Tiểu luận Qui định về khiếu nại tố cáo

Trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay cải cách tư pháp là vấn đề hết sức bức xúc Đảng và nhà nước ta đặc biệt chú trọng. Cùng với sụ thay đổi to lớn của đất nước trong những năm qua, chúng ta đã tiến hành cải cách tư pháp, bước đầu đạt được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, pháp luật về Tư pháp hành chínhvà việc thực hiện pháp luật Tư pháp Hành Chính ở nước ta hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, thẩm quyền chưa rỏ ràng, quyền hành pháp và tư pháp vẫn còn lẫn lộn, chưa phát huy được tính chuyên môn, chuyên nghiệp của nghề thẩm phán, chưa phát huy hết vai trò của Tòa án trong việc bảo vể quyền lợi và lợi ích của công dân. Vấn đề độc lập xét xử của tòa án chưa thực sự được đảm bảo. Các quy định về mối quan hệ giữa các cơ quan Đảng, cơ quan hành chính nhà nước với sự độc lập xét xử của Toà án còn chưa được cụ thể , nên cần được phải cải cách, đổi mới.

pdf45 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 06/12/2013 | Lượt xem: 3793 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Qui định về khiếu nại tố cáo, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hn biệt đối xử trong việc thực hiện cc quyền, nghĩa vụ của cơng dn tại nơi cư tr thì cĩ quyền yu cầu người đã giải quyết tố cáo để người giải quyết tố cáo yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có biện pháp bảo vệ, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo đã bị xâm phạm, đồng thời xem xét, xử lý người có hành vi vi phạm. - Khi nhận được yêu cầu của người giải quyết tố cáo về việc áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người tố cáo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, quyết định áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để bảo vệ như sau: + Đình chỉ, tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo; + Khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo đã bị xâm phạm; + Xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với người có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo; + Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật. d) Bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo: - Khi người giải quyết tố cáo nhận được thông tin người tố cáo bị đe dọa, trả thù, trù dập thì có trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan công an hoặc cơ quan khác có thẩm quyền có biện pháp kịp thời ngăn chặn, bảo vệ người tố cáo và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo. - Khi người tố cáo có căn cứ cho rằng việc tố cáo có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình hoặc người thân thích của mình thì có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan công an áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết. - Trường hợp yêu cầu của người tố cáo là chính đáng thì người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan công an kịp thời áp dụng các biện pháp hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ người tố cáo và người thân thích của họ: + Bố trí nơi tạm lánh khi người tố cáo, người thân thích của họ có nguy cơ bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe; Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 30 + Bố trí lực lượng, phương tiện, công cụ để trực tiếp bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín cho người tố cáo và người thân thích của họ tại nơi cần thiết; + Áp dụng biện pháp ngăn chặn, xử lý hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo theo quy định của pháp luật; + Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật. 2 . 4 Sự khác biệt giữa quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị , yêu cầu: Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, yêu cầu là những quyền của người dân, có liên quan mật thiết với những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, ảnh hưởng đến hiều lãnh vực trong xã hội Tuy các quyền này có những điểm gần gũi nhau nhưng không đồng nhất. - Yêu cầu của công dân thường được sử dụng để thực hiện các quyền chủ thể khác (yêu cầu được nghỉ phép, yêu cầu thi hành án,…), đây là đòi hỏi của công dân đối với cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức nào đó phải đáp ứng các vấn đề họ nêu do luật định. Cũng có trường hợp sử dụng quyền yêu cầu khi có liên quan đến vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng trực tiếp đến người yêu cầu. - Kiến nghị là quyền thường được sử dụng trong hoạt động mang tính tích cực của công dân nhằm hòan thiện việc quản lý Nhà nước (kiến nghị cải cách thủ tục hành chính, đổi mới bộ máy Nhà nước,…), không liên quan trực tiếp đến vi phạm pháp luật. Nói khác đi, công dân bằng kiến nghị của mình, đề đạt đến cơ quan Nhà nước, tổ chức, đơn vị nhận kiến nghị để đơn vị này khi thực hiện làm tốt hơn nhiệm vụ được giao. - Khiếu nại, theo điểm 2 của Luật khiếu nại, tố cáo (1998), chỉ việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy, khiếu nại là quyền của chủ thể khi bị cơ quan hành chính Nhà nước có quyết định hoặc hành vi hành chính xâm phạm đến quyềnlợi của mình và trường hợp chủ thể là cán bộ, công chức bị quyết định của cấp thẩm quyền xử lý kỷ luật. - Tố cáo, theo điểm 2 của Luật khiếu nại, tố cáo (1998), chỉ việc công dân, báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, cơ quan. Phân biệt khiếu nại và tố cáo Khiếu nại và tố cáo đều là các quyền chính trị cơ bản của công dân, thường được quy định trong cùng một điều luật hay trong cùng một văn bản. Tuy nhiên giữa khiếu nại và tố Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 31 cáo có những đặc điểm khác nhau cả về nội dung và cách thức giải quyết. Quá trình thực thi pháp luật khiếu nại, tố cáo đã chỉ ra không ít trường hợp còn chưa phân biệt rõ ràng, chính xác thế nào là khiếu nại, thế nào là tố cáo nhất là khi đơn thư của công dân có nội dung chứa đựng cả việc khiếu nại và việc tố cáo thì vấn đề thụ lý và giải quyết còn nhiều lúng túng. Đây là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh