Tiểu luận Quan hệ với các nước trong tổ chức ASEAN

Trong đầu những năm 1990, quan hệ giữa nước ta với các nước ở Đông Nam Á cũng như với các nước ASEAN phát triển mạnh mẽ và mang tính “bùng nổ”. Việc Việt Nam gia nhập ASEAN có lợi cho xu thế chung là hòa bình và hợp tác. Việc đó không gây trở ngại mà còn hỗ trợ cho việc thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, mở rộng hơn nữa quan hệ hữu nghị hợp tác với tất cả các nước theo khẩu hiệu: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.

pdf12 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 24/02/2014 | Lượt xem: 2366 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Quan hệ với các nước trong tổ chức ASEAN, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tiểu luận Quan hệ với các nước trong tổ chức ASEAN Lời nói đầu Là các nước láng giềng của nhau và cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á, quan hệ với các nước trong tổ chức ASEAN luôn giữ vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. ASEAN ra đời từ năm 1967 nhưng phải đến tận năm 1995 Việt Nam mới gia nhập ASEAN, tức là phải sau 28 năm ASEAN thành lập Việt Nam mới trở thành thành viên chính thức của tổ chức này. Hiện nay, ASEAN là một trong những thị trường xuất khẩu cũng như nhập khẩu lớn của Việt Nam, đồng thời đây cũng là người bạn đồng hành hỗ trợ, ủng hộ Việt Nam trên trường chính trị quốc tế. Những con số về khoảng cách như vậy tự nó dường như đặt ra vấn đề : Vì sao ASEAN đã có lịch sử gần 30 năm thì đến năm 1995 Việt Nam mới có mặt trong ASEAN như vậy? Xét về khía cạnh lịch sử, đầu những năm 70, quan hệ hai bên đã có những cải thiện đáng vui mừng, và dường như đến năm 1978 Việt Nam có thể gia nhập ASEAN thì nước ta lại bỏ lỡ cơ hội này? Đó là một câu hỏi đặt ra khiến cho em hết sức băn khoăn. Trong khuôn khổ của bài tiểu luận này, em xin tập trung quan tâm và giải quyết sự băn khoăn đó. Và như đã rõ, có rất nhiều yếu tố, nguyên nhân khách quan và chủ quan khiến cho quan hệ hai bên bị lệch hướng như chiến tranh lạnh, trật tự thế giới hai cực Yanta, chính sách bao vây cấm vận của Mỹ, “vấn đề Campuchia”, nhận thức và hành động của bản thân các nước ASEAN v.v.. Song bài viết chỉ tập trung đến những nguyên nhân cơ bản từ phía Việt Nam và ASEAN để đưa ra câu giải đáp cho băn khoăn trên và rút ra một vài bài học kinh nghiệm trong chính sách đối ngoại của nước ta. NỘI DUNG I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ 1. Thế giới Sau thất bại của Mỹ ở Việt Nam, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa Mỹ và Liên Xô đã tới đỉnh cao, sự thức tỉnh của các dân tộc và của loài người đấu tranh cho hòa bình, độc lập và phát triển ngày càng mạnh mẽ. Khả năng đẩy lùi nguy cơ chiến tranh không ngừng tăng lên, các thế lực đế quốc và phản động dùng chiến tranh cục bộ chống các dân tộc, nhưng cuộc đấu tranh của các dân tộc vì độc lập, tự do vẫn không ngừng phát triển. Cuộc khủng hoảng của CNTB kéo dài từ đầu những năm 1970 đến đầu những năm 1980 khiến cho nền kinh tế của các nước đế quốc phát triển chậm chạp (tốc độ phát triển kinh tế đến năm 1982 mới đạt khoảng 50% tốc độ phát triển những năm 1950 và 1960).1 Nó đã đưa đến giai đoạn mới của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật. Giai