Tiểu luận Phân tích tình hình hoạt động và vai trò của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán trong nền kinh tế Việt nam hiện nay

Trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay khi mà tỷ lệ lạm phát tăng cao, và tình hình kinh doanh của nhiều doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là các công ty cổ phần. Thì lúc này rất cần những quyết định đúng đắn của các nhà quản lý để nâng cao hiệu qua kinh doanh của các công ty cổ phần đồng thời vực dậy nền kinh tế hiện nay. Qua đây chúng ta cũng thấy được vai trò của công ty cổ phần nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế nước ta hiện nay: Thị trường chứng khoán là nơi thu hút nguồn vốn trong xã hội để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, là công cụ giúp Nhà nước thự hiện chiến lược huy động vốn phục vụ cho chương trình phát triển kinh tế xã hội, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thị trường chứng khoán giúp huy động vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp cổ phần mà ngân hàng thương mại chưa thể đáp ứng được. Là phương tiện thu hút vốn nước ngoài thông qua các nhà đầu tư nước ngoài mua chứng khoán Việt Nam. Thị trường chứng khoán góp phần điều hoà vốn giữa các ngành kinh tế quốc doanh, do đó thúc đẩy sự bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận, một động lực để cạnh tranh phát triển. Thông qua thị trường chứng khoán, một mặt doanh nghiệp huy động được vốn, mặt khác cũng thu hút thêm các nhà đầu tư mới tham gia vào quản lý doanh nghiệp. Đây là động lực của tăng trưởng, là cơ sở cho sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngành. Thị trường chứng khoán là công cụ khuyến khích tiết kiệm và tạo thói quen đầu tư trong công chúng. Có thị trường chứng khoán, công chúng có thêm một phương án lựa chọn thay vì chỉ gửi tiển vào ngân hàng.

pdf38 trang | Chia sẻ: aquilety | Ngày: 27/03/2015 | Lượt xem: 1446 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Phân tích tình hình hoạt động và vai trò của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán trong nền kinh tế Việt nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lợi nhuận. Ta thấy hiệu quả sử dụng vốn của công ty rất cao khi tạo ra được lợi nhuận từ nguồn vốn ban đầu, vì vậy ngành sữa là một ngành đầy tiềm năng và mang lai lợi nhuận cao trong thời gian tới. IV. VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN. Với những đặc điểm rất riêng của mình công ty cổ phần có vai trò quan trong đối với việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, cụ thể là: - Công ty cổ phần có khả năng tập trung vốn nhanh chóng với quy mô lớn để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh khổng lồ mà không nhà tư bản riêng biệt nào có thể tự mình làm nổi. C.Mác đã đánh giá vai trò này của công ty cổ phần như sau: "Nếu như cứ phải chờ Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 11 cho đến khi tích luỹ làm cho một nhà tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn không có đường sắt. Ngược lại qua công ty cổ phần sự tập trung đã thực hiện được việc đó chỉ trong nháy mắt" - Công ty cổ phần góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng của đồng vốn bởi vì : Thứ nhất, do hình thức tự cấp phát tài chính bằng huy động vốn đã đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp nâng cao sự quan tâm đến sử dụng hiệu quả nguồn vốn. Mặt khác do sức ép của cổ đông do việc đòi chia lãi cổ phần và muốn duy trì giá cổ phiếu cao trên thị trường chứng khoán khiến doanh nghiệp phải phấn đấu nâng cao hiêụ quả sử dụng đồng vốn. Thứ hai, là do lợi nhuận của các công ty cổ phần là khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau thúc đẩy nên có thể dẫn dắt tiền vốn nhàn rỗi từ nhiều kênh khác nhau trong xã hội vào các ngành, các lĩnh vực có năng suất lao động và tỷ suất lợi nhuận cao làm cho vốn được phân bổ và sử dụng có hiệu quả trong nền kinh tế. - Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù đã hạn chế được những tác động tiêu cực về kinh tế xã hội khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng khủng hoảng. Chế độ đã hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại của rủi ro thua lỗ. Vốn tự có của công ty huy động thông qua việc phát hành cổ phiếu là vốn của nhiều cổ đông do đó san sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông. Nhờ vậy khi công ty cổ phần phá sản hậu quả về mặt kinh tế xã hội được hạn chế ở mức thấp nhất. Cách thức huy động vốn của công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phiếu, trái phiếu ở các công ty ở nhiều ngành khác nhau nên giảm bớt được tổn thất khi công ty bị phá sản so với việc đầu tư vào một công ty. Cơ chế phân bổ rủi ro này đã tạo điều kiện cho những người có vốn mạnh dạn đầu tư vào một công ty làm cho nền kinh tế phát triển và có xu hướng ổn định hơn. - Việc phát hành chứng khoán của công ty cổ phần cùng với việc chuyển nhượng mua bán chứng khoán đến một mức độ nhất định sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời của thị trường chứng khoán – trái tim của thị trường vốn. Ý nghĩa căn bản của thị trường chứng khoán là ở chỗ : Đó là nơi các nhà kinh doanh có thể tìm kiếm được nguồn tài trợ cho hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh, là nơi khai thông các nguồn tiết kiệm của những người tích luỹ đến các nhà đầu tư, là cơ chế phân bổ các nguồn vốn đầu tư phù hợp với yêu cầu của một nền kinh tế thị trường, và còn là cơ sở quan trọng để Nhà nước qua đó sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu lựa chọn. - Công ty cổ phần đảm bảo sự tham gia của đông đảo của công chúng, lại có cơ cấu tổ chức quản lý chắt chẽ, phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh nên đã tạo điều kiện cho người lao động tham gia quản lý công ty một cách thực sự, sử dụng được những giám đốc tài năng, đảm bảo được quyền lợi, lợi ích và trách nhiêm của chủ sở hữu, đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã hội, thực hiện tốt nguyên tắc " ai giỏi nghề gì làm Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 12 nghề ấy " giúp mọi người được làm việc ở vị trí thích hợp để có thể phát huy hết tài năng sáng tạo vốn có của mình. - Công ty cổ phần là hình thức liên doanh tốt nhất để tranh thủ sự tham gia đầu tư của nước ngoài. Với một nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế đang phát triển thì việc đó thu hút nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý thông qua liên doanh liên kết với nước ngoài là vô cùng cần thiết để phát triển kinh tế trong nước. V. NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Những thành tựu đạt được. Trong thời gian qua viêc xuất hiện của hình thái công ty cổ phần đã tạo ra sự thay đổi căn bản về phương thức quản lí,nâng cao hiệu quả sản xuât kinh doanh trong từng doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Hơn thế nữa mô hình này còn thu hút được nguồn vốn kinh doanh của các tổ chức,cá nhân trong và ngoài nuớc để đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển doanh nghiệp.Tạo điều kiện nâng cao vai trò làm chủ thực sự của người có cổ phần,thúc đẩy sự phát triển của công ty. Ngoài ra,một vấn đề được coi là hóc búa nhất trong việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước- vấn đề thất nghiệp-cũng đã được giải quyết một cách thoả đáng. Các doanh nghiệp nhà nước không những không sa thải công nhân khi cổ phần hoá ngược lại,trên thực tế còn tuyển thêm nhiều lao động mới vì hiệu quả kinh tế tăng lên,thị trường mở rộng... Về phía nhà nước,cái lợi vừa mang tính chiến lược lại vừa cụ thể: ngân sách nhà nước bớt được các khoản chi bao cấp,số thu ngân sách nhà nước tăng do doanh nghiệp làm ăn hiệu quả hơn.Mặt khác,thông qua cơ chế hoạt động của mô hình công ty cổ phần,nhà nước tạo ra được một cách quản lý mới có tính tập thể và hiệu quả cao.Thông qua hội đồng quản trị, từ nay người lao động cũng được tham gia vào quá trình quản lý và phân phối kết quả kinh doanh cuả doanh nghiệp. 2. Những hạn chế. Công ty cổ phần tuy có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội nhưng không có nghĩa là nó không có những hạn chế, chẳng hạn: Công ty cổ phần với chế độ trách nhiệm hữu hạn đã đem lại những thuận lợi cho công ty,nhưng lại chuyển bớt rủi ro về phía các chủ nợ. Công ty cổ phần gồm đông đảo các cổ đông tham gia,nhưng trong đó đa số các cổ đông lại không biết nhau và nhiều người trong họ không am hiểu kinh doanh; sự tham gia góp vốn vào công ty có sự khác nhau,do đó mức độ ảnh hưởng của các cổ đông đối với hoạt động kinh doanh của công ty không giống nhau. Điều đó có thể dẫn đến việc lợi dụng và lạm dụng hoặc nảy sinh tranh chấp và phân hoá lợi ích giữa các cổ đông hay các nhóm cổ đông khác Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 13 nhau. Công ty cổ phần mặc dù có cơ cấu tổ chức tương đối chặt chẽ,nhưng việc phân công về quyền lợi và chức năng của từng bộ phận cho hoạt động của công ty có hiệu quả lại rất phức tạp. Công ty cổ phần là tổ chức có tính dân chủ cao trong kinh tế nhưng nó phụ thuộc đáng kể vào tỷ lệ góp vốn,khiến cho nhiều mặt còn bị hạn chế,nhất là việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông có ít cổ phần.Tính công khai của công ty cổ phần là một ưu điểm đối với nhà nước và xã hội,nhưng nó lại là một hạn chế đối với những hoạt động kinh tế vốn có đặc tính “kín đáo”. Những hạn chế của công ty cổ phần không phải là không đáng kể,tuy nhiên không phải là vô phương khắc phục.Việc giảm bớt những hạn chế của công ty cổ phần phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự hoàn hảo của pháp luật,tính hiệu quả cũng như niềm tin của pháp luật,trình độ phát triển chung của nền kinh tế,trình độ phát triển cao của dân trí,và có một bộ máy nhà nước có kỷ cương phép tắc.Trong những điều kiện ngược lại,công ty cổ phần dễ trở thành một mắt xích trong hệ thống làm ăn không lương thiện, gây thiệt hại cho các cổ đông cũng như cho cả xã hội. Từ một cách nhìn như vậy,chúng ta thấy rằng,không có một lý do gì để cản trở sự ra đời của công ty cổ phần trong nền kinh tế nước ta hiện nay.Nhưng điều đó không có nghĩa là rồi đây chúng ta cho các công ty cổ phần ra đời một cách ào ạt theo kiểu phong trào.Thực tiễn đã chỉ ra rằng,nó cần phải có bước đi thận trọng và liên tục,phù hợp với sự phát triển tự nhiên của đời sống kinh tế như nó cần phải có. Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 14 CHƯƠNG II. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Thị trường chứng khoán( Securities Market) được xuất hiện đầu thế kỷ XV ở các nước Tây Âu như: Bỉ, Hà Lan, Anh. Thị trường chứng khoán được định nghĩa theo Longman Dictionary of Bus iness English, 1985 như sau: An organized market where securities are bought and sold under fixed rules – là một thị trường có tổ chức nơi mà các chứng khoán được mua và bán theo những quy tắc đã được ấn định. Giữa thế kỷ XV ở Tây Phương, tại những thành phố trung tâm buôn bán, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để bàn bạc về việc mua bán, trao đổi các loại hàng hóa ( chủ yếu là nông sản, khoáng sản), ngoại tệ và giá khoán động sản. Những cuộc bàn bạc này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số người gia tăng, rồi hình thành một “ khu chợ riêng”. Tại những cuộc bàn bạc này, họ trao đổi, thương lượng, nhưng chỉ là những lời nói miệng với nhau, không có hàng hóa, ngoại tệ, giá khoán động sản hay bất cứ một loại giấy tờ, hàng mẫu nào trong tay cả. Những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các “ hợp đồng” mua bán, trao đổi thực hiện ngay, và những hợp đồng cho tương lai 3 tháng, 6 tháng hay 1 năm sau mới thực hiện. Cuối thế kỷ XV, “ khu chợ riêng” trở thành một “ thị trường”. Ở đó họ thống nhất với nhau những qui ước cho các cuộc thương lượng. Dần dần những qui ước đó được sửa đổi hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung. Giao lưu kinh tế ngày càng phát triển, những phiên chợ cách nhau cả tháng không còn phù hợp, họ đã rút xuống hàng tuần và sau đó là hàng ngày. Phiên chợ riêng được diễn ra đầu tiên vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges ( Bỉ). Tại lữ điếm Vanber có một bảng hiệu hình 3 túi da với một từ tiếng Pháp “ Bourse” tức là “ Mậu dịch trường” hay còn gọi là “sở giao dịch”. “ Mậu dịch trường” là một bảng hiệu chung, 3 túi da tượng trưng cho 3 nội dung của “ mậu dịch trường” : mậu dịch trường hàng hóa, mậu dịch trường ngoại tệ và mậu dịch trường giá khoán động sản. Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 15 Vào năm 1547, thành phố Bruges mất đi sự phồn vinh do eo biển Even bị cát lấp, tàu bè ra vào khó khăn, “ mậu dịch trường” ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấn Auvers, một hải cảng lớn của Bỉ hồi đó. Mậu dịch trường Auvers phát triển rất nhanh. Giữa thế kỷ XVI, viên quan đại thần tài chính Anh quốc Theomes Gresham đến thị sát và sau đó đã thiết lập một “ mậu dịch trường” tại London, nơi mà sau này được gọi là sở giao dịch chứng khoán London. Các “mậu dịch trường” khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu. II. KHÁI NIỆM THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ NHỮNG THUẬT NGỮ CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN 1. Khái niệm chứng khoán và thị trường chứng khoán Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tố chức phát hành, gồm: trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và chứng khoán phái sinh. Thị trường chứng khoán ( Securities Market) là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế của hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh- hợp đồng tương lai, quyền chọn, bảo chứng phiếu, chứng quyền. Thị trường chứng khoán (TTCK) là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế, do đó các tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung. Mặt khác, thị trường chứng khoán là một thị trường cao cấp, nơi tập trung nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sự hiểu biết và lợi ích khác nhau; các giao dịch các sản phẩm tài chính được thực hiện với giá trị rất lớn. đặc tính đó khiến cho TTCK cũng là môi trường dễ xảy ra các hoạt động kiếm lợi không chính đáng thong qua các hoạt động gian lận, không công bằng, gây tổn thất cho các nhà đầu tư, tổn thất cho thị trường và cho toàn bộ nền kinh tế. 2. Các thuật ngữ cơ bản có liên quan a. Công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán, là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hoạch toán độc lập. Tại Việt Nam, theo qui chế về tố chức và hoạt động của công ty chứng khoán qui định : “ Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán” . Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 16 b. Nhà môi giới chứng khoán. Các nhà môi giới là những đại diện thu xếp giao dịch cho khách hàng và hưởng hoa hồng. Người môi giới không mua bán chứng khoán cho mình, họ chỉ là người nối kết và giúp thực hiện yêu cầu của người mua, kẻ bán. Tài sản (chứng khoán) và tiền được chuyển dịch qua lại từ khách bán sang khách mua. Trong quá trình đó nhà môi giới không đứng tên tài sản, gọi là không có vị thế (position). Trong tiếng Anh, nhà môi giới (broker) thường được dùng để chỉ một công ty chứng khoán hơn là để chỉ một nhân viên môi giới. Nhân viên môi giới của một công ty chứng khoán còn được dùng phổ biến bằng từ "registered representative" (đại diện giao dịch) hoặc "account executive" (AE) tuỳ theo họ nằm đâu trong mối quan hệ công tắc. Quần chúng đầu tư thì gọi họ bằng "customer?s man" hay "s tockbroker". c. Phát hành chứng khoán. Khái niệm về phát hành chứng khoán: Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là phát hành chứng khoán. Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức lần đầu tiên ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng. Phương thức phát hành chứng khoán: Có 2 phương thức phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Đó là phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng. o Phát hành riêng lẻ (Private Placement): Là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí... với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng. o Phát hành chứng khoán ra công chúng: là việc phát hành trong đó chứng khoán có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định. d. Niêm yết chứng khoán. Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ tiêu chuẩn vào đăng ký và giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung (Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán). e. Chỉ số của thị trường chứng khoán. Chỉ số thị trường chứng khoán : là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị trường cổ phiếu. Nó được tổng hợp từ danh mục các cổ phiếu theo phương pháp tính nhất định. Thông thường, danh mục sẽ bao gồm các cổ phiếu có những điểm chung như cùng niêm yết tại một sở giao dịch chứng khoán, cùng ngành hay cùng mức vốn hóa thị trường. Các chỉ số Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 17 chứng khoán này có thể do sở giao dịch chứng khoán định ra (ví dụ Vn-Index), cũng có thể do hãng thông tin (ví dụ Nikkei 225) hay một thể chế tài chính nào đó định ra (ví dụ Hang Seng Index). III. ĐIỀU KIỆN ĐỂ CÁC CHỨNG KHOÁN ĐƯỢC NIÊM YẾT (LÊN SÀN GIAO DỊCH). 1. Sàn giao dịch chứng khoán là gì: Một sàn giao dịch chứng khoán là một công ty hay tổ chức đa bên cung cấp điều kiện và phương tiện giúp cho những nhà môi giới chứng khoán hoặc người chơi dễ dàng hơn trong việc mua bán cổ phần và các loại chứng khoán khác. Sàn giao dịch chứng khoán cũng cung cấp các dịch vụ cho việc phát hành và thu hồi chứng khoán cũng như các phương tiện tài chính và các hoạt động như chi trả lợi tức và cổ tức. Có 2 hình thức giao dịch chứng khoán : hình thức tập trung và hình thức phi tập trung. Hình thức tập trung: là cổ phiếu được niêm yết lên và và thông qua đó người mua có thể trao đổi công khai với nhau. Hiện tại ở Việt nam có 3 sàn giao dịch chứng khoán tập trung:  Sàn HOSE (SGD chứng khoán TP HCM) : Các loại cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, trái phiếu đã được đăng ký niêm yết tại SGDCK TP. HCM.  Sàn HNX (SGD chứng khoán HN): Các loại cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, trái phiếu đã được đăng ký niêm yết tại SGDCK Hà Nội.  Sàn Upcom (SGD chứng khoán HN): Cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi đăng ký giao dịch tại sàn Upcom – SGDCK Hà Nội. Hình thức phi tập trung: các loại chứng khoán được giao dịch với nhau khi chưa chính thức niêm yết lên sàn giao dịch. Hình thức giao dịch này tiềm ẩn nhiều rủi ro rất lớn. 2. Chứng khoán nợ và trái phiếu. 2.1. Khái niệm: Trái phiếu là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể phát hành (Chính phủ hay doanh nghiệp) và người cho vay, đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn. Trên giấy chứng nhận này có ghi mệnh giá của trái phiếu và tỷ suất lãi trái phiếu. 