Tiểu luận Khảo sát tâm lý du khách Hàn Quốc

Là dân tộc coi trọng những giá trị truyền thống, khi đến Việt Na m người Hàn Quốc còn có xu hướng thăm viếng các di tích lịch sử văn hóa như đình chùa hay tham gia các lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian của người Việt và các dân tộc cùng chung sống trên đất nước Việt Nam, thưởng thức các loại hình đặc sắc của địa phương, tộc người. Chùa Một Cột, thánh địa Mỹ Sơn, lễ hội Chùa Hương, là những điểm dừng chân khó có thể bỏ qua trong hành trình du lịch Việt Na m của du khách Hàn Quốc. Nhã nhạc cung đình Huế, quan họ Bắc Ninh hay múa rối nước, đua ghe ngo, cũng thu hút rất nhiều sự quan tâm của khách Hàn. Khi được hỏi về ”điều gì thú vị ở Việt Nam hấp dẫn bạn?“ các du khách vô tư kể rất nhiều thứ từ ẩm thực đến con người Việt Nam. Ẩm thực Việt Na m hấp dẫn và phong phú, 3 miền 3 khẩu vị khác nhau với muôn vàn món ăn đặc sản thơm ngon lôi cuốn du khách, giữ chân du khách lại Việt Nam lâu hơn, cơ hội quay lại Việt Na m nhiều hơn. Viêt Nam nổi tiếng với những làng nghề thủ công mỹ nghệ như: làng gốm sứ, làng dệt, làng mây tre nứa,. Tâ m lý du khách thường thích mua đồ lưu niệm. Khách Hàn Quốc và du khách các nước rất thích hàng thủ công mỹ nghệ Việt Na m, phong phú, đa dạng, nhiều loại với nhiều màu sắc, kích cỡ, trong đó áo dài cũng là sản phẩm mà được người Hàn Quốc thích. Con người Việt Na m vui vẻ, thân thiện và hiếu khách, am hiểu phong tục tập quán và lịch sử của dân tộc mình. Các du khách nói rằng, người Việt Nam vui vẻ nhận lời mỗi khi được mời chụp hình làm kỉ niệm.

pdf21 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/06/2014 | Lượt xem: 9020 | Lượt tải: 22download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Khảo sát tâm lý du khách Hàn Quốc, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tiểu luận KHẢO SÁT TÂM LÝ DU KHÁCH HÀN QUỐC I. KHÁI QUÁT VỀ ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI HÀN QUỐC. 1. Tổng quan về đất nước Hàn Quốc: a. Sơ lược về lịch sử hình thành Thời Nhật Bản thống trị Triều Tiên từ năm 1910 đến 1945 chấm dứt cùng với Thế chiến thứ hai. Năm 1945, Triều Tiên bị chia cắt thành hai miền. Liên bang Xô viết chiếm đóng miền bắc cho đến vĩ tuyến 38 và Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về nam. Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết không thể đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị ở Triều Tiên. Vào tháng 11 năm 1947, Hội đồng Liên hợp quốc đã đề ra một giải pháp tiến hành tổng bầu cử tại Hàn Quốc dưới sự hỗ trợ của một Ủy ban Liên hợp quốc. Tuy nhiên, Liên bang Xô viết đã khước từ việc tuân theo giải pháp này và từ chối những ảnh hưởng của Ủy ban liên hợp quốc đối với nửa phía Nam của bán đảo. Điều này dẫn tới việc thành lập các chính phủ riêng biệt ở miền bắc và miền nam, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở phía bắc và Cộng hoà Triều Tiên (Hàn Quốc) ở phía nam, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của toàn bộ lãnh thổ Triều Tiên. Căng thẳng tăng lên giữa hai chính phủ ở miền bắc và miền nam cuối cùng dẫn tới Chiến tranh Triều Tiên, và bán đảo Triều Tiên bị chia cắt cho đến ngày hôm nay. Gần 3 triệu người thiệt mạng hoặc bị thương và hàng triệu người khác mất nhà cửa hoặc chia lìa những người thân trong gia đình trong cuộc chiến tranh này. Đến thập niên 1970 quan hệ hai bên dần được cải thiện. Hai bên Triều Tiên công nhận chính phủ của nhau. Năm 1991 cả hai nước được cả hai phe công nhận để chính thức gia nhập Liên hiệp quốc cùng một lúc. Hàn Quốc đã đầu tư kinh tế và là nước chủ yếu viện trợ lương thực giúp người dân Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vượt qua nạn đói thập niên 1990 làm chết 2 triệu người thông qua chương trình lương thực Thế giới WEP của Liên hiệp quốc. Hiện nay dân tộc Triều Tiên là dân tộc còn lại duy nhất trên thế giới có đất nước bị chia cắt do ý thức hệ sau Chiến tranh Lạnh và là dân tộc đang cố gắng giải quyết trạng thái đối lập ý thức hệ bằng con đường hoà bình, hoà giải dân tộc. a. Điều kiện tự nhiên  Vị trí địa lý Đại Hàn, là một quốc gia thuộc Đông Á, nằm ở nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên. Phía Bắc giáp với Bắc Triều Tiên. Ph ía Đông Hàn Quốc giáp với biển Nhật Bản, phía Tây là Hoàng Hải. Thủ đô của Hàn Quốc là Seoul, một trung tâm đô thị lớn thứ hai trên thế giới và là thành phố toàn cầu quan trọng. Hàn Quốc có khí hậu ôn đới và địa hình chủ yếu là đồi núi. Lãnh thổ Hàn Quốc trải rộng 100,032 km vuông. Với dân số 48 triệu người, Hàn Quốc là quốc gia có mật độ dân số cao thứ ba trên thế giới (sau Bangladesh và Đài Loan) Tổng diện tích của bán đảo Triều Tiên là 222.154 km2, gần bằng diện tích của Anh hay Romania. Không kể diện tích đất khai hoang, diện tích đất canh tác là 99.617 km2, chiếm 45% tổng diện tích.  