đoạn mới này đang thúc đẩy một cuộc chạy đua kinh tế toàn cầu và lịch sử, đang tạo ra những thời cơ mới cho các nước phát triển nhanh nhưng đồng thời đặt ra những nguy cơ rất to lớn cho các nước có thể bị bỏ rơi rất xa trong cuộc chạy đua này. Tất cả các nước lớn nhỏ đều phải đối phó với những thách thức to lớn về kinh tế này và chính những thách thức to lớn về kinh tế đã trở thành những thách thức về chính trị, về an ninh quốc phòng của tất cả 1 Nguyễn Cơ Thạch, “Những chuyển biến trên thế giới và tư duy mới của chúng ta”, Tạp chí Quan hệ quốc tế tháng 01/1990 các nước dẫn đến việc các nước lớn phải điều chỉnh chiến lược trong ngoại giao, trong công cuộc cải cách, cải tổ và đổi mới từ những năm 1970. Xu thế đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại giữa các nước có chế độ khác nhau ngày càng phát triển. 2. Khu vực Trong chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, hầu hết các nước ASEAN đã dính líu trực tiếp hay gián tiếp vào cuộc chiến như: Thái Lan có hai Sư đoàn bộ binh cùng chiến đấu với quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam; Singapore là nơi quân đội viễn chinh Mỹ tới nghỉ ngơi giải trí và cũng là căn cứ hậu cần tiếp tế lương thực thực phẩm và sửa chữa những chiến cụ của Mỹ bị hư hỏng ở Việt Nam2. Đại thắng Mùa xuân 1975 chấm dứt chiến tranh, đem lại độc lập, hoàn toàn và thống nhất trọn vẹn cho nhân dân ta. Nó đem lại những thay đổi căn bản trong tình hình Đông Nam Á. Từ tình trạng chiến tranh nóng bỏng gây nên một sự mất ổn định trong khu vực kéo dài suốt 30 năm, ngày nay Đông Nam Á đã im tiếng súng, đã có hòa bình. Nguyện vọng chung của các nước trong khu vực là muốn có hòa bình, ổn định để phát triển. Các nước ASEAN trước đây dính líu vào cuộc chiến tranh của Mỹ thì giờ rất muốn có quan hệ tốt với ta; họ sợ ta trừng phạt, trả thù, nhất là hồi đó nhiều nước đang phải đối phó với các lực lượng vũ trang chống đối cánh tả ở trong nước. Cũng có những đồng minh cũ vì chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đã trở thành kẻ thù mới của ta và đã gây ra một cuộc chiến mới làm cho tình hình khu vực tiếp tục mất ổn định. Có những nước là chỗ 2 Trịnh Xuân Lãng, “Một vài suy nghĩ về chính sách của ta đối với các nước ASEAN và đối với Mỹ từ năm 1975 đến 1979”, Kỷ yếu hội thảo 50 năm Ngoại giao Việt Nam, Học viện Quan hệ quốc tế, 22/08/1995, tr.48-51 dựa, hậu phương lớn của ta trong chiến tranh nay lại có ý đồ kiềm chế ta, thậm chí gây xung đột và chiến tranh biên giới và hải đảo của ta, tạo ra một tình thế rất căng thẳng trong khu vực. Tính đến tháng 8-1976, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với tất cả các nước thành viên ASEAN. Trong các năm 1977 và 1978, quan hệ song phương của Việt Nam với từng nước ASEAN đã phát triển mạnh mẽ với các chuyến thăm hữu nghị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm 5 nước ASEAN (09-10/1978)3... Chính sách ngoại giao của Việt Nam đối với khu vực Đông Nam Á lần đầu tiên được thể hiện rõ ràng trong chính sách 4 điểm tháng 7-1976, trong đó nêu lên những nguyên tắc cơ bản cho việc phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Đông Nam Á như: tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cùng