Thực tiễn áp dụng pháp luật kinh doanh chứng khoán của các chủ thể kinh doanh chứng khoán hiện nay – Đánh giá và nhận xét

Học kỳ chứng khoán A – LỜI MỞ ĐẦU Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 28/7/2000 là sự kiện quan trọng trong quá trình đổi mới nền kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam.Thị trường chứng khoán là công cụ hiệu quả huy động và phân bổ vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế. Trong những năm qua, hoạt động kinh doanh chứng khoán đã trở thành giải pháp hiệu quả giúp doanh nghiệp giải quyết nhu cầu về vốn của mình. Tham gia kinh doanh chứng khoán còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới hình thức quản lý, quản trị doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh. Để bảo đảm hoạt động kinh doanh chứng khoán của các doanh nghiệp diễn ra đúng pháp luật, thị trường chứng khoán vận hành an toàn, nghiên cứu pháp luật về kinh doanh chứng khoán là việc làm cần thiết. Từ nhận thức đó, em chọn đề tài: “Thực tiễn áp dụng pháp luật kinh doanh chứng khoán của các chủ thể kinh doanh chứng khoán hiện nay – đánh giá và nhận xét” MỤC LỤC A – LỜI MỞ ĐẦU . 1 B – NỘI DUNG . 1 I, MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN 1 1, Khái niệm kinh doanh chứng khoán .1 2, Khái niệm về pháp luật kinh doanh chứng khoán . 2 3, Các chủ thể kinh doanh chứng khoán và các nghiệp vụ KDCK 3 II, THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CHỦ THỂ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN 4 1, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động môi giới chứng khoán 4 2. Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động tự doanh chứng khoán .5 3, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán 64, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán và tư vấn tài chính . 7 5, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động lưu ký chứng khoán 8 6, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán 9 7, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán .9 III. Một số đánh giá, nhận xét về thực tiễn áp dụng pháp luật KDCK của các chủ thể KDCK .9 1. Thực tiễn áp dụng pháp luật KDCK của các chủ thể KDCK với những thành tựu đạt được và hạn chế tồn tại 10 2, Một số phương hướng hoàn thiện nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật KDCK của các chủ thể KDCK 11 C – KẾT LUẬN 13

doc16 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 08/03/2013 | Lượt xem: 4608 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực tiễn áp dụng pháp luật kinh doanh chứng khoán của các chủ thể kinh doanh chứng khoán hiện nay – Đánh giá và nhận xét, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A – LỜI MỞ ĐẦU Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 28/7/2000 là sự kiện quan trọng trong quá trình đổi mới nền kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam.Thị trường chứng khoán là công cụ hiệu quả huy động và phân bổ vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế. Trong những năm qua, hoạt động kinh doanh chứng khoán đã trở thành giải pháp hiệu quả giúp doanh nghiệp giải quyết nhu cầu về vốn của mình. Tham gia kinh doanh chứng khoán còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới hình thức quản lý, quản trị doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh. Để bảo đảm hoạt động kinh doanh chứng khoán của các doanh nghiệp diễn ra đúng pháp luật, thị trường chứng khoán vận hành an toàn, nghiên cứu pháp luật về kinh doanh chứng khoán là việc làm cần thiết. Từ nhận thức đó, em chọn đề tài: “Thực tiễn áp dụng pháp luật kinh doanh chứng khoán của các chủ thể kinh doanh chứng khoán hiện nay – đánh giá và nhận xét” B – NỘI DUNG I, MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN 1, Khái niệm kinh doanh chứng khoán Theo cách hiểu thông thường, kinh doanh là hoạt động tổ chức sản xuất, buôn bán hàng hóa để kiếm lời. Hàng hóa gồm nhiều loại, mỗi loại hàng hóa có những đặc điểm, đặc tính riêng. Khi gắn hàng hóa đó với hoạt động kinh doanh, làm phát sinh nhiều loại hình kinh doanh, trong đó kinh doanh chứng khoán là một loại hình kinh doanh đặc biệt. Tính đặc biệt của hoạt động kinh doanh chứng khoán ở chỗ hàng hóa kinh doanh là chứng khoán, các dịch vụ gắn với chứng khoán. Ngoài