Tiểu luận Lý luận tuần hoàn và chu chuyển của tư bản, vận dụng vào các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển trên con đường mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã để lại. Tuy vậy, không phải là chúng ta đi một cách dập khuôn và máy móc theo họ mà phải kế thừa, phát huy và vận dụng một cách sáng tạo những điều đó vào tình hình cụ thể của đất nước ta. Như chúng ta đều biết, doanh nghiệp là tế bào cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là nơi kết hợp một cách có hiệu quả các nguồn lực để tạo ra của cải cho xã hội, là nguồn gốc tạo nên sức mạnh kinh tế. Sự giàu có của một quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay của nước ta việc quản lý và sử dụng vốn hiệu quả của các doanh nghiệp là một vấn đề tương đối phức tạp. Giữa lý luận và hiện thực còn có nhiều vướng mắc mâu thuẫn chưa thực sự giải quyết được. Vì vậy nghiên cứu học thuyết “tuần hoàn và chu chuyển tư bản” với điều kiện hiện có của doanh nghiệp là rất cần thiết cho mỗi doanh nghiệp để xác định được vị trí và chỗ đứng trên thị trường . Với học thuyết “tuần hoàn và chu chuyển tư bản” của Mác, ta đã có những tiền đề và cơ sở lý luận cho sự phát triển nền kinh tế của đất nước theo con đường đúng đắn, hợp lý nhất. Học thuyết này mang một ý nghĩa thực tiễn to lớn không chỉ ở thời điểm nó ra đời mà còn có tác dụng ngay cả thời điểm hiện nay. Với lý luận này chúng ta có thể nhìn nhận rõ hơn về vấn đề tuần hoàn và chu chuyển tư bản cũng như nguồn vốn trong các doanh nghiệp. Là cơ sở cho các doanh nghiệp nhìn nhận đúng hơn vai trò của vốn để từ đó xây dựng những phương án, giải pháp cho vấn đề sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Đây là nhân tố và tiền đề cho sự phát triển của mỗi quốc gia.

doc18 trang | Chia sẻ: aquilety | Ngày: 24/09/2015 | Lượt xem: 28113 | Lượt tải: 30download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Lý luận tuần hoàn và chu chuyển của tư bản, vận dụng vào các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
— LỜI MỞ ĐẦU – Là một nước đang phát triển trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam luôn đứng trước những cơ hội và thách thức của thời đại đòi hỏi Đảng và nhà nước ta phải có đường lối, chủ trương và chính sách đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn. Phát triển và hội nhập là một trong những xu thế lớn hiện nay. Đối với Việt Nam, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nền kinh tế đi lên theo định hướng XHCN, hội nhập cùng nền kinh tế thị trường thế giới là nhiệm vụ rất quan trọng. Đó không chỉ là thời cơ, điều kiện cần thiết để sản phẩm hàng hóa của Việt Nam được có mặt nhiều hơn trên thị trường quốc tế mà còn là thử thách lớn về nhiều mặt đối với các doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam. Năm 1986, Đại hội ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI quyết định chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Đó là dấu móc lịch sử vô cùng quan trọng đối với đất nước, và cũng kể từ đây nền kinh tế của ta đã vấp phải những khó khăn nhất định, bởi vì để xây dựng thành công một nền kinh tế mới, nền kinh tế thị trường có đinh hướng XHCN, chúng ta cần một khối lượng vốn đầu tư khổng lồ từ nhiều nguồn khác nhau. Không những thế chúng ta còn gặp phải nhiều khó khăn khác trong việc sản xuất, lưu thông, tìm kiếm thị trường và đối tác, Hơn bao giờ hết chúng ta cần có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, cần có một cơ sở lý luận làm kim chỉ nam dẫn đường. Lý luận đấy không thể nào khác hơn đó chính là chủ nghĩa Mác – Lênin. Tiêu biểu hơn đó chính là đề tài nghiên cứu mà em sẽ đưa ra trong bài tiểu luận này: “Lý luận tuần hoàn & chu chuyển của tư bản, vận dụng vào các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Với kiến thức bản thân còn hạn chế, em tự thấy mình còn nhiều thiếu xót, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cho bài viết của em được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn! — NỘI DUNG – Lý luận về vấn đề tuần hoàn và chu chuyển của tư bản Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất biện chứng giữa quá trình sản xuất và quá trình lưu thông. Lưu thông của tư bản, theo nghĩa rộng, là sự vận động của tư bản, nhờ đó mà tư bản lớn lên và thu được giá trị thặng dư, cũng tức là sự tuần hoàn và chu chuyển của tư bản. Tuần hoàn của tư bản Mọi tư bản công nghiệp (ngành sản xuất vật chất) trong quá trình vận động để đạt được mục đích (m) đều phải theo công thức: Ba giai đoạn tuần hoàn của tư bản Mọi tư bản công nghiệp đều vận động qua 3 giai đoạn: T ® TLSX + SLĐ SX H’ ® T’ LT = mua Tạo ra H’ LT = bán Trong 3 giai đoạn vận động này, tư bản tồn tại dưới 3 hình thái, thực hiện 3 chức năng và quay trở về với hình thái ban đầu (T) có kèm theo m. Giai đoạn thứ nhất (giai đoạn lưu thông): Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ (T). Tiền được sử dụng để mua tư liệu sản xuất (TLSX) và sức lao động (SLĐ). Hàng hoá tư liệu sản xuất và hàng hoá sức lao động phải phù hợp với nhau về số lượng và chất lượng. Þ Tư bản tiền tệ chuyển hóa thành tư bản sản xuất. Giai đoạn thứ hai (giai đoạn sản xuất): Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất (TBSX), có chức năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hàng hoá mà trong giá trị của nó có giá trị thặng dư. Trong các giai đoạn tuần hoàn của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp với mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Þ Tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa. Giai đoạn thứ ba (giai đoạn lưu thông): H’ – T’ Trong giai đoạn ba tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chức năng là thực hiện giá trị của khối lượng hàng hóa đã sản xuất ra trong đó đã bao hàm một lượng giá trị thặng dư . Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường để bán hàng, nhà tư bản bán hàng đúng giá trị thu được T’ > T vì trong H’đã có giá trị thặng dư. Þ Kết thúc giai đoạn ba tư bản hàng hoá chuyển hóa thành tư bản tiền tệ (lớn hơn tư bản ứng trước). Ba hình thức tuần hoàn của tư bản Hình thức tuần hoàn của tư bản là hình thức kể từ khi tư bản được ứng ra đến khi quay trở lại cũng dưới hình thức đó có ba hình thức tuần hoàn: tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất, tư bản hàng hoá. Tư bản tiền tệ: bắt đầu là tiền, kết thúc cũng là tiền còn tư bản hàng hoá và tư bản sản xuất là trung gian. Tư bản sản xuất: H’ – T’ – H quá trình sản xuất diễn ra, bắt đầu là sản xuất, kết thúc là sản xuất còn tư bản hàng hoá và tư bản tiền tệ chỉ là trung gian. Tư bản hàng hoá: H’ – T’ – H – SX – H” bắt đầu là hàng hoá kết thúc cũng là hàng hoá còn tư bản tiền tệ và tư bản sản xuất là trung gian. Sự vận động qua ba giai đoạn nói trên là sự vận động có tính tuần hoàn: tư bản ứng ra dưới hình thái tiền và rồi đến khi quay trở về cũng dưới hình thái tiền có kèm theo giá trị thặng dư. Quá trình đó tiếp tục được lặp đi, lặp lại không ngừng gọi là sự vận động tuần hoàn của tư bản. Þ Vậy, tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua 3 giai đoạn, lần lượt mang 3 hình thái khác nhau, thực hiện 3 chức năng khác nhau để rồi lại quay trở về hình thái ban đầu có kèm theo giá trị thặng dư. Giai đoạn 1 (MUA) Giai đoạn 2 (SX) Giai đoạn 3 (BÁN) Tuần hoàn của tư bản Ý nghĩa của tuần hoàn tư bản Nghiên cứu sự biến hoá từ tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất rồi đến tư bản hàng hoá, mà sự vận động của chúng như một chuỗi những biến hoá hình thái của tư bản cho thấy tư bản không phải là vật ở trạng thái tĩnh, mà nó lấy vật làm hình thái tồn tại trong quá trình vận động. Thực tiễn sản xuất và lưu thông cho thấy không phải lúc nào các giai đoạn và các hình thái tư bản trong quá trình tuần hoàn đều ăn khớp với nhau mà không có sự ách tắc và gián đoạn. Mỗi sự ách tắc, gián đoạn ở một giai đoạn nào đó đều gây rối loạn hay đình trệ cho sự tuần hoàn của tư bản. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tư bản nằm lại ở mỗi giai đoạn. Do vậy, thu hẹp hay kéo dài các thời gian đó đều ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tư bản. Tuần hoàn của tư bản chỉ tiến hành một cách bình thường khi hai điều kiện sau đây đựơc thoả mãn: Các giai đoạn của chúng diễn ra liên tục Các hình thái tư bản cùng tồn tại và được chuyển hoá một cách đều đặn Tuần hoàn của tư bản qua ba giai đoạn, trong mỗi giai đoạn tư bản tồn tại dưới hình thái và thực hiện chức năng tương ứng điều đó chứa đựng khả năng tách rời. Khả năng trên biến thành hiện thực khi tái sản xuất tư bản phát triển thì những chức năng trên được chuyên môn hoá tách ra thành những ngành độc lập, những thương nghiệp, công nghiệp, ngân hàng. Chu chuyển của tư bản Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó với tư cách là một quá trình định kỳ đổi mới và thường xuyên lặp đi lặp lại, thì gọi là chu chuyển của tư bản. Thời gian chu chuyển tư bản Thời gian chu chuyển tư bản là thời gian tính từ khi tư bản ứng ra dưới một hình thái nhất định cho đến khi thu về cũng dưới hình thái ban đầu, có kèm theo giá trị thặng dư. Thời gian chu chuyển tư bản cũng là thời gian tư bản thực hiện được một vòng tuần hoàn. Tuần hoàn tư bản bao gồm quá trình sản xuất và quá trình lưu thông, nên thời gian chu chuyển của tư bản cũng bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông. Thời gian chu chuyển = thời gian sản xuất + thời gian lưu thông THỜI GIAN CHU CHUYỂN CỦA TƯ BẢN TG LƯU THÔNG TG SX TG vận chuyển TG bán TG mua TG gián đoạn lao động TG dự trữ sản xuất TG lao động Thời gian sản xuất: Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất. Thời gian sản xuất lại bao gồm thời gian lao động, thời gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất. Thời gian sản xuất = thời gian lao động + thời gian gián đoạn lao động + thời gian dự trữ sản xuất. Thời gian lao động là thời gian người lao động tác động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm. Đây là thời kỳ hữu ích nhất, vì nó tạo ra giá trị hàng hoá. Thời gian gián đoạn lao động là thời gian đối tượng lao động tồn tại dưới dạng bán thành phẩm nằm trong lĩnh vực sản xuất, nhưng không chịu tác động trực tiếp của lao động mà chịu sự tác động của tự nhiên (Ví dụ: thời gian để cây lúa tự lớn lên, rượu ủ men, gạch mộc hoặc gỗ phơi cho khô). Thời kỳ này có thể xen kẽ với thời kỳ lao động hoặc tách ra thành một thời kỳ riêng biệt; có thể dài ngắn khác nhau tuỳ thuộc vào các ngành sản xuất, các sản phẩm chế tạo và phụ thuộc vào công nghệ sản xuất. Thời gian dự trữ sản xuất là thời gian các yếu tố sản xuất đã được mua về, sẵn sàng tham gia quá trình sản xuất, nhưng chưa thực sự được sử dụng vào quá trình sản xuất, còn ở dạng dự trữ tạo điều kiện cho sản xuất diễn ra liên tục. Quy mô dự trữ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc điểm của các ngành, tình hình thị trường và năng lực tổ chức, quản lý sản xuất Cả thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất đều không tạo ra giá trị sản phẩm. Sự