Địa hình Địa hình núi non chiếm khoảng hai phần ba diện tích lãnh thổ. Bán đảo nổi bật với nhiều ngọn núi và dòng sông kỳ vĩ, vì vậy người Hàn thường ví đất nước mình như một tấm gấm thêu đẹp đẽ. Núi Baekdusan ở miền bắc bán đảo là ngọn núi cao nhất với độ cao 2.744m so với mực nước biển và trải dài theo đường biên giới phía bắc tiếp giáp với Trung Quốc. Baekdusan là ngọn núi lửa đã ngừng hoạt động nơi một hồ nham thạch rộng đã được hình thành với cái tên Cheonji. Ngọn núi này được coi là một biểu tượng đặc biệt của tinh thần Hàn Quốc và được nhắc đến trong bài quốc ca. So với quy mô lãnh thổ, bán đảo Triều Tiên có số lượng sông suối tương đối lớn. Hệ thống đường thủy này đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành lối sống của người Hàn và trong cả công cuộc công nghiệp hóa đất nước. Hai con sông dài nhất ở bắc bán đảo là Amnokgang (Yalu, 790km) và Dumangang (Tumen, 521km). Hai con sông này đều bắt nguồn từ ngọn núi Baekdusan rồi lần lượt đổ xuống theo hướng tây và đông, tạo nên biên giới phía bắc của bán đảo. Ở nam bán đảo, sông Nakdonggang (525km) và sông Hangang (494 km) là hai đường thủy chủ yếu. Sông Hangang chảy ngang qua Seoul, thủ đô của Hàn Quốc, được coi là con đường sinh mệnh cho dân cư tập trung đông đúc ở khu vực trung tâm của đất nước Hàn Quốc ngày nay, như nó đã giúp cho dân cư các vương quốc cổ đại phát triển dọc theo hai bờ sông. Bao quanh ba mặt của bán đảo, đại dương đóng một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của người Hàn từ ngàn xưa và đã góp phần vào sự phát triển ngành công nghiệp đóng tàu và kỹ năng hàng hải.  Khí hậu Hàn Quốc có bốn mùa rõ rệt. Mùa xuân và mùa thu khá ngắn, mùa hè nóng và ẩm ướt, mùa đông thì lạnh, khô và tuyết rơi nhiều, đặc biệt là ở các khu vực miền núi Khí hậu cũng khác nhau tại các vùng trên đất nước, với nhiệt độ trung bình từ 6C đến 16C. Nhiệt độ trung bình vào tháng Tám, tháng nóng nhất trong năm là từ 19C đến 27C , trong khi đó nhiệt độ vào tháng Giêng, tháng lạnh nhất trong năm từ -8C đến 7C. Vào đầu xuân, Bán đảo Triều Tiên thường có "cát/ bụi vàng" do gió cuốn về từ các sa mạc phía bắc Trung Quốc. Nhưng vào giữa tháng Tư, đất nước được hưởng một thời tiết êm dịu với núi và cánh đồng ngập trong màu sắc rực rỡ của các loài hoa dại. Đây là lúc người nông dân chuẩn bị gieo mạ cho vụ lúa hàng năm. Với không khí khô và bầu trời trong xanh như pha lê, mùa thu là mùa mà tất cả người Hàn đều yêu thích. Phong cảnh nông thôn đẹp khác thường với những màu sắc đa dạng. Mùa thu là mùa gặt hái, cũng là mùa của những lễ hội dân gian bắt nguồn từ phong tục tập quán của nhà nông từ thời xa xưa. 2. Con người Tất cả người Hàn Quốc đều nói chung 1 ngôn ngữ, đây được coi là nhân tố quyết định trong việc tạo nên bản sắc dân tộc mạnh mẽ của họ . Với những đặc tính riêng về thể chất, người Hàn được coi là con cháu của một vài bộ lạc Mông Cổ từ vùng Trung Á di cư đến bán đảo Triều Tiên. Vào thế kỷ thứ 7, rất nhiều quốc gia của Bán đảo lần đầu tiên đã được thống nhất dưới thời vương quốc Silla (57 tr.CN - 935 s.CN). Sự đồng nhất như vậy đã làm cho người Hàn hầu như không bị vướng vào những vấn đề dân tộc và duy trì được tình đoàn kết vững chắc. Cũng giống như Việt Nam, người Hàn Quốc vẫn đề cao cuộc sống gia đình, hiếu nghĩa với tổ tiên, cha mẹ, phục tùng người lãnh đạo. Trong bữa ăn, thứ tự chỗ ngồi là không được lẫn. Người đàn ông cao tuổi nhất sẽ ngồi ở vị trí trung tâm và là người mời khách hoặc bắt đầu bữa ăn. Mỗi người có bát cơm và bát canh riêng, còn những món khác được đặt chung ra giữa bàn để cùng ăn. Phần lớn các món ăn được tẩm rất nhiều gia vị. Đặc biệt, người Hàn Quốc rất thích ăn cay, nên ớt là thứ gia vị không thể thiếu trong các (từ tài liệu Đai sứ quán Hàn Quốc tại VN) II. ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ VĂN HÓA HÀN QUỐC. Mang đậm nét truyền thống phương Đông, gần gũi hai nền văn hóa lớn Nhật Bản và Trung Quốc, người Hàn Quốc đã đặt dấu ấn độc đáo của mình lên phần văn hóa vay mượn làm cho chúng trở nên khác biệt so với văn hóa gốc. Từ đó tạo ra một nền văn hóa đặc trưng mang đậm bản sắc dân tộc và giàu truyền thống của một đất nước Đông Bắc Á. 1. Ngôn ngữ và hệ thống chữ cái: Người Hàn Quốc có ngôn ngữ và hệ thống chữ cái duy nhất gọi là Hangeul. Hệ thống chữ cái này được xây dựng từ năm 1446 bởi vị vua anh minh của triều đại Joseon – vua Sejong. Là mẫu chữ duy nhất của hệ thống chữ viết mà không bị ảnh hưởng bởi các mẫu chữ khác. Với 14 phụ âm và 10 nguyên âm cho phép việc ghi lại bất kỳ một chữ viết hay một âm nào của tiếng Hàn. Vì tương đối đơn giản và có số lượng giới hạn, hệ thống chữ cái này rất dễ học, nạn mù chữ hầu như không tồn tại ở Hàn Quốc. Hangeul nổi tiếng thế giới như một hệ thống chữ viết chuẩn, hoàn hảo và rất phù hợp với thời đại giao tiếp như ngày nay. 2. Gia đình: Gia đình được coi là nên tảng xã hội ở Hàn Quốc. Một gia đình tiêu biểu bao gồm nhiều thế hệ chung sống dưới một mái nhà. Theo người Hàn Quốc, để đảm bảo sự ổn định và an toàn thì số lượng người trong nhà là 11, 12 thành viên hoặc hơn. Tuy nhiên theo xu hướng ngày nay, các cặp vợ chồng sau khi cưới thường tách ra ở riêng nên kiểu gia đình truyền thống này đang dần biến mất. Trong nhà, người chủ gia đình được coi như là người nắm giữ quyền lực, là người đưa ra mệnh lệnh và những người khác phải thực hiện không được bàn cãi. Việc tuân lệnh được coi như là một điều hiển nhiên, như là đạo đức xã hội đáng được coi trọng, con cái phải vâng lời cha mẹ, vợ phải nghe chồng. Cuộc sống gia đình ngày nay đã có nhiều biến đổi, sự bình đẳng giữa nam và nữ đã được tôn trọng 3. Đặc điểm chung trong giao tiếp Người Hàn Quốc không thích bày tỏ tình cảm, cảm xúc thái quá trước đám đông. Họ cho như vậy là không lịch sự. thậm chí những cử chỉ thể hiện tình cảm rất nhẹ nhàng. Trong giao tiếp với người khác họ thường có cách chào đặc biệt, trước hết họ đứng im tại chỗ, sau đó cúi gập lưng, gập lưng càng thấp thì càng tỏ ra cung kính, gập lưng đến khi nào người kia đi thì thôi. 4. Trang phục: Hanbok là biểu tượng trang phục truyền thống của người Hàn Quốc.Trải qua thời gian dài tồn tại, Hanbok rất đa dạng về màu sắc, chất liệu vải cũng như cách may phù hợp với từng mùa và vị trí của người mặc. Vẻ đẹp của Hanbok thể hiện ở cái đẹp của sự đơn giản của các motif trang trí trên áo và ở váy cũng như sự hài hòa về đường nét và màu sắc. Áo hanbok của phụ nữ gồm có một váy dài "china" và một áo vét theo kiểu bôlêrô "Jeogori". Áo của đàn ông gồm có một áo khoác ngắn "Jeogori" và quần "baji". Cả hai bộ hanbok này đều có thể mặc với một áo choàng dài theo kiểu tương tự gọi là "durumagi" . Ngày nay, người Hàn Quốc chủ yếu mặc Hanbok vào các dịp lễ tết hoặc các lễ kỉ niệm như ngày cưới hoặc tang lễ. 5. Teakwondo: Môn thể thao có từ lâu đời của người Hàn Quốc ngày nay đã được cả thế giới biết đến và được công nhận là môn thể thao quốc tế. Đó là một môn thể thao có mối liên hệ với tư tưởng và tinh thần của người Hàn Quốc, các động tác của Teakwondo đặt việc luyện tập về mặt tinh thần lên trên cả sự khéo léo, đó là một nghệ thuật phòng thủ chứ không có tấn công. Với những ưu điểm của mình, Teakwondo giờ đây đã trở thành một trong những môn thể thao được yêu thích và tập luyện nhiều nhất trên thế giới và là môn thể thao nằm trong thể thức thi đấu của Thế vận hội. 6. Ẩm thực: Đặc điểm nổi bật của ẩm thực Hàn quốc là mỗi vùng, miền và mỗi mùa xuân, hạ, thu, đông đều có những món ăn riêng, độc đáo. Nguyên liệu món ăn đa dạng: các loại nhân sâm, nấm, đậu, rong biển, con trai, cá, các loại rễ cây, rau...; nhiều màu sắc: màu vàng của trứng rán, màu đỏ của tương ớt, màu xanh của rau, màu đen của rong biển, màu trắng của nấm kim châm... Vì thế, việc chế biến, trình bày cũng lắm công phu, tinh tế và mang tính thẩm mỹ cao. Dường như người Hàn ăn bằng mắt. Rất nhiều món, nhiều kiểu chén đĩa, nhiều sắc màu được bày trên bàn ăn, nhưng mỗi thứ chỉ một ít. Hầu hết các món ăn Hàn Quốc đều sử dụng gia vị như: xì dầu, hành, tỏi, muối, dầu ăn, dầu vừng, bột tiêu, tương ớt, ớt khô... Ngoài ra, kim chi và tương đậu là hai món không thể thiếu trong bữa cơm truyền thống của người dân xứ Hàn. Phong cách ẩm thực Hàn Quốc Bữa ăn tại nhà là thời điểm tụ tập cả gia đình. Theo truyền thống, người lớn tuổi nhất trong nhà cầm đũa bắt đầu bữa ăn thì những người khác mới lần lượt làm theo. Khi ăn phải ngồi ngay ngắn, nhai từ tốn, kín đáo và không nhấc bát lên khỏi bàn. Trên bàn ăn, cơm và canh được đặt lên trước, canh đặt bên phải bát cơm, thức ăn khác và món chấm được đặt ở giữa. Món ăn nóng và thịt ở bên phải, món ăn lạnh được làm từ rau được đặt bên trái. Đũa, thìa đặt bên phải bàn. Các món ăn đặc trưng: Ẩm thực: Người Hàn Quốc chủ yếu ăn những món quấn như: gỏi quấn, bì quấn, món cá nướng cuốn bánh tráng, ..... Kim chi: Kim Chi là một trong những món ăn điển hình của ẩm thực Hàn Quốc; ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII chỉ là một loại rau cải muối và cho tới ngày nay đã có hàng trăm loại khác nhau. Thành phần nguyên liệu để chế biến kim chi gồm: cải thảo, củ cải, ớt, tỏi, hành, cá mực, tôm, sò hoặc các loại hải sản khác, gừng, muối ăn và đường. Kim chi từng được coi là một trong năm thực phẩm có lợi cho sức khỏe nhất của thế giới. Nó được thưởng thức với nhiều mức độ đậm đà khác nhau, tuy nhiên nó vẫn thường được dọn trên một cái đĩa phẳng. Kim Chi là món ăn không thể thiếu của người Hàn Quốc, nó là niềm tự hào của người dân xứ Hàn. Kimbap: Còn gọi là cơm cuốn Hàn Quốc, Kimbap là một trong những đặc sản nổi tiếng nhất của người Hàn Quốc. Kimbap gần giống với món Sushi truyền thống của người Nhật, nhưng kimbap không ăn với cá