cách định nghĩa trên, khi nghiên cứu kinh doanh chứng khoán, theo nghĩa hẹp, khi nghiên cứu kinh doanh chứng khoán chính là đầu tư chứng khoán. Đầu tư là việc sử dụng vốn để mua chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận, nó bao gồm cả hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán. Khái niệm kinh doanh chứng khoán như trên hay còn được hiểu là đầu tư chứng khoán, còn bao gồm hai hoạt động sau: + Thứ nhất là sử dụng vốn mua chứng khoán (cổ phiếu) nhằm thu lợi nhuận hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát hành chứng khoán (tức là đầu tư chứng khoán theo nghĩa hẹp) + Thứ hai là mua đi bán lại chứng khoán để hưởng chênh lệch khi giá chứng khoán trên thị trường lên xuống, hoạt động này cũng có thể hiểu là hoạt động kinh doanh chứng khoán. Đây là sự tiếp cận khái niệm kinh doanh chứng khoán ở phạm vi hẹp nhất và cũng là cách hiểu phổ biến nhất. 2, Khái niệm về pháp luật kinh doanh chứng khoán Thị trường chứng khoán có liên quan chặt chẽ với trình độ phát triển, mức ổn định, tính bền vững của nền kinh tế vĩ mô. Do đó, việc xây dựng môi trường pháp lý lành mạnh cho TTCK cũng như cho hoạt động kinh doanh chứng khoán là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Bởi pháp luật kinh doanh chứng khoán là một mảng quan trọng của pháp luật chứng khoán nói chung và nếu thiếu cơ sở pháp lý hoặc tồn tại cơ sở pháp lý không phù hợp, chính nó sẽ hạn chế sự phát triển của TTCK. “Pháp luật kinh doanh chứng khoán là tổng hợp những nguyên tắc, những quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành, điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình kinh doanh chứng khoán. Hình thức thể hiện của pháp luật kinh doanh chứng khoán và pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực khác là các văn bản luật, nghị định, thông tư, quyết định của các cơ quan có thẩm quyền”. Mỗi quốc gia có sự can thiệp nhất định vào TTCK và hoạt động kinh doanh chứng khoán ở mức độ khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và thực tế phát triển TTCK tại quốc gia đó. Ở Việt Nam hiện nay, Luật chứng khoán đã ra đời được một thời gian và có nhiều quy định mới chặt chẽ hơn về kinh doanh chứng khoán được áp dụng, giá trị pháp lý của chúng đã tương xứng với tầm quan trọng của chứng khoán và TTCK. Các văn bản quy định cụ thể hoạt động KDCK của các chủ thể KDCK bao gồm: + Luật chứng khoán 2006 + Nghị định của Chính phủ số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán. + Nghị định của Chính phủ số 84/2010/NĐ-CP ngày 02/8/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2007/NĐ-CP + Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 + Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính số 126/2008/QĐ-BTC ngày 26/12/2008 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 + Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ ban hành kèm theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính số 35/2007/QĐ-BTC ngày 15/5/2007 + Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính số 125/2008/QĐ-BTC ngày 26/12/2008 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ ban hành kèm theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính số 35/2007/QĐ-BTC ngày 15/5/2007 3, Các chủ thể kinh doanh chứng khoán và các nghiệp vụ KDCK. Các chủ thể kinh doanh chứng khoán Tương ứng với mỗi nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán có các chủ thể tiến hành nghiệp vụ đó. Ứng với pháp luật của mỗi quốc gia có những chủ thể được tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán. Các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được quy định tại chương VI, chương VII của Luật chứng khoán bao gồm: công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán. Ngoài ra còn có ngân hàng thương mại. Trong đó, công ty chứng khoán được phép thực hiện hoạt động môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư, lưu ký chứng khoán và các nghiệp vụ tài chính khác (khoản 3 Điều 60 luật chứng khoán). Đặc biệt, khoản 2 Điều 60 quy định công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện bảo lãnh phát hành khi được phép tự doanh chứng khoán. Công ty quản lý quỹ được phép tiến hành quản lý quỹ và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán (khoản 1 Điều 