Thực trạng và giải pháp để nâng cao việc quản lý rác thải trên địa bàn Hà Nội

Lời cảm ơn Chuyên đề tốt nghiệp với đề tài “Quản lý rác thải trên địa bàn Hà Nội” là kết quả của quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu trong suốt thời gian thực tập tại cục quản lý chất thải và cải thiện môi trường. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa, các anh chị trong phòng quản lý chất thải rắn của cục quản lý chất thải và cải thiện môi trường đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này. Mục lục Lời mở đầu Chương I : Cơ sở lý luận quản lý rác thải I. Khái niệm chung về quản lý môi trường 1.1. Khái niệm quản lý môi trường 1.2. Mục tiêu quản lý môi trường 1.3. Nội dung quản lý môi trường II. Quản lý rác thải 2.1. Khái niệm rác thải 2.2. Phân loại rác thải 2.3. Khái niệm quản lý rác thải 2.4. Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước trong quản lý rác thải 2.5. Các công cụ kinh tế sử dụng cho quản lý rác thải III. Các mô hình quản lý rác thải 3.1. Mô hình PLRTN 3.2. Mô hình quản lý dựa vào cộng đồng IV. Đánh giá hiệu quả mô hình PLRTN Tiểu kết chương I Chương II : Hiện trạng rác thải đô thị thành phố Hà Nội I. Giới thiệu chung về Hà Nội 1.1. Đặc điểm tự nhiên của Hà Nội 1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội II. Nguồn gốc, khối lượng, thành phần rác thải Hà Nội 2.1. Nguồn gốc phát sinh 2.2. Khối lượng rác thải 2.3. Thành phần rác thải III. Thực trạng quản lý rác thải Hà Nội 3.1. Cơ quan quản lý rác thải đô thị 3.2. Công tác thu gom 3.3. Công tác vận chuyển 3.4. Phí thu gom rác thải 3.5. Tình hình xử lý rác thải 3.6. Vấn đề xã hội hóa thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải ở Hà Nội IV. Xử lý rác thải tại bãi Nam Sơn - Sóc Sơn bằng kỹ thuật chôn lấp 4.1. Tổng quan khu liên hiệp xử lý chất thải Nam Sơn 4.2. Khu chôn lấp hợp vệ sinh rác thải đô thị 4.3. Quy trình quản lý và vận hành bãi 4.4. Nhận xét về công tác xử lý rác thải bằng chôn lấp tại bãi Nam Sơn Tiểu kết chương II Chương III : Đánh giá về công tác quản lý rác thải trên địa bàn Hà Nội I.Đánh giá hiệu quả tài chính của công tác thu gom, vận chuyển rác thải 1.1. Chi phí tài chính của công tác thu gom và vận chuyển rác thải 1.2. Xác định số thu phí vệ sinh 1.3. Hiệu quả tài chính của công tác thu gom, vận chuyển rác thải II.Đánh giá đầy đủ lợi ích xã hội và môi trường của công tác thu gom, vận chuyển rác thải 2.1. Lợi ích thực đối với dân cư 2.2. Những lợi ích từ công tác quản lý rác thải III. Vấn đề xử lý rác thải Tiểu kết chương III Chương IV : Các giải pháp cho công tác quản lý rác thải trên địa bàn Hà Nội I. Mục tiêu của chiến lược quản lý rác thải tại Hà Nội II. Giải pháp về tổ chức quản lý rác thải III. Giải pháp về công tác vận chuyển IV. Giải pháp nhằm giảm lượng rác thải 4.1. Các công cụ kinh tế 4.2. Các công cụ pháp lý 4.3. Thu hồi, tái chế rác thải 4.4. Giải pháp giáo dục, tuyên truyền VI. Giải pháp về phương pháp xử lý Tiểu kết chương IV Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục

doc62 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 10/01/2013 | Lượt xem: 3807 | Lượt tải: 26download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng và giải pháp để nâng cao việc quản lý rác thải trên địa bàn Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời cảm ơn Chuyên đề nghiên cứu khoa học với đề tài “ Thưc trạng và giải pháp để nâng cao việc quản lý rác thải trên địa bàn Hà Nội” là kết quả của quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy …………….. đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này. Do còn hạn chế về trình độ và thời gian nên đề tài vẫn còn có nhiều thiếu sót và nghiên cứu chưa được đầy đủ,chúng tôi rất mong được sự chỉ bảo của các thầy cô và bạn bè để có thể hoàn thiện hơn những nhận định của mình. Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện, không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác, nếu sai phạm chúng tôi xin chịu kỷ luật với nhà trường. Mục lục Lời mở đầu Chương I : Cơ sở lý luận quản lý rác thải I. Khái niệm chung về quản lý môi trường 1.1. Khái niệm quản lý môi trường 1.2. Mục tiêu quản lý môi trường 1.3. Nội dung quản lý môi trường II. Quản lý rác thải 2.1. Khái niệm rác thải 2.2. Phân loại rác thải 2.3. Khái niệm quản lý rác thải 2.4. Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước trong quản lý rác thải 2.5. Các công cụ kinh tế sử dụng cho quản lý rác thải III. Các mô hình quản lý rác thải 3.1. Mô hình PLRTN 3.2. Mô hình quản lý dựa vào cộng đồng IV. Đánh giá hiệu quả mô hình PLRTN Tiểu kết chương I Chương II : Hiện trạng rác thải đô thị thành phố Hà Nội I. Giới thiệu chung về Hà Nội 1.1. Đặc điểm tự nhiên của Hà Nội 1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội II. Nguồn gốc, khối lượng, thành phần rác thải Hà Nội 2.1. Nguồn gốc phát sinh 2.2. Khối lượng rác thải 2.3. Thành phần rác thải III. Thực trạng quản lý rác thải Hà Nội 3.1. Cơ quan quản lý rác thải đô thị 3.2. Công tác thu gom 3.3. Công tác vận chuyển 3.4. Phí thu gom rác thải 3.5. Tình hình xử lý rác thải 3.6. Vấn đề xã hội hóa thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải ở Hà Nội IV. Xử lý rác thải tại bãi Nam Sơn - Sóc Sơn bằng kỹ thuật chôn lấp 4.1. Tổng quan khu liên hiệp xử lý chất thải Nam Sơn 4.2. Khu chôn lấp hợp vệ sinh rác thải đô thị 4.3. Quy trình quản lý và vận hành bãi 4.4. Nhận xét về công tác xử lý rác thải bằng chôn lấp tại bãi Nam Sơn Tiểu kết chương II Chương III : Đánh giá về công tác quản lý rác thải trên địa bàn Hà Nội I.Đánh giá hiệu quả tài chính của công tác thu gom, vận chuyển rác thải 1.1. Chi phí tài chính của công tác thu gom và vận chuyển rác thải 1.2. Xác định số thu phí vệ sinh 1.3. Hiệu quả tài chính của công tác thu gom, vận chuyển rác thải II.