2.2. Những đặc trưng của trái phiếu Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 18 Mệnh giá (par value) : Là giá trị danh nghĩa của trái phiếu được in ngay trên tờ phiếu đại diện cho số vốn gốc được hoàn trả cho trái chủ tại thời điểm đáo hạn. Ở Việt Nam mệnh giá của trái phiếu được ấn định là 100.000 đ. Các mệnh giá khác là bội số của 100.000 đ. Mệnh giá của trái phiếu được xác định phụ thuộc vào số tiền huy động trong kỳ va số phiếu phát hành. MG = VHĐ/SPH MG : Mệnh giá trái phiếu VHĐ : Số vốn huy động SPH : Số trái phiếu phát hành Ví dụ : Công ty A muốn huy động 10 tỷ đồng, bằng cách phát hành 10.000 trái phiếu, vậy mỗi trái phiếu có mệnh giá là : MG = 10.000.000.000đ/10.000=1.000.000 đ Tỷ suất lãi trái phiếu là lãi suất danh nghĩa (Coupon interest Rates) của trái phiếu quy định mức lãi mà nhà đầu tư được hưởng hàng năm. Thông thường có 2 phương thức trả lãi : 6 tháng/lần và 1 năm/lần. Mỗi trái phiếu có ghi lãi suất của tổ chức phát hành cam kết sẽ thanh toán cho chủ sở hữu trái phiếu một số tiền lãi vào một ngày xác định và có thể theo định kỳ. Trái phiếu phát hành với một tỷ lệ lãi suất danh nghĩa được xác định bởi các điều kiện thị trường tại thời điểm chào bán trái phiếu. Lãi suất thường được công bố theo tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá của trái phiếu. Lãi trái phiếu có thể được quy định trả hàng năm, hay thanh toán nửa năm một lần. Số tiền nhà đầu tư nhận được hàng năm bằng lãi suất coupon, hay còn gọi là lãi suất cuống phiếu nhân với mệnh giá trái phiếu. Ví dụ : Công ty A nói trên quy định mức lãi trái phiếu là 9%/năm, như vậy hàng năm trái chủ nhận được số tiền lãi là : 9% *1.000.000 =90.000 đ Giá mua : Giá mua trái phiếu là khoản tiền thực tế mà người mua bỏ ra để có được quyền sở hữu trái phiếu. Giá mua có thể bằng mệnh giá, có thể cao hơn mệnh giá hoặc thấp hơn mệnh giá. Tuy nhiên, dù loại giá mua là loại giá nào thì tiền lãi luôn được xác định theo mệnh giá Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 19 trái phiếu. Và đến ngày đáo hạn, người nắm giữ trái phiếu sẽ được trả lại vốn gốc bằng với mệnh giá trái phiếu. Thời hạn : Thời hạn của trái phiếu là số năm mà theo đó người phát hành hứa hẹn đáp ứng những điều kiện của nghĩa vụ. Thời hạn của trái phiếu là ngày chấm dứt sự tồn tại của khoản nợ, người phát hành sẽ thu hồi trái phiếu bằng cách hoàn trả khoản vay gốc. Theo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, trái phiếu có thời hạn từ 1 đến 5 năm được gọi là trái phiếu ngắn hạn, từ 5 đến 10 năm được gọi là trái phiếu trung hạn và trên 10 năm là trái phiếu dài hạn. Thời hạn này cũng còn gọi là thời hạn đáo hạn của trái phiếu. Ngày đáo hạn là ngày mà tổ chức phát hành thanh toán số vốn gốc và lãi cho chủ sở hữu trái phiếu. Thời hạn trái phiếu có ý nghĩa quan trọng vì lợi tức trái phiếu phụ thuộc vào thời hạn của nó. Thời hạn cho biết khoảng thời gian mà người nắm giữ trái phiếu nhận được tiền lãi định kỳ và thời điểm đáo hạn mà tổ chức phát hành phải hoàn trả tiền gốc theo mệnh giá trái phiếu. Ngoài ra thời hạn trái phiếu càng dài, tính biến động giá trái phiếu càng lớn trước sự biến động của lãi suất thị trường. Như vậy, biến động của giá trái phiếu phụ thuộc vào thời hạn của trái phiếu Quyền mua lại : Đối với loại trái phiếu có điều khoản chuộc lại (Callable Bonds) cho phép tổ chức phát hành trái phiếu thu hồi trái phiếu và hoàn lại vốn gốc với mức giá dự kiến trước thời hạn thanh toán. Tổ chức phát hành sử dụng quyền này để họ không phải trả lãi suất cao hơn đối với số tiền mà họ vay. Tổ chức phát hành thu hồi trái phiếu khi tỷ lệ lãi suất trên thị trường thấp hơn lãi suất của trái phiếu của tổ chức phát hành đã phát hành trước đó và có thể phát hành trái phiếu mới tỷ lệ lãi suất thấp hơn. 2.3. Đặc điểm của trái phiếu. Trái phiếu là một loại giấy nợ do chính phủ hay doanh nghiệp phát hành để huy động vốn dài hạn hay còn gọi là chứng khoán nợ, có kỳ hạn nhất định, cuối kỳ đáo hạn phải trả vốn gốc cho trái chủ. Tỷ suất lãi trái phiếu được xác định trước và tính lãi trên mệnh giá. Tỷ suất lãi này là lãi coupon hay lãi cuống phiếu có ý nghĩa là lợi suất danh nghĩa của trái phiếu mà nhà đầu tư được hưởng hàng năm. Tuỳ theo loại trái phiếu mà tỷ suất này cố định hay thả nổi hoặc có thể bằng không. Khi công ty bị giải thể thanh lý tài sản, người cầm trái phiếu được ưu tiên trả nợ trước cổ đông. Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 20 Với những đặc điểm trên, trái phiếu doanh nghiệp được xem như loại chứng khoán có mức độ rủi ro thấp hơn cổ phiếu. 2.4. Điều kiện để phát hành trái phiếu ở việt nam. Đối với chủ thể phát hành là doanh nghiệp phải hội đủ những điều kiện sau đây :  Là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạng, doanh nghiệp nhà nước có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành tổi thiểu là 10 tỷ đồng Việt Nam.  Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá 1 năm.  Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt phát hành trái phiếu.  Có can kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác. 2.5. Các loại trái phiếu.  Trái phiếu chính phủ( Government bonds)  Trái phiếu chính quyền địa phương.  Trái phiếu doanh nghiệp( Corporate bons)  Trái phiếu thu nhập ( Income bonds)  Trái phiếu có thế chấp ( Mortgage bonds)  Trái phiếu không có thế chấp( Debenture)  Trái phiếu có thể chuyển đổi ( Convertible bonds)  Trái phiếu có thể chuộc lại ( Callable bonds)  Trái phiếu có lãi suất ổn định ( Straight bonds)  Trái phiếu có lãi suất thả nổi (floating rate bonds)  Trái phiếu chiết khấu ( Zero coupon bonds) Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 21  Trái phiếu quốc tế ( Internation bonds) 2.6. Các nhân tố ảnh hưởng giá trái phiếu  Khả năng tài chính của người cung cấp trái phiếu  Thời gian đáo hạn  Dự kiến về lạm phát  Biến động lãi suất thị trường  Thay đổi tỷ giá hối đoái 3. Chứng khoán vốn và cổ phiếu. 3.1. Khái niệm. Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, vốn của nó được hình thành từ sự góp vốn của rất nhiều người. Khi mới thành lập, công ty cổ phần chia vốn điều lệ bằng những phần bằng nhau, mỗi phần vốn là một cổ phần (share), người góp vốn vào công ty qua việc mua cổ phần gọi là cổ đông (shareholder), cổ đông nhận một giấy chứng nhận cổ phần gọi là cổ phiếu (stock), tuỳ thuộc vào trách nhiệm và quyền hạn của cổ đông đối với công ty cổ phần mà cổ phiếu chia làm 2 loại : Cổ phiếu thường (common stock) và cổ phiếu ưu đãi (prefreed stock). 3.1.1. Cổ phiếu thường. Là giấy chứng nhận cổ phần, nó xác nhận quyền sở hữu của cổ đông, đối với công ty cổ phần. Người mua cổ phiếu thường trở thành cổ đông thường hay cổ đông phổ thông. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường là một trong những người chủ của doanh nghiệp nên là người trực tiếp thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh cũng như lãnh chịu mọi rủi ro trong kinh doanh, do đó cổ phiếu thường có những đặc điểm sau. Đặc điểm cổ phiếu Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn do đó không có kỳ hạn và không hoàn vốn. Cổ tức của cổ phiếu thường tuỳ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó không cố định. Khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt cổ đông cũng được hưởng lợi nhuận cao hơn nhiều so với các loại chứng khoán khác có lãi suất cố định. Nhưng ngược lại cổ tức có thể rất thấp hoặc hoàn toàn không có khi công ty làm ăn thua lỗ. Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 22 Khi công ty bị phá sản, cổ đông thường là người cuối cùng được hưởng giá trị còn lại của tài sản thanh lý. Giá cổ phiếu biến động rất nhanh nhạy đặc biệt là trên thị trường thứ cấp, do nhiều nhân tố nhưng nhân tố cơ bản nhất là hiệu quả kinh doanh và giá trị thị trường của công ty. Điều k iện phát hành: Theo quy định hiện hành, các công ty cổ phần muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng phải hội đủ những điều kiện sau : Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành cổ phiếu tối thiểu 10 tỷ đồng Việt Nam. Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi, đồng thời khồn có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán. Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ việc chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua. Quyền lợi và nghĩa vụ của cổ đông thường : Trách nhiệm : Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường của công ty cổ phần đại chúng (public company) chịu trách nhiệm hữu hạn theo phần vốn góp của mình trên 2 mặt :  Thứ nhất, phần vốn góp xem như góp vĩnh viễn không được rút lại. Lúc cần lấy vốn lại, họ có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần trên thị trường bằng cách bán cổ phiếu cho một nhà đầu tư khác.  Thư hai, trách nhiệm của cổ đông đối với việc làm ăn thua lỗ hay phá sản của công ty chỉ giới hạn trên phần vốn góp trên cổ phiếu. Nếu công ty làm ăn không hiệu quả xem như họ mất phần vốn đã được bỏ ra để mua cổ phiếu. Quyền lợi : Là một trong những người chủ công ty, những cổ đông có quyền lợi như sau :  Quyền có thu nhập : Cổ đông thường được hưởng phần lợi nhuận tương ứng với số cổ phiếu sở hữu gọi là cổ tức từ kết quả có lãi của hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Khác với trái chủ, việc công ty không có khả năng trả cổ tức cho cổ đông, cổ đông không có quyền đưa Ban lãnh đạo của công ty ra trước pháp luật. Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 23  Quyền được chia tài sản thanh lý : Trong trường hợp rủi ro, công ty bị giải thể, cổ đông cũng được chia phần giá trị tài sản khi thanh lý, nhưng là người cuối cùng được hưởng giá trị tài sản còn lại khi thanh lý.  Quyền bỏ phiếu : Cổ đông phổ thông có quyền bỏ phiếu bầu và ứng cử vào những chức vụ quản lý trong công ty, có quyền tham gia các đại hội đồng cổ đông và bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của công ty. Nếu không tham dự được, cổ đông thường có thể uỷ quyền cho người khác thay mặt họ biểu quyết, theo chỉ thị của họ hoặc tuỳ theo người được uỷ quyền.  Quyền mua cổ phiếu mới : Khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới để tăng vốn, các cổ đông đang nắm giữ cổ phiếu phổ thông có quyền được mua trước cổ phiếu mới, trước khi đợt phát hành được chào bán ra công chúng, trong một thời hạn nhất định. Lượng cổ phiếu mới được phép mua theo quyền này tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu đang nắm giữ. Các loại cổ phiếu thường :  Cổ phiếu thường loại “A”.  Cổ phiếu thường loại “B”.  Cổ phiếu thường có gộp lãi ( accumulating ordinary shares)  Cổ phiếu “thượng hạng” ( blue chip stocks)  Cổ phiếu tăng trưởng ( growth stocks)  Cổ phiếu thu nhập ( income stocks)  Cổ phiếu chu kỳ ( cyclical stocks)  Cổ phiếu theo mùa ( seasonal stocks)  Công ty tăng trưởng và cổ phiếu tăng trưởng.  Công ty thận trọng và cổ phiếu thận trọng.  Công ty chu kỳ và cổ phiếu chu kỳ.  Công ty đầu cơ và cổ phiếu đầu cơ. Những nhân tố ảnh hưởng giá cổ phiếu  Nhân tố kinh tế Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 24  Nhân tố phi kinh tế  Nhân tố thị trường Từ những ảnh hưởng của các yếu tố như đã nêu ở trên và dựa vào các sô liệu về tình hình hoạt động kinh doanh của từng công ty ta có thể đánh giá được độ hấp dẫn của các cổ phiếu trên sàn giao dịch. Các công thức chung để đánh giá:  Hệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu, gọi tắt là Tỷ số P/E, P/E (viết tắt của cụm từ Price to Earning Ratio), là tỷ số tài chính dùng để đánh giá mối liên hệ giữa thị giá hiện tại của một cổ phiếu (giá cổ phiếu ở chợ chứng khoán) và tỷ số thu nhập trên cổ phần, hay cho biết nhà đầu tư sẵn sàng trả giá bao nhiêu cho một cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Tỷ số P/E =Giá thị trường một cổ phiếu/Thu nhập bình quân trên một cổ phần Tỷ số P/E thấp thì có nghĩa là lợi nhuận trên một cổ phần của công ty càng cao hoặc giá trị trường của cổ phiếu thấp. Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao.  EPS (Earning Per Share) là lợi nhuận (thu nhập) trên mỗi cổ phiếu. Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường. EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp, được tính bởi công thức: EPS = (Thu nhập ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãi) / lượng cổ phiếu bình quân đang lưu thông. EPS thường được coi là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính toán giá cổ phiếu. Đây cũng chính là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỉ lệ P/E. Một khía cạnh rất quan trọng của EPS thường hay bị bỏ qua là lượng vốn cần thiết để tạo ra thu nhập ròng (net income) trong công thức tính trên. Hai doanh nghiệp có thể có cùng tỷ lệ EPS nhưng một trong hai có thể có ít cổ phần hơn tức là doanh nghiệp này sử dụng vốn hiệu quả hơn. Nếu như các yếu tố khác là cân bằng thì rõ ràng doanh nghiệp này tốt hơn doanh nghiệp còn lại. Vì doanh nghiệp có thể lợi dụng các kỹ thuật tính toán để đưa ra con số EPS hấp dẫn nên các nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính của từng doanh nghiệp để đảm bảo "chất lượng" của tỉ lệ này. Tốt hơn hết là không nên dựa Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 25 vào một thước đo tài chính duy nhất mà nên kết hợp với các bản phân tích tài chính và các chỉ số khác.  Các chỉ số ROA và ROE như đã trình bày ở phần công ty cổ phần. Sau đây là những phân tích 1 vài công ty để làm rõ hơn vấn đề này. Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 26 (Nguồn: trang vietstock.vn cập nhật lúc 13h 57 ngày 10/10/2012) Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 27 (Nguồn: trang vietstock.vn cập nhật lúc 14h02 ngày 10/10/2012) Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 28 (Nguồn: trang vietstock.vn cập nhật lúc 14h12 ngày 10/10/2012) Nhận xét: qua những thông kê về mặt số liệu ta có thể thấy được độ hấp dẫn của những cổ phiếu từng công ty sẽ gắn liền với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó. Nếu doanh Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 29 nghiệp làm ăn có hiệu quả thì chỉ độ hấp dẫn của cổ phiếu tăng lên, nếu công ty làm ăn không hiệu quả thì độ hấp dẫn của cổ phiếu sẽ giảm xuống. Điều đó cho ta thấy thị trường chứng khoán chịu tác động mạnh mẽ bởi tình hình hoạt động của từng công ty, và tình hình kinh tế vĩ mô chung của toàn xã hội. 3.1.2. Cổ phiếu ưu đãi ( preferred stock) Cổ phiếu ưu đãi là một chứng khoán lai tạp có những đặc điểm vừa giống cổ phiếu thường, vừa giống trái phiếu. Đó là một giấy chứng nhận cổ đông được ưu tiên so với cổ đông thường về mặt tài chính nhưng bị hạn chế về quyền hạn đối với công ty góp vốn như : Người giữ cổ phiếu ưu đãi không được tham gia ứng cử bầu cử vào Hội đông quản trị hoặc Ban kiểm soát công ty, nhưng lại được ưu tiên chia cổ tức trước cổ đông thường, ưu tiên được trả nợ trước cổ đông thường khi thanh lý tài sản trong trường hợp công ty bị phá sản. Đặc điểm giống cổ phiếu thường : Cũng là chứng khoán vốn không có kỳ hạn và không hoàn vốn. Người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi cũng là cổ đông đồng sở hữu công ty. Đặc điểm giống trái phiếu : Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được ấn định theo môt tỷ lệ cố định theo tỷ lệ cố định trên mệnh giá, cổ phiểu ưu đãi giống như trái phiếu được ấn định một tỷ lệ lãi cố định tính trên mệnh giá. D = d%*F Ví dụ : Công ty X có phát hành cổ phiếu ưu đãi mệnh giá 100$, với phần chia lãi cố định 8.5%/năm trên mệnh giá. Điều đó có nghĩa, hàng năm người cầm cổ phiếu ưu đãi được hưởng cổ tức 8.5$/cổ phiếu. Tuỳ theo loại cổ phiếu ưu đãi mà cổ tức này sẽ được tính gộp hay không tính gộp lãi ở các năm công ty làm ăn không có lãi để trả lãi hay không trả đủ lãi. Các loại cổ phiếu ưu đãi :  Cổ phiếu ưu đãi tích luỹ Cũng là một loại cổ phiếu ưu đãi hưởng cổ tức theo lãi suất cố định, nhưng trong trường hợp công ty làm ăn không có lãi để trả cổ tức hoặc không trả đủ lãi cổ phần thì phần còn thiếu năm nay sẽ được tích luỹ qua năm sau hay vài năm sau khi công ty có lãi sẽ dành ra phần lãi ưu tiên trả cho cổ phiếu ưu đãi trước khi trả cho cổ đông thường.  Cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 30 Khác với cổ phiếu ưu đãi tích luỹ ở chỗ lãi cổ phần thiếu sẽ được bỏ qua và chỉ trả đủ cổ tức khi công ty lam ăn có lãi. Loại này vì có tính rủi ro hơn nên suất cổ tức cũng cao hơn.  Cổ phiếu ưu đãi tham dự chia phần Cổ đông của loại cổ phiếu này ngoài phần cổ tức được chia cố định, khi công ty làm ăn có lãi nhiều, sẽ được cùng với cổ đông thường tham dự vào phần chia số lợi nhuận còn lại sau khi công ty đã hoàn thành các nghĩa vụ đối vơi chủ nợ, đối với ngân sách Nhà nước, đối với cổ đông ưu đãi và đã trích vào quỹ phát triển công ty, để hưởng thêm một phần lợi tức phụ trội.  Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường Loại cổ phiếu này theo quy định có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường theo một tỷ lệ chuyển đổi hoặc giá chuyển đổi đã được ấn định trước. Người cầm loại cổ phiếu ưu đãi này sẽ thực hiện việc chuyển đổi khi giá thị trường của cổ phiếu thường tăng cao.  Cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại Một số công ty trong tình trạng khẩn cấp cần một số vốn lớn trong một thời gian ngắn nên phát hành loại cổ phiếu ưu đãi với mức lãi suất cao để thu hút nhà đầu tư. Nhưng loại cổ phiếu ưu đãi này theo quy định có thể được chuộc lại bởi công ty sau một thời hạn ấn định, khi tình hình tài chính công ty đã khá hơn. Khi chuộc lại công ty sẽ phải trả một khoản tiền thưởng nhất định theo một tỷ lệ trên mệnh giá cổ phiếu cho chủ sở hữu.  Các loại cổ phiếu ưu đãi theo luật doanh nghiệp Việt Nam:  Cổ phần ưu đãi biểu quyết  Cổ phần ưu đãi cổ tức  Cổ phần ưu đãi hoàn lại 3.2. Điều kiện để cổ phiếu được niêm yết trên sàn giao dịch. Căn cứ vào Nghị định số 14/2007/NĐ- CP ngày 19.01.2007 của Chính phủ quy định về các điều kiện niêm yết chứng khoán tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán quy định về điều kiện niêm yết cổ phiếu: Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước; Cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ; Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 31 và Kế toán trưởng của công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ và có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ. 4. Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ 4.1. Quỹ đầu tư Quỹ đầu tư là một tổ chức đầu tư chuyên nghiệp do các nhà đầu tư cùng góp vốn. Từ những khoản tiền tiết kiệm, nhàn rỗi phân tán trong dân chúng được tập trung lại thành các nguồn vốn lớn cho các nhà chuyên nghiệp sử dụng trong lĩnh vực đầu tư kiếm lời và phân chia cổ tức cho các cổ đông góp vốn. Các khoản tiền tiết kiệm này thay vì được các nhà đầu tư đưa cho môi giới chứng khoán để trực tiếp mua chứng khoán trên thị trường thì lại được góp vào quỹ đầu tư để thực hiện việc đầu tư tập thể.  