61 Luật chứng khoán). Theo pháp luật, các chủ thể kinh doanh chứng khoán được phân biệt rõ ràng chức năng, có những nghiệp vụ chủ thể này được phép nhưng chủ thể khác không được phép tiến hành, vì có những nghiệp vụ mà một chủ thể đồng thời tiến hành sẽ không đảm bảo sự khách quan và tính hiệu quả so với trường hợp chúng được tiến hành bởi những chủ thể độc lập. Chủ thể đầu tiên là công ty chứng khoán, là pháp nhân với hình thức tổ chức là công ty cổ phần, công ty TNHH do hai mô hình này có những ưu thế hơn so với những loại hình công ty khác về chế độ sở hữu, quản trị, khả năng huy động vốn… phù hợp với hoạt động kinh doanh chứng khoán hơn cả. Chủ thể tiếp theo là công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Chức năng của chủ thể này do pháp luật quy định. Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán là pháp nhân với hình thức tổ chức là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, được phép tiến hành hai nghiệp vụ mà CTCK không được phép tiến hành là quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. Cuối cùng là công ty đầu tư chứng khoán. Khoản 1 Điều 96 quy định “công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp để đầu tư chứng khoán”. Pháp luật quy định về công ty đầu tư chứng khoán vì mục đích điều chỉnh của Luật là hướng tới những nhà đầu tư chuyên nghiệp. Việc chỉ cho phép thành lập công ty đầu tư chứng khoán theo mô hình công ty cổ phần vì dạng mô hình này phù hợp với lĩnh vực chứng khoán và đầu tư chứng khoán. II, THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CHỦ THỂ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN Theo quy định của luật chứng khoán, các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán mà các chủ thể kinh doanh chứng khoán được phép tiến hành bao gồm các nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, tư vấn chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. 1, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động môi giới chứng khoán. “Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng” (khoản 20 Điều 6 Luật chứng khoán). Hoạt động này xuất phát từ nguyên tắc trung gian, theo đó công ty chứng khoán tìm ra trong số khách hàng của mình những người có nhu cầu mua và bán loại chứng khoán với giá cả, số lượng và thời điểm mua bán phù hợp. Nếu giao dịch thành công, công ty chứng khoán thu về một khoản hoa hồng theo thỏa thuận. Tính trung gian của công ty chứng khoán thể hiện trong hai vai trò: môi giới thuần túy (công ty chứng khoán là bên thứ ba kết nối hai bên có nhu cầu tương ứng với nhau) và môi giới nhưng đồng thời làm đại diện cho một trong hai bên giao dịch. Để thực hiện hoạt động này, giữa công ty và khách hàng tồn tại một hợp đồng gồm các điều khoản phù hợp tương ứng với vai trò là môi giới đơn thuần hay đại diện, tùy trường hợp mà mức phí công ty chứng khoán được hưởng là khác nhau. Hoạt động môi giới chứng khoán luôn được tiến hành bởi chủ thể đặc thù là các công ty chứng khoán. CTCK phải được cấp giấp phép thành lập và hoạt động KDCK đồng thời phải đăng kí kinh doanh dịch vụ môi giới chứng khoán tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong thực tiễn KDCK ở nước ta, nhiều ngân hàng cũng tham gia vào hoạt động môi giới chứng khoán nhưng muốn thực hiện được điều đó, họ thường thành lập ra công ti chứng khoán độc lập bằng vốn tự có của mình để CTCK này tiến hành các hoạt động KDCK một cách độc lập và chuyên nghiệp trên TTCK. Thông thường, công ty chứng khoán tiến hành môi giới chứng khoán cho khách hàng của mình thông qua các bước: 1. Ký kết hợp đồng mở tài khoản, 2. Khách hàng ký quỹ tiền mặt và chứng khoán để tiến hành giao dịch, 3. Khách hàng đặt lệnh mua bán chứng khoán, 4. Khớp lệnh, công ty chứng khoán thanh toán tiền và chứng khoán cho khách hàng. Pháp luật chứng khoán nêu rõ công ty chứng khoán mở tài khoản cho khách hàng trên cơ sở hợp đồng, hợp đồng đó phải bao gồm các điều khoản cơ bản (thông tin về các bên ký kết, cách thức nhận lệnh của công ty chứng khoán, quyền và nghĩa vụ của các bên..). Tuân thủ những quy định này, các công ty chứng khoán hiện nay đều soạn thảo các mẫu hợp đồng, bao gồm trong đó các điều khoản luật định và điều khoản bổ sung nhằm thỏa mãn nhu cầu đăng ký tài khoản nhanh, gọn của số lượng lớn khách hàng và đảm bảo sự bình đẳng giữa họ. Ngoài ra, Luật quy định các trường hợp đặc biệt, nhân viên kinh doanh của công ty chứng khoán mở tài khoản giao dịch chứng khoán, khi đó, công ty có trách nhiệm thông báo mã số tài khoản của nhân viên này cho Ủy ban chứng khoán nhà nước, Trung tâm giao dịch hoặc Sở giao dịch chứng khoán. Việc kiểm soát này nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư là khách hàng của công ty chứng khoán. 2. Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động tự doanh chứng khoán “Tự doanh chứng khoán theo pháp luật Việt Nam là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình”. Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán là các nhà đầu tư tiến hành giao dịch để tìm kiếm lợi nhuận. Do đó, trước khi tiến hành giao dịch, công ty chứng khoán phải đảm bảo có đủ tiền và chứng khoán để thanh toán. Tuy nhiên, công ty chứng khoán với tư cách là nhà đầu tư có những đặc điểm khác biệt so với các nhà đầu tư khác. Công ty chứng khoán được xem là nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường. Hơn nữa, ngoài tự doanh, công ty chứng khoán đồng thời tiến hành nghiệp vụ môi giới nên trong nhiều giao dịch công ty không phải chịu phí môi giới. Thực tế cho thấy, trong tự doanh chứng khoán, vai trò của công ty chứng khoán không chỉ dừng lại ở vị trí nhà đầu tư đơn thuần, mà hơn thế, họ là các nhà tạo lập thị trường. Điều này thể hiện ở việc công ty chứng khoán duy trì tính linh hoạt của thị trường với một loại chứng khoán khi nó được phát hành, tạo sự cạnh tranh về giá thông qua giao dịch một chứng khoán nhất định, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư tới một loại chứng khoán chưa niêm yết. Các nhà tạo lập thị trường luôn có xu hướng cạnh tranh lẫn nhau, tạo khả năng tự điều chỉnh của thị trường, đặc biệt là thị trường OTC. Họ thường được tiếp cận với các thông tin đặc biệt do họ thường xuyên tiếp cận trực tiếp với các thông tin trên số lệnh. Đó là lý do đối tượng này cần được kiểm soát chặt chẽ, được áp dụng một quy chế riêng tương ứng với vai trò quan trọng của nó. Tuy nhiên, xu thế hiện nay là các công ty chứng khoán sẽ giảm dần mảng tự doanh. Hiện tượng sụt giảm nghiêm trọng của thị trường chứng khoán thời gian cuối năm 2008, đầu năm 2009 vừa qua đã khiến rất nhiều công ty chứng khoán thay đổi chiến lược kinh doanh, hướng tới các dịch vụ tư vấn môi giới và giảm dần tự doanh. 3, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán. “Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết việc tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành, hoặc hỗ trợ phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng” (khoản 2 Điều 6 Luật chứng khoán). So với phạm vi bảo lãnh chứng khoán quy định tại Nghị định 144/2003/NĐ-CP, nội dung của luật chứng khoán hiện hành có phạm vi rộng hơn ở việc hỗ trợ tổ chức phát hành trong phân phối chứng khoán. Khi quy định như vậy, các bên hoàn toàn có thể tự do lựa chọn các hình thức bảo lãnh phát hành. Trong tập quán và thông lệ quốc tế, hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán thường được thực hiện bởi các tổ chức chuyên nghiệp như CTCK, các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức khác được chính quyền cấp phép thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán. Nghiệp vụ này giúp công ty chứng khoán tiếp cận sớm hơn với thông tin phát hành chứng khoán của tổ chức phát hành, thu phí từ việc cung cấp dịch vụ này, đồng thời có nhiều khả năng đầu tư vào chính chứng khoán đó. Với tổ chức phát hành, họ được thuận lợi hơn trong việc chào bán khi được bảo lãnh, khả năng chào bán thành công và bán hết chứng khoán cao. Hơn nữa, trước khi thực hiện bảo lãnh, công ty chứng khoán đồng thời có thể tư vấn phát hành cho chủ thể phát hành, giúp họ không tốn phí tổn lớn và thu về lượng vốn lớn một cách hợp lý từ đợt phát hành. Hiện nay, theo đà phát triển của TTCK, hoạt động bảo lãnh phát hành cũng như nhiều hoạt động KDCK khác diễn ra sôi động hơn trước. Nhưng xét về thực tế, tổ chức bảo lãnh tại Việt Nam vẫn hạn chế nhiều về tiềm lực, trình độ nghiệp vụ và kinh nghiệm. Về nguyên tắc, do hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán có bản chất là dịch vụ thương mại nên chủ thể