Đánh giá đầy đủ lợi ích xã hội và môi trường của công tác thu gom, vận chuyển rác thải 2.1. Lợi ích thực đối với dân cư 2.2. Những lợi ích từ công tác quản lý rác thải III. Vấn đề xử lý rác thải Tiểu kết chương III Chương IV : Các giải pháp cho công tác quản lý rác thải trên địa bàn Hà Nội I. Mục tiêu của chiến lược quản lý rác thải tại Hà Nội II. Giải pháp về tổ chức quản lý rác thải III. Giải pháp về công tác vận chuyển IV. Giải pháp nhằm giảm lượng rác thải 4.1. Các công cụ kinh tế 4.2. Các công cụ pháp lý 4.3. Thu hồi, tái chế rác thải 4.4. Giải pháp giáo dục, tuyên truyền VI. Giải pháp về phương pháp xử lý Tiểu kết chương IV Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Giải nghĩa từ viết tắt STT  Từ viết tắt  Tiếng Anh  Tiếng Việt   1  MT & ĐT   Môi trường và đô thị   2  ĐHKTQD   Đại học kinh tế quốc dân   3  ĐTM   Đánh giá tác động môi trường   4  URENCO  Urban environment enterprise  Công ty môi trường đô thị   5  JICA  The Japan International Cooperation Agency  Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản   6  NCKT   Nghiên cứu khả thi   7  ODA  Officical Development Assistant  Nguồn vốn hỗ trợ từ bên ngoài   8  OECD  Organisation for Economic Cooperation and Development  Các nước công nghiệp phát triển   9  PPP  Polluter Pays Principle  Người gây ô nhiễm phải trả tiền   10  BPP  Buyer Pays Principle  Người hưởng lợi phải trả tiền   Lời mở đầu Rác thải là sản phẩm tất yếu của cuộc sống được thải ra từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác như khám chữa bệnh, vui chơi giải trí của con người. Cùng với mức sống của nhân dân ngày càng được nâng cao và công cuộc công nghiệp hóa ngày càng phát triển sâu rộng, rác thải cũng được tạo ra ngày càng nhiều với những thành phần ngày càng đa dạng và phức tạp. Tác động tiêu cực của rác thải nói chung và rác thải có chứa các thành phần nguy hại nói riêng là rất rõ ràng nếu như loại rác thải này không được quản lý và xử lý theo đúng kỹ thuật môi trường. Xử lý rác thải đã và đang trở thành một vấn đề nóng bỏng ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trong công tác quản lý rác thải đô thị nói chung, quản lý rác thải đô thị Hà Nội nói riêng, vấn đề môi trường vẫn chưa được người dân nhìn nhận đánh giá một cách đúng đắn. Mọi người dân vẫn được hưởng không khí trong lành, được hưởng các các dịch vụ làm sạch môi trường như hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải do mình thải ra môi trường mà không phải trả hoặc trả một khoản tiền không tương xứng nên mọi người không có ý thức giữ gìn, coi trọng và bảo vệ môi trường. Rác thải được thải ra ngày càng nhiều, rác được vứt bừa bãi không đúng nơi quy định và việc xử lý rác thải vẫn chưa triệt để. Công tác quản lý rác thải vẫn do Nhà nước chịu trách nhiệm và người dân được hưởng những dịch vụ này vô điều kiện. Vấn đề rác thải và xử lý rác thải trở thành một vấn đề bức xúc đối với nước ta nói chung và với thủ đô Hà Nội nói riêng. Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu khoa học: “Thưc trạng và giải pháp để nâng cao việc quản lý rác thải trên địa bàn Thành phố Hà Nội. ” Đối tượng của đề tài là quản lý rác thải. Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi thành phố Hà Nội. Mục tiêu của đề tài là: - Nêu ra thực trạng của việc quản ký rác thải trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Giải pháp để nâng cao việc quản lý rác thải trên địa bàn thành phố Hà Nội. Dựa trên các tư liệu, số liệu thống kê tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài bằng phương pháp duy vật biện chứng là chủ đạo với một số phương pháp cụ thể sau : - Phương pháp thu thập tài liệu. - Phương pháp kế thừa các kết quả có sẵn. - Phương pháp phân tích tổng hợp, hệ thống hóa thông tin. - Phương pháp phân tích dự án đầu tư. Từ đó đề tài nêu lên thực trạng của công tác quản lý rác thải trên địa bàn, dự báo được lượng rác thải trong tương lai gần và đề xuất một số giải pháp cho công tác quản lý. Đi sâu vào nhiệm vụ đề tài để hoàn thành với 4 chương : - Chương I : Cơ sở lý luận quản lý rác thải. - Chương II : Hiện trạng rác thải của thành phố Hà Nội. - Chương III : Đánh giá về công tác quản lý rác thải trên địa bàn Hà Nội. - Chương IV : Các giải pháp cho công tác quản lý rác thải trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương I Những vấn đề lý luận chung I. Khái niệm chung về quản lý môi trường 1.1. Khái niệm quản lý môi trường Sự quản lý môi trường là một tất yếu khách quan nhằm giữ gìn và bảo vệ môi trường và cũng chính là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta. “Quản lý môi trường là bằng mọi biện pháp thích hợp tác động và điều chỉnh các hoạt động của con người nhằm làm hài hoà các mối quan hệ giữa phát triển và môi trường sao cho vừa thoả m•n nhu cầu của con người vừa đảm bảo được chất lượng của môi trường và không quá khả năng chịu đựng của hành tinh chúng ta”. 1.2. Mục tiêu quản lý môi trường Thực chất của quản lý môi trường là quản lý con người trong các hoạt động phát triển và thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của hệ thống môi trường. Mục tiêu chung, lâu dài và nhất quán của quản lý môi trường là nhằm góp phần tạo lập sự phát triển bền vững. 1.3. Nội dung quản lý môi trường - Quản lý môi trường được tiến hành ở cả cấp vĩ mô (quản lý Nhà nước) và cấp vi mô (doanh nghiệp, hộ gia đình) gồm các nội dung sau : - Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường. - Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường. - Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường. - Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường. - Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ sở sản xuất, kinh doanh. - Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường. - Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. - Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường, giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường. - Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. II. Quản lý rác thải 2.1. Khái niệm rác thải Chất thải là chất được loại ra trong quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người hoặc các hoạt động khác. Dựa theo nguồn gốc hình thành chất thải bao gồm : Chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp, chất thải y tế, chất thải sinh hoạt… Chất thải sinh hoạt thường được gọi là rác thải. Rác thải sinh hoạt là các rác thải liên quan đến hoạt động của con người ở các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các cửa hàng dịch vụ, thương mại, du lịch… 2.2. Phân loại rác thải Việc phân loại rác thải nhằm mục đích tuỳ theo yêu cầu mà quản lý tốt hơn các chất thải. Tuy nhiên việc phân loại này chỉ có tính chất tương đối. 2.2.1. Phân loại theo bản chất nguồn hình thành chất thải có các loại : - Rác thải thực phẩm bao gồm thức ăn thừa, rau quả… các loại chất này mang bản chất dễ bị phân huỷ sinh học, quá trình phân hủy tạo ra các mùi khó chịu, đặc biệt trong thời tiết nóng ẩm. Ngoài các loại thức ăn thừa từ gia đình, còn có thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn, ký túc xá, chợ… - Rác thải đường phố : là các rác thải có thành phần chủ yếu là lá cây, que, củi, nilon, vỏ bao gói. 2.2.2. Phân loại theo thành phần hoá học và vật lý Người ta phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo… 2.3. Khái niệm quản lý rác thải Cuộc sống của con người luôn tạo ra rác thải, từ các hoạt động ăn uống hàng ngày cũng như trong các sinh hoạt bình thường sử dụng các vật dụng. Khi dân số tăng cao, lượng rác thải ra cũng tăng lên ngày càng nhiều và gây ra những tác động đến môi trường. “Quản lý rác thải là làm sao để các chất có thể gây ô nhiễm môi trường không lan truyền ra khí quyển, thuỷ quyển, thạch quyển”. Việc quản lý chất thải phụ thuộc vào bản chất của quá trình sản xuất, đặc trưng của chất thải, tính chất của các chất gây ô nhiễm nằm trong chất thải. Quản lý chất thải với ý nghĩa quản lý các chất gây ô nhiễm được thực hiện bởi sơ đồ sau : Hình 1.1: Sơ đồ quản lý các chất gây ô nhiễm 2.4. Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước trong quản lý rác thải Hình 1.2: Sơ đồ hệ thống quản lý chất thải : Nguồn: Báo cáo công tác quản lý chất thải rắn đô thị thành phố Hà Nội 2.5. Các công cụ kinh tế được sử dụng trong quản lý rác thải Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ choc kinh tế để tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất có lợi cho môi trường. Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường gồm: * Thuế và phí môi trường. * Giấy phép chất thải có thể mua bán được. * Ký quỹ môi trường. * Trợ cấp môi trường. * Nh•n sinh thái. Việc sử dụng các công cụ kinh tế trên ở các nước cho thấy một số tác động tích cực như các hành vi môi trường được thuế điều chỉnh một cách tự giác, các chi phí của xã hội cho công tác bảo vệ môi trường có hiệu quả hơn, khuyến khích việc nghiên cứu triển khai kỹ thuật công nghệ có lợi cho bảo vệ môi trường, gia tăng nguồn thu nhập phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy trì tốt giá trị môi trường của quốc gia. 2.6. Các phương pháp xử lý rác thải Rác thải sinh hoạt tuỳ từng mục đích và điều kiện mà có các cách xử lý khác nhau. 2.6.1. Phương pháp chế biến rác thải thành phân compost . Chế biến rác thải thành phân compost là một quá trình ủ rác mà trong đó các chất thối rữa chuyển hoá về mặt sinh học trong chất thải rắn biến chúng thành phân hữu cơ gọi là compost. Quá trình này đòi hỏi đảm bảo vệ sinh tốt, triệt để ngăn ngừa các sinh vật gây bệnh bằng cách sử dụng nhiệt phân huỷ sinh học và chất kháng sinh do nấm tạo ra. Các thành phần chất thải thích hợp để ủ bao gồm các chất thải hữu cơ từ bếp, vườn tược, giấy loại, rác rưởi trên đường phố, rác thải ở các chợ, rác, bùn cống, các chất thải hữu cơ từ công nghiệp thực phẩm, chất thải từ công nghiệp gỗ và giấy, phân chuồng động vật nuôi. Việc ủ phân không được thuận lợi nếu các thành phần này dưới 30% tổng số chất thải hoặc nếu độ ẩm lớn hơn 40%- 50%. Sản phẩm thu được phục vụ cho nông lâm nghiệp, vừa có tác dụng cải tạo đất tăng năng suất cây trồng mà không bị nhiễm hóa chất tồn dư trong quá trình sinh trưởng. Tại Việt Nam nếu phát triển phương pháp này sẽ góp phần giải quyết tình trạng thiếu phân bón do không đủ kinh phí nhập khẩu. Chi phí sản xuất 8 – 10 USD/tấn, chu trình sản xuất dài khoảng 2 tháng và diện tích xây dựng nhà máy khoảng 5 ha cho công suất 100.000 tấn/năm. 2.6.2. Phương pháp đốt Đốt rác là “quá trình kỹ thuật sử dụng quá trình đốt bằng ngọn lửa có điều khiển nhằm phân huỷ các chất thải bằng nhiệt”. Chất bã còn lại của quá trình cháy và khí thải ra thường phải tiếp tục được xử lý. Nhiệt phát sinh trong quá trình này được thu hồi và sử dụng cho các mục đích khác nhau. Công nghệ đốt rác có ưu điểm ít gây ra nguy cơ làm nước ngầm bị nhiễm bẩn. Quá trình đốt rác làm giảm đáng kể khối lượng rác chôn lấp. Tuy nhiên công nghệ đốt là quá trình cần phải có vốn đầu tư ban đầu cũng như chi phí vận hành khá lớn, dễ vượt quá khả năng của hầu hết các thành phố ở các nước đang phát triển. Do đó công nghệ đốt rác chủ yếu được chấp nhận ở các nước công nghiệp hoá vì sẽ làm giảm bớt nhu cầu về mặt bằng đất đai. Đối với các nước đang phát triển việc đốt rác chủ yếu được áp dụng với các chất thải y tế và công nghiệp độc hại. 2.6.3. Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát phân huỷ chất thải trong đất bằng cách chôn nén chặt và phủ lấp bề mặt. Chất thải rắn đọng lại trong chôn lấp bị tan rữa ra về mặt hoá học và sinh học rồi tạo ra các chất rắn, lỏng, khí. Chi phí để vận hành bãi chôn lấp hợp vệ sinh là tương đối thấp so với phương pháp đốt, do đó phương pháp xử lý rác bằng chôn lấp hợp vệ sinh thường được áp dụng đối với các nước đang phát triển. Tuy nhiên việc vận hành bãi chôn lấp phải được kiểm tra, xử lý thường xuyên độ nguy hại của rác thải, khí và nước rác được tạo ra trong quá trình xử lý để tránh nguy hại cho môi trường và con người. 2.6.4. Các công nghệ khác Ngoài 3 công nghệ chủ yếu trên rác thải còn được xử lý bằng phương pháp tạo khí ga, hóa rắn để làm vật liệu xây dựng, trung hòa, chưng cất. III. Các mô hình quản lý rác thải 3.1. Mô hình phân loại rác tại nguồn Sự khác biệt của mô hình này so với các mô hình khác là: phương pháp thực hiện tránh phân loại nhầm lẫn, nơi đổ rác hay thu gom rác tại khu dân cư và tính từng bước. Rác thải hiện nay đang là một vấn đề nan giải của xã hội và môi trường, phân loại rác thải tại nguồn nếu được thực hiện tốt sẽ làm giảm chi phí, tạo thuận lợi cho quá trình xử lý, tái chế và làm giảm tác động tới môi trường. * Phân biệt hai loại rác: rác hữu cơ và rác vô cơ. * Thùng rác hộ gia đình: mỗi gia đình cần trang bị thùng rác hai ngăn, hoặc hai thùng rác riêng biệt để phân loại hai loại rác trên. * Xe thu gom rác: xe thu gom rác cũng nên có hai ngăn tách biệt để chứa hai loại rác hữu cơ, vô cơ. * Nhà máy chế biến rác: rác sau khi được thu gom được vận chuyển tới nhà máy chế biến rác thải. 3.2. Mô hình quản lý dựa vào cộng đồng Là mô hình trực tiếp tác động và có ảnh hưởng đến môi trường của chính mình, những hoạt động do cộng đồng thực hiện có thể làm cho môi trường trở nên trong lành, tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế xã hội, nhưng cũng có thể làm cho môi trường bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Trước tiên, cần thực hiện một số chương trình tuyên truyền, phổ biến các mô hình bảo vệ môi trường, mô hình HTX quản lý môi trường dựa vào cộng đồng với những gợi ý, quy định về áp dụng khuôn mẫu chung cho việc xây dung mô hình HTX dựa vào cộng