tồn tại hai thời kỳ này là không tránh khỏi nhưng nói chung thời gian của chúng càng dài, hay sự chênh lệch giữa thời gian sản xuất với thời gian lao động càng lớn thì hiệu quả hoạt động của tư bản càng thấp. Rút ngắn thời gian này có tác dụng quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản. Thời gian lưu thông Thời gian lưu thông là thời kỳ tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Thời gian này bao gồm thời gian mua và thời gian bán, kể cả thời gian vận chuyển. Thời gian lưu thông = thời gian mua + thời gian bán Trong thời gian lưu thông, tư bản không làm chức năng sản xuất, do đó không sản xuất ra hàng hóa, cũng không sản xuất ra giá trị thặng dư. Thời gian lưu thông dài hay ngắn phụ thuộc vào các nhân tố sau đây: thị trường xa hay gần, tình hình thị trường xấu hay tốt, trình độ phát triển của vận tải và giao thông. Þ Thời gian chu chuyển của tư bản càng rút ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng dư được sản xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nahnh hơn. Tốc độ chu chuyển của tư bản Thời gian chu chuyển tư bản chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố nên thời gian chu chuyển trong cung một ngành và giữa những ngành khác nhau là rất khác nhau. Để so sánh được cần tính tốc độ chu chuyển tư bản. Tốc độ chu chuyển của tư bản là số vòng (lần) chu chuyển của tư bản trong một năm. Ta có công thức số vòng chu chuyển của tư bản như sau: Trong đó: (n) là số vòng quay (hay lần) chu chuyển của tư bản (CH) là thời gian trong năm (ch) là thời gian cho 1 vòng chu chuyển của tư bản Ví dụ: Một tư bản có thời gian 1 vòng chu chuyển là 6 tháng thì tốc độ chu chuyển trong năm là: Þ Như vậy, tốc độ chu chuyển của tư bản tỷ lệ nghịch với thời gian 1 vòng chu chuyển của tư bản. Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của nó. Tư bản cố định và tư bản lưu động Trong quá trình sản xuất, các bộ phận khác nhau của tư bản chu chuyển không giống nhau. Căn cứ vào phương thức chu chuyển của từng bộ phận, Mác chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động. Tư bản cố định Tư bản cố định là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị nhà xưởng... về hiện vật tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó bị khấu hao từng phần và được chuyển dần vào sản phẩm mới được sản xuất ra. Trong quá trình sử dụng tư bản cố định bị hao mòn dần và có hai hình thức hao mòn: Hao mòn hữu hình: hao mòn về vật chất, hao mòn về cơ học có thể nhận thấy. Hao mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của tư bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và phải được thay thế. Hao mòn vô hình: hao mòn thuần túy về mặt giá trị do sự phát triển của khoa học công nghệ dẫn đến máy móc bị mất giá trong khi vẫn đang sử dụng. Để tránh hao mòn vô hình, các nhà tư bản tìm cách kéo dại ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng ca kíp làm việc, nhằm tận dụng công suất của máy móc trong thời gian càng ngắn càng tốt. Þ Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng để tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng lên, tránh được thiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy và hao mòn vô hình gây ra. Nhờ đó mà có điều kiện đổi mới thiết bị nhanh. Tư bản lưu động Tư bản lưu động là bộ phận tư bản tồn tại dưới dạng nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ, sức lao động, giá trị của nó lưu thông toàn bộ cùng với sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản sau mỗi quá trình sản xuất. Chu chuyển chung Chu chuyển chung là con số chu chuyển tư bản của các bộ phận cuả tư bản. Chu chuyển chung có liên quan đến chu chuyển cuả tổng tư bản ứng trước.Chu chuyển chung nhanh hay chậm phụ thuộc tốc độ chu chuyển của tư bản cố định và tư bản lưu động. Trong đó: Gcđ = Giá trị tư bản cố định / Số năm sử dụng Glđ = Giá trị tư bản lưu động X Số vòng (lần) chu chuyển của nó trong năm K = Tổng tư bản ứng trước T = Tốc độ chu chuyển chung Chu chuyển thực tế Chu chuyển thực tế là thời gian thực tế để tất cả các bộ phận của tư bản được khôi phục lại cả về hiện vật và giá trị. Giải pháp nâng cao tốc độ chu chuyển tư bản Từ công thức tốc độ chu chuyển tư bản cho thấy thời gian chu chuyển tư bản phụ thuộc vào độ dài hay ngắn của thời gian sản xuất và thời gian lưu thông. Nói cách khác, phụ thuộc vào những biện pháp phát huy các nhân tố thuận lợi và hạn chế nhân tố không thuận lợi ảnh hưởng đến thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của một vòng chu chuyển tư bản. Thời gian sản xuất dài, ngắn ngoài sự phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành sản xuất khác nhau, còn phụ thuộc vào trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ và sự ứng dụng vào quá trình sản xuất, phụ thuộc vào trình độ tổ chức phân công lao động và trình độ dịch vụ các yếu tố gắn với đầu vào của sản xuất. Những tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và của nền kinh tế thị trường hiện đại cho phép sử dụng những thành tựu kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới, cho phép tổ chức sản xuất và dịch vụ sản xuất một cách khoa học từ đó đã rút ngắn đáng kể thời kỳ gián đoạn lao động, thời kỳ dự trữ sản xuất, để tăng thời kỳ lao động và do đó làm tăng hiệu quả hoạt động của tư bản. Thời gian lưu thông dài, ngắn phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: tình hình thị trường (cung – cầu và giá cả); khoảng cách từ sản xuất đến thị trường; trình độ phát triển của giao