sống mà nguyên liệu của nó bao gồm thịt, trứng, rau đã được xào chín. Cơm được trộn với chút muối và dầu mè. Thịt có thể là thịt bò xay, xúc xích, trứng chiên, mực xào cay, cá ngừ. Rau thì thường là spinach, cà rốt, cải ngọt, kim chi hoặc dưa chuột. Kimbap thường được làm trong các dịp đi picnic hoặc trong các lễ hội ngoài trời của người Hàn Quốc. Là món ăn nguội dễ bảo quản và cách làm đơn giản. Cơm trộn Bibimbap: Trên thế giới có những loại thức ăn fastfood như sandwich ở Anh, hamburger và xích ở Mỹ thì với người Hàn Quốc món bibimbap hay còn gọi là cơm trộn được ưa chuộng nhất. Bibimbap có nguồn gốc tại Jeonju tỉnh Jeolla ở phía tây nam Hàn Quốc từ những năm 1800. Một tô cơm babimbap bao gồm cơm trắng, các loại rau, trứng và thịt. Rau thường là dưa chuột thái nhỏ, cà rốt, rau bina, giá, rau diếp. Trứng thì được tráng qua hoặc rán chín cùng với thịt bò thái nhỏ được ướp gia vị. Tất cả được trộn đều cùng với nước xốt làm từ ớt trước khi ăn. Bibimbap ngoài cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng hoàn hảo còn hấp dẫn bời màu sắc và cách trình bày bắt mắt. Mì lạnh Naengmyeon: Naengmyeon hay còn gọi là mì lạnh với sợi mì mỏng làm từ bột kiều mạch chan nước hầm thịt bò nêm nếm cùng nước ướp quả lê ướp lạnh. Mì lạnh thường được dùng trong bát lớn, có mùi nồng, vị thanh thanh ngọt mát như làm tan biến bầu không khí oi bức của mùa hè. Tuy nhiên, không phải là không dùng được mì lạnh vào mùa lạnh,vẫn có thể thay nước dùng thịt bằng nước kim chi và để món mì ngon hơn nên cân bằng giữa nước kim chi với nước dùng. Nhân sâm Nhân sâm được trồng rộng rãi ở Hàn Quốc vì điều kiện khí hậu đất đai ở đây rất thích hợp. Để phân biệt nhân sâm trồng tại Hàn Quốc với sản phẩm có xuất xứ khác trên thế giới, nhân sâm Hàn Quốc được đặt tên là "Goryeong Ginseng" theo tên triều đại Goryeo - triều đại đã hình thành tên Hàn Quốc trong tiếng Anh là Korea Nhân sâm được sử dụng như là liều thuốc tăng cường sinh lực và phục hồi sức khỏe. Người ta tin rằng nhân sâm giúp tăng cường chức năng của các của các cơ quan quan trọng trong cơ thể, ổn định tim, bảo vệ dạ dầy, tăng cường chịu đựng và sự ổn định của hệ thần kinh. Nhân sâm là một yếu tố cốt lõi trong Đông y, nhưng người Hàn Quốc thường dùng nhân sâm theo cách đơn giản hơn là uống trà hay rượu. 7. Nghệ thuật: Phim Hàn Quốc Từ lâu, Hàn Quốc đã nổi tiếng trên thế giới về nghệ thuật làm phim cũng như về kỹ năng diễn xuất của các diễn viên Hàn. Với những bộ phim kinh điển trong những thập kỷ qua, các sao Hàn còn được vinh danh trên thảm đỏ Hollywood. Ngày nay, các sao Hàn đi đến đâu cũng có những đội ngũ các fan đón tiếp rất nồng hậu và hoành tráng. Bấy nhiêu thôi, cũng đủ thấy được sức ảnh hưởng cũng như mức độ thành công trong nghệ thuật làm phim của người Hàn. Nghệ thuật gấp giấy thủ công Người Hàn Quốc có truyền thống lâu đời trong nghệ thuật gấp giấy thủ công và cũng đã từ lâu sử dụng những loại giấy chất lượng tốt để gấp nên những chiếc hộp, chiếc bát có nắp đậy, những chiếc bát lớn, giỏ, túi lưới, bình và gạt tàn. Những sản phẩm giấy thủ công khác du khách tham quan thường gặp là đồ văn phòng phẩm, thảm chân, đệm, rèm, bao đựng ống tên, bát mài mực, hộp thuốc súng, giày dép, chậu rửa, ấm trà. Hầu hết các sản phẩm làm từ giấy đều được sơn bóng trên bề mặt làm tăng tính thẩm mỹ và độ bền đồng thười làm cho chúng có khả năng chống thấm. Loại sơn phủ thường được dùng là hỗn hợp nước quả hồng xanh và hồ gạo và dầu tía tô. Nhạc tế lễ Jongmyo Vào ngày Chủ nhật đầu tiên của thángNăm trong năm, hậu duệ của dòng tộc Jeonju Yi, hoàng tộc thười Joseon (1392-1910), làm lễ thờ cúng tổ tiên tại đền Jongmyo ở trung tâm Seoul. Mặc dù nghi lễ này được cử hành theo một nghi thức ngắn gọn rất nhiều so với trước, nhưng có tới 19 loại nhạc cụ cổ điển, bao gồm chùm chuông đá, chuông đồng, các loại trống, hòa nên âm thanh đặc biệt cho buổi lễ truyền thống. Talchum - Mặt nạ và múa mặt nạ Mặt nạ, thường được gọi là "tal" trong tiếng Hàn Quốc, được làm từ giấy, gỗ, quả bầu khô, và lông. Hầu hết các loại mặt nạ đều phản ánh sắc thái và cấu trúc xương của gương mặt người Hàn nhưng cũng có một số loại mặt nạ thể hiện khuôn mặt của các vị thần và con vật, bao gồm cả tả thực và tưởng tượng. Hình dáng của các loại mặt nạ thường kì lạ và đã được cách điệu, vì "talchum " - loại hình múa mặt nạ -thường được biểu diễn vào đêm dưới ánh sáng của các đống lửa. Múa mặt nạ về cơ bản là loại hình nghệ thuật dân gian phát triển tự nhiên trong nhân dân thời kỳ Joseon, thời kỳ mà có ít sự phân biệt giữa giai cấp thống trị và thượng lưu trong xã hội với người dân thường. Các nghệ sĩ diễn viên và khán giả cùng hoà nhập vào các điệu múa tưng bừng ở cuối mỗi buổi biểu diễn. Tranh dân gian Tranh dân gian gồm những tác phẩm mà thường dân Hàn Quốc thời xa thường dùng để trang trí nhà ở hoặc