đồng. Sau đó, tiến hành xây dựng và thực hiện chương trình nâng cao nhận thức cho mọi cán bộ, xã viên HTX, kết hợp với các chương trình thực tiễn xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người để có thể phát huy được quyền tự chủ của mình khi tham gia bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên. IV. Đánh giá hiệu quả mô hình PLRTN Trước tiên, có thể thấy mô hình PLRTN đã đem lại những hiệu quả về mặt môi trường, đó là việc giảm mùi tỏa ra từ hầm chứa rác do rác hữu cơ phân hủy, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt và sức khỏe của người dân Thứ hai, mô hình đã đem lại những hiệu quả về kinh tế. Phí rác thải bình thường mỗi người dân sẽ phải trả theo quy định của thành phố Hà Nội là 6000 đồng/người/quý. Nhưng hiện tại, do công tác phân loại rác thải được thực hiện tốt, phí thu gom rác thải đã giảm xuống chỉ còn 4000 đồng/người/quý. Nếu công tác phân loại rác tốt hơn, đặc biệt là nếu mô hình được nhân rộng trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội thì kinh phí này còn giảm xuống nữa.Đây thực sự là một tín hiệu tốt cho công tác PLRTN, phần kinh phí thu gom được giảm bớt đã góp phần động viên người dân tích cực tham gia vào công tác PLRTN. Thứ ba, nhận thức của người dân trong công tác bảo vệ môi trường được nâng cao rõ rệt thông qua việc tuyên truyền, hướng dẫn người dân tham gia trực tiếp vào quá trình phân loại rác thải sinh hoạt. Một thành công khác là hoạt động PLRTN đã trở thành một tiêu chí để xét bình gia đình văn hóa của các hộ dân. Tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ nhỏ các hộ gia đình thực hiện chưa tốt vì có sự thay đổi nhân khẩu, sử dụng các túi rác có màu sai quy định, phân loại sai … một số túi đựng rác bị bục, rách. Tiểu kết chương I Sự phát sinh và loại bỏ chất thải đô thị đang trở thành vấn đề nan giảI ở nhiều quốc gia trên thế giới. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa là một tất yếu của mọi nền kinh tế hướng tới một trình độ phát triển kinh tế – xã hội cao hơn, cùng với quá trình này là sự gia tăng không ngừng của chất thải đô thị. Thực tế này cũng đã và đang xảy ra ở các đô thị lớn của Việt Nam mà điển hình là Hà Nội. Vì thế, cần nghiên cứu những khía cạnh kinh tế liên quan tới quá trình phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải. Quản lý chất thải là một vấn đề xã hội lớn đòi hỏi không những phải thiết lập những khuôn khổ pháp lý làm cơ sở cho việc hoàn thiện các thể chế và quy định của Chính phủ về quản lý chất thải, mà còn yêu cầu có sự tham gia rộng rãi của cộng đồng và các tổ chức xã hội trong nỗ lực tạo ra một môi trường phát triển thịnh vượng và bền vững. Chương II Hiện trạng rác thải thành phố Hà Nội I. Giới thiệu chung về Hà Nội 1.1. Đặc điểm tự nhiên của Hà Nội 1.1.1. Vị trí địa lý Hà Nội nằm trong vùng châu thổ sông Hồng có độ nghiêng 0,30 theo hướng Tây Bắc - Đông Nam ở vĩ độ 20,530 đến 21,230 vĩ tuyến Bắc, 105,440 đến 106,020 kinh Đông.Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92km2. 1.1.2. Điều kiện tự nhiên Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa : Gió đông nam (mùa hè), gió đông bắc (mùa đông).Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 29,20C. Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt độ trung bình 15,20C. Về thủy văn,Hà Nội nằm cạnh sông Hồng và sông Đà, hai con sông lớn của miền Bắc. Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông này trên đất Việt Nam. Sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ, hợp lưu với dòng sông Hồng ở phía Bắc thành phố, khu vực huyện Ba Vì.Ngoài hai con sông lớn kể trên, qua địa phận Hà Nội còn nhiều con sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Nhuệ, sông Công, sông Cà Lồ với chiều dài 1250 km. Độ cao địa hình trung bình từ 6 - 9 m thấp hơn mực nước sông Hồng (mùa lũ lớn từ 12 - 13 m). Đây là một trở ngại lớn cho việc tiêu thoát nước của Hà Nội. Hà Nội có trên 100 ao, hồ, đầm trong đó nội thành có 16 hồ, tổng diện tích 592 ha chiếm 17% diện tích nội thành. Các ao hồ này ngoài việc tạo cảnh quan còn có tác dụng điều hoà khí hậu, nước mưa, nuôi thủy sản, tiếp nhận một phần nước thải và có khả năng tự sạch nhất định. Do sự phát triển đô thị quá mạnh mẽ trong hai thập niên 1990 và 2000, phần lớn các sông hồ Hà Nội hiện nay đều rơi vào tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Sông Tô Lịch, trục tiêu thoát nước thải chính của thành phố, hàng ngày phải tiếp nhận khoảng 150.000m3. Tương tự, sông Kim Ngưu nhận khoảng 125.000m3 một ngày. Đặc biệt, lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp này đều có hàm lượng hóa chất độc hại cao. Các sông mương nội và ngoại thành, ngoàI vai trò tiêu thoát nước còn phảI nhận thêm một phần rác thải của người dân và chất thải công nghiệp. Những làng nghề thủ công cũng góp phần gây nên tình trạng ô nhiễm này. Nước ngầm tầng sâu Hà Nội khá phong phú và là nguồn nước sạch chính cho sinh hoạt với khả năng khai thác 800.000 – 900.000 m3/ngày đêm. 1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội 1.2.1. Đất đai, dân số Ngày 29 tháng 5 năm 2008, với gần 93% đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội và các tỉnh, có hiệu lực từ 1 tháng 8 cùng năm. Theo nghị quyết, toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình được nhập về Hà Nội. Từ diện tích gần 1.000km2 và dân số khoảng 3,4 triệu người, Hà Nội sau khi mở rộng có diện tích 3.324,92km2 và dân số 6.232.940 người, nằm trong 17 thủ đô lớn nhất thế giới. 1.2.2. Tổ chức hành chính Sau những thay đổi về địa giới và hành chính năm 2008, Hà nội hiện có : 29 đơn vị hành chính cấp huyện : gồm 10 quận, 18 huyện, 1 thị xã. 577 đơn vị hành chính cấp xã : gồm 401 xã, 154 phường, 22 thị trấn 1.2.3. Tình hình kinh tế Thành phố Hà Nội, thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế, khoa học và kỹ thuật. Đồng thời đây cũng là trung tâm giao lưu quốc tế, thường xuyên tổ chức các đại hội, hội nghị trong nước và quốc tế. Hà Nội có nhiều truyền thống văn hóa và lâu đời, nhiều di tích lịch sử và các nhiều điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Sắp tới Hà Nội sẽ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu. Hà Nội là một trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoàI nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và 290 dự án. Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp. Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội. Năm 2003, với gần 300.