thông vận tải Mặc dù, sự tồn tại thời gian lưu thông là tất yếu và có vai trò rất quan trọng đối với thời gian sản xuất, song rút ngắn thời gian lưu thông sẽ làm cho tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông giảm xuống tăng lượng tư bản đầu tư cho sản xuất, tạo ra nhiều giá trị và giá trị thặng dư hơn, nên làm tăng hiệu quả hoạt động của tư bản. Do chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, nên thời gian chu chuyển của các tư bản diễn ra khác nhau. Để nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản, các nhà tư bản thường tìm mọi biện pháp khai thác mặt thuận lợi và hạn chế mặt không thuận lợi của những nhân tố nói trên để nâng cao tốc độ chu chuyển tư bản nhằm tăng cường bóc lột ngày càng nhiều giá trị thặng dư của người công nhân. Þ Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định. Việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng: Một mặt, tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong năm, do đó tiết kiệm được tư bản ứng trước Mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động khả biến làm cho tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hằng năm tăng lên. Vận dụng lý luận vào các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Trước năm 1986, nền kinh tế nước ta phát triển theo mô hình tập trung quan liêu bao cấp nên hầu hết các doanh nghiệp đều là của nhà nước. Sự phát triển của các doanh nghiệp quốc doanh rất trì trệ, lạc hậu do thiếu vốn và do thói ỷ lại vào nhà nước của các doanh nghiệp. Chủ yếu trong thời kỳ này là các doanh nghiệp hoạt động theo sự chỉ đạo của nhà nước, chưa phát huy được yếu tố nhân lực cũng như nguồn vốn của nhà nước. Từ sau năm 1986 đến nay, nền kinh tế nước ta đã chuyển sang một thời kỳ mới. Môi trường hoạt động của các doanh nghiệp có những biến đổi sâu sắc: nền kinh tế nhiều thành phần, nền kinh tế khép kín trước đây đã chuyển dần sang nền kinh tế mở, các doanh nghiệp nhà nước được tiếp cận với thị trường mới, kỹ thuật mới, cách quản lý mới. Nhưng đồng thời đứng trước những thử thách khắc nghiệt của sự xâm nhập cạnh tranh quyết liệt của các hàng ngoại trong cơ chế thị trường. Vai trò, trách nhiêm, đường lối quản lý của doanh nghiệp có sự đổi mới sâu sắc, tình trạng thiếu đồng bộ của chính sách luật lệ quản lý đã từng bước được khắc phục. Trong điều kiện đó, hệ thống doanh nghiệp nước ta bước đầu được sắp xếp lại, số lượng các doanh nghiệp nhà nước tuy giảm so với trước nhưng những doanh nghiệp đang hoạt động vẫn chiếm giữ những ngành then chốt. Nhiều doanh nghiệp đã trụ vững và đã phát huy được vai trò định hướng, trung tâm liên kết các thành phần kinh tế. Tuy có đổi mới quan trọng, nhưng các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn những mặt yếu kém: Số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng phần lớn là quy mô nhỏ, bố trí phân tán, 2/3 số doanh nghiệp có quy mô dưới 200 lao động, 4% số doanh nghiệp có quy mô trên 1000 lao động, 81,7% doanh nghiệp nhà nước có vốn dưới 5 tỷ đồng Việt Nam. Trình độ công nghệ, kỹ thuật quá lạc hậu, mức độ hoàn chỉnh đồng bộ thấp, do đó hao phí vật chất lớn, chất lượng sản phẩm kém, sản xuất không năng suất nên không có khả năng cạnh tranh, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Sự đóng góp của doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước tương đối lớn nhưng chưa tương xứng với sự đầu tư của nhà nước cho các doanh nghiệp. Hệ thống quản lý các doanh nghiệp còn nhiều yếu kém. Đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề trình độ chuyên môn thấp, chưa được đào tạo căn bản hệ thống. Từ thực tế trên, chúng ta phải sớm đưa ra những biện pháp để khắc phục những tồn tại yếu kém trên. Xác định đường lối sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp Như chúng ta đã biết, hiện nay nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần tương ứng với nó là nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Bên cạnh các chính sách kinh tế khuyến khích thành lập doanh nghiệp ngày một nhiều. Song việc thành công hay thất bại lại do rất nhiều yếu tố tác động. Nhưng nhân tố then chốt là sự quyết định của nhà tư bản. Ngay từ đầu, doanh nghiệp phải xác định cho mình một hướng đi đúng đắn, thích hợp nhất, đó là việc trả lời  ba câu hỏi: sản xuất cải gì?, sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai?. Chỉ khi doanh nghiệp trả lời được ba câu hỏi này một cách đầy đủ, rõ ràng, chính xác nhất thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được giải quyết tốt. Như vậy có thể nói, các doanh nghiệp đã thực hiện quá trình tuần hoàn tư bản. Trả lời cho câu hỏi sản xuất cái gì doanh nghiệp cần có chiến lược phân tích nhu cầu thị trường xem thị trường đang thiếu cái gì, mà nhu cầu về mặt hàng này đang tăng mà nó sẽ mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho doanh nghiệp trong khả năng vốn hiện có. Sau đó nhà tư bản sẽ bỏ vốn để mua tư liệu sản xuất như nguyên vật liệu, sức lao động, nhà xưởng Đây là giai đoạn vốn của doanh nghiệp từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái hiện vật. Ở giai đoạn này nhà tư bản phải biết cân đối vốn để mua tư liệu sản xuất và trả lương cho công nhân theo tỷ lệ thích hợp. Nếu một trong hai nhân tố đó không được phân bổ phù hợp sẽ làm cho quá trình sản xuất không hiệu quả ảnh hưởng tới sự tuần hoàn và chu chuyển của tư bản. Dựa vào phân tích tốc độ chu chuyển của vốn các doanh nghiệp không chỉ lên kế hoạch sản xuất kinh doanh mà còn phải xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn bằng cách hình thành các quỹ như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ khấu hao, quỹ phúc lợi. Sau một thời gian sản xuất những quỹ này được đưa ra sử dụng mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, nhập các dây truyền sản xuất hiện đại làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt, giảm giá thành sản phẩm, để tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp Đổi mới và kiện toàn bộ máy quản lý từ trên xuống dưới, chỉ số thông qua đổi mới chúng ta mới nó giúp chúng ta làm việc tốt hơn, các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn. Thông qua đổi mới chúng ta xóa bỏ được cơ chế quản lý cũ, quan liêu, bao cấp chỉ biết đến các chính sách, mệnh lệnh mà không có các biện pháp khuyến khích lao động, khuyến khích phát triển. Nâng cao năng lực của các cán bộ quản lý. Chúng ta phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng kiến thức mới cho họ, chỉ có làm như vậy mới đáp ứng được xu thế của thời đại. Một cán bộ quản lý có năng lực, có tri thức là một điều kiện không thể thiếu được cho các doanh nghiệp. Cần nghiên cứu chuyển các tổ chức quốc doanh sang chế độ trách  nhiệm hữu hạn, lấy vốn pháp định làm cơ sở cho việc xử lý các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp cũng như giữa các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng. Các doanh nghiệp cần phải có một chế độ quản lý tài chính công khai, có sổ sách ghi chép, tránh tình trạng lập các quỹ đen chi tiêu không đúng mục đích của các cán bộ quản lý. Tránh tình trạng hai sổ sách trong công tác kế toán, chỉ giao sự quản lý cho các cơ quan chuyên môn phụ trách, đảm nhiệm, các cơ quan cấp trên chỉ định hướng xem xét kế hoạch phát triển. Quản lý sản xuất cần phải thấy rõ được số lượng, khối lượng và chất lượng của sản phẩm, tránh tình trạng sản xuất tràn lan không tiêu thụ được sản phẩm. Sản xuất cần năng động, bắt kịp nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng. Quản lý, đầu tư nguồn vốn có hiệu quả, có mục đích tránh tình trạng đầu tư không trọng điểm, không đem lại kết quả gây ra thất thoát ngân sách cho nhà nước. Quản lý người lao động  là quản lý một thực thế sinh học chứ không phải là quản lý một cái máy chúng ta phải có các chính sách kinh tế đề kích thích người lao động làm việc tốt hơn hiệu quả hơn. Tiết kiệm tư bản ứng trước Các máy móc thiết bị sau một thời gian dài hoạt động sẽ bị hao mòn dần, chuyển một phần giá trị vào sản phẩm. Ngoài việc cải tiến máy móc, nhập thêm những dây truyền sản xuất tiên tiến, hiện đại các doanh nghiệp phải dựa vào kinh nghiệm sản xuất kinh doanh mà dự tính trước những công việc khấu hao tài sản cố định. Mặt khác, để tránh hao mòn vô hình, doanh nghiệp phải hết sức tiết kiệm các chi phí bảo quản và sửa chữa bằng các nâng cao ý thức người lao động đối với việc sử dụng máy móc, tăng cường sử dụng hết công suất để thu hồi vốn nhanh và thu nhiều lợi nhuận trong thời gian ngắn nhất. Đưa ra các giải pháp tăng tốc độ chu chuyển vốn Muốn quay vòng vốn nhanh để tiếp tục một chu kỳ sản xuất mới các doanh nghiệp phải ra sức rút ngắn thời gian sản xuất và thời gian lưu thông vì nó là thành phần tạo nên thời gian chu chuyển của vốn. Các doanh nghiệp ở nước ta trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thường đưa ra các giải pháp sau để rút ngắn thời gian sản xuất: Áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại để tăng năng suất lao động. Bên cạnh nhập khẩu một số dây truyền hiện đại các doanh nghiệp không nên bỏ qua những dây truyền có khả năng sử dụng bằng cách bán lại cho những doanh nghiệp cần nó. Mở rộng quan hệ để liên doanh, liên kết. Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới. Do đó liên doanh liên kết là con đường ngắn nhất để bắt kịp với sự tiến bộ của thế giới. Cải tiến bộ máy tổ chức và quản lý lao động. Hiện nay một số doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu tổ chức cồng kềnh, dẫn đến việc giải quyết công việc chậm chạp, chồng chéo lên nhau, vi phạm quyền hạn và trách nhiệm của người này với người khác. Vì vậy các doanh nghiệp cần phải tinh giản tối đa cơ cấu hành chính. Còn đối với người lao động trực tiếp phải bố trí thời gian làm việc hợp lý 40 giờ một tuần đồng thời trả lương và những phần thưởng xứng đáng cho người lao động để họ có thời gian và vật chất để cải thiện đời sống, khiến họ làm việc có năng suất và hiệu quả hơn. Còn để rút ngắn thời gian lưu thông cần sử dụng các biện pháp sau: Các doanh nghiệp phải thường xuyên nghiên cứu thị trường, nắm bắt được tâm lý, nhu cầu của người tiêu dùng để từ đó có quyết định mở rộng hay thu hẹp sản xuất mặt hàng của doanh nghiệp trên thị trường. Thường xuyên cải tiến mặt hàng, làm phong phú các chủng loại, phù hợp với mọi đối tượng, độ tuổi, giới tính. Sự đa dạng của hàng hoá đem lại lợi ích rất lớn: không những thoả mãn tối đa nhu cầu của người tiêu dùng mà còn tận dụng những tư liệu sản xuất chưa dùng đến và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh. Áp dụng các hình thức thanh toán linh hoạt, xác định rõ các thị trường để phân phối các hàng hoá sao cho thích hợp nhất. Hạn chế rủi ro trong kinh doanh Trong cơ chế thị trường sự cạnh tranh diễn ra hết sức khốc liệt, nó tạo ra nhiều cơ hội làm ăn mới song cũng chứa đầy thử thách và đe doạ. Nắm bắt được quy luật tuần hoàn và chu chuyển vốn, các doanh nghiêp tận dụng nhiều cơ hội để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả Trong