để thể hiện những mong ước của họ về đời sống hạnh phúc bền lâu. Không giống như những tác phẩm hội hoạ cổ điển cao sang thường tập trung mô tả phong cảnh, hoa và chim, tranh dân gian thường thể hiện những ý tưởng hài hước, đơn giản và ý nghĩ chất phác về cuộc sống bình dân và về thế giới. Dangcheong: Hình trang trí trên các tòa nhà Dangcheong là hình trang trí màu sắc theo kiểu Hàn Quốc trên nóc các tòa nhà và những hình trang trí thể hiện vẻ đẹp và giá trị nghệ thuật đích thực. Dangcheong gồm có năm màu: đỏ, xanh, vàng, đen và trắng. Bên cạnh chức năng trang trí, dangcheong còn được dùng vào nhữngmục đích thực tế. Dangcheong được dùng để bảo vệ bề mặt tòa nhà và che đi những vết thô ráp trong chất liệu được sử dụng, đồng thời nhấn mạnh đặc điểm và thể hiện phẩm cấp của tòa nhà hay đối tượng nào đó. Dancheong có ở hầu hết mọi tòa nhà truyền thống, bao gồm cả đền chùa bất kể chúng nằm ở Seoul hay các tỉnh khác. Hoa văn Các hoa văn họa tiết thường bắt nguồn từ những chữ viết cổ. Ban đầu chúng là công cụ để thể hiện những nhu cầu tình cảm về môi trường xung quanh con người, sau đó được phát triển thành một hình mẫu trang trí nghệ thuật. Trong số các hoa văn thường thấy được sử dụng một cách truyền thống ở Hàn Quốc có hình con rồng và con phượng hoàng, và "taegeuk" dùng trong quốc kỳ Hàn Quốc Taegeuki, gồm có hai hình đối lập tượng trưng cho âm và dương, tượng trưng cho hai sức mạnh của vũ trụ, cho tĩnh và động, cho thế yếu và thế mạnh, bóng tối và ánh sáng, nam và nữ. Ngoài ra còn có những họa tiết tượng trưng cho sự trường tồn, như đá, núi, nước, mây, cây thông, con rùa, con hươu, con sếu, và mặt trời. 8. Nghi lễ: Các nghi lễ trưởng thành: Ở Hàn Quốc, những giai đoạn mà mỗi người phải trải qua trong cuộc đười và đánh dấu những thay đổi cơ bản thờng được gọi chung là "Gwanhongsangje" (Quan-Hôn- Tang-Tế), bao gồm lễ trưởng thành, lễ thành hôn, tang lễ, và tế lễ tổ tiên.. Lễ trưởng thành thường rất đơn giản. Các chàng trai trưởng thành cuộn mái tóc dài thành búi trên đỉnh đầu và được tặng một chiếc mũ truyền thống của dân tộc Hàn Quốc làm từ đuôi ngựa. Các cô gái trưởng thành tết tóc thành hai bím và cài vào tóc đồ trang sức được gọi là binyeo . Lễ thành hôn được tổ chức tại gia đình cô dâu và vợ chồng mới cưới thường nghỉ hai hay ba ngày tại gia đình cô dâu trước khi trở về nhà chú rể.Tang lễ được cử hành theo nghi thức truyền thống Hàn Quốc rất cầu kỳ. Thời gian để tang kéo dài trong hai năm, sau hàng loạt các nghi lễ cầu khấn. Bên cạnh những nghi thức tang lễ cầu kỳ, người Hàn Quốc còn thực hiện nhiều nghi lễ thờ cúng khác liên quan giữa sự sống và cái chết. Sesi - Tập quán truyền thống Tập quán Sesi bao gồm các nghi lễ được cử hành vào các thời điểm giao mùa trong năm và ngày tết Nguyên Đán. Ví dụ, vào ngày tết năm mới, người Hàn Quốc cất bài vị tổ tiên và thực hiện các nghi lễ tưởng niệm với các món đồ ăn và uống. Sau nghi lễ này, có lễ "sebae" hay là quỳ lạy những người cao tuổi trong gia đình. Vào đêm ngày 15 tháng Giêng - ngày trăng tròn đầu tiên trong năm, gọi là "daeboreum", một hình nộm làm bằng rơm sẽ được ném xuống sông. Nhiều nơi trong cả nước đã có tập tục này, nhưng việc chuẩn bị và thưởng thức các món ăn với những loại rau đa dạng theo mùa vẫn được thực hiện ở khắp nơi. Ngày 15-8 âm lịch là ngày lễ Chuseok, một dạng lễ tạ ơn Trời cho vụ mùa bội thu, trong ngày này, mọi người cũng thường đi thăm viếng mộ tổ tiên. Một trong những món ăn đặc biệt được chuẩn bị cho ngày lễ này là "songpyeon" (송편), bánh có hình trăng khuyết làm từ bột nếp trong có vừng, đậu xanh hạt dẻ và các loại ngũ cốc khác. 9. Di sản-Di tích lịch sử: Di sản in Nghệ thuật in trên phiến gỗ bắt đầu từ thế kỷ thứ 8 ở Hàn Quốc. Bộ chữ in kim loại đầu tiên của thế giới được người Hàn Quốc phát triển trước phát minh của Gutenberg (Đức) hơn 200 năm.Thường dân triều đại Goryeo (918-1392) đã làm ra Bộ kinh Phật Koreana từ thế kỷ 13, và được công nhận là bản khắc gỗ kinh Phật còn tồn tại lâu đời nhất. Bộ kinh Phật Koreana đã được xếp vào di sản văn hóa của UNESCO năm 1995. Đền Bulguksa và Seokguram Grotto Bulguksa, là một trong những ngôi Đền Phật giáo lớn nhất và đẹp nhất Hàn Quốc, nằm ở Gyeongju, trước đây là thủ phủ của vương quốc Silla (57 trước CN -935 sau CN). Bulguksa ban đầu là một ngôi đền nhỏ mà nhà vua Beop-heung (514 -540) triều đại Silla đầu tiên sùng tín Phật giáo, đã xây dựng để cầu mong phồn thịnh và an bình cho vương quốc của mình. Kiến trúc hiện nay của ngôi đền có từ năm 751 khi nó được được xây dựng lại. Trước kia, đền gồm có 80 toà nhà, nhiều gấp mười lần số lượng còn lại cho tới bây giờ. Đền nằm trên núi cao, phía sau lưng là Seokguram, động bằng đá nhân tạo được biết đến như là một trong những động đẹp nhất của đạo Phật. Seokguram bao gồm một tiền sảnh hình chữ nhật, và một lễ đường hình