tồn tại trong hòa bình, không để lãnh thổ của mình cho nước ngoài sử dụng, giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, phát triển hợp tác khu vực4. Có thể nói trong thời kỳ này, quan hệ Việt Nam với ASEAN phát triển tốt đẹp hơn so với trước đó. Việt Nam đã từng bước đặt nền móng cho quan hệ Việt Nam với các nước ASEAN. II. TẠI SAO VIỆT NAM BỎ LỠ CƠ HỘI GIA NHẬP ASEAN 1. Nguyên nhân từ phía Việt Nam a. Nhận thức sai lầm về ASEAN Trước hết, trong một thời gian khá dài (1967-1987) “Việt Nam đã xem ASEAN một khối quân sự- chính trị được lập ra thay thế SEATO chống Việt Nam, Trung Quốc và các lực lượng cách mạng ở Đông Nam 3 ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam, tr.85 4 Xem báo Nhân dân ngày 6-7-1976 Á. Cách đánh giá võ đoán trên đã khiến nước ta không thấy được mặt tích cực trong chính sách đối ngoại của ASEAN, ngay từ khi tổ chức này được thành lập vào tháng 8-1967. Việc xem ASEAN là một tổ chức thân Mỹ, hoàn toàn thù địch với Việt Nam, Lào, Campuchia đã làm cho hố ngăn cách giữa Việt Nam và các nước láng giềng Đông Nam Á ngày càng rộng, càng sâu thêm”5. Ta cho rằng các nước ASEAN là tay sai của Mỹ bảo vệ lợi ích của Mỹ, nên mặc dù ta đưa ra chính sách bốn điểm và đã bình thường hóa quan hệ với họ, ta vẫn dè dặt trong mối quan hệ đó và đôi khi vẫn để xảy ra những trục trặc nhỏ không cần thiết với họ. b. Vấn đề Campuchia Ta vẫn cho rằng ta có nghĩa vụ quốc tế là ủng hộ phong trào cách mạng ở các nước trong khu vực. Năm 1978, ở Đông Nam Á xuất hiện những luồng gió ngược chiều khi cuộc xung đột biên giới Campuchia- Việt Nam bộc lộ công khai. Năm 1978, cuộc xung đột ở biên giới Tây Nam Việt Nam do tập đoàn Pôn Pôt- Iêng Xary được các thế lực bên ngoài ủng hộ gây ra, phát triển nhanh chóng thành chiến tranh lớn. Chính quyền Pôn Pốt đã huy động một lực lượng lớn quân đội chính quy tấn công biên giới Tây Nam Việt Nam, sát hại dã man hàng nghìn người dân Việt Nam vô tội, kể cả người già, đàn bà và trẻ em, lấn chiếm đất đai, có ý đồ xấu nếu điều kiện cho phép sẽ tiến đánh Sài Gòn. Trong nước, tập đoàn Pôn Pốt tiếp tục thực hiện chính sách diệt chủng, giết hại hàng triệu người dân Campuchia. Việt Nam cũng nhiều lần đưa ra đề nghị thương lượng, đề nghị có những cuộc gặp cấp cao nhằm giải quyết vấn đề tranh chấp biên giới với chính quyền Pôn Pốt nhưng y trả lời: “Chờ một thời gian cho tình hình 5 Thu Mỹ, “Tư duy chính trị quốc tế mới của Việt Nam vá tác động của nó tới quan hệ giữa nước ta và các nước ASEAN”. Trong Quan hệ Việt Nam- ASEAN, Viện Châu Á và Thái Bình Dương, Hà Nội, 1992, tr.23 bình thường trở lại và những xung đột ở biên giới được chấm dứt sẽ gặp gỡ cấp cao” (18/06/1077)6. Tuy nhiên Pôn Pốt vẫn đồng loạt tấn công trên chiều dài 40km vào tỉnh Kiên Giang, pháo kích nhiều lần vào thị xã Châu Đốc. Trên quốc tế, họ vu cáo Việt Nam xâm lược Campuchia. Đứng trước những hành động bạo ngược đó và hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia, quân đội Việt Nam đã đánh trả hành động xâm lược của tập đoàn Pôn Pốt nhằm bảo vệ sinh mạng, tài sản của đồng bào Việt Nam sống ở các vùng biên giới và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, đồng thời giúp đỡ nhân dân Campuchia loại trừ nạn diệt chủng. Phản ứng