tiến hành hoạt động này thường phải thỏa mãn một số điều kiện theo quy định của pháp luật. Việc quy định này không ngoài mục đích giúp chính quyền kiểm soát hoạt động của các chủ thể tiến hành. Xét về lợi ích, khả năng đạt được lợi ích của chủ thể bảo lãnh và phát hành đều lớn, nhưng xét đến rủi ro, sẽ rủi ro không nhỏ nếu đợt chào bán không thành công hoặc tổ chức phát hành sau khi mua chứng khoán của tổ chức phát hành lại không phân phối được. Để hạn chế rủi ro, pháp luật đặt ra giới hạn tổng giá trị chứng khoán phát hành bảo lãnh không quá 30% vốn tự có của tổ chức bảo lãnh. 4, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán và tư vấn tài chính. Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán. Do hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán là nghiệp vụ kinh doanh đặc thù và có ảnh hưởng đến quyết định cuối cùng của nhà đầu tư trên TTCK nên hoạt động này thường được thực hiện bởi các tổ chức chuyên nghiệp như công ty chứng khoán. Trên thực tế, việc cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng của các công ty chứng khoán luôn được thực hiện bởi các chuyên gia về chứng khoán với tư cách là người đại diện cho CTCK. Đối với các tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính như ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm… nếu muốn tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó có nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán thì các tổ chức này thành lập công ty chứng khoán độc lập để tiến hành các hoạt động KDCK. Các CTCK do tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính thành lập tuy phải chấp nhận sự kiểm soát của các tổ chức này với tư cách là chủ sở hữu nhưng về nguyên tắc, chúng đều là những công ty con có tư cách pháp lý độc lập và nhân danh chính nó trong quá trình giao dịch với khách hàng. Ở nước ta, khi số lượng người đổ vốn vào chứng khoán ngày càng nhiều trong khi họ thiếu kỹ năng, thiếu kinh nghiệm đầu tư thì tư vấn đầu tư chứng khoán cũng vì thế mà phát triển. Ngược lại, với những nước có thị trường chứng khoán phát triển, họ chỉ coi tư vấn đầu tư chứng khoán là một nghiệp vụ phụ trợ. Dù vị trí của nó ở đâu, đây cũng là một nghiệp vụ đòi hỏi chuyên môn cao, không đòi hỏi tiềm năng tài chính như tự doanh hay bảo lãnh và không bị áp dụng điều kiện vốn pháp định cũng như điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật như nhiều nghiệp vụ khác. 5, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động lưu ký chứng khoán. Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán (khoản 24 Điều 6 Luật chứng khoán). Đây là nghiệp vụ phụ trợ của UBCKNN cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký, được trung tâm lưu ký chứng khoán chấp nhận tư cách thành viên. Với giấy chứng nhận đăng ký, các chủ thể được phép thực hiện dịch vụ lưu ký và thanh toán các giao dịch chứng khoán, đăng ký lưu ký đối với các chứng khoán phát hành riêng lẻ, làm đại lý chuyển nhượng theo yêu cầu của tổ chức phát hành đối với chứng khoán phát hành riêng lẻ. Đối với nghiệp vụ đăng ký chứng khoán, công ty chứng khoán và ngân hàng thương mại tự mình xây dựng quy trình đăng ký riêng và có quyền thu phí khi khách hàng sử dụng dịch vụ này. Với nghiệp vụ lưu ký chứng khoán, mỗi khách hàng có tài khoản lưu ký cứng và chỉ có một tài khoản duy nhất. Thêm vào đó, nguyên tắc quản lý biệt lập tài sản cũng được áp dụng, luật nghiêm cấm các chủ thể lưu ký sử dụng chứng khoán của khách hàng vì mục đích riêng. Điều 56 Luật chứng khoán nêu rõ “trung tâm lưu ký và thành viên lưu ký không được coi chứng khoán lưu ký của khách hàng là tài sản của mình”. Các thông tin của khách hàng liên quan đến nghiệp vụ lưu ký cũng như các nghiệp vụ khác đều phải được bảo mật. Hành vi tiết lộ thông tin hay hành vi khác xâm phạm quyền lợi khách hàng đều dẫn đến nghĩa vụ bồi thường của chủ thể thực hiện lưu ký. Hiện nay, ở Việt Nam, lưu ký chứng khoán được thực hiện theo hai cấp ứng với hai chủ thể: Trung tâm lưu ký và thành viên lưu ký. Các chủ thể này đều được phép lưu ký chứng khoán của công ty đại chúng, các thành viên phải tái lưu ký chứng khoán đó tại trung tâm. Quy định này được đặt ra nhằm thực hiện lưu ký tập trung chứng khoán của các công ty đại chúng. 6, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán, nắm giữ chứng khoán. Bản chất pháp lý của hoạt động này là hợp đồng dịch vụ ủy thác danh mục đầu tư chứng khoán. Việc kí kết và thực hiện hợp đồng này có thể xem như cách thức duy nhất để công ty quản lý quỹ và khách hành của họ thỏa mãn được nhu cầu của mình khi tham gia TTCK. Nói về nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư, trước đây, theo pháp luật chủ thể thực hiện là công ty chứng khoán, nhưng nay lại do công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện. Như vậy, có sự tách biệt nghiệp vụ này với các nghiệp vụ vừa nêu của công ty chứng khoán. Công ty đầu tư chứng khoán được tiến hành tự doanh chứng khoán (là đầu tư chứng khoán đúng như tên gọi của nó) (khoản 1 Điều 96 Luật chứng khoán). Ngân hàng thương mại được tiến hành lưu ký chứng khoán và cung cấp dịch vụ giám sát hoạt động của công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán (khoản 1 Điều 47 và Điều 98 Luật chứng khoán). Chủ thể này chỉ được phép tiến hành các nghiệp vụ đó vì pháp luật chứng khoán Việt Nam không cho phép ngân hàng thương mại trực tiếp kinh doanh chứng khoán. 7, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán là nghiệp vụ KDCK, theo đó công ty quản lý quỹ chấp nhận sự ủy thác của các nhà đầu tư để tiến hành việc thành lập quỹ đầu tư chứng khoán bằng nguồn vốn góp của các nhà đầu tư và trực tiếp quản lý điều hành quỹ này vào mục đích đầu tư trên thị trường chứng khoán cũng như đầu tư vào các tài sản khác vì quyền lợi của nhà đầu tư. Bản chất hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán là một dịch vụ về chứng khoán do công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán tiến hành theo yêu cầu của các nhà đầu tư để được nhận thù lao dịch vụ là phí quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. III. Một số đánh giá, nhận xét về thực tiễn áp dụng pháp luật KDCK của các chủ thể KDCK Thực tiễn áp dụng pháp luật KDCK của các chủ thể KDCK với những thành tựu đạt được và hạn chế tồn tại. Qua hoạt động của CTCK, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, các hoạt động kinh doanh chứng khoán được thực hiện. Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động, các công ty chứng khoán đã vận dụng các quy định pháp luật một cách linh hoạt, cùng với sự hỗ trợ của nhà nước để đạt được lợi nhuận, sự tồn tại và phát triển trong TTCK. Việc thực hiện tốt các quy định của pháp luật về kinh doanh chứng khoán của các chủ thể kinh doanh chứng khoán, đặc biệt là các công ty chứng khoán đã khiến hiệu quả của việc áp dụng pháp Luật chứng khoán tăng lên. Biểu hiện như, thực thi luật chứng khoán, để đảm bảo yêu cầu vốn pháp định theo quy định, các CTCK không đủ vốn đã rút nghiệp vụ hoặc tăng vốn để đảm bảo nghiệp vụ. Hầu hết các CTCK đã được UBCKNN cấp phép. Đối với các sản phẩm dịch vụ tài chính khác, các CTCK trước khi thực hiện thường báo cáo UBCKNN phương án, quy trình thực hiện, các biện pháp quản trị rủi ro và phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Chính việc tuân thủ các quy định của pháp luật của các chủ thể KDCK đã góp phần nâng cao tính hiệu quả của các quy định của pháp luật KDCK. Hiện nay, hầu hết các công ty chứng khoán đều có hoạt động tự doanh. Tuy nhiên, với lợi thế về thông tin, không loại trừ khả năng các công ty này sẽ “làm giá” cổ phiếu để thu lợi. Để tư vấn cho nhà đầu tư, các công ty chứng khoán thường xuyên đưa ra các bản phân tích về thị trường. Trong các bản báo cáo này, doanh nghiệp đưa ra những mã cổ phiếu tiêu biểu để nhà đầu tư tham khảo và lựa chọn cổ phiếu để mua. Các CTCK đang có chiêu thức làm giá một vài mã cổ phiếu bằng cách cung cấp phân tích tốt về một mã cổ phiếu nào đó rồi tư vấn cho khách mua vào. Sau đó, nhờ phương tiện truyền thông đưa tin để PR, khi giá cổ phiếu này đạt đỉnh thì họ tung ra bán. Mảng tư vấn phát hành cổ phiếu cũng là điều kiện thuận lợi cho các CTCK tiếp cận nguồn thông tin nội bộ của các doanh nghiệp. Với hoạt động này, CTCK có thể nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của doanh nghiệp để đầu tư. Sau khi mua số cổ phiếu này, CTCK tiến hành “thối” giá với những hình thức như vẽ ra triển vọng của doanh nghiệp, tô hồng sự thật và không công bố những mặt yếu kém của doanh nghiệp, để bản