tròn với vòm trần nối liền với hành lang cũng xây theo hình chữ nhật. Seokguram và Bulguksa đã được đưa vào danh sách Di sản văn hoá thế giới của UNESCO từ năm 1995 Núi Seoraksan Bán đảo Triều Tiên có hai ngọn núi đẹp là núi Seoraksan ở Hàn Quốc và núi Geumgangsan ở CHDCND Triều Tiên. Seoraksan là rặng núi kéo dài theo hướng nam của núi Geumgangsan, thường được biết đến với tên gọi núi Kim Cương thuộc CHDCND Triều Tiên. Rừng của núi Seoraksan với đỉnh cao nhất là 1708 mét so với mực nước biển, là khu rừng hỗn hợp gồm các loại cây tán rộng với nhiều loại cây xuất xứ từ vùng núi Alpơ và những cây quả hình nón, là nơi cư trú của 939 loài thực vật và 25 loài thú, 90 loài chim, 11 loài bò sát, 9 loài động vật lưỡng cực, 360 loài côn trùng và 40 loài cá nước ngọt. III. ĐẶC ĐIỂM TRONG VĂN HÓA GIAO TIẾP. Để tìm hiểu về văn hóa trong giao tiếp của bất kỳ một quốc gia, dân tộc nào có rất nhiều vấn đề cần xem xét. Khi tiếp cận văn hóa giao tiếp của đất nước Hàn Quốc, chúng tôi tập trung vào những vấn đề trọng yếu sau đây: cách thức thái độ trong giao tiếp và quy tắc ứng xử xã hội. 1.Cách thức và thái độ trong giao tiếp Người Hàn Quốc rất coi trọng chức đanh, tước hiệu và địa vị xã hội, thường để ý đến cách thức làm quen và xưng hô. Trong xưng hô họ thường không sử dụng tên gọi và muốn được nhắc đến chức tước hay phẩm hàm mà họ có. Trong các công sở Hàn Quốc, người ta gọi nhau bằng các chức vụ nghề nghiệp. Cấp trên gọi cấp dưới bằng họ của người đó kèm với chức danh công việc, còn cấp dưới gọi cấp trên vẫn giống vậy nhưng cộng thêm hậu tố “lim” để thể hiện sự tôn trọng. (Điểm chú ý là vai trò của nhân viên nữ thường bị xem nhẹ hơn nhân viên nam). Khi một người Hàn Quốc muốn giới thiệu ai đó với người thứ ba họ thường dắt người đó đến gặp một người lớn tuổi hơn hay chức vị cao hơn. Khi gặp nhau, họ có thể thay cái bắt tay bằng cách cuối đầu chào. Trong lúc bắt tay họ thường lấy tay trái đỡ dưới cánh tay phải và không bắt quá chặt. Nếu một nhân viên gặp cấp trên của mình, người nhân viên sẽ cuối đầu chào trước, người cấp trên sẽ đưa tay ra bắt tay nhân viên của mình. Người Hàn Quốc đặt nặng danh dự, lòng tự trọng của mình. Họ cảm thấy hãnh diện khi lòng tự trọng được đánh giá cao, sẽ dễ dàng hơn để tạo được sự hòa hợp với họ (không có nghĩa là họ thích tâng bốc). Ngoài ra, họ đề cao tính tôn ti trật tự, phân biệt vai vế trên dưới một cách rõ ràng giữa cấp trên cấp dưới, ông bà cha mẹ với con cháu. Những người lớn tuổi, có nhiều quyền lực và địa vị xã hội sẽ được mọi người kính trọng và đối thoại bằng ngôn ngữ trang trọng. Khi muốn bắt chuyện với một người phải đoán biết địa vị xã hội, tuổi tác của họ để giao tiếp cho đúng nguyên tắc, luật lệ Trong giao tiếp, người Hàn Quốc không tỏ thái độ vồn vã hay quá thân thiết, nhất là với những người họ chưa thật sự tin tưởng. Nhưng khi đã tạo lập được mối quan hệ gắn bó thì họ đối với nhau rất thân tình, nồng hậu. Lúc đối thoại người Hàn Quốc rất thích đối phương cũng sử dụng ngôn ngữ của họ, đánh giá cao những người bày tỏ thiện chí, lời cảm ơn hay câu chào bằng chính tiếng Hàn Quốc (tuyệt nhiên đối phương không nên sử dụng tiếng Nhật Bản). Mặc khác, chữ tín cũng là một nguyên tắc được người Hàn Quốc đề cao. Họ coi trọng các cuộc hẹn và thường đến rất đúng giờ, điều này đã ăn sâu vào nếp sống của họ. Với người Hàn Quốc, không nên vô ý động chạm vào người khác. Họ quan niệm bàn chân là một bộ phận không sạch sẽ nên rất tránh chạm bàn chân vào người khác. Bên cạnh đó, họ xem việc đung đưa ngón tay cái hướng về phía mình là một hành động thô lỗ hay việc nhìn thẳng vào mắt nhau là một việc làm suồng sã bất lịch sự. 2.Quy tắc trong ứng xử xã hội Muốn thiết lập quan hệ làm ăn với đối tác người Hàn Quốc không nên tiếp xúc trực tiếp mà cần sử dụng dịch vụ trung gian làm môi giới, người trung gian có quyền chức hoặc điạ vị xã hội càng cao thì càng có cơ hội tiếp xúc được với lãnh đạo cấp cao của đối tác người Hàn Quốc. Mối quan hệ cá nhân đóng vai trò quyết định, câu hỏi mà họ muốn được trả lời là “Tôi có thể tin tưởng vào bạn hay không?” chứ không phải ‘Sản phẩm của bạn như thế nào?”