quốc tế đối với việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia nói chung là không thuận. Chỉ có Liên Xô, Lào và các nước XHCN Đông Âu ra tuyên bố ủng hộ. Sau khi xuất hiện vấn đề Campuchia, quan hệ Việt Nam với các nước ASEAN chuyển sang đối đầu, quan hệ song phương của Việt Nam với từng nước ASEAN giảm xuống mức rất thấp. Tuy nhiên Việt Nam vẫn kiên trì lập trường, đánh giá nhiệm vụ trung tâm của ngoại giao Việt Nam là đấu tranh chống lại âm mưu của các thế lực thù địch bao vây, cấm vận Việt Nam và giúp nhân dân Campuchia lật đổ chính quyền Pôn Pốt, càng làm tăng thêm mâu thuẫn với các nước ASEAN. Khi các nước ASEAN đưa ra dự thảo nghị quyết lên án “Việt Nam xâm lược Campuchia” tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã cảnh báo thái độ của họ đã đi ngược lại lợi ích các nước trên bán đảo Đông Dương sẽ dẫn tới đối đầu giữa hai nhóm nước7. 6 Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, tr.303 7 Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, tr. 308 Ngoài ra, trong khi ta ký hiệp ước liên minh với Liên Xô thì quan hệ Việt-Mỹ chuyển sang giai đoạn căng thẳng mới (1978-1990), còn quan hệ Việt-Trung cũng trở nên bất bình thường, thậm chí có lúc đối đầu. 2. Nguyên nhân từ phía ASEAN Các nước ASEAN rất sợ ta ủng hộ và giúp đõ phong trào cách mạng của các lực lượng vũ trang chống đối trong nước họ. Vì vậy, mặc dù đã bình thường hóa quan hệ với ta trên cơ sở chính sách bốn điểm, các nước ASEAN vấn không thật sự yên tâm với ý đồ lâu dài của ta. Do đó, khi ta ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác với Liên Xô mở đường cho Liên Xô có chỗ đứng ở Đông Nam Á, và sau đó ta lại đưa quân vào Campuchia lật đổ chế độ Polpot, họ đã chuyển sang đối đầu kịch liệt với ta về cả chính trị và ngoại giao nhằm gây sức ép mạnh mẽ buộc ta phải rút hết quân và đi vào giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia. Các nước ASEAN lo ngại chiến tranh có thể lan rộng sang Thái Lan và có thể kéo họ vào cuộc xung đột khu vực, nên mối quan hệ Việt Nam- ASEAN trở nên căng thẳng, đối đầu kéo dài hơn một thập kỷ về vấn đề Campuchia8. ASEAN cùng nhiều nước phương Tây thi hành chính sách bao vây, cô lập Việt Nam và các nước Đông Dương. Chủ trương của các nước ASEAN là phối hợp với các nước ngoài khu vực đấu tranh đòi Việt Nam rút quân,cương quyết đòi Việt Nam sớm chấm dứt sự can thiệp vào Campuchia, chấp nhận giải pháp không có lợi cho Campuchia, tạo thế cân bằng giữa các nước lớn trong khu vực. Họ không muốn để Trung Quốc và Liên Xô lợi dụng vấn đề Campuchia để tăng cường ảnh hưởng, thâm nhập và tranh giành ảnh hưởng ở Đông Nam Á, không có lợi cho an ninh và ổn định trong khu vưc. Bằng nhiều cách và biện pháp khác nhau, ASEAN đã vận động các thế lực, các tổ chức quốc tế, đặc biệt là trên diễn đàn Liên Hợp Quốc, vận động Trung Quốc đồng ý lập Chính phủ Campuchia dân chủ, ASEAN tranh thủ các nước phương Tây gây sức ép về kinh tế đối với Việt Nam buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Ngay từ đầu, các nước ASEAN đã đưa ra Đại hội đồng Liên hợp quốc dự thảo nghị quyết lên án “Việt Nam xâm lược Campuchia” và đòi Việt Nam rút quân và đã bị Việt Nam cảnh báo vì thái độ của họ có thể dẫn tới quan hệ đối đầu