những nhầm lẫn, thiếu sót, thậm chí là sai lầm trong việc xử lý đơn thư, tiến hành xác minh, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân khiến người dân phải khiếu nại nhiều lần hoặc tố cáo sai sự việc. Do vậy, việc phân biệt khiếu nại và tố cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình đúng pháp luật và giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo nhanh chóng, kịp thời, chính xác và đỡ mất thời gian, công sức, tránh được nhầm lẫn, sai sót trong khi giải quyết khiếu nại, tố cáo. - Trước hết, về chủ thể: Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo sửa đổi, bổ sung năm 2005, chủ thể của hành vi khiếu nại là cơ quan nhà nước, tổ chức, công dân, cá nhân và tổ chức nước ngoài (hoặc đại diện hợp pháp của họ) có quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính. Cán bộ, công chức từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật đối với họ. Nói rõ hơn, chủ thể của hành vi khiếu nại phải là người bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc. Trong khi đó, chủ thể của hành vi tố cáo chỉ có thể là cá nhân, tức là chỉ bao gồm công dân và người nước ngoài. Cá nhân thực hiện hành vi tố cáo có thể chịu tác động trực tiếp hoặc không chịu tác động của hành vi vi phạm pháp luật. Bởi vậy, khi tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo thì pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của chủ thể khiếu nại, tố cáo cũng khác nhau. Nếu chủ thể khiếu nại thực hiện không đúng pháp luật quyền khiếu nại của mình thì họ sẽ mất cơ hội được yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Còn nếu chủ thể tố cáo thực hiện quyền của mình không đúng quy định của pháp luật như tố cáo nặc danh, mạo danh thì tố cáo của họ không được giải quyết. - Thứ hai, về đối tượng: Trong khi đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống, những quyết định và hành vi này phải có tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại. Thì đối tượng của tố cáo rộng hơn rất nhiều, công dân có quyền tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Có nghĩa là hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của tố cáo có thể tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo có thể không. Chính sự khác nhau này đã dẫn đến sự khác nhau về thẩm quyền, thủ tục giải quyết, về quyền và nghĩa vụ của chủ thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo…Cụ thể: + Về thẩm quyền, khiếu nại được giải quyết lần đầu tại chính cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật là đối tượng của hành vi khiếu nại. Trong trường hợp đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu sẽ tiếp tục thực hiện quyền khiếu nại của mình lên cấp trên trực tiếp của cấp đã có thẩm quyền giải Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 32 quyết hoặc khởi kiện tại Tòa án. Còn đối với giải quyết tố cáo thì tại Điều 59 Luật khiếu nại, tố cáo có nêu rõ: “Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết. Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết”. Như vậy, khác với thẩm quyền giải quyết khiếu nại, người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào đó là chủ thể giải quyết tố cáo không có thẩm quyền giải quyết đối với đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của chính bản thân mình. Họ chỉ có quyền giải quyết những đơn tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức mà mình quản lý trực tiếp. + Về trình tự giải quyết, có thể chỉ ra một điểm khác nhau giữa khiếu nại, tố cáo là vấn đề thời hiệu. Đối với khiếu nại: “thời hiệu được tính là 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính”. (Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo). Còn đối với khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ công chức thì thời hiệu được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định kỷ luật.“ Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có trở ngại đó không được tính vào thời hiệu khiếu nại”. (Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo). Đối với tố cáo, pháp luật hiện hành không quy định về thời hiệu tố cáo. - Thứ ba, về mục đích: Nếu như mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hoặc người có thẩm quyền. Thì mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo mà cao hơn thế nữa là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước. 2.5. Vị trí, vai trò của các cơ quan Thanh tra (nhà nước) trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo: a) Quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các cơ quan thanh tra có vai trò quan trọng trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo”. Mặc dù, pháp luật về khiếu nại, tố cáo đều nhất quán xác định trách nhiệm, thẩm quyền của thủ trưởng các cơ quan quản lý nhà nước trong tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Song dù trong điều kiện nào, giai đoạn nào Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều thống nhất một luận điểm cơ bản là đề cao vai trò, vị trí của các cơ quan thanh tra trong tiếp dân, và giải quyết khiếu kiện của dân. Điều này vừa phản ánh một sự tin cậy cao độ của Đảng, Chính phủ và Bác Hồ với ngành thanh tra. Đồng thời phản ánh một thực tiễn của đời sống xã hội, thực tiễn của quản lý nhà nước đối với các cơ quan thanh tra nhà nước. Hồ Chủ tịch luôn xác định thanh tra các cấp, các ngành có nhiệm vụ “thanh tra sự khiếu nại của nhân dân” Điều 4 Sắc lệnh 138b ngày 18/12/1949 quy định. Và tại Hội nghị công tác thanh tra toàn miền Bắc ngày 5/3/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lại tiếp tục khẳng định: “Về công tác xét và giải quyết các khiếu nại, tố giác, nhiệm vụ Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 33 của các Ban thanh tra là phải làm cho nghiêm chỉnh, kịp thời, làm sớm chứng nào hay chứng ấy...”