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố. Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút gần 500.000 lao động, Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội. Mặc dù tốc độ phát triển kinh tế Hà Nội trong những năm trở lại đây là tương đối lớn nhưng vẫn còn nhiều khó khăn. Tốc độ đô thị hóa của Hà Nội phát triển rất mạnh mẽ tuy nhiên việc phát triển cơ sở hạ tầng vẫn còn chậm và chưa theo kịp. Hệ thống cơ sở hạ tầng vẫn còn nhiều những bất cập như hệ thống đường xá, giao thông và đặc biệt là công tác quản lý rác thải đô thị vẫn còn chưa triệt để từ khâu thu gom, vận chuyển đến xử lý. II. Nguồn gốc, thành phần, khối lượng rác thải Hà Nội 2.1. Nguồn gốc phát sinh rác thải * Rác thải của khu dân cư : Đây là nguồn thải chính của rác thải sinh hoạt. Hoạt động của con người hàng ngày luôn tạo ra một lượng rác thải nhất định rất đa dạng, phức tạp. Nó bao gồm các thực phẩm thừa, túi, bao bì các loại… Nguồn rác này luôn có xu hướng gia tăng và thay đổi về tỉ lệ các thành phần. * Rác thải của nhà hàng, khách sạn : Nguồn thải này bao gồm thức ăn thừa, chai lọ, đồ hộp, giấy, vải vụn… Nguồn rác thải này thường được thu gom bởi các xí nghiệp môi trường đô thị và một phần nhỏ được bán cho tư nhân làm thức ăn chăn nuôi. * Rác thải của các công sở, trường học, công trình công cộng : Nguồn thải này không gây nhiều tác động xấu tới môi trường do thành phần của nó không phức tạp lắm gồm giấy vụn, văn phòng phẩm … và được thu gom phần lớn bởi các xí nghiệp môi trường đô thị. * Rác thải từ các chợ : chiếm một lượng lớn rác thu gom. Rác thải này có thành phần phức tạp, bao gồm rau quả, các loại bao bì, túi nilon, chai lọ… và tác động mạnh tới môi trường xung quanh. Lượng rác này có hàm lượng hữu cơ cao nên thường được sử dụng để ủ phân compost. * Rác thải sinh hoạt từ các bệnh viện : bao gồm rác thải của cán bộ công nhân viên bệnh viện, rác thải của người nhà bệnh nhân và rác thải từ bếp ăn. Lượng rác này cũng được thu gom cùng rác thải sinh hoạt của thành phố. 2.2. Khối lượng rác thải Tính trung bình lượng rác thải sinh hoạt theo đầu người dao động từ 0,4 - 0,6 m3/người/ngày. Tỉ trọng rác thải trung bình theo tính toán của URENCO là 0,416 tấn/m3. Bảng 2.1: Lượng rác thải đô thị của thành phố Hà Nội năm 2007. TT  Thành phần  Khối lượng (tấn/ngày)  Tỉ lệ (%)   1  Rác sinh hoạt (kể cả rác chợ và rác đường phố)  2800  58,82%   2  Rác xây dựng  1400  29,41%   3  Rác công nghiệp  462  9,7%   4  Rác bệnh viện  98  2,07%    Tổng  4760  100   Nguồn :Cục quản lý chất thải và bảo vệ môi trường năm 2008 Qua đó ta thấy lượng rác thải sinh hoạt chiếm tỉ lệ rất lớn 58,82% trong tổng lượng rác của thành phố. Hơn nữa đặc điểm nổi bật của loại rác này là phát sinh trên diện rộng trên khắp mọi ngõ ngách của thành phố. Điều này đòi hỏi chúng ta phải quản lý chặt chẽ lượng rác thải phát sinh từ khâu thu gom đến vận chuyển và xử lý. Dự báo rác thải để có một cách nhìn khái quát về lượng rác thải trong tương lai, từ đó có những kế hoạch quản lý cho phù hợp. Khối lượng rác thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : tỉ lệ tăng dân số, mức tăng trưởng kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật và vào dân trí môi trường… Dựa vào kết quả khảo sát và nghiên cứu thực trạng rác thải phát sinh của thành phố, đồng thời kết hợp với phương pháp dự báo ta có bảng sau : Bảng 2.2 : Dự báo lượng rác thải trong tương lai Năm  2010  2015  2020  2025   Khối lượng rác sinh hoạt (m3)  2.619.483  3.559.455  5.018.750  7.142.533   Nguồn : báo cáo tóm tắt công tác quản lý chất thải rắn đô thị Hà Nội 2.3. Thành phần rác thải Thành phần rác thải đô thị rất phức tạp, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hoá và tập quán sinh hoạt của người dân đô thị. Việc thu thập và tính toán thành phần rác thải có ý nghĩa rất lớn đối với việc đề xuất các biện pháp xử lý rác thải, giúp người quản lý lựa chọn được các công nghệ thu gom, vận chuyển và xử lý có hiệu quả. Bảng 2.3 : Thành phần rác thải của thành phố Hà Nội TT  Các thành phần cơ bản  Số liệu URENCO (2004) %  Số liệu JICA (2004) %  Các giải pháp xử lý   1  Chất hữu cơ (rau, quả, lá cây, thức ăn…)  50,27  47,51  Sản xuất phân vi sinh   2  Giấy  2,72  7,28  Tái chế hoặc đốt sinh nhiệt   3  Plastic, nilon, cao su, đồ da  0,71  7,47  Tái chế + đốt   4  Gỗ vụn, giẻ rách  6,27  1,92  Sản xuất phân   5  Xương, vỏ trai, ốc  1,06  0,96  Chôn lấp   6  Gạch, đá sỏi, bê tông, xỉ than, đất…  7,43  4,41  Chôn lấp + chế biến phân vi sinh   7  Thuỷ tinh  0,31  0,77  Tái chế   8  Kim loại, vỏ hộp  1,02  0,38  Tái chế   9  Các tạp chất nhỏ khó phân loại  30,21  29,32  Chôn lấp + chế biến vật liệu xây dựng   Độ PH trung bình : 6,5 – 7 Độ ẩm (RH) : 60 - 67% Tỷ trọng : 0,38 - 0,416 tấn/m3   Nguồn : Báo cáo tóm tắt công tác quản lý chất thải đô thị TP Hà Nội – 8/2005 Thành phần rác thải sẽ thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, trình độ công nghệ, khả năng tái chế, tái sử dụng chất thải, nhu cầu của dân cư, tập quán sinh hoạt…Khi mức sống của dân cư được nâng cao thì thành phần rác thải sẽ tăng tỉ lệ những rác thải có thể tái sinh, tái sử dụng. Để dự báo thành phần rác thải đô thị Hà Nội căn cứ trên những yếu tố: - Phân tích các số liệu thống kê về chất thải rắn đô thị ở Việt Nam trong những năm gần đây. - Tham khảo các số liệu về chất thải rắn đô thị của các nước trong khu vực có đặc điểm về tự nhiên, tập quán, … và ở giai đoạn phát triển kinh tế tương tự như ở Việt Nam hiện nay. - Dự báo khí hậu của Tổng cục khí tượng thuỷ văn. - Tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hoá thủ đô. - Mức sống của dân cư khu vực và xu hướng thị hiếu hàng hóa của người tiêu dùng Bảng 2.4 : Dự báo thành phần rác thải trong tương lai của Hà Nội TT  Thành phần chất hữu cơ  Tỉ lệ  Năm 2011-2020   1  Chất hữu cơ  %  45   2  Giấy  %  8,2   3  Chất dẻo, cao su  %  7,8   4  Gỗ mục, giẻ rách  %  5   5  Gạch vụn, sỏi đá  %  5,8   6  Thuỷ tinh  %  3,0   7  Xương, vỏ trai  %  1,5   8  Kim loại, vỏ đồ hộp  %  3,7   9  Tạp chất  %  20,0   10  Độ PH  %  6 - 7   11  Độ ẩm  %  60   12  Tỷ trọng  Tấn/m3  0,4   Nguồn : báo cáo tóm tắt công tác quản lý chất thải đô thị TP Hà Nội Qua đó ta thấy thành phần chất hữu cơ giảm dần theo thời gian, còn các thành phần có thể tái chế được như giấy, kim loại, chất dẻo, cao su lại có xu hướng tăng lên theo thời gian. Đó là do khi đô thị càng phát triển, mức sống của người dân được nâng lên thì thành