mỗi doanh nghiệp việc tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả là một trong những vấn đề quan trọng nhất để có thể duy trì và phát triển doanh nghiệp. Ngay từ xa xưa các nhà kinh tế đã đánh giá cao vai trò của vốn. Mác đã trình bày vai trò của vốn qua nhiều học thuyết trong đó có “tuần hoàn và chu chuyển”. Dựa trên những luận điểm đó chúng ta có thể đưa ra một số những phương pháp, biện pháp, công cụ quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn vốn của doanh nghiệp. Lựa chọn phương án kinh doanh, phương án sản phẩm Hiệu quả sử dụng vốn trước hết, được quyết định bởi việc doanh nghiệp có khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong điều kiện kinh tế thị trường quy mô và tính chất sản xuất, kinh doanh không phải do chủ quan doanh nghiệp quyết định mà do thị trường quyết định. Vì vậy giải pháp đầu tiên có ý nghĩa quyết định hiệu quả kinh doanh hiệu quả sử dụng vốn là phải lựa chọn đúng đắn phương án kinh doanh, phương án sản phẩm. Các phương án đó phải được xây dựng trên cơ sở tiếp cận thị trường. Có như vậy sản phẩm sản xuất ra của doanh nghiệp mới có khả năng tiêu thụ được, quá trình sản xuất mới tiến hành bình thường, tài sản cố định mới có khả năng phát huy hết công suất, vốn lưu động chu chuyển đều đặn. Lựa chọn và sử dụng hợp lý các nguồn vốn Ngoài nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư thì các doanh nghiệp cần huy động những nguồn vốn bổ sung nhằm đảm bảo sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường và mở rộng quy mô hoặc đầu tư chiều sâu. Các nguồn huy động bổ sung vốn bao gồm nhiều nguồn: nguồn vốn doanh nghiệp tự bổ sung, vay ngân hàng, vay các đối tượng khác, liên doanh liên kết. Đối với việc tạo vốn đầu tư Để hình thành và thúc đẩy các nguồn vốn đầu tư cho doanh nghiệp, chính phủ ban hành đồng bộ, đầy đủ cơ chế chính sách về huy động vốn để tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp thực hiện việc huy động vốn. Đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng: nhà nước cần có chính sách lãi suất tiền vay hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế hiện tại của các doanh nghiệp, có chính sách chú trọng việc mở rộng vay dài hạn để doanh nghiệp vừa có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị, vừa cân đối khả năng trả nợ Muốn vậy, nhà nước cần tiếp tục cải cách chính sách tiền tệ tạo ra điểm gặp nhau giữa cung và cầu về vốn, mục tiêu chính là giải quyết ba vấn đề: chính sách lãi suất, tỷ giá và quản lý ngoại hối. Đối với các tổ chức xã hội, đoàn thể: khuyển khích các tổ chức xã hội (bảo hiểm xã hội và các công ty bảo hiểm thương mại), tham gia cho doanh nghiệp vay vốn để tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi của các cơ quan này, đồng thời mở rộng thị trường vốn trong nước, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư của doanh nghiệp. Đối với quần chúng nhân dân, người lao động: xây dựng một chính sách huy động vốn cụ thể, trong đó quy định trần lãi suất, hình thức vay trả Nên gắn lợi ích người lao động với hình thức huy động vốn như việc làm, thu nhập Đối với khu vực doanh nghiệp: Khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng hình thức thuê mua, thuê vận hành. Đây là những giải pháp cho doanh nghiệp thiếu vốn muốn đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị. Song để áp dụng hình thức này chúng ta cần hình thành những công ty thuê mua có chức năng hỗ trợ doanh nghiệp trong việc lựa chọn bạn hàng, đánh giá chất lượng máy móc thiết bị Thực hiện việc liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp với các thành phần kinh tế khác để thu hút nguồn tài chính, trình độ quản lý, công nghệ của những đối tác này. Song có một vấn đề nhà nước cần quan tâm là quyền lợi của doanh nghiệp trong kinh doanh. Cho phép những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả vay lại những nguồn vốn viện trợ của nước ngoài. Chính phủ cần xúc tiến, đẩy mạnh việc ra đời thị trường chứng khoáng để tạo môi trường cho việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu để huy động vốn cho doanh nghiệp. Tiếp tục sắp xếp, củng cố khu vực doanh nghiệp, đẩy mạnh công tác cổ phần hoá. Việc sắp xếp khu vực doanh nghiệp thời gian qua đã có những bước tiến đáng mừng: thu hẹp lại khu vực DNNN, nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này. Đối với việc quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp Để thực hiện tốt công tác này phải có sự kết hợp từ hai phía: nhà nước và doanh nghiệp, trong đó khuyến khích nâng cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp (cá nhân và tập thể cán bộ công nhân viên). Nhà nước chỉ đóng vai trò giám sát. Về phía nhà nước: Nhà nước cần sớm triển khai việc đánh giá hệ số tín nhiệm đối với các doanh nghiệp để từ đó áp dụng những ưu đãi với mức độ khác nhau đối với từng doanh nghiệp: những doanh nghiệp có hệ số tín nhiệm cao sẽ được  ưu tiên vay vốn trước, vay số lượng lớn, trong trường hợp cần thiết có thể lấy uy tín làm yếu tố đảm bảo vay. Bất kỳ một dự án vay vốn nào của doanh nghiệp đều phải được xem xét tính hiệu quả và khả năng trả nợ mới được phép triển khai. Tăng cường công tác hoạt động kiểm tra giám sát để kịp thời pháp hiện những sai phạm trong việc huy động vốn, việc lập đề án, việc sử dụng vốn, việc tích luỹ vốn trả nợ. Cơ quan quản lý doanh nghiệp cần xây dựng những nguyên tắc kiểm tra, kiểm soát thường niên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp chế độ giám sát tình hình sử dụng và