Công ty quản lý quỹ  Ngân hàng giám sát  Người đầu tư 4.2. Phân loại quỹ đầu tư Căn cứ vào quy mô, cách thức và tính chất góp vốn, quỹ đầu tư chia làm 2 loại:  Quỹ đầu tư dạng đóng ( closed- end funds)  Quỹ đầu tư dạng mở (open end funds) Căn cứ vào mô hình cấu trúc tổ chức-điều hành, quỹ đầu tư được tổ chức dưới 2 hình thức:  Quỹ đầu tư dạng công ty  Quỹ đầu tư dạng tín thác IV. NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.  Nguyên tắc trung gian : Thị trường chứng khoán không phải hoạt động trực tiếp do người muốn mua hay bán chứng khoán Thị trường thực hiện mà do những người môi giới trung gian thực hiện. Nguyên tắc trung gian nhằm đảm bảo các loại chứng khoán giao dịch là chứng khoán thực, đảm bảo lợi ích nhà đầu tư và còn cần thiết để thị trường chứng khoán Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 32 hoạt đông lành mạnh, đều đặn, hợp pháp và phát triển. Nhờ nguyên tắc này, mà những nhà đầu tư cá nhân và pháp nhân sẽ không bị mắc sai lầm hoặc bị lừa gạt.  Nguyên tắc đấu giá : Việc xác lập giá chứng khoán trên sàn giao dịch được thực hiên qua các cuộcc đấu giá. Các nhà môi giới sẽ đại diện cho khách hàng của mình để tham gia đấu giá. Giá mua thống nhất của một loại chứng khoán là giá cao nhất đặt mua, giá bán thấp nhất của một loại chứng khoán sẽ là giá thấp nhất chào bán. Nguyên tắc này đảm bảo tính thống nhất và công khai của việc hình thành giá cả của một loại chứng khoán nhất định.  Nguyên tắc công khai : Tất cả hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai. Số lượng và giá cả của chứng khoán đưa ra mua bán trên thị trường, tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của các công ty niêm yết, kết quả của từng phiên giao dịch…đều được thông báo đầy đủ công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư. Việc công khai thông tin sẽ giúp các nhà đầu tư hiểu đúng, hiểu rõ về tình hình thị trường cùng những diễn biến của nó, đồng thời giúp nhà đầu tư có thể đánh giá một cách khách quan và khoa học đối với các công ty phát hành và niêm yết chứng khoán. V. NHẬN ĐỊNH TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN HIỆN NAY VÀ HƯỚNG ĐI NÀO CHO TƯƠNG LAI. - Theo nhận xét đánh giá của nhiều chuyên gia trong diễn đàn kinh tế đối thoại đầu năm 2012 thì: (nguồn từ www.ktdt.com.vn) Được thành lập từ tháng 7/2000, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam hiện có 710 công ty niêm yết, 5 loại chứng chỉ quỹ đầu tư và 500 loại trái phiếu niêm yết, với giá trị vốn hoá thị trường đạt 36,5% GDP năm 2010. Tuy vậy, trong suốt 4 năm trở lại đây, sự giảm điểm liên tục xảy ra, cùng với những khó khăn của kinh tế vĩ mô mà đỉnh điểm là chính sách thắt chặt tiền tệ năm 2011 đã đẩy thị trường vào tình trạng trì trệ. Đến những ngày cuối năm 2011, VN-Index sắp về mốc 300 điểm, HNX về 50 điểm, 70% cổ phiếu trên 2 sàn có giá dưới mệnh giá. Theo con số từ UBCK, chỉ số giá CK cuối năm 2011 giảm 24% so với năm 2010. Đã có những DN niêm yết chán nản và tuyên bố rời sàn. Trong con mắt các NĐT, hàng hóa trên TTCK chưa thực sự hấp dẫn. Trong số 710 công ty niêm yết/đăng ký giao dịch chỉ có 368 công ty (khoảng 50%) có vốn điều lệ trên 100 tỷ đồng; Chất lượng của các công ty niêm yết chưa cao, đặc biệt là quản trị công ty và tính công khai, minh bạch. Trong thời kỳ khó khăn, đặc biệt là giai đoạn 2010 - 2011 nhiều công ty niêm yết làm ăn thua lỗ. Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 33 - Theo nhận định của một số công ty chứng khoán thì: (nguồn báo doanh nhân việt toàn cầu bsc.com.vn) 1. Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt – BVSC: Dòng tiền đầu cơ quay lại “Sau thời điểm kết thúc quý 3, những thông tin hé lộ và dự báo về kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp được xem là yếu tố chi phối chính, gây ra sự phân hóa trên thị trường tuần qua. Chúng tôi đã phân loại các công ty niêm yết trong các bản tin trước và diễn biến của phiên cuối tuần đã phần nào cho thấy việc phản ánh trước vào giá của cổ phiếu mặc dù các thông tin chính thức chưa xuất hiện. Bên cạnh nhóm cổ phiếu tăng điểm do triển vọng kết quả kinh doanh quý 3, chúng tôi cũng nhận thấy đa số các cổ phiếu tăng trần trong phiên cuối tuần lại thuộc dòng cổ phiếu mang tính đầu cơ cao, có liên quan đến đầu tư tài chính, bất động sản. Tín hiệu này cho thấy sự quay trở lại của dòng tiền đầu cơ nhưng cũng hàm ý sự thiếu bền vững của lực cầu. Cùng với áp lực cung giá cao còn tiềm ẩn khá lớn, chúng tôi cho rằng trước thời điểm thông tin kết quả kinh doanh chính thức được công bố vào trung tuần tháng 10, việc đầu tư vào nhóm cổ phiếu bất động sản, tài chính vẫn tiềm ẩn rủi ro khá cao và xét về tương quan, sẽ không hiệu quả bằng việc ưu tiên cho dòng cổ phiếu có nền tảng cơ bản tốt. Về mặt kỹ thuật, chúng tôi duy trì quan điểm tích lũy tại các vùng giá thấp trong phiên cho mục đích đầu tư ngắn hạn. Mặc dù vậy, việc mua vào cần được thực hiện trải lệnh từng phần xuống các vùng giá thấp và phải tính đến kịch bản xuất hiện thêm một hai nhịp sụt giảm nữa của thị trường, vẫn được để ngỏ trong tuần tới”. 2. Công ty Chứng khoán Bản Việt – VCSC: Đà tăng vẫn có thể diễn ra trong phiên đầu tuần "Chúng tôi dự báo đà tăng vẫn có thể diễn ra trong phiên đầu tuần, nhưng cả hai chỉ số có thể điều chỉnh khi chạm vùng kháng cự 393 của VN-Index và 55.8 của HNX-Index. Do đó, nếu cả hai chỉ số bứt phá vùng kháng cự ngắn hạn trên thì có thể xem xét giải ngân hoặc gia tăng thêm tỷ trọng danh mục đã giải ngân trong thời gian qua. Nhóm cổ phiếu bất động sản có tín hiệu tích cực trong phiên 5/10/2012, hầu hết các mã cổ phiếu đều xuất hiện mẫu hình nến Marubozu, đây là tín hiệu tích cực cho thấy nhóm cổ phiếu bất động sản có thể sẽ dẫn dắt cho nhịp sóng tăng sắp tới của thị trường sau giai đoạn giảm mạnh trong thời gian qua. Tuy nhiên, các nhà đầu tư vẫn nên quan sát thêm trong Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 34 những phiên đầu tuần". 