phần chất hữu cơ sẽ giảm đi, mọi người có xu hướng sử dụng ngày càng nhiều các thành phần mang tính chất công nghiệp hiện đại hơn. III. Thực trạng mô hình quản lý rác thải Hà Nội 3.1. Cơ quan quản lý rác thải đô thị Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một trong những đô thị phát triển của cả nước. Hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về rác thải đô thị cũng tuân theo mô hình quản lý chung của cả nước. Theo mô hình ở phần trên ta thấy các công ty Môi trường đô thị là đơn vị trực tiếp quản lý công tác quản lý rác thải đô thị. Công ty Môi trường đô thị Hà Nội là đơn vị quản lý rác thải đô thị thành phố Hà Nội. Đây là một doanh nghiệp công ích hoạt động trong lĩnh vực vệ sinh môi trường. Các đơn vị trực thuộc công ty bao gồm : - 5 xí nghiệp môi trường đô thị chịu trách nhiệm thu gom và vận chuyển rác thác trên địa bàn các quận được phân công quản lý. - 2 đoàn xe cơ giới, 1 đoàn xe chịu trách nhiệm tưới rửa đường và bơm phân xí máy, 1 đoàn xe chịu trách nhiệm vận chuyển đất và chất thải xây dựng. - 1 xí nghiệp cơ khí dịch vụ có nhiệm vụ sửa chữa lớn, bảo dưỡng các thiết bị vận tải và vệ sinh chuyên dùng. - 1 xí nghiệp đốt rác bệnh viện. - 1 xí nghiệp quản lý bãi chôn lấp Nam Sơn. - 1 xí nghiệp chế biến chất thải thành phân compost: Cầu Diễn. - 1 trung tâm tư vấn kỹ thuật môi trường. 3.2. Công tác thu gom rác thải Hiện nay trên địa bàn thành phố Hà Nội tồn tại song song hai lực lượng thu gom rác thải sinh hoạt. - Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội và các xí nghiệp Môi trường Đô thị các quận, huyện là các đơn vị được giao nhiệm vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải thành phố. - Lực lượng tư nhân bao gồm các hợp tác xã, các tổ vận chuyển và những người các thể tham gia một cách tự phát vào quá trình thu gom và vận chuyển rác thải. Hàng ngày các xí nghiệp Môi trường đô thị sẽ tiến hành thu gom rác ở các nhà dân, các cơ quan xí nghiệp, trường học, nơi công cộng, rác thải sinh hoạt bệnh viện theo quy định và theo các đơn hợp đồng với các đơn vị. Công tác thu gom rác thải, vệ sinh do công nhân môi trường các xí nghiệp thực hiện bằng xe đẩy tay tập trung tới vị trí quy định để cẩu đổ vào các xe thùng cơ giới, xe container và chở tới bãi chôn lấp. Hàng ngày công nhân thu gom vào giờ quy định (18h30’) sẽ tiến hành thu gom rác nhà dân, Nhân dân đưa rác ra đổ vào các xe thu gom, hay đổ vào các điểm tập trung rác đã quy định vào buổi tối. Rác thải của các chợ thường được thu gom vào buổi sáng và tối. Rác được được công nhân thu gom chờ đến các chân điểm cẩu rác theo các tuyến xe. Tại các khu nhà cao tầng thường sử dụng các thùng chứa rác lớn các dung tích từ 6 - 8 m3 để thu gom phế thải. Sau đó các loại xe chuyên dùng sẽ vận chuyển các thùng này đến bãi chôn lấp Nam Sơn - Sóc Sơn. Bên cạnh đó còn có một lượng lớn công nhân làm công tác nhặt rác ngày trên các tuyến phố, trung bình cứ 2 người/km. Để đảm bảo duy trì vệ sinh đường phố, hàng ngày công nhân phải đảm nhiệm việc nhặt rác do dân đổ trộm ra đường. Do sự vô ý thức của người dân mà đã gây nên sự lãng phí nhân công lớn. Vấn đề này có thể được giải quyết nếu như người dân có ý thức hơn, đổ rác đúng nơi, đúng thời gian quy định. Công ty Môi trường đô thị Hà Nội thu gom được khoảng 1300 tấn/ngày. Phần còn lại được thu gom bởi những người thu mua đồng nát nhằm tái chế, còn lại số người dân tự đổ ra sông, mương, ao, hồ và được thu gom qua các kỳ tổng vệ sinh. Hình 2.1: Sơ đồ chung của quá trình thu gom. Nguồn: URENCO Công tác thu gom của lực lượng tư nhân bao gồm những người thu mua phế liệu và những người nhặt rác, những người thu gom thức ăn thừa. Các loại rác được thu gom bởi lực lượng này bao gồm các rác thải có khả năng tái chế như chai lọ, thuỷ tinh, vỏ đồ hộp… Những lực lượng này đã góp một phần quan trọng trong việc làm giảm rác thải đến khu xử lý, làm tăng lượng rác thải được tái chế, tái sử dụng. Đây là hoạt động mang lại lợi ích cho cả người thu gom và xã hội. Tuy nhiên những lực lượng này được hình thành một cách tự phát và chưa có một quy định nào để quản lý chặt chẽ. Theo điều tra của một số cơ quan trong nước và nước ngoài thì hiện nay ở Hà Nội có khoảng 6000 người thu mua phế liệu và nhặt rác. Mỗi ngày những người này thu gom được khoảng 180 - 268 tấn phế thải nghĩa là khoảng 15% - 22% tổng lượng rác phát sinh. 3.3. Công tác vận chuyển Công tác vận chuyển là một khâu trong quá trình quản lý rác thải. Rác thải sau khi thu gom phải được vận chuyển ngay đến nơi xử lý. Công ty có 200 xe chuyên dùng để vận chuyển rác thải dung tích từ 6 - 8 m3, các xe này đều có hệ thống thuỷ lực để nâng các xe gom rác đẩy tay hoặc các thùng rác nhỏ và trong đó có khoảng 70 xe có bộ phận nén ép rác. Phần lớn các xe đã qua sử dụng từ 8 - 10 năm. Các xe này được bàn giao cho các xí nghiệp môi trường tự quản lý và sử dụng. Các xí nghiệp tuỳ theo địa bàn mình quản lý mà bố trí các loại xe cho thích hợp. Mục tiêu của công tác vận chuyển : - Vận chuyển hết 100% lượng rác thu gom. - Rác không bị chờ quá lâu, rác được chở đi ngay sau khi thu gom. - Giảm tối đa chi phí vận chuyển. - Mỹ quan đường phố. Tuy nhiên có một vấn đề khó khăn cho công tác thu gom, vận chuyển rác thải là việc tìm các điểm thu thập rác từ các xe gom lên xe chở rác. Do phương tiện của ta còn lạc hậu nên trong quá trình cẩu rác thường có tiếng ồn lớn của động cơ xe, các mùi khó chịu từ rác bốc ra và việc rơi vãi rác, chảy nước rác ra đường trong quá trình nâng cẩu. Do đó người dân thường phản đối việc đặt các điểm cẩu rác gần nhà họ. Điều này khiến cho việc lựa chọn các điểm cẩu rác thường không tuân thủ các nguyên tắc đặt ra mà thường được tiến hành ở bất cứ nơi nào có thể được thậm chí ngay tại các vườn hoa hoặc các điểm nhạy cảm với môi trường. Nhiều năm trước đây rác thải của thành phố hàng ngày được Công ty Môi trường Đô thị thu gom và vận chuyển tới các bãi chôn lấp như Thuỵ Phương, Tây Mỗ. Hiện nay do bãi chôn lấp Tây Mỗ đã đóng bãi nên rác của thành phố Hà Nội sẽ vận chuyển lên bãi Nam Sơn. Vận chuyển lên bãi Nam Sơn được chia làm 2 phương án : * Phương án 1 : Toàn bộ chất thải được chuyển thẳng lên khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Nam Sơn. Theo phương án này công ty xin được đầu tư thêm xe, lái, phụ xe cùng với phương tiện hiện có của công ty đảm bảo đủ phương tiện vận chuyển. Tất cả rác thu gom được đi thẳng từ nội thành đi Nam Sơn. Tuyến vận chuyển : có 2 tuyến. - Tuyến 