giữa hai bên. Thái Lan cũng liên minh với Khơ me đỏ và Trung Quốc chống ba nước Đông Dương. III. TỔNG KẾT 1. Bài học kinh nghiệm Nhìn lại quan hệ giữa ta với các nước ASEAN thời kỳ này, ta rút ra được một số bài học kinh nghiệm có giá trị với chính sách đối ngoại của Việt Nam: Cần phải có một cái nhìn tỉnh táo, nhạy bén về tình hình quốc tế và khu vực. Ta đã đánh giá bạn thù một cách cứng nhắc qua lăng kính của hai cuộc đấu tranh ác liệt ta đã trải qua trong 30 năm trước đó và lăng kính của cuộc Chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường Xô- Mỹ mà ta đã bị cuốn hút vào. Do đó ta đã không nhìn thấy những chuyển biến to lớn- thuận và không thuận cho ta. Bới vậy, đối với các nước trong khu vực, ta đã không có một chính sách khôn khéo, uyển chuyển, mềm dẻo với tất cả các đối tượng liên quan. Ta cần tình đến tác động cảu cả ba mối quan hệ: + Quan hệ giữa các nước có liên quan đến Đông Nam Á +Quan hệ giữa các nước Đông Nam Á với các nước lớn 8 Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, tr.300 +Quan hệ giữa các nước Đông Nam Á với nhau9 Như vậy, ta cần có tư duy mới về vấn đề độc lập, chủ quyền an ninh và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, cũng như quan điểm “thông thoáng” về vấn đề ý thức hệ trong quan hệ với các nước ASEAN. Nếu như trước kia khi nói tới độc lập, chủ quyền thì nhiều khi người ta nghĩ đến một chính sách khép kín về chính trị theo kiểu biệt lập, tự cung tự cấp tự túc về kinh tế. Thì ngày nay trong xu thế toàn cầu hóa, sụ phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng lớn, nước nào càng tạo dựng cho mình một tư thế quốc tế năng động, linh hoạt, càng đa dạng hóa được các mối quan hệ đối ngoại thì càng có khả năng thực hiện chính sách độc lập. tự chủ hơn. Trong quan hệ với các nước lớn xét từ góc độ của Việt Nam thì tam giác Xô- Mỹ-Trung có vị trí đặc biệt quan trọng. Như đã nói ở trên, một trong những trở ngại lớn nhất đối với tiến trình hội nhập của Việt Nam vào ASEAN là “vấn đề Campuchia”. Việt Nam đã làm tất cả những gì có thể với tất cả thiện chí của mình để giải quyết vấn đề này. Nhưng khó mà hình dung được ràng có thể giải quyết được dễ dàng trở ngại này mà lại thiếu vai trò của các nước lớn. Trên thực tế, trong suốt thập kỷ 80, ta đã phải xử lý quan hệ với tất cả các nước lớn về giải pháp cho vấn đề Campuchia, trước hết cũng là giải pháp do các nước lớn dàn xếp10. Các nước lớn luôn có hợp tác và đấu tranh, có hòa bình và tranh chấp. Chúng ta cần thi hành chính sách “cân bằng lợi ích” giữa các nước, nhất là không ngả theo bên này, chống bên kia. Mọi sự “coi thường nước lớn và chống 9 Trần Quang Cơ, “Triển vọng hòa bình và phát triển ở Đông Nam Á”. Trong: Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, Bộ NG, HN, 1995, tr.24 10 Nguyễn Khắc Huỳnh, “Năm mươi năm ngoại giao: Suy nghĩ về mấy bài học quan trọng”.tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số đặc biệt, số 7 tháng 9-1995, tr.79 nước lớn đều không có lợi cho một quốc gia không thuộc loại nước lớn như Việt Nam”11. Ta cũng cần chú ý tôn trọng thích đáng lợi ích chính đáng cảu các dân tộc, quốc gia khác. Nắm vững được lợ ích dân tộc, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ và quyền tự quyết