3. Công ty Cổ phần Chứng khoán ACB – ACBS: VN-Index sẽ tích cực nếu vượt kháng cự 405 “Phiên tăng điểm ngày 5/10 giúp VN-Index vượt kháng cự nhỏ 387,6. Theo đó, chỉ số này có thể tiếp tục hồi phục về kháng cự 390-391 hoặc 395-396. Mặc dù hiện có rất ít cổ phiếu có được xu hướng tích cực, nhưng do đa số cổ phiếu đã giảm khá sâu nên có thể sẽ hồi phục kỹ thuật trong thời gian tới, kéo VN-Index đi lên. Ở chiều ngược lại, sau breakout hôm đầu tuần, VN-Index đang hướng về mức giá mục tiêu 365. Khả năng này được tăng cường nếu VN-Index xuyên thủng 380. Chúng tôi duy trì quan điểm tiêu cực với chỉ số cho đến khi chỉ số này vượt kháng cự 405. Tiêu cực hơn, như đã phân tích trong báo cáo trước, HNX-Index có thể đang ở sóng (5) của sóng 3 lớn hơn 1 cấp. Nếu vượt kháng cự nhở 54,60, nhiều khả năng sóng (5) được hình thành và sóng 4 sẽ bắt đầu. Theo đó, chúng tôi đề cập đến mức mục tiêu đáng chú ý là 57 và xa nhất là vùng kháng cự 59-59,5 do sóng 4 không thể đi vào vùng của sóng 1. Ở chiều giảm, chỉ số này nhiều khả năng đảo chiều nếu chạm mức 52,25 do khi đó sóng (5) bằng sóng (3) trong khi sóng (3) không thể là sóng ngắn nhất. Tuy nhiên, nếu chỉ số xuống thấp hơn 52,25, chúng tôi sẽ nghĩ tới một sóng 3 extens ion. Do tập trung chủ yếu các cổ phiếu penny nên chỉ số này khó có thể di chuyển tích cực hơn VN-Index trong xu hướng giảm. Vì vậy, để có thể thấy HNX-Index hồi phục, VN-Index phải hồi phục mạnh hơn”. 4. Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT – FPTS: Vẫn có những rủi ro trong ngắn hạn “Giao dịch đã có phần sôi động khi thị trường tăng điểm, thanh khoản cũng được cải thiện đôi chút nhưng vẫn ở mức thấp. Một số cổ phiếu lớn như PVF, ITA, KDC, LCG đã có sự hồi phục trở lại ở mức giá trần. Trong phiên hôm nay nhà đầu tư nước ngoài cũng đã quay trở lại mua ròng sau nhiều phiên bán ròng liên tiếp tuy nhiên giá trị mua ròng cũng không thật sự cao khi chỉ đạt 19 tỷ đồng. Chúng tôi đánh giá ngày 5/10 chỉ là phiên hồi phục sau nhiều ngày giảm điểm tiêu cực của thị trường. Thị trường trong ngắn hạn vẫn có những rủi ro nhất định, với thanh khoản thấp thì chiến lược mua/bán ở các ngưỡng hỗ trợ/kháng cự có lẽ sẽ thích hợp cho các nhà đầu tư lướt sóng tham gia với một tỷ lệ nhỏ trong danh mục”. Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 35 Kết luận: Trong tình hình kinh tế hiện nay có nhiều biến động rất lớn đặc biệt khi ngân hàng nhà nước hạ lãi suất huy động xuống còn 9%/năm và vàng hiện đang rớt giá, thì 2 kênh đầu tư này không còn hấp dẫn như lúc trước nữa và nhận định trong tương lai dòng tiền sẽ đổ vào thị trường chứng khoán, và lúc đó thị trường sẽ có nhiều khởi sắc hơn. . Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 36 CHƯƠNG III. ĐÁNH GIÁ CHUNG TOÀN BỘ CHUYÊN ĐỀ. Trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay khi mà tỷ lệ lạm phát tăng cao, và tình hình kinh doanh của nhiều doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là các công ty cổ phần. Thì lúc này rất cần những quyết định đúng đắn của các nhà quản lý để nâng cao hiệu qua kinh doanh của các công ty cổ phần đồng thời vực dậy nền kinh tế hiện nay. Qua đây chúng ta cũng thấy được vai trò của công ty cổ phần nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế nước ta hiện nay: Thị trường chứng khoán là nơi thu hút nguồn vốn trong xã hội để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, là công cụ giúp Nhà nước thự hiện chiến lược huy động vốn phục vụ cho chương trình phát triển kinh tế xã hội, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thị trường chứng khoán giúp huy động vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp cổ phần mà ngân hàng thương mại chưa thể đáp ứng được. Là phương tiện thu hút vốn nước ngoài thông qua các nhà đầu tư nước ngoài mua chứng khoán Việt Nam. Thị trường chứng khoán góp phần điều hoà vốn giữa các ngành kinh tế quốc doanh, do đó thúc đẩy sự bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận, một động lực để cạnh tranh phát triển. Thông qua thị trường chứng khoán, một mặt doanh nghiệp huy động được vốn, mặt khác cũng thu hút thêm các nhà đầu tư mới tham gia vào quản lý doanh nghiệp. Đây là động lực của tăng trưởng, là cơ sở cho sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngành. Thị trường chứng khoán là công cụ khuyến khích tiết kiệm và tạo thói quen đầu tư trong công chúng. Có thị trường chứng khoán, công chúng có thêm một phương án lựa chọn thay vì chỉ gửi tiển vào ngân hàng. Thông qua thị trường chứng khoán các chủ thể kinh tế có thể trở thành người đầu tư trực tiếp và trở thành những sở hữu chủ một phần giá trị tài sản của doanh nghiệp. Công chúng dần quen với những quyết định kinh doanh để làm giàu cho bản thân và cho xã hội. Thông qua đó phân bố quyền lợi và rủi ro cho các thành viên trong xã hội, do đó tạo nên sự quan tâm cung của xã hội đối với nền kinh tế của đất nước. Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 37 Thị trường chứng khoán giúp chuyển thành tiền dễ dàng, lưu động hoá các nguồn vốn trong xã hội. Thị trường chứng khoán sẽ tạo điều kiện thúc dẩy tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay. Thị trường chứng khoán là công cụ hỗ trợ xác định giá trị doanh nghiệp chính xác hơn.Thị trường chứng khoán thúc đẩy các công ty cổ phần làm ăn có hiệu quả, sổ sách, báo cáo tài chính rõ ràng, minh bạch. Từ đó, tạo thói quen công khai hoá thông tin, đổi mới quản lý để lành mạnh hoá tình hình tài chính, góp phần trong sạch hoá môi trường kinh doanh trong xã hội. Thị trường chứng khoán là tấm gương, là phong vũ biểu của nền kinh tế. Lợi nhuận tăng sẽ làm cho giá cả chứng khoán tăng lên, do đó làm cho ung lượng của thị trường chứng khoán tăng theo, ngược lại kinh tế suy thoái sẽ dẩn đến các hoạt động giảm sút của thị trường. Thông qua đó giúp cho nhà nước, các doanh nghiệp, công chúng biết được hiệu quả công tác quản lý và đầu tư của mình. Bài tiểu luận GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn Lớp VB15KT002-Đề tài 31 Page 38 Tài liệu tham khảo: Sách Thị trường chứng khoán – PGS.TS. Bùi Kim Yến – TS. Thân Thị Thu Thuỷ, nhà xuất bản thống kê năm 2009. Sách cẩm nang đầu tư trên thị trường chứng khoán- Phạm Thế Anh, nhà xuất bản từ điển bách khoa năm 2007. www.viestock.vn cophieu68.com báo doanh nhân việt toàn cầu www.dvt.vn, www.ktdt.com.vn www.saga.vn HẾT

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfde_tai_31sua_7669.pdf
Luận văn liên quan