thân kiếm nhiều lời. Với những hoạt động này, các CTCK đã có hành vi đầu cơ cổ phiếu, tạo lợi nhuận cho chính mình nhưng gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Hiệu quả của việc áp dụng các quy định của pháp luật về kinh doanh chứng khoán nói chung và quy định về hoạt động tự doanh nói riêng vì thế bị giảm sút đi rất nhiều. Tình trạng các nhân viên CTCK mở nhiều tài khoản tại chính công ty của mình. Theo quy định của pháp luật kinh doanh chứng khoán, nếu các nhân viên của CTCK muốn đầu tư, chỉ được phép mở một tài khoản tại chính đơn vị mình. quy định mở và giao dịch trên một tài khoản duy nhất cũng áp dụng chung cho tất cả các nhà đầu tư, cá nhân khác trên thị trường, không chỉ đối với nhân viên công ty chứng khoán. tuy nhiên tại nhiều sàn chứng khoán đã phát hiện nhiều nhân viên công ty chứng khoán vi phạm vì lợi ích cá nhân hoặc thông đồng với những nhà đầu tư lớn để trục lợi. Một ví dụ điển hình là trong vòng chưa đầy một tháng, hơn 10 CTCK đã bị Sở giao dịch thành phố Hồ Chí Minh HOSE cảnh cáo. Mới nhất, HOSE thông báo cảnh cáo đại diện giao dịch của 6 CTCK do vi phạm quy định giao dịch: CTCK Ngân hàng công thương, CTCK Sài Gòn, CTCK Châu Á – Thái Bình Dương, CTCK Tầm Nhìn, CTCK Thăng Long, CTCK Ngân hàng ngoại thương ngày 27/8/2007. Hơn ai hết, các CTCK biết rõ các quy định, lợi và hại của vi phạm nhưng họ vẫn đua nhau làm. Có thể thấy, các CTCK đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh chứng khoán. Việc các công ty này cố tình làm sai quy định của pháp luật đã làm giảm hiệu quả của pháp luật kinh doanh chứng khoán. 2, Một số phương hướng hoàn thiện nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật KDCK của các chủ thể KDCK. Để thu hút và đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư, cần phải thay đổi, khắc phục những hạn chế trên. cơ sở hạ tầng cũng cần thay đổi, cải tiến hơn nữa để bắt kịp các chuẩn mực của khu vực. Các công ty chứng khoán cần liên tục cải tiến công nghệ, hoàn thiện công tác quản trị rủi ro, không ngừng nâng cao chất lượng tư vấn đầu tư; triển khai những sản phẩm mới cho thị trường, cung cấp cho nhà đầu tư các công cụ đa dạng để có thể bảo vệ cho khoản đầu tư của mình, không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, coi đó là công tác trọng tâm trong hoạt động hàng ngày của công ty. Trong tương lai, xu thế chung là các công ty chứng khoán sẽ tăng nguồn thu từ dịch vụ giữ vai trò chủ đạo, giảm dần sự phụ thuộc vào hoạt động từ doanh thu tự doanh và nguồn doanh thu này mang tính không ổn định, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thị trường.. Cần xem xét hoàn thiện hơn quy định của pháp luật chứng khoán nhằm tạo nên những quy định cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu hơn tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể KDCK trong quá trình áp dụng pháp luật kinh doanh chứng khoán. Nếu xét đến nội dung hoạt động đầu tư chứng khoán thông qua chứng chỉ quỹ đầu tư thì cơ chế hoạt động của công ty quản lý quỹ là cơ chế ba bên: công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, ngân hàng giám sát, nhà đầu tư. Thực tiễn thị trường thời gian qua cho thấy chưa có một công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán nào chính thức ra đời. Pháp luật chỉ quy định đây là pháp nhân thực hiện hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán nhưng bản chất của nó có phải công ty chứng khoán không lại chưa có khẳng định rõ ràng. Thực tiễn cho thấy đây là một mô hình CTCK. Pháp luật cần có quy định rõ ràng hơn về vấn đề này. Đối với các ngân hàng lưu ký, thanh toán chứng khoán, thực tiễn đang tiến hành các hành vi gắn với giao dịch chứng khoán, với mục đích kiếm lời nhưng pháp luật hiện hành lại chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Yêu cầu đặt ra là cần xác định lại vị trí của ngân hàng lưu ký, ngân hàng thanh toán trong tổng thể các loại chủ thể tham gia KDCK. Bên cạnh đó, pháp luật nên xem xét đến vấn đề có nên quy định về phí môi giới chứng khoán hay không, về hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán, cho phép công ty hợp danh thực hiện hoạt động tư vấn đầu tư.. Như vậy sẽ nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật KDCK của các chủ thể KDCK. Cần lưu ý hơn tới