyên nhân về kinh tế ngày càng nhiều. Do đó để từng bước tháo gỡ những khó khăn trong việc phát triển kinh tế nhằm hạn chế đến mức tối đa việc ly hôn vì lý do kinh tế thì đòi hỏi phải có những chính sách đồng bộ của các cấp Uỷ Đảng, chính quyền địa phương, đẩy mạnh việc triển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, đưa những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác, đưa cây, con, giống mới có năng xuất vào gieo trồng, phát triển các mô hình kinh tế trang trại…Từ đó ổn định đời sống vật chất của nhân dân, ổn định tình hình xã hội, hạn chế tình trạng ly hôn ngày càng nhiều ở địa phương hiện nay. 3. Đẩy mạnh công tác xây dựng gia đình văn hoá, làng bản văn hoá. Đây là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta trong những năm gần đây, các cấp uỷ Đảng cần phối hợp chặt chẽ với các ban ngành đoàn thể và các hộ gia đình để xây dựng gia đình văn hoá, làng bản văn hoá. Có như vậy mới phát huy được vai trò của gia đình trong việc giáo dục truyền thống cho các thế hệ con cháu. Có như vậy mới hạn chế được những mâu thuẫn gia đình, những xung đột không cần thiết giữa vợ chồng với nhau cũng như giữa vợ chồng với các thành viên khác trong gia đình. 4.Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị, các ban ngành đoàn thể các tổ hoà giải cơ sở, vai trò của các già làng, trưởng bản Phát huy vai trò của các ban ngành đoàn thể trong việc giải quyết những mâu thuẫn trong gia đình cũng như trong việc tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật, tuyên truyền đạo lý tốt đẹp của gia đình việt nam, đặc biệt là phát huy vai trò của các tổ hoà giải cơ sở giúp các cặp vợ chồng có mâu thuẫn với nhau đoàn tụ gia đình, tránh được hậu quả sấu là ly hôn. Trên thực tế có rất nhiều gia đình mâu thuẫn rất tưởng chừng không thể nào đoàn tụ được thế mà thông qua vai trò của các đoàn thể quần chúng trong việc hoà giải, giúp các bên đi đến một giải pháp mang tính xây dựng tích cực hơn, mục đích cuối cùng cũng chỉ để hạn chế việc ly hôn. 5.Tuyên truyền về kiến thức cuộc sống gia đình về sức khoẻ sinh sản vị thành niên. Trong những năm vừa qua có rất nhiều vụ án ly hôn mà có độ rất thấp, khi mới lớn lên đã xây dựng gia đình do vậy những cặp vợ chồng đó khi ly hôn họ còn thiếu rất nhiều kinh nghiệm về cuộc sống gia đình, kiến thức về giới tính, họ chưa chuẩn bị kỹ cho cuộc sống gia đình cũng như là xây dựng hạnh phúc riêng cho mình. Để có thể khắc phục tình trạng đó nhằm hạn chế việc ly hôn thì không thể không nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền của các tổ chức hội phụ nữ, hội nông dân, các đoàn thể xã hội khác để giúp các cặp bạn trẻ có thêm nhiều kiến thức, chuẩn bị cho họ tâm lý, cũng như các điều tốt nhất để họ xây dựng gia đình mình hạnh phúc hơn. Tài liệu tham khảo Báo cáo thống kê tháng của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh Báo cáo thống kê quý của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh Báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh hàng năm của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh Các văn bản hướng dẫn luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Hồ sơ các vụ án về hôn nhân gia đình Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Sổ thụ lý các vụ án về hôn nhân gia đình của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn tại Quảng Ninh trong năm 2004- 2005- 2006.doc