. Bên cạnh đó cần lưu ý đến đối thủ cạnh tranh của họ.Với người Hàn Quốc, tình cảm và lý trí trong kinh doanh thường chi phối lẫn nhau. Ngoài ra, khi đàm phán, họ thường nói đến những vấn đề lớn lao to tát còn chuyện cụ thể họ để cho người cấp dưới đảm nhận. Khi lần đầu gặp mặt người ta hay trao cho nhau danh thiếp. Khi trao hoặc nhận danh thiếp phải dùng cả hai tay. Nên nhớ không dùng danh thiếp kinh doanh bằng tiếng Nhật. Người Hàn Quốc thích được nhận quà tặng là vật phẩm truyền thống từ quốc gia của người tặng. Thực phẩm cũng là quà tặng được đánh giá cao. Một điều lưu ý là khi được người Hàn Quốc tặng quà, lúc đầu tốt nhất nên từ chối, chỉ khi người tặng cứ nhất định tặng thì mới nên nhận. Quà tặng cho nhân viên cấp dưới không bao giờ được có giá trị lớn hơn quà tặng cho người cấp trên. Nếu họ là người đi làm ở các công ty thì món quà đầu tiên có thể tặng là các vật dụng trên bàn làm việc. Họ rất kiêng kỵ những quà tặng là dao hay kéo. Lần đầu tới nhà người Hàn Quốc chơi, theo thói quen ứng xử nên đem đến cho họ một món quà nhưng chủ nhà sẽ không mở quà ra ngay hay nói gì về nó vì họ cho rằng việc làm đó trẻ con. Các bữa ăn trong ngày là thành phần quan trọng trong lối sống của người Hàn Quốc. Đối với lối sống trong các gia đình người Hàn hay hợp tác công việc làm ăn với họ đều không thể xao nhãng các bữa ăn. Không đem công việc vào các bữa ăn để bàn bạc, chỉ có ăn uống và nói chuyện vui. Đặc biệt, họ rất thích khi được khen về các món ăn truyền thống như kim chi, thịt nướng. Họ uống nhiều rượu nhưng không phiền nếu khách mời không uống được, tuy nhiên khách mời nên để cho họ rót chút rượu vào cốc. Với họ, trong các bữa ăn hay tiệc rượu là cơ hội tốt để tạo dựng mối quan hệ thêm thân thiết. Chủ đề trong các câu chuyện ít khi đề cập đến các vấn đề về chính trị. IV. NHU CẦU ĐI DU LỊCH CỦA NGƯỜI HÀN QUỐC. 1. Những nhu cầu chung khi đi du lịch nước ngoài của người Hàn Quốc Sống trong một nước công nghiệp phát triển, mức sống cao, nhịp sống khẩn trương, sử dụng thời gian làm việc hiệu quả và ít có thời gian rảnh rỗi. Du khách Hàn Quốc thích thực hiện các tour du lịch xuyên quốc gia, trong chuyến du lịch đến Việt Nam họ thường kết hợp du lịch Lào, Campuchia, Thái Lan. Du khách Hàn Quốc đi du lịch thường có khả năng chi trả cao, họ thích sử dụng những dịch vụ sang trọng, các phương tiện công nghệ hiện đại, sản phẩm đảm bảo tốt về chất lượng và mấu mã. Cùng với tâm lý ưa thích sự sạch sẽ, gọn gàng nên họ thường sử dụng các khách sạng sang trọng làm nơi lưu trú. %..và nơi mà họ đến cũng phải đáp ứng được nhu cầu cơ bản đó của họ. Bên cạnh đó, việc chọn lựa quốc gia đến cũng được du khách Hàn Quốc cân nhắc kỹ. những nơi họ đến phải là những quốc gia có nền chính trị ổn định, hòa bình để đảm bảo tính an toàn, thoải mái trong chuyến đi. Đó là những tiêu chuẩn cơ bản của một quốc gia mà du khách Hàn yêu cầu. Mặc khác, quốc gia đó phải có những nét đặc trưng là của riêng quốc gia đó, cho thấy sự khác biệt với quốc gia khác. Người Hàn rất thích được tìm hiểu văn hóa các dân tộc trên thế giới để so sánh với văn hóa đất nước họ..cũng như họ muốn đi nhiều biết nhiều điều đặc biệt ở các quốc gia trên thế giới, nhằm nâng tầm hiểu biết của mình. Tóm lại, một điểm đến sẽ là lựa chọn của du khách Hàn khi nó đảm bảo tinh an toàn, đáp ứng nhu cầu với dịch vụ tốt và đặc biệt là nét đặc biệt trong bản chất văn hóa của quốc gia đó. 2. Những nhu cầu khi đi du lịch tại Việt Nam của người Hàn Quốc: Du khách Hàn Quốc xem Việt Nam như điểm du lịch mới nổi trong khu vực Đông Nam Á, bên cạnh những điểm du lịch nổi tiếng ở Thái Lan, Singapore, Malaysia hay Indonesia. Không gian du lịch mới mẻ này đã sức hấp dẫn mạnh với du khách Hàn Quốc. Kết quả Hàn Quốc là nước đứng thứ 5 về số lượng khách du lịch đến Việt Nam, sau Trung Quốc, Mỹ, Đài Loan và Nhật Bản. Điều đó tạo động lực cho du lịch Việt Nam phấn đấu trong năm 2011 này Việt Nam sẽ tiếp tục đón 1 triệu lượt khách Hàn (công bố của Tổng cục du lịch). Vì mỗi quốc gia với chế độ chính trị và tình hình an ninh khác nhau nên điều đầu tiên mà bất cứ du khách nào đi du lịch nước ngoài luôn mong muốn không gì khác đó là sự đảm bảo an toàn trong chuyên đi. Tại Việt Nam mặc dù có trên 50 dân tộc, thành phần dân tộc phức tạp nhưng cùng chung sống chan hòa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Môi trường du lịch hòa bình này đã tạo được cảm giác an toàn, tin tưởng cho du khách đến Việt Nam. Bên cạnh đó, mỗi dân tộc có những nét đặc trưng trong đời sống kinh tế văn hóa xã hội, phong tục tập quán… kích thích sự hứng thú tìm hiểu, khám phá ở khách Hàn nói riêng cũng như du khách các nước nói chung. Du khách Hàn Quốc thích các loại hình du lịch biển, sông nước (đặc biệt là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long) và tìm hiểu đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Hàn ở thành phố Hồ Chí Minh. Khách du lịch Hàn Quốc bị chinh phục bởi vẻ đẹp của các danh lam thắng cảnh Kinh Thành Huế, Phố Cổ Hội An, thích thú nhất nét văn hóa du lịch đi tàu trên vịnh Hạ Long ngắm nhìn khung cảnh và thưởng thức rượu… Hay mê hoặc với cảnh sông nước hữu tình, vườn cây trái sum suê vùng Tây Nam Bộ. Đó là cái đẹp mà ở đất nước họ ko có, là cái họ muốn nhìn tận mắt, cảm nhận bằng chính cảm giác thực chứ ko đơn thuần như khi nhìn qua sách báo, phim ảnh. Phong cảnh Việt Nam đẹp, còn nhiều vùng tự nhiên, hoang sơ, bên cạnh đó văn hoá Việt Nam và văn hóa Hàn Quốc có nhiều điểm tương đồng là những điều vừa mới lạ, vừa gần gũi cuốn hút