vấn đề đảm bảo tính thực thi của pháp luật được áp dụng về kinh doanh chứng khoán. Trong đó, cần lưu ý hai vấn đề là: + Pháp luật nên có quy định rõ ràng về biện pháp cũng như chế tài cần thiết trong áp dụng và thực thi pháp luật về kinh doanh chứng khoán nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể kinh doanh chứng khoán. Điển hình như việc pháp luật chưa có quy định rõ ràng về biện pháp thực hiện cũng như chế tài cần thiết mặc dù Luật chứng khoán đã quy định về việc tách bạch hoạt động môi giới với hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán. Không làm được điều đó, những quy định khác nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư sẽ giảm hiệu quả. + Yêu cầu pháp luật về đạo đức, chuyên môn nghề nghiệp của những người làm hoạt động tư vấn. Hoạt độngtư vấn đầu tư có thể mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho nhà đầu tư, nhưng cũng có thể dẫn họ đến những hậu quả xấu, thậm chí là phá sản. Vì vậy, yêu cầu chuyên môn đạo đức, nghề nghiệp của những nhà tư vấn thường đòi hỏi rất cao để đảm bảo cho hiệu quả của việc áp dụng pháp luật chứng khoán trong kinh doanh chứng khoán cũng như hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán Có thể thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả áp dụng pháp luật về KDCK. Để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc áp dụng pháp luật về kinh doanh chứng khoán cần có sự kết hợp đồng bộ giữa các yếu tố khác nhau. Việc nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về KDCK có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của TTCK Việt Nam. C – KẾT LUẬN Thực tế, hiện nay, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, một nhà đầu tư không được mở nhiều tài khoản, không được mua bán cùng phiên, thị trường còn nhiều hạn chế trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính, những sản phẩm phát sinh cung cấp công cụ bảo vệ cho những khoản đầu tư chưa được triển khai. Vì thế, việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh chứng khoán là việc hết sức cần thiết nhằm tạo nên những quy định cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu hơn tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể KDCK trong quá trình áp dụng pháp luật kinh doanh chứng khoán. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Luật chứng khoán Việt Nam – Trường đại học Luật Hà Nội Luật chứng khoán 2010 MỤC LỤC A – LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………….….……….…1 B – NỘI DUNG…………………………………………………………….…..……1 I, MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN………………………………………………………………………………………1 1, Khái niệm kinh doanh chứng khoán……………………………………..…….1 2, Khái niệm về pháp luật kinh doanh chứng khoán………………………...…2 3, Các chủ thể kinh doanh chứng khoán và các nghiệp vụ KDCK…………..3 II, THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CHỦ THỂ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN……………………………..4 1, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động môi giới chứng khoán…....4 2. Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động tự doanh chứng khoán…...5 3, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán…………………………………………………………………………………………64, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán và tư vấn tài chính……………………………………………………………………….…7 5, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động lưu ký chứng khoán………8 6, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán…………………………………………………………………………………9 7, Pháp luật kinh doanh chứng khoán trong hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán………………………………………………………………………………………….9 III. Một số đánh giá, nhận xét về thực tiễn áp dụng pháp luật KDCK của các chủ thể KDCK……………………………………………………………………………….9 Thực tiễn áp dụng pháp luật KDCK của các chủ thể KDCK với những thành tựu đạt được và hạn chế tồn tại………………………………..…10 2, Một số phương hướng hoàn thiện nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật KDCK của các chủ thể KDCK………………………………………………………..…11 C – KẾT LUẬN………………………………………………………...….13

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThực tiễn áp dụng pháp luật kinh doanh chứng khoán của các chủ thể kinh doanh chứng khoán hiện nay – đánh giá và nhận xét.doc
Luận văn liên quan