1 : Nội thành - Cầu Thăng Long - Nam Sơn : 61km. - Tuyến 2 : Nội thành - Cầu Chương Dương - Nam Sơn : 59 km. * Phương án 2 : Vận chuyển qua bãi Tây Mỗ để chế biến thành phân compost. Phương án này được tiến hành thực hiện từ giữa năm 2001. Tuy nhiên lượng rác chuyển qua trạm Tây Mỗ chỉ chiếm khoảng 1% và chủ yếu là lượng rác được thu gom từ các chợ. - Từ nội thành đến Tây Mỗ : 23 km - Tây Mỗ - Nam Sơn : 48 km. Quá trình thu và vận chuyển được thực hiện theo từng chuyến, mỗi chuyến thu gom và vận chuyển năng lực đạt khoảng 5 tấn/xe, trung bình được 10 tấn rác thải sinh hoạt. Tất cả các xe trong quá trình vận chuyển đều phải phủ bạt để tránh làm rơi vãi trong quá trình vận chuyển và chỉ tháo bạt khi đổ rác vào bãi thải. 3.4. Phí thu gom rác thải Xí nghiệp sẽ thu phí vệ sinh bằng biên lai thu phí do cục thuế phát hành với mức thuế quy định 1000đ/người/tháng. Thông thường việc thu phí được tiến hành hàng tháng, song một số địa bàn, một số hộ có thời gian làm việc bận rộn có thể tiến hành thu theo quý. Tuy nhiên theo báo cáo 6 tháng đầu năm 2005 việc thu phí chỉ đạt 74% tổng số dân 1 tháng, trung bình chỉ thu được 70 – 75%. Nguyên nhân của việc thất thu phí thì có nhiều nhưng có các nguyên nhân cơ bản sau : Dân trên địa bàn được phân chia thành các loại KT1, KT2, KT3, KT4. - KT1 là những người có hộ khẩu thường chú tại nơi ở thu được tỉ lệ lớn nhất. Có một phần nhỏ người dân chây lì không chịu đóng phí vệ sinh. - KT2 là những người chuyển khỏi địa bàn nhưng không chuyển hộ khẩu nên trên sổ quản lý họ vẫn thuộc địa bàn nhưng thực tế họ không đóng phí tại địa bàn đó. - KT3 là những dân từ các tỉnh khác về làm thêm trên thành phố, có cuộc sống, chỗ ở không ổn định cũng không thể thu phí được từ họ. - KT4 là những người thuộc diện khó khăn, phải trợ cấp từ chính quyền địa phương cũng không thu được phí. Công tác thu phí hiện nay còn rất khó khăn chưa thể giải quyết. Công ty chưa có những chức năng và quyền hạn cụ thể để buộc người dân phải đóng phí mà chỉ có thể tuyên truyền vận động mọi người chấp hành. Hiện nay, tổng số phí thu được có 77% nộp lên công ty để bù đắp cho ngân sách Nhà nước, còn 23% để lại các xí nghiệp dùng vào các công việc sau : - 4% chi cho các phường để sử dụng vào việc đôn đốc, kiểm tra, tuyên truyền. - 13% chi dùng cho cán bộ công nhân viên. - 4% chi thù lao cho nhân viên thu phí. - 2% cho chi phí quản lý như lương của 2 cán bộ quản lý, văn phòng phẩm, chi phí kiểm tra. 3.5. Tình hình xử lý rác thải 3.5.1. Chôn lấp rác Rác thải sinh hoạt sau khi được thu gom sẽ được vận chuyển đến khu chôn lấp. Phần lớn rác thải sinh hoạt hiện nay được xử lý bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh. Phương pháp chôn lấp trước đây, bây giờ và trong tương lai gần vẫn được coi là phương pháp chủ đạo. Bởi lẽ phương pháp này dễ vận hành, chi phí vừa phải và phù hợp với điều kiện nước ta còn nghèo, các công nghệ còn lạc hậu. Tuy nhiên với phương pháp này còn nhiều tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước ngầm, ô nhiễm đất. Hiện nay bãi rác Nam Sơn là bãi rác chính của thành phố Hà Nội, được quy hoạch trở thành khu xử lý rác chính của thành phố Hà Nội. Phần sau ta sẽ nói rõ hơn về vấn đề này. 3.5.2. Chế biến phân vi sinh Xí nghiệp chế biến phế thải Cầu Diễn thuộc công ty Môi trường Đô thị Hà Nội được thành lập từ 1996, có nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng công nghệ xử lý rác làm phân vi sinh. Công nghệ của nhà máy xử lý rác làm phân vi sinh theo phương pháp ủ đống tĩnh, thổi gió cưỡng bức với công suất thiết kế 30.000 m3/năm và xử lý khoảng 15.000 m3 chất thải/năm, đạt 1% tổng lượng chất thải đô thị phát sinh trong ngày, thu hồi được 7500 tấn phân phục vụ cho cây trồng. Lượng rác thải dùng để ủ phân là rác thu gom tại các chợ. Công nghệ này được thực hiện qua các công đoạn ở trong nhà có mái che nên đảm bảo không gây mùi. Công nghệ hầu như khôngphát sinh nước thải mà tận dụng được nước rác ở trong các nhà chế biến đưa quay vòng bể ủ lên men để bổ xung lượng ẩm. Công nghệ vừa giảm được diện tích chôn lấp vừa tiết kiệm được một khoản tiền cho chi phí chôn lấp . Tuy nhiên do chưa có sự phân loại tại nguồn nên nhà máy gặp nhiều khó khăn trong khâu phân loại. Rác thải chưa được phân loại nên chất lượng còn thấp và chi phí sản xuất là khá cao, khoảng 150.000 đ/ tấn. 3.5.3. Thiêu đốt rác Thiêu đốt rác có chi phí cao nhất so với các phương án trên và hiện nay chưa được sử dụng để xử lý rác thải sinh hoạt. Công nghệ này mới chỉ được áp dụng đối với rác thải nguy hại bệnh viện. 3.6. Vấn đề xã hội hóa thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải ở Hà Nội Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là chủ trương, định hướng chiến lược lớn, lâu dài Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng là một trong những giải pháp cơ bản để thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước. Hiểu một cách đơn giản, xã hội hóa trong công tác bảo vệ môi trường là nâng cao nhận thức về môi trường của cộng đồng và huy động các nguồn lực trong x• hội cũng như ban hành các chính sách, cơ chế, các điều kiện thuận lợi nhằm thực hiện các công tác bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng chủ yếu là thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải. Khi hoạt động quản lý chất thải được x• hội hóa sẽ đem lại nhiều lợi ích như: - Nguồn lực về con người và vật chất được thu hút, công tác quản lý chất thải sẽ có điều kiện phát triển, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước; tham gia giải quyết những khâu còn bất cập trong quản lý mà Nhà nước chưa có đủ điều kiện và khả năng làm tốt. - Khi việc cung ứng dịch vụ hạ tầng cho quản lý chất thải được xã hội hóa sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư xây dung, vận hành và khai thác, hạn chế được thất thoát trong đầu tư xây dựng và cải thiện được chất lượng dịch vụ … - Tạo được sự năng động của xã hội trong quản lý chất thải, tăng cường tính tự lực và tính chủ động của cộng đồng, cùng nhau giải quyết các vấn đề môi trường xảy ra hàng ngày tại địa phương. - Tạo cơ hội việc làm, giảm bớt thất nghiệp ở địa phương. - Tạo môi trường xanh, sạch, đẹp mà mọi người dân đều được hưởng lợi, giảm thiểu các nguy cơ về tai biến lý, hóa, sinh do chất thải gây ra. Thực tế cho thấy, nhiều công việc không thể dựa hoàn toàn vào Nhà nước mà phải huy động thêm lực lượng của cộng đồng tham gia mới đạt hiệu quả cao.Việc xã hội