du khách Hàn Quốc đến. Sau khi Chính phủ VN miễn visa cho khách Hàn Quốc tới VN, lượng khách tăng lên đáng kể. So với năm 2003, năm 2004 lượng khách Hàn tới VN của Asiana tăng 87%. Là dân tộc coi trọng những giá trị truyền thống, khi đến Việt Nam người Hàn Quốc còn có xu hướng thăm viếng các di tích lịch sử văn hóa như đình chùa hay tham gia các lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian của người Việt và các dân tộc cùng chung sống trên đất nước Việt Nam, thưởng thức các loại hình đặc sắc của địa phương, tộc người. Chùa Một Cột, thánh địa Mỹ Sơn, lễ hội Chùa Hương,… là những điểm dừng chân khó có thể bỏ qua trong hành trình du lịch Việt Nam của du khách Hàn Quốc. Nhã nhạc cung đình Huế, quan họ Bắc Ninh hay múa rối nước, đua ghe ngo,… cũng thu hút rất nhiều sự quan tâm của khách Hàn. Khi được hỏi về ”điều gì thú vị ở Việt Nam hấp dẫn bạn?“ các du khách vô tư kể rất nhiều thứ từ ẩm thực đến con người Việt Nam. Ẩm thực Việt Nam hấp dẫn và phong phú, 3 miền 3 khẩu vị khác nhau với muôn vàn món ăn đặc sản thơm ngon lôi cuốn du khách, giữ chân du khách lại Việt Nam lâu hơn, cơ hội quay lại Việt Nam nhiều hơn. Viêt Nam nổi tiếng với những làng nghề thủ công mỹ nghệ như: làng gốm sứ, làng dệt, làng mây tre nứa,.... Tâm lý du khách thường thích mua đồ lưu niệm. Khách Hàn Quốc và du khách các nước rất thích hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, phong phú, đa dạng, nhiều loại với nhiều màu sắc, kích cỡ, trong đó áo dài cũng là sản phẩm mà được người Hàn Quốc thích. Con người Việt Nam vui vẻ, thân thiện và hiếu khách, am hiểu phong tục tập quán và lịch sử của dân tộc mình. Các du khách nói rằng, người Việt Nam vui vẻ nhận lời mỗi khi được mời chụp hình làm kỉ niệm. Mặt khác như đã nói ở trên, du khách Hàn Quốc thường có nhu cầu sử dụng những dịch vụ tốt, thuộc hạng khá tốt trở lên. Do đó, khi đến Việt Nam, họ thích chọn lựa những sản phẩm dịch vụ sang trọng, tốt về chất lượng, đẹp về mẫu mã.. Theo Tổng cục du lịch, phân khúc thị khách quốc tế vào Việt Nam cho thấy: Nhiều khách đến từ những nước có mức sống cao nên chi tiêu của khách quốc tế tại Việt Nam đạt cao. khách Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc) chiếm tới 33%, châu Âu: 16%, Bắc Mỹ 13%, Úc và New Zealand chiếm 6% Thói quen ăn uống của giới trẻ Hàn Quốc hình thành trong nhịp xã hội nhanh và gấp nên khi du lịch Việt Nam cũng như các nước, thanh niên Hàn Quốc thường ăn các món phương Tây cho đơn giản, tiện ích. Còn với đối tượng khách trung niên, họ thích thưởng thức các món ăn truyền thống của Việt Nam. Người Hàn Quốc khi đi du lịch đến Việt Nam cũng như đến các nước khác vẫn luôn giữ bản sắc dân tộc mình, thường tỏ ra kín đáo, lễ nghi, khó tiếp xúc. Tuy nhiên, họ thích đi khắp nơi, tìm hiểu văn hóa Việt Nam, tìm hiểu những điều mới lạ của Việt Nam rồ i so sánh với nền văn hóa đặc sắc và lâu đời của quê hương mình. Họ rất nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, có tính tự chủ khá cao. Một phần không nhỏ khách Hàn kết hợp mục đích kinh doanh trong chuyến du lịch. Nhìn chung khách du lịch Hàn Quốc cũng như các nước khi đến Việt Nam mong muốn được tiếp cận với những đặc trưng mà chỉ ở Việt Nam mới có, điểm khác lạ đó tạo sức hấp dẫn lớn để “kéo” chân và giữ chân du khách. Bên cạnh đó, cũng như du khách các nước, khách Hàn cũng tỏ ra khó chịu khi du lịch tại Việt Nam bởi những hiện tượng hét giá, chặt chém tại những điểm mua bán, hay những gian hàng trong khu du lịch buôn bán chèo kéo khách đến mức quá đáng,… Giao thông Việt Nam khá lộn xộn, nhất là tại các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội môi trường ô nhiễm, cảnh quan mất vệ sinh,.... Du khách Hàn mỗi khi qua đường cảm giác không an toàn, họ phải đợi thật đông người rồi cùng đi qua đường.Trên đường phố còn rất nhiều trẻ em lang thang hay đi theo làm phiền du khách. Số lượng các khách sạn chất lượng cao chưa nhiều, chưa đủ phục vụ cho số đông các du khách có khả năng chi trả cao, trong khi đội ngũ phục vụ còn thiếu tính chuyên nghiệp. Sự không phong phú trong các loại hình hoạt động giải trí đã kh iến cho khách đến thường “không biết làm gì ngoài việc ngồi đánh bài cho hết thời gian”. Nhiều khu mua sắm còn nghèo nàn, chủng loại hàng chưa phong phú. Tại các trung tâm thương mại lớn, đội ngũ nhân viên còn chưa thông thạo tiếng Hàn nên còn gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp với khách. Những điều đó tạo cảm giác không hài lòng cho khách Hàn – những du khách có yêu cầu cao trong du lịch. Những hạn chế này gây sự cản trở với việc thu hút khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam, tạo ấn tượng không tốt về du lịch Việt Nam, nhiều du khách Hàn Quốc đã không trở lại Việt Nam lần thứ hai.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfa_1_4269.pdf
Luận văn liên quan