huy động vốn tại doanh nghiệp, có ý kiến kịp thời trước sự thay đổi nguồn vốn tại doanh nghiệp. Phải gắn quyền lợi và trách nhiệm quản lý doanh nghiệp trước sự thiếu hụt mất mát tài sản, tiền vốn. Về phía doanh nghiệp: Vấn đề cốt lõi để quản lý sử dụng tốt nguồn vốn là hoạt động sản xuất  kinh doanh của doanh nghiệp phải thực sự hiệu quả, doanh nghiệp phải làm ăn có lợi nhuận phải có tích luỹ. Muốn vậy, doanh nghiệp phải tự đánh giá lại mình về khả năng cạnh tranh, nguồn lực của doanh nghiệp. Từ đó xây dựng kế hoạch kinh doanh cho phù hợp. Nghị định 59/CP ban hành ngày 3/10/1996 đã quy định cụ thể hơn cơ chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp, song cần xây dựng hoàn chỉnh các chính sách kinh doanh, phương hướng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực một cách cụ thể để từng doanh nghiệp xác định nhiệm vụ, kế hoạch cho mình. Nghị định 59/CP là một bước tiến trong việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng và phát triển tài sản và tiền vốn tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, quyền lợi và trách nhiệm của ban lãnh đạo, ban kiểm soát nội bộ doanh nghiệp cần được quy định cụ thể hơn: Mức độ chịu trách nhiệm, biện pháp xử lý, cấp quyết định xử lý Nhanh chóng hình thành ban kiểm soát, kiểm toán nội bộ doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp kịp thời phát hiện những sai sót về sử dụng vốn trong hoạt động. Quy định trách nhiệm của cá nhân, tập thể trong việc đi vay, cho vay, bảo lãnh vay, sử dụng vốn vay và trả nợ. Tổ chức và quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh Đây là một vấn đề quan trọng giúp quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành thông suốt đều đặn, nhịp nhàng giữa các khâu dự trữ, sản xuất, tiêu thụ. Nhằm hạn chế tối đa tình trạng ngừng việc của máy móc, ứ đọng vật tư gây lãng phí yếu tố sản xuất và làm chậm tốc độ luân chuyển vốn. Quản lý vốn cố định Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định các doanh nghiệp cần: Bố trí dây truyền sản xuất hợp lý, khai thác hết công suất thiết kế, giảm chi phí khấu hao trong giá thành sản phẩm. Xử lý dứt điểm những tài sản cố định không cần dùng hư hỏng chờ thanh lý nhằm thu hồi vốn cố định chưa sử dụng vào luân chuyển, bổ sung thêm vốn cho sản xuất. Phân cấp quản lý tài sản cố định cho các phân xưởng, bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp giảm tối đa thời gian ngừng vịêc giữa ca hoặc ngừne việc để sửa chữa. Doanh nghiệp phải thường xuyên quan tâm đến việc bảo toàn vốn cố định, tránh mất mát hư hỏng trước thời hạn khấu hao. Quản lý vốn lưu động Hiệu quả sử dụng vốn lưu động phụ thuộc vào việc sử dụng tiết kiệm và tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động. Do vậy các doanh nghiệp cần có các biện pháp quản lý như sau: Xác định đúng nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho từng kỳ sản xuất. Nếu tính không đúng dẫn đến tình trạng thiếu vốn sẽ khó khăn về khả năng thanh toán, sản xuất bị ngừng trệ, hoặc thừa vốn dẫn đến lãng phí làm chậm tốc độ luân chuyển vốn. Tổ chức tốt quá trình thu mua, dự trữ vật tư, hạn chế tình trạng ứ đọng làm mất phẩm chất vật tư, gây ứ đọng vốn lưu động. Tổ chức đa dạng các hình thức tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường trong và ngoài nước nhằm tiêu thụ sản phẩm nhanh, vươn lên làm chủ thị trường. Tiết kiệm các yếu tố chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lưu thông nhằm góp phần giảm chi phí sản xuất tăng lợi nhuận. Mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh Trong điều kiện cách mạng công nghệ, việc mạnh dạn áp dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất kinh doanh là một trong những điều kiện quyết định lợi thế và khả năng phát triển của doanh nghiệp. Kỹ thuật tiến bộ và công nghệ hiện đại là điều kiện vật chất để doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm mới, hợp thị hiếu, chất lượng cao, nhờ đó doanh nghiệp có thể tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, tăng giá bán, tăng lợi nhuận. Đồng thời nhờ áp dụng kỹ thuật tiến bộ, doanh nghiệp có thể rút ngắn chu kỳ sản xuất sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên vật liệu hoặc sử dụng các loại vật tư thay thế nhằm tăng tốc độ luân chuyển vốn, tiết kiệm chi phí vật tư, hạ giá thành sản phẩm. Nhìn chung TSCĐ, công nghệ sản xuất ở đa số các doanh nghiệp của nước ta hiện nay rất lạc hậu, do vậy các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với các sản phẩm nhập ngoại cả về chất lượng, kiểu dáng và giá bán. Để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và từng bước tăng khối lượng, chủng loại sản phẩm có khả năng xuất khẩu, các doanh nghiệp phải mạnh dạn đầu tư đổi mới thay thế TSCĐ cũ, lạc hậu bằng TSCĐ mới, hiện đại, thay đổi công nghệ sản xuất. Sự đầu tư đổi mới kỹ thuật, công nghệ có thể làm cho tỷ trọng vốn cố định trên tổng số vốn sản xuất – kinh doanh tăng lên, tổng chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền lương công nhân sản xuất kết quả cuối cùng là sản xuất và tiêu thụ được nhiều sản phẩm chất lượng cao, tăng giá bán, tăng khối lượng lợi nhuận thu được và tăng hiệu qua sử dụng vốn sản xuất kinh doanh. Tổ chức tốt công tác hạch toán, kế toán và phân tích hoạt động kinh tế Qua số liệu, tài liệu kế toán, đặc biệt là các báo cáo kế toán tài chính doanh nghiệp thường xuyên nắm được số vốn hiện có, cả về mặt giá trị và hiện vật, nguồn hình thành và các biến động tăng, giảm vốn trong kỳ, mức