hóa nhằm huy động cộng đồng dân cư tích cực tham gia vào các hoạt động công ích, góp phần hạn chế các tệ nạn tham nhũng, quan liêu. Mặt khác thông qua các hoạt động này giúp người dân thấy được vai trò và trách nhiệm của mình đối với môi trường, qua đó tạo ra những chuyển biến tích cực về thói quen và nếp sống thân thiện với môi trường. IV. Xử lý rác thải tại bãi Nam Sơn – Sóc Sơn bằng kỹ thuật chôn lấp 4.1. Tổng quan khu liên hiệp xử lý chất thải Nam sơn 4.1.1. Các điều kiện tự nhiên của khu liên hiệp Xã Nam Sơn là khu vực xây dựng khu liên hiệp có diện tích 100 ha, cách trung tâm Hà Nội khoảng 45 km về phía bắc. Phía bắc là các cụm dân cư với ngành nghề chủ yếu là nông nghiệp. Sông Công cách 2 km chảy qua phía Đông có các con rạch nhỏ tự nhiên chảy qua. Khu liên hợp nằm trong thung lũng đồi gò thấp, có độ cao từ +8,0 đến +40,0 m so với mực nước biển. Các đồi gò và đất ở đây khô cằn. Theo báo cáo khả thi của công ty Tư vấn và Cấp thoát nước và Môi trường Việt Nam thì địa chất ở khu vực này được chia làm 4 loại. Trừ lớp đất đầu tiên là nông nghiệp có độ dày 1 - 2 m, còn các lớp 2,3,4 là những lớp đất sét pha và sét, có tính biến dạng nhỏ, hệ số thấm nhỏ, chiều dày tổng cộng các lớp đất này là 8 - 13 m. Các lớp đất từ trên xuống như sau : - Lớp 1 : lớp thổ nhưỡng đất lấp bề dày 0,2 – 1 m. - Lớp 2 : lớp sét xen kẹp sét pha bề dày 2,4 – 10,2 m. - Lớp 3 : sét pha lẫn dăm sạn, bề day từ 3,5 – 10,4 m. - Lớp 4 : đá phiến phong hoá, bề dày của lớp chưa xác định, chiều sâu mặt lớp thay đổi từ 8,6 – 13,4 m. Trữ lượng nước ngầm tại đây rất nhỏ vì tầng chứa nước mỏng và ở sâu. Khu liện hiệp xử lý rác Nam Sơn nằm trong vùng đồi thấp, phần lớn là thung lũng, có hồ nhỏ và rạch nhỏ chảy qua để tiêu nước mưa và cấp nước sông cho các hồ ao nhỏ. Về mùa khô hầu hết các hồ ao và lạch đều khô cạn. Mực nước ngầm ở khu vực chân đồi là 2m và trên đồi là 7m. Mực nước mặt mùa mưa +8m đến +11,5m. 4.1.2. Các hạng mục chính của khu liên hiệp hiện nay - 5 ô chôn lấp số 1,2,3,4,5 trong đó ô 1,2,3 đ• đầy và tiến hành đóng bãi sơ bộ giai đoạn 1. - Hệ thống cân điện tử 30 tấn. - Trạm cấp nước sạch. - 3 trạm xử lý nước rác : 1 trạm xử lý sẵn có bằng phương pháp sinh học và 2 trạm xử lý khẩn cấp bằng phương pháp hoá học. - Hệ thống 3 hồ điều hoà : kị khí, hiếu khí, tuỳ tiện. - Đường ra vào bãi. - Khu hành chính và phụ trợ. - Khu xử lý chất thải công nghiệp hiện đang trong giai đoạn khởi công xây dựng ban đầu. Các hạng mục chính hiện nay chủ yếu là của khu chôn lấp. 4.1.3. Quy hoạch tổng thể khu liên hiệp Nam Sơn. Tổng diện tích đất dành cho các ô chôn lấp rác là 53,49 ha, có dung tích chứa rác khoảng 10,7 triệu m3, thời gian vận hành sử dụng khu chôn lấp là 21 năm, bao gồm các hạng mục : - Đường giao thông chính nối giữa 2 khu vực hành chính phía bắc và nam sẽ được mở rộng trên cơ sở của đường đê có sẵn của 3 ô chôn lấp giai đoạn 1. - Khu xử lý nước rác và hồ vi sinh có diện tích 4,1 ha nằm ở vị trí hồ Phú Thịnh hiện có. Nước qua hồ đảm bảo vệ sinh môi trường xả vào suối Lai Sơn. - Dải cây xanh 10m cách ly với bên ngoài của 2 khu công nghiệp và khu sản xuất phân vi sinh và dải cây xanh 20m đối với khu chôn lấp. - Đường vận chuyển rác thải vào khu xử lý chất độc hại công nghiệp và khu compost sẽ tận dụng đường hiện đ• xây dựng ở giai đoạn 1 và kéo dài đến khu compost. - Bố trí các khu chức năng và các công trình phụ trợ trong diện tích 83,4 ha bao gồm diện tích đất đã giao đợt 1 và đợt 2. - Khu xử lý chất thải độc hại công nghiệp có diện tích 5,15 ha. - Khu xử lý phân compost có diện tích 9,8 ha, công suất 685 – 700 tấn/ngày. - Khu đốt rác đô thị được bố trí ở phía nam diện tích 5,9 ha. - Ngoài đường vận chuyển phía đông bắc hiện nay dự kiến sẽ xây thêm tuyến đường phía nam nối từ đường 35 vào khu liên hiệp rộng 11,25 m, dài 2,4 km. * Khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Nam Sơn sẽ được xây dựng theo 2 giai đoạn, 2 khu vực. - Khu vực 1 (giai đoạn 1: 1998 – 2000) : diện tích xây dựng 14,388 ha, cao độ từ 15 – 25 m. Xây dựng 3 ô chôn lấp để đầu năm 1999 đưa các ô vào chôn lấp rác thải khi bãi Tây Mỗ đóng cửa. Đất xây dựng khu hành chính, đường vào khu chôn lấp, đất nắn suối, đất mở rộng đường liên xã. - Khu vực 2 ( giai đoạn 2 : 2000 – 2020) : có diện tích khoảng 74,32 ha gồm 8 ô chôn lấp cho giai đoạn 2, trạm xử lý nước rác (kể cả đê bao và đường bao) nằm trong thung lũng giữa các đồi núi có cao độ từ +9 đến +11, xây dựng khu chế biến phân compost và nhà máy xử lý rác công nghiệp. Ngoài ra còn có 4,02 ha đất dùng xây dựng mương thoát nước mưa xung quanh chân đê của khu liên hiệp. 4.2. Khu chôn lấp hợp vệ sinh rác thải đô thị Trong quy hoạch tổng thể khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Nam Sơn giai đoạn 1, khu chôn lấp chất thải đô thị gồm 3 ô chôn lấp số 1, 2, 3 và giai đoạn 2 gồm 8 ô chôn lấp. Hiện tại 3 ô chôn lấp của giai đoạn 1 đã đầy và đã được tiến hành đóng bãi cục bộ giai đoạn 1 (ở cao trình +15m), ô chôn lấp số 4,5 đã xây dựng xong và hiện đang chôn lấp rác tại phần 4B (phần 4A đã đầy). 4.2.1. Trình tự sử dụng các ô chôn lấp rác xây dựng giai đoạn 1 ( đến năm 2017) Giai đoạn 1 : Đổ rác vào lô 1 và lô 2,3 được sử dụng làm chức năng hồ sinh học để tăng độ sạch nước trước khi xả ra ngoài sau khi đã qua hệ thống xử lý rác bằng phương pháp sinh hoá. Giai đoạn 2 : Rác được đổ tại lô 1 tới đỉnh đập ngăn lô ở cao độ +15m thì được tiến hành đóng bãi cục bộ giai đoạn 1 và rác được chuyển sang đổ tại lô số 2, lô số 3 vẫn đảm nhiệm vai trò hồ sinh học. Giai đoạn 3 : Rác đổ trong lô 2 tới cao độ +15m thì sử dụng diện tích mặt bằng cả 2 lô 1 và 2 để tiếp tục đổ rác. Đắp bờ bao ngăn rác theo từng đợt, mỗi đợt cao 2,5m. Cao độ cuối cùng của bờ bao ngăn rác là 20m. Trình tự đổ rác ở giai đoạn này là sau khi nâng cao độ tại lô thứ nhất thêm 2m thì bao phủ đất trên bề mặt rác để chuyển sang đổ rác vào lô bên cạnh và tiếp tục luân chuyển. Khi mặt bằng 2 lô đạt tới cao độ +21m thì tổ chức đóng b•i các lô 1 và 2 theo quy trình đóng b•i. Giai đoạn này lô 3 vẫn sử dụng như một hồ sinh học. Giai đoạn 4 : Đổ rác vào lô 3 từ cao độ +6m lên đến cao độ +21m. Hồ sinh học sử dụng ở giai đoạn này là hồ Phú Thịnh hoặc một diện tích ô trũng trong tổng mặt bằng khu liên hợp xử lý (giai đoạn này đ• quản lý toàn bộ diện tích đất của dự án là 130 ha).

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThực trạng và giải pháp để nâng cao việc quản lý rác thải trên địa bàn hà nội.doc