. Những quan điểm, chủ trương trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã được quán triệt, thể hiện rõ trong các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức, hoạt động của cơ quan thanh tra, được ban hành từ giai đoạn năm 1956 đến nay đều quy định các cơ quan thanh tra có nhiệm vụ giải quyết và thanh tra, kiểm tra việc xét, giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2005 đã tiếp tục khẳng định “Thanh tra nhà nước các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thanh tra việc chấp hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước; xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật”. Các cơ quan thanh tra làm tốt được những chức năng, nhiệm vụ quyền hạn đó chính là “...Các Ban thanh tra đã giúp giải quyết nhiều thư kêu nài của nhân dân, cán bộ nhân viên; nhờ vậy mà họ càng nhận rõ Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến lợi ích của họ” Huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 06/02/1961. Những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang đặt ra đòi hỏi các cơ quan thanh tra cần tiếp tục nghiên cứu đổi mới về tổ chức cũng như phương thức, cách thức hoạt động, trên cơ sở đổi mới thể chế về thanh tra, thể chế về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Mặt khác, nó cũng đòi hỏi quan tâm sâu sắc của các ngành, các cấp, từ Trung ương đến địa phương đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. b) Vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước - Tham mưu giúp thủ trưởng cơ quan cùng cấp giải quyết khiếu nại: Giải quyết khiếu nại luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan hành chính nhà nước. Tuy nhiên, để thực hiện nhiệm vụ này có nhiều cơ quan được giao trách nhiệm tham mưu cho các cơ quan hành chính, nhưng trong suốt thời gian qua các cơ quan thanh tra giữ vai trò trọng tâm và chủ yếu bởi thanh tra có vai trò vị trí, chức năng, nhiệm vụ quan trọng mà pháp luật trao cho. Để tổ chức thực hiện trách nhiệm này, các cơ quan thanh tra hàng năm phải cử cán bộ hoặc thành lập các đoàn thanh tra để tiến hành thu thập, thẩm tra, xác minh chứng cứ, kết luận về nội dung khiếu nại, có kiến nghị để thủ trưởng cơ quan cùng cấp giải quyết chính xác, khách quan, kịp thời các khiếu nại. Thời gian qua, hầu hết các vụ việc giải quyết của thủ trưởng cơ quan cùng cấp đều được thực hiện trên cơ sở kiến nghị của thanh tra. Đối với các vụ việc phức tạp liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan thì thanh tra luôn được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan để tiến hành việc thu thập, thẩm tra, xác minh, kết luận, từ đó đưa ra kiến nghị xác đáng cho thủ trưởng ra quyết định giải quyết. Đối với những khiếu nại đặc biệt phức tạp, có đông người tham gia, trở thành điểm nóng hoặc khiếu nại gắn với tố cáo liên quan đến nhiều vấn đề, lĩnh Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 34 vực, nhiều cấp, nhiều ngành thì Thanh tra Chính phủ, thanh tra các địa phương, bộ ngành giữ vai trò trọng tâm và chủ yếu trong việc tham mưu giúp các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương giải quyết, khắc phục hậu quả và kiểm tra, theo dõi việc thực hiện những quyết định, chủ trương, giải pháp giải quyết. Nhất là việc xử lý cán bộ, xử lý về kinh tế, khắc phục những sơ hở, yếu kém trong quản lý. Do tổ chức được nhiều hình thức đa dạng, linh hoạt trong công tác tham mưu, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế mà các cơ quan thanh tra đã giúp cho cấp ủy, chính quyền các cấp tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc và giải quyết được nhiều vụ việc khiếu nại. Qua theo dõi thực tiễn cho thấy, số các vụ việc mà các cơ quan thanh tra tham mưu cho các các cơ quan hành chính giải quyết hàng năm chiếm tỷ lệ cao, khoảng trên dưới 80%. Tại một số tỉnh, thành phố như Ninh Bình, Nghệ An, Kiên Giang, thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ khoảng 85%. Vai trò tham mưu của các cơ quan thanh tra trong giải quyết khiếu nại ngày càng được khẳng định và không thể thay thế. Vì vậy trong các văn bản pháp luật trước đây, hiện nay và sau này vẫn quy định về chức năng, nhiệm vụ này của các cơ quan thanh tra. Do đó, các cơ quan thanh tra cần có nhiều biện pháp tích cực đổi mới hoạt động thẩm tra, xác minh, kết luận và kiến nghị, giúp các cơ quan hành chính giải quyết tốt khiếu nại. - Tổ chức tiếp công dân: Là cơ quan có vị trò, vai trò nhất định nên thanh tra các cấp không chỉ được giao giao nhiệm vụ tham mưu trong giải quyết khiếu nại mà còn có nhiệm vụ quan trọng trong tiếp dân và giúp thủ trưởng cùng cấp trong việc tiếp dân, nhận các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo. Thực hiện nhiệm vụ được giao, các cơ quan thanh tra đã triển khai nhiều hoạt động để tổ chức tốt việc tiếp công dân, nhận các khiếu nại. Bố trí cán bộ có ý thức trách nhiệm làm công tác tiếp dân, có trụ sở khang trang lịch sự, tổ chức tiếp công dân thường xuyên, hướng dẫn, giải thích kịp thời cho công dân khi đến khiếu nại. Thường xuyên theo dõi, tổng hợp về tình hình tiếp dân, việc thực hiện nhiệm vụ tiếp dân của các cơ quan; kiểm tra thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật trong công tác tiếp dân. Thời gian qua, các cơ quan thanh tra đã làm tốt nhiệm vụ trực tiếp tiếp dân và tham mưu giúp thủ trưởng cùng cấp trong việc tiếp dân. Vì vậy, công tác này đã dần dần đi vào nề nếp và thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong công tác tiếp dân cũng còn tồn tại những hạn chế, yếu kém nhất định. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác tiếp dân, các cơ quan thanh tra cần tăng cường, đẩy mạnh, đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác này và có chính sách đãi ngộ thích hợp đối với những cán bộ trực tiếp làm công tác tiếp dân. - Thực hiện quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại hành chính: Theo quy định hiện hành, Thanh tra Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại trong phạm vi thẩm quyền của Chính phủ. Thanh tra các cấp giúp thủ trưởng cơ quan cùng cấp quản lý công tác giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật. Quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại có tác động trực tiếp đến công tác giải quyết khiếu nại, nó xuất phát từ đòi hỏi khách quan của công tác quản lý toàn diện Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 35 đối với hoạt động xã hội. Nội dung quản lý nhà nước về về công tác này bao gồm nhiều hoạt động như: soạn thảo trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản pháp luật; phổ biến tuyên truyền các văn bản pháp luật về khiếu nại; thanh tra, kiểm tra các cấp các ngành trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về khiếu nại; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại; tổng hợp tình hình về công tác giải quyết khiếu nại… - Thanh tra, kiểm tra trách nhiệm việc thực hiện các quy định pháp luật về khiếu nại: Theo quy định của pháp luật, các cơ quan thanh tra nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra thủ trưởng các cấp, các ngành trong việc thực hiện các quy định pháp luật về khiếu nại. Thông qua hoạt động này, các cơ quan thanh tra nắm được việc chấp hành các quy định pháp luật trong tiếp dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, kịp thời phát hiện những sơ hở, yếu kém, từ đó có giải pháp xử lý tích cực, hiệu quả, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm và hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại của các cấp, các ngành. Hàng năm, các cơ quan thanh tra tiến hành hàng nghìn cuộc thanh tra, kiểm tra trách nhiệm và đã phát hiện nhiều sai phạm của các cơ quan như tổ chức tiếp công dân không thường xuyên, không theo đúng thời gian, trình tự quy định. Trong giải quyết chưa chấp hành đúng trình tự, thủ tục quy định, còn để tồn đọng nhiều vụ việc, giải quyết dây dưa, kéo dài, các vụ việc phức tạp chưa giải quyết kịp thời từ cơ sở nên đã vượt cấp. Việc tổ chức thi hành quyết định giải quyết chưa kịp thời, thiếu kiên quyết, còn hiện tượng bao che, dung túng khi xử lý cán bộ có sai phạm. Thanh tra Chính phủ còn phát hiện nhiều vụ việc đã được xem xét, giải quyết nhưng chưa đúng các quy định pháp luật, chưa phù hợp với thực tiễn, thậm chí có cả quyết định giải quyết cuối cùng, từ đó có kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết lại, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Thông qua hoạt động này, kịp thời tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản để chỉ đạo và hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương chấn chỉnh, khắc phục những sai phạm, thiếu sót và có các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại. Trong thời gian tới, các cơ quan thanh tra cần tập trung và đổi mới nhiều hơn đốivới việc kiểm tra, thanh tra trách nhiệm của các cấp, các ngành, không làm thay các cơ quan trong việc giải quyết, không sa vào việc giải quyết vụ việc mà vụ việc đó thuộc trách nhiệm của các cơ quan cấp dưới. Từ đó, tạo ra bước chuyển biến tích cực trong công tác giải quyết khiếu nại. Bên cạnh đó, các cơ quan Thanh tra cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về giải quyết khiếu nại vì đó là một quá trình gồm nhiều nội dung, nhiều hoạt động, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau và tác động biện chứng lẫn nhau. Việc làm tốt hoạt động này có tác dụng thúc đẩy để hoàn thành tốt hoạt động kia, góp phần nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại trong phạm vi cả nước. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về giải quyết khiếu nại và nâng cao vai trò của cơ quan Thanh tra Nhà nước Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 36 trong công tác này, cần thực hiện tốt một số vấn đề sau: 1- Hoàn thiện quy định về khiếu nại, giải quyết khiếu nại, quản lý nhà nước đối với hoạt động giải quyết khiếu nại. Hoàn thiện các quy định làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại của các cơ quan nhà nước và tạo thuận lợi cho người dân thực hiện quyền khiếu nại của mình cũng như việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giải quyết khiếu nại của cơ quan Thanh tra Nhà nước. Khẩn trương xây dựng Nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại vừa được thông qua ngày 11/11/2011 khắc phục những hạn chế, bất cập trong cơ chế giải quyết khiếu nại, tăng cường vai trò của Luật sư và người đại diện quá trình giải quyết khiếu nại; minh bạch hoá quá trình giải quyết khiếu nại tạo thuận lợi cho công dân, cơ quan, tổ chức có cơ sở giám sát hoạt động giải quyết khiếu nại của các cơ quan nhà nước; đồng bộ hoá quy định về giải quyết khiếu nại với các quy định về khiếu kiện hành chính, đồng thời giúp các cơ quan Thanh tra nhà nước tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý Nhà nước về giải quyết khiếu nại. 2- Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền hướng dẫn và tổ chức việc thực hiện các quy định về khiếu nại. Để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và tổ chức thực hiện các quy định về khiếu nại, trước hết cần gắn công tác thông tin, tuyên truyền với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của ngành. Việc phổ biến pháp luật phải được tiến hành thường xuyên, hàng năm phải xây dựng chương trình, kế hoạch tuyên truyền pháp luật và kiểm tra, đôn đốc, đánh giá việc thực hiện Kế hoạch thông tin, tuyên truyền. Đổi mới nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khiếu nại, đảm bảo nội dung tuyên truyền phong phú, đa dạng. Mở rộng đối tượng được tuyên truyền phổ biến pháp luật nhất là đối tượng cán bộ, công chức ở xã phường, thị trấn và nhân dân gắn với đổi mới phương pháp tuyên truyền thu hút được sự tham gia của báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng có ảnh hưởng lớn như Đài truyền hình, Đài tiếng nói nhằm tăng cường hiệu quả tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Bên cạnh đó, cần xây dựng đội ngũ báo cáo viên được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến pháp luật; nghiệp vụ công tác tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải được nghiên cứu, hướng dẫn đầy đủ. Tăng cường các điều kiện về trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khiếu nại, đặc biệt là đảm bảo kinh phí phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khiếu nại. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm của các cục, vụ, đơn vị của Thanh tra Chính phủ và cơ quan Thanh tra nhà nước các cấp trong công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật khiếu nại. Thiết lập cơ chế, kế hoạch phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan cơ quan thanh tra để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn ngành trong hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật. 3- Đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại. Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 37 Mục tiêu đặt ra đối với các cơ quan Thanh tra nhà nước là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại đáp ứng yêu cầu về chính trị, đạo đức, lối sống, có năng lực, có trình độ theo đúng quy định; có kiến thức pháp lý, am hiểu hoạt động thực tiễn và gắn bó với nhân dân. Do vậy, cần có chương trình, kế hoạch cụ thể nhằm phát hiện, tuyển chọn, đào tạo những cán bộ đáp ứng được yêu cầu đề ra. Xuất phát từ tính chất, yêu cầu giải quyết khiếu nại, tiếp dân nên việc xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo phải sát với chủ trương, chính sách cán bộ của Đảng và Nhà nước, mục tiêu, yêu cầu cải cách hành chính nhà nước, xác định rõ việc quy hoạch cán bộ, có kế hoạch đào tạo ngắn hạn, dài hạn. Xác định nội dung, chương trình, giáo trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng kết hợp giữa việc đào tạo chính quy với các hình thức đào tạo khác. Tạo cơ chế khuyến khích cho cán bộ tự học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. 4- Tập trung thực hiện tốt hơn nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật về khiếu nại. Để làm được điều này, các cơ quan Thanh tra nhà nước cần đổi mới phương thức hoạt động. Chuyển mạnh từ việc trực tiếp giải quyết khiếu nại sang thanh tra, kiểm tra trách nhiệm đối với các cấp, các ngành. Tích cực chủ động tổ chức nhiều cuộc, nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra với qui mô, thời gian khác nhau, tiến hành thường xuyên, liên tục trên phạm vi cả nước, tập trung vào những điểm nóng, những địa phương, cơ quan để xẩy ra nhiều khiếu nại, có nhiều vi phạm trong công tác quản lý. Từ đó có kết luận làm rõ trách nhiệm, có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh. Đồng thời cần phải phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, góp phần sửa chữa thiếu sót khuyết điểm, nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại ở địa phương cơ sở. Trong chỉ đạo hoạt động, các cơ quan Thanh tra nhà nước không làm thay trách nhiệm của các cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại mà chỉ tập trung chủ yếu vào việc thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của các cấp các ngành trong việc thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại…Khẩn trương nghiên cứu hoàn thiện các qui trình về nghiệp vụ giải quyết khiếu nại, nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra trách nhiệm, làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về giải quyết khiếu nại. 5- Nâng cao chất lượng tổng hợp tình hình khiếu nại và tổng kết công tác giải quyết khiếu nại. Thanh tra Chính phủ cần thường xuyên tổng kết công tác giải quyết khiếu nại, công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, phổ biến sâu rộng trong các cơ quan thanh tra, cơ quan hành chính nhà nước. Đồng thời, các cơ quan Thanh tra cấp dưới phải làm tốt công tác thông tin báo cáo với cơ quan thanh tra cấp trên để làm cơ sở cho Thanh tra Chính phủ báo cáo Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền khi cần thiết. Các cơ quan Thanh tra Nhà nước còn phải báo cáo với thủ trưởng cơ quan cùng cấp, đồng thời hướng dẫn các cơ quan đơn vị tổ chức thuộc phạm vi Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 38 quản lý của thủ trưởng cơ quan nhà nước cùng cấp thực hiện đúng quy định về chế độ thông tin báo cáo. Các thông tin báo cáo phải chính xác, đầy đủ, trung thực, thường xuyên. Đề xuất được những nhận định đánh giá để cấp có thẩm quyền xử lý, góp phần nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại. II. VẤN ĐỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG THỰC TIỄN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ: 2.1. Mối quan hệ giữa khiếu nại tố cáo và phòng chống tham nhũng: Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Trong đó, người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp nước ta ghi nhận. Điều 74 Hiến pháp năm 1992 quy định: ''Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào...'' xâm phạm đến lợi ích nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Như vậy, đối tượng của việc khiếu nại, tố cáo của các quyết định hoặc việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước hoặc nhân viên nhà nước. Trong khi đó, tham nhũng là việc làm trái pháp luật nghiêm trọng nhất của những người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước. Nói cách khác ''Tham nhũng là việc lợi dụng quyền hạn để nhũng nhiễu dân và lấy của''. Tham nhũng lại thường gắn liền với buôn lậu tiếp tay cho buôn lậu. Do đó, tham nhũng gắn với buôn lậu là một đối tượng chủ yếu của việc khiếu nại, tố cáo. Mặt khác, trong cơ chế thị trường, tham nhũng là một vấn đề nhạy cảm, dễ tạo nên sự phản ứng trong xã hội, ở mỗi cơ quan, đơn vị, lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể gắn liền với lợi ích thiết thân của mỗi thành viên, hành vi tham nhũng không chỉ gây hại đến quyền lợi chung mà còn tác động trục tiếp đến đời sống vật chất, tinh thần của từng con người cụ thể. Do đó, tham nhũng là một trong những nguyên nhân chính làm phát sinh khiếu nại, tố cáo. Đó là chưa kể đến việc tham nhung còn gây mất đoàn kết nội bộ; làm đảo lên các giá trị đạo đức, trật tự xã hội và nói chung, tham nhũng gây công phẫn trong nhân dân. Điều này lý giải một thực tế là đơn thư tố cáo các hành vi tham nhũng thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các đơn thư khiếu nại, tố cáo. Năm 1993, Thanh tra nhà nước