độ đảm bảo vốn lưu động, tình hình và khả năng thanh toán Nhờ đó, doanh nghiệp đề ra các giải pháp đúng đắn để xử lý kịp thời các vấn đề tài chính nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh thuận lợi theo kế hoạch đề ra như huy động vốn bổ sung, xử lý số vốn thừa, đẩy mạnh tiến độ tiêu thụ sản phẩm, thu hồi khoản phải thu, thanh toán các khoản nợ đến hạn trả Tuy nhiên, kế toán là hệ thống thông tin thực hiện, các số liệu, tài liệu kế toán tự nó chưa thể chỉ ra những biện pháp cần thiết để tăng cường quản lý vốn. Do vậy, định kỳ doanh nghiệp phải thực hiện phân tích hoạt động kinh tế, trong đó có phân tích tình hình tài chính và hiệu quả sử dụng vốn. Thông qua tìm ra nguyên nhân để có biện pháp khắc phục kịp thời. Một số đề xuất để các doanh nghiệp khấu hao nhanh tài sản cố định Khái niệm Khấu hao là việc định giá, tính toán, phân bổ một cách có hệ thống giá trị của tài sản do sự hao mòn tài sản sau một khoảng thời gian sử dụng. Khấu hao TSCĐ là sự phân bổ dần giá trị TSCĐ vào giá thành sản phẩm nhằm tái sản xuất TSCĐ sau khi hết thời gian sử dụng. Có 2 phương pháp khấu hao chủ yếu là: phương pháp khấu hao tuyến tính cố định (khấu hao đường thẳng) và các phương pháp khấu hao nhanh. Þ Như vậy, hao mòn TSCĐ là một hiện tượng khách quan làm giảm giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐ, còn khấu hao là một biện pháp chư quan trong quản lý nhằm thu hồi lại giá trị đã bị hao mòn. Một số đề xuất Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản Nâng cao năng suất lao động để rút ngắn thời gian lao động. Áp dụng khoa học kỹ thuật để rút ngắn thời gian gián đoạn lao động. Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng dẫn đến rút ngắn thời gian chu chuyển. Áp dụng các phương pháp khấu hao một cách linh hoạt Vận dụng một cách linh hoạt, chủ động các phương pháp khấu hao TSCĐ. Ví dụ: Đối với 1 doanh nghiệp, trước tiên ta nên đăng ký phương pháp khấu hao theo đường thẳng ở năm đầu. Nếu như thỏa mãn 3 điều kiện sau: Doanh nghiệp khấu hao theo phương pháp khấu hao nhanh mà vẫn có lãi, hay nói cách khác là doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Chỉ áp dụng với TSCĐ mới, chưa sử dụng. Áp dụng cho những TSCĐ trong những ngành có tốc độ phát triển cao, dễ xảy ra hao mòn vô hình (trượt giá). Mức khấu hao nhanh không được vượt quá 2 lần mức khấu hao đường thẳng. Þ Khi ấy thì ta mới nên khấu hao theo phương pháp khấu hao nhanh. Lưu ý các ưu, khuyết điểm của 2 phương pháp khấu hao TSCĐ: Phương pháp khấu hao tuyến tính cố định (khấu hao đường thẳng) có ưu điểm là việc tính toán đơn giản, tổng mức khấu hao của TSCĐ được phân bổ đều đặn trong các năm sử dụng TSCĐ và không gây ra sự đột biến trong giá thành sản phẩm hàng năm, nhưng nhược điểm là trong nhiều trường hợp không thu hồi vốn kịp thời do không tính hết được sự hao mòn vô hình của TSCĐ. Các phương pháp khấu hao nhanh: Ưu điểm của các phương pháp khấu hao nhanh: Thu hồi vốn nhanh, giảm bớt được tổn thất do hao mòn vô hình. Đây là một biện pháp “hoãn thuế” trong những năm đầu của doanh nghiệp. Nhược điểm: Có thể gây nên sự đột biến về giá thành sản phẩm trong những năm đầu do chi phí khấu hao lớn, sẽ bất lợi trong cạnh tranh. Do vậy đối với những doanh nghiệp kinh doanh chưa ổn định, chưa có lãi thì không nên áp dụng các pp khấu hao nhanh. Kết luận Việt Nam là một quốc gia đang phát triển trên con đường mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã để lại. Tuy vậy, không phải là chúng ta đi một cách dập khuôn và máy móc theo họ mà phải kế thừa, phát huy và vận dụng một cách sáng tạo những điều đó vào tình hình cụ thể của đất nước ta. Như chúng ta đều biết, doanh nghiệp là tế bào cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là nơi kết hợp một cách có hiệu quả các nguồn lực để tạo ra của cải cho xã hội, là nguồn gốc tạo nên sức mạnh kinh tế. Sự giàu có của một quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay của nước ta việc quản lý và sử dụng vốn hiệu quả của các doanh nghiệp là một vấn đề tương đối phức tạp. Giữa lý luận và hiện thực còn có nhiều vướng mắc mâu thuẫn chưa thực sự giải quyết được. Vì vậy nghiên cứu học thuyết “tuần hoàn và chu chuyển tư bản” với điều kiện hiện có của doanh nghiệp là rất cần thiết cho mỗi doanh nghiệp để xác định được vị trí và chỗ đứng trên thị trường .  Với học thuyết “tuần hoàn và chu chuyển tư bản” của Mác, ta đã có những tiền đề và cơ sở lý luận cho sự phát triển nền kinh tế của đất nước theo con đường đúng đắn, hợp lý nhất. Học thuyết này mang một ý nghĩa thực tiễn to lớn không chỉ ở thời điểm nó ra đời mà còn có tác dụng ngay cả thời điểm hiện nay. Với lý luận này chúng ta có thể nhìn nhận rõ hơn về vấn đề tuần hoàn và chu chuyển tư bản cũng như nguồn vốn trong các doanh nghiệp. Là cơ sở cho các doanh nghiệp nhìn nhận đúng hơn vai trò của vốn để từ đó xây dựng những phương án, giải pháp cho vấn đề sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Đây là nhân tố và tiền đề cho sự phát triển của mỗi quốc gia. — MỤC LỤC – ² TÀI LIỆU THAM KHẢO ² -----oOo----- Có thể tham khảo các tài liệu sau: Quyển tư bản tập II của Mác Tạp chí cộng sản Tạp chí ngân hàng Tạp chí ngân hàng Hướng dẫn mới về thuế GTGT & hóa đơn chứng từ Các trang web tham khảo: Ngoài 7 tài liệu trên, có thể tham khảo thêm “Văn kiện các kì Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ VII, VIII”.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doctieu_luan_triet_hoc_2_6987.doc
Luận văn liên quan