dân tộc, hòa hiếu với các nước láng giềng, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước, không gây thù oán với ai như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1947, đó chính là bảo đảm cho Việt Nam có một môi trường quốc tế thuận lợi cho sự phát triển và một vị trí ngày càng cao trong cộng đồng thế giới. 2. Đánh giá mối quan hệ Việt Nam và ASEAN Trên thế giới chính sách nói chung là thích nghi, chung sống với các nước láng giềng. Tư tưởng khu vực hóa và chủ nghĩa khu vực cũng hình thành từ rất sớm. Ta đã biết đến học thuyết Mơn-rô về “Châu Mỹ của người Mỹ” (1823) hay “chính sách láng giềng thân thiện” của Ru-Dơ-Ven (1933). Ông cha ta cũng đã từng vừa hợp tác vừa đấu tranh chung sống với người láng giềng khổng lồ phương Bắc và các nước láng giềng khác ở Đông Nam Á. Người xưa có câu: “bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Vì vậy cần phải có một quan điểm đúng đắn về những vấn đề liên quan đến vị trí địa –chính trị, địa -lịch sử và văn hóa nước nhà, khi mà xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa cũng như tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng trở nên mạnh mẽ. Đó là những thách thức tự nhiên mà ta không thể chọn lựa. Thậm chí, ta phải chấp nhận cả tình trạng khi chưa đủ lực để quan tâm đầy đủ đến một số nước ở xa, nhưng với các nước láng giềng thì luôn luôn phải coi trọng và quan tâm hàng đầu trong quan 11 Trần Quang Cơ, “Ý nghĩa cuộc đấu tranh ngoại giao trong lĩnh vực đối ngoại hiện nay”, Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc. Bộ NG, HN, 1995, tr.156 hệ đối ngoại. Dù là muộn màng nhưng ngay khi nhận thức được điều đó, ngay từ năm 1992 khi đã trở thành quan sát viên của tổ chức ASEAN, chúng ta đã khẳng định: “Trong toàn bộ chính sách đối ngoại của Việt Nam, ưu tiên trước nhất dành cho các nước trong tiểu khu vực Đông Nam Á, các nước ASEAN, vì lợi ích hòa bình ổn định khu vực cũng như vị lợi ích phát triển kinh tế của Việt Nam”12. Kết quả là đến năm 1995 Việt Nam đã chính thức gia nhập ASEAN. Quả thực đây là những chân lý rất đơn giản mà rất tiếc mấy chục năm ta mới quán triệt được và đã bỏ lỡ trong quan hệ với các nước ASEAN. Trong đầu những năm 1990, quan hệ giữa nước ta với các nước ở Đông Nam Á cũng như với các nước ASEAN phát triển mạnh mẽ và mang tính “bùng nổ”13. Việc Việt Nam gia nhập ASEAN có lợi cho xu thế chung là hòa bình và hợp tác. Việc đó không gây trở ngại mà còn hỗ trợ cho việc thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, mở rộng hơn nữa quan hệ hữu nghị hợp tác với tất cả các nước theo khẩu hiệu: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. 12 Trần Quang Cơ, “Tương lai của các quan hệ Việt Nam và các nước Châu Á- Thái Bình Dương: Tác động đến phát triển kinh tế của Việt Nam”. Tham luận tại Hội nghị về “Những thử thách đối với công cuộc tái thiết của VN, các vấn đề trong nước và quốc tế” do Trung tâm Đông- Tây tổ chức tại ĐH George Mason, bang Vocginia, Mỹ;ngày 21,22/05/1992. Trong: Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc. Bộ Ngoại giao, Hn,1995, tr.110 13 Vũ Khoan, “Việt Nam và ASEAN”, Tạp chí Cộng sản, tháng 11/1994

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfvu_huyen_nhung_8268.pdf
Luận văn liên quan