tiếp nhận 3.229 đơn, thư tố cáo các loại thì có đến 2.375 đơn thư tố cáo có nội dung tố cáo hành vi tham nhũng của 2.048 cán bộ chủ chốt các ngành, các cấp. Một điều đáng lưu ý nữa là số đơn thư tố cáo đúng sự thật thường chiếm từ 70 Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 39 đến 80% tổng số đơn thư tố cáo. Rõ ràng, các đơn thư khiếu nại, tố cáo là một nguồn thông tin phong phú và là một kênh thông tin đáng tin cậy về những vụ việc tham nhũng. Đơn thư khiếu nại, tố cáo phản ánh thái độ của nhân dân đối với tệ tham nhũng. Việc gửi đơn khiếu nại, tố cáo đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng phản ánh niềm tincủa nhân dân vào công lý, nó là biểu hiện của sự phản ứng hợp pháp, đầy trách nhiệm của công dân trước một vấn đề bất công đến nhức nhối trông xã hội. Như vậy, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Thông qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không những phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng mà còn phát hiện và khắc phục được những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách đã làm cho tệ tham nhũng có cơ hội phát sinh, phát triển. Làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là một biện pháp thiết thực, có hiệu quả nhằm phát huy sức mạnh của nhân dân - một nhân tố quan trọng đảm bảo cho thắng lợi của cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay. 2.2. Những lỗi bất cập của cơ chế giải quyết khiếu nại hiện nay và cách giải quyết: a) Cơ chế giải quyết các khiếu nại hành chính của chúng ta hiện nay có một số bất cập: Người ra quyết định là thủ trưởng cơ quan hình chính thường không phải là người trực tiếp giải quyết vụ việc, họ là những chính trị gia thường không gắn liền với chuyên môn khiếu nại, nên thường các khiếu nại phỉa chuyển các bộ phận chuyên môn của cơ quan hành chính, vì vậy khiệu nạo hành chính phải chuyển qua chuyển lại nhiều lần, mà không đến đúng chỗ. Quá tin tưởng vào hệ thống tóa án, khi hết giai đoạn khiếu kiện ở cơ quan hành chính. Người luật hy vọng rằng việc chuyển sang cơ quan xét xử là biện pháp hoàn hảo cuối cùng có thể giải quyết một cách triệt để nhất khiếu kiện hành chính. Trong tình trạng hiện nay việc chuyển khiếu nại hành chính thành khiếu kiện ra tòa án là việc rất khó có kết quả tốt và có được chân lý như mong đợi của người dân. b) Đề xuất giải pháp, kiến nghị: - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến Pháp luật về khiếu nại và tố cáo cho cán bộ, nhân dân ở địa phương (phường, xã, thị trấn, khu phố, ấp và tổ dân phố, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể); thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo, - Tăng cường công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo; tập trung giải quyết tốt các vụ việc khiếu nại, tố cáo liên quan đến điểm nóng của quận, đặc biệt là trong tác đền bù giải phóng mặt bằng, giải quyết triệt để khiếu nại ngay từ khi mới phát sinh. Phấn đấu giải quyết xong các đơn thư khiếu nại, tố cáo đúng thời gian Luật định và tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật. Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 40 - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo đảm lãnh đạo tập trung, thống nhất, phát huy được tính chủ động sáng tạo trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng rà soát, thống kê tình hình các dự án đang triển khai trên địa bàn (tỉnh/TP) nhằm dự báo tình hình, lập kế hoạch đề xuất biện pháp giải quyết kịp thời các vụ khiếu kiện đông người, tránh phát sinh điểm nóng trên địa bàn; - Thủ trưởng các phòng, ban, phường chủ động chỉ đạo, trực tiếp kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở CBCC phu trách giải quyết kịp thời, đúng quy định các vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan mình; xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý, bổ sung số lượng, nâng cao năng lực chuyên môn cho lực lượng cán bộ - công chức công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương; - Tăng cường công tác thanh tra trách nhiệm thủ trưởng trong việc thực hiện Luật Khiếu nại, tố cáo; trách nhiệm tổ chức thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. - Đề xuất với UBND Thành phố sửa đổi quy chế tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết tranh chấp, khiếu nại trên địa bàn Thành phố cho phù hợp với tình hình mới. - Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các phòng, ban và phường trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. c) Về cơ sở pháp lý: Do ý nghĩa chính trị - pháp lý hệ trọng và thực tiễn nóng bỏng của việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo, nên tuy Luật Khiếu nại tố cáo 1998 đã đươc sửa đổi bổ sung hai năm liên tiếp (2004, 2005) nhưng vẫn có nhu cầu tiếp tục hoàn thiện, trong đó với bất kỳ vi phạm quyền, tự do cá nhân nào (cùng với chiến lược cải cách tư pháp). Với việc thành lập các tòa hành chính, lao động, kinh tế trong Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp trung ương, phương hướng trên đã được thực hiện một phần, nhưng vẫn rất cần hoàn thiện các quy định cụ thể về lĩnh vực này, nhất là đối với tòa hành chính. - Luật khiếu nại, tố cáo quy định việc giải quyết khiếu nại từ Chủ tịch xã đến Tổng Thanh tra. Vì vậy quá trình giải quyết khiếu nại thường kéo dài, làm đứt đoạn, gây khó khăn cho cơ quan Nhà nước, tốn kém cho người khiếu nại. Hơn nữa, quy định nhiều cấp giải quyết dẫn đến các cơ quan hành chính (nhất là cơ sở) có tư tưởng ỷ lại. - Luật khiếu nại, tố cáo quy định rõ khi thụ lý phải thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, nhưng không quy định rõ là thông báo bằng quyết định hay bằng hình thức văn bản nên nhiều cơ quan thường tuỳ tiện, có nơi thông báo bằng công văn, thông báo. - Luật khiếu nại, tố cáo chưa quy định những chuẩn hoá là số tài liệu cần phải thu thập, xác minh, các tài liệu chỉ cần làm rõ… dẫn đến mỗi cơ quan giải quyết thường theo tư Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 41 duy riêng, các cơ quan giải quyết lần sau ít khi kế thừa thành quá điều tra, xác minh của cơ quan trước, nên gây lãng phí thời gian, kinh phí trong quá trình giải quyết khiếu nại. - Không nên quy định việc giải quyết ban đầu phải do cơ quan, thủ trưởng cơ quan quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại mà nên quy định là: Người khiếu nại có quyền khởi kiện ngay ra tòa hành chính hoặc khiếu nại ngay lên cơ quan cấp trên mà không cần phải khiếu nại đến cơ quan có quyết định hành chính của hành vi hành chính bị khiếu nại vì quy định như hiện nay việc giải quyết qua nhiều tầng nấc, nhiều cấp giải quyết, gây tốn kém, không hiệu quả, tránh hiện tượng người bị kiện cũng là người xử kiện do đó không khách quan, tính khả thi quyết định giải quyết sẽ thấp. Cho nên Luật tố tụng hành chính 2011 là phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. - Luật khiếu nại, tố cáo việc xác định thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức trong việc tiếp nhận và xử lý các loại tố cáo mới chỉ mang tính nguyên tắc, chưa quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết của các cơ quan cũng như trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo đối với các hành vi vi phạm xảy ra trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, Luật cũng chưa quy định đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo, người được giao nhiệm vụ xác minh, kết luận nội dung tố cáo, xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo; chưa quy định về việc công khai các quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo... Pháp luật hiện hành có đề cập nhưng chưa quy định rõ cơ chế bảo vệ người tố cáo khi họ bị đe dọa, trả thù, trù dập hoặc bị phân biệt đối xử; chưa quy định nội dung cũng như các biện pháp bảo vệ người tố cáo, trách nhiệm pháp lý của người tiết lộ bí mật liên quan đến người tố cáo. - Cơ chế giải quyết khiếu nại chưa đảm bảo đầy đủ tính khách quan, công khai, dân chủ trong quá trình giải quyết; việc khởi kiện của người dân tại Toà án còn bị hạn chế; trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại chưa cụ thể, rõ ràng, nhất là giải quyết khiếu nại lần đầu còn quá phức tạp, thời hạn giải quyết dài, chưa tạo thuận lợi cho công dân; chưa đề cao vai trò của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và của luật sư trong quá trình giải quyết khiếu nại; thiếu chế tài cụ thể trong việc xử lý trách nhiệm thực hiện công tác giải quyết khiếu nại; hiệu lực thi hành các quyết định giải quyết khiếu nại chưa cao; chưa gắn trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan nhà nước trong việc tổ chức tiếp công dân. Bên cạnh đó, một số văn bản pháp luật hiện hành có quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại, nhất là trong lĩnh vực đất đai… còn có sự mâu thuẫn, chồng chéo, chưa tạo được thống nhất trong các quy định về khiếu nại, giải quyết khiếu nại. - Trong những năm qua có nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước đã đề cập tới công tác giải quyết khiếu nại, coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong cải cách hành chính nhà nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Tuy nhiên, các chủ trương, quan điểm trên chưa được thể chế hóa đầy đủ trong pháp luật về khiếu nại. - Với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực. Tuy nhiên, cũng còn bộc lộ Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 42 nhiều hạn chế, bất cập, làm phát sinh nhiều tố cáo trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, cũng như tố cáo cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Số vụ việc tố cáo tiếp tục gia tăng, tính chất gay gắt, phức tạp, có nhiều người tham gia. Thực hiện đường lối đổi mới trong quan hệ với các quốc gia trên thế giới, trong thời gian qua Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực, trong đó có một số lĩnh vực, thỏa thuận quan trọng liên quan đến việc bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong quan hệ quốc tế, việc tố cáo và giải quyết tố cáo của cá nhân, công dân nước ngoài. Tuy nhiên những quy định pháp luật của nước ta về vấn đề này còn nhiều hạn chế và bất cập. Vì vậy, cùng với việc mở rộng quan hệ đối ngoại thì việc hoàn thiện pháp luật về tố cáo, giải quyết tố cáo có nhân tố nước ngoài để đáp ứng yêu cầu hội nhập là cần thiết. Vừa qua, Luật khiếu nại, tố cáo vừa được Quốc hội khóa XIII ban hành thành 2 văn bản luật riêng biệt khắc phục những hạn chế của Luật cũ, do đó các cơ quan quản lý nhà nước nhanh chóng xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện để khi 2 văn bản này có hiệu lực (từ 01/7/2012) thì nó sẽ sớm đi vào cuộc sống nhằm thể chế hoá chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác giải quyết khiếu nại và công tác giải quyết tố cáo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế hiện nay là yêu cầu khách quan và rất cần thiết. Thay lời kết, Nhóm nghiên cứu đề tài xin giới thiệu tóm tắt đôi nét về Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo vừa ban hành năm 2011 và sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2012 + Luật Khiếu nại: tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại Luật Khiếu nại gồm 8 chương, 70 điều, quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước; khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; tiếp công dân; quản lý và giám sát công tác giải quyết khiếu nại. Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn cần giải quyết khiếu nại của nhiều người về cùng một nội dung, Luật Khiếu nại đã bổ sung quy định mới về trường hợp nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung. Theo đó, nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung mà khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức tiếp và hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi nhận nội dung khiếu nại. Nếu nhiều người khiếu nại bằng đơn thì đơn phải có chữ ký của những người khiếu nại và phải cử đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyết khiếu nại (Khoản 4, Điều 8). Đồng thời, Luật cũng bổ sung quy định về việc ra quyết định giải quyết khiếu nại trong trường hợp này (Khoản 3, Điều 31). Trình tự khiếu nại cũng được đổi mới so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998. Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 43 Theo quy định của Luật thì khiếu nại lần đầu, người khiếu nại có quyền khiếu nại trực tiếp đến người có quyết định thi hành, hành vi hành chính hoặc có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án, không nhất thiết phải khiếu nại với người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại như trước đây (Điều 7). Việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật cũng là một trong những nội dung mới của Luật Khiếu nại. Quy định này nhằm bảo đảm các quyết định giải quyết khiếu nại được thực hiện nghiêm chỉnh. Mục 4, Chương III đã xác định về quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật; những người có trách nhiệm thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật và việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật. + Luật Tố cáo: bổ sung một chương mới về bảo vệ người tố cáo Luật Tố cáo gồm 8 chương, 50 điều, quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; bảo vệ người tố cáo và quản lý công tác giải quyết tố cáo. Một trong những điểm đáng lưu ý của Luật Tố cáo là đã bổ sung một chương mới về bảo vệ người tố cáo. Theo đó, Luật xác định trách nhiệm bảo vệ người tố cáo thuộc về người giải quyết tố cáo. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tiếp cận thông tin về người tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo đều có trách nhiệm bảo đảm giữ bí mật các thông tin này, không kể người tố cáo có yêu cầu hay không. Việc quy định người tố cáo phải có văn bản yêu cầu bảo vệ chỉ áp dụng trong trường hợp họ có căn cứ cho rằng, họ bị phân biệt đối xử về việc làm, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân, hay nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. Đây cũng là cơ sở để các cơ quan xác định các biện pháp bảo vệ phù hợp, bảo đảm tính khả thi trên thực tiễn, phù hợp với nguyên tắc bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo. Để đáp ứng yêu cầu của công tác phòng chống tham nhũng, Luật Tố cáo đã quy định một số nội dung mới về công khai nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm tố cáo. Luật cũng quy định cụ thể và đầy đủ hơn về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo và người bị tố cáo theo hướng sửa đổi, bổ sung thêm một số quyền của người tố cáo như: Quy định việc giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác là quyền đương nhiên của người tố cáo và các cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để bảo đảm quyền này của người tố cáo; được quyền tố cáo tiếp; được khen thưởng theo quy định của pháp luật... Luật cũng bổ sung quy định người bị tố cáo có quyền được nhận thông báo kết quả giải quyết tố cáo; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật; được xin lỗi, cải chính công khai do việc tố cáo, giải quyết tố cáo không đúng gây ra. Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 44 C. KẾT LUẬN Trong nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa nhà nước và công dân là bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, quyền tự do, dân chủ được mở rộng. Đổi mới mô hình tổ chức giải quyết KKTC là việc cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi công cuộc cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, là đòi hỏi của nền kinh tế thị trường và công cuộc hội nhập quốc tế. Tư pháp Hành Chính là phương thức hữu hiệu nhằm bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong nền hành chính quốc gia, là phương thức bảo vệ quyền, tự do, lợi ích của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trước sự xâm hại từ phía các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước. Trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay cải cách tư pháp là vấn đề hết sức bức xúc Đảng và nhà nước ta đặc biệt chú trọng. Cùng với sụ thay đổi to lớn của đất nước trong những năm qua, chúng ta đã tiến hành cải cách tư pháp, bước đầu đạt được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, pháp luật về Tư pháp hành chínhvà việc thực hiện pháp luật Tư pháp Hành Chính ở nước ta hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, thẩm quyền chưa rỏ ràng, quyền hành pháp và tư pháp vẫn còn lẫn lộn, chưa phát huy được tính chuyên môn, chuyên nghiệp của nghề thẩm phán, chưa phát huy hết vai trò của Tòa án trong việc bảo vể quyền lợi và lợi ích của công dân. Vấn đề độc lập xét xử của tòa án chưa thực sự được đảm bảo. Các quy định về mối quan hệ giữa các cơ quan Đảng, cơ quan hành chính nhà nước với sự độc lập xét xử của Toà án còn chưa được cụ thể…, nên cần được phải cải cách, đổi mới. Nhưng đổi mới không có nghĩa là phủ định toàn bộ những gì đang có mà đổi mới phải bảo đảm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động chủ yếu của Tư pháp Hành Chính, phải đảm bảo khai thác triệt để ưu điểm của mô hình Tư pháp Hành Chính của các quốc gia trên thế giới và phải khác phục được hoặc hạn chế đến mức thấp nhất các nhược điểm của mô hình tư pháp hành chính. Xã hội loài người luôn vận động và phát triển, có những cái hôm qua còn phù hợp nhưng hôm nay đã trở thành lạc hậu. Do vậy, nghiên cứu hành KKTC với quy mô tổ chức giải quyết KKTC phải đặt dưới góc độ lên tục phát triển để tổ chức TPHC của đất nước ta luôn theo kịp và đáp ứng được các đòi hỏi của xã hội, thực sự là một tổ chức của dân, do dân và vì dân./. Tiểu Luận: Luật Hành Chánh GVHD: ThS.LS Lê Minh Nhựt SVTH: Nhóm 9 Trang 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Luật khiếu nại tố cáo 1998 (Sửa đổi bổ sung năm 2004, 2005) 2. Luật khiếu nại năm 2011 3. Luật tố cáo năm 2011 4. Giáo trình Luật Hành Chính của Thạc sỹ - Luật sư Lê Minh Nhựt. 5. Chuyên đề khiếu kiện hành chính và tài phán hành chính. 5. Một số tài liệu tham khảo từ nhiều nguồn.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnhom_9_10_05_12_k_nai_t_5904.pdf