Tiểu luận Thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp phát triển trong giai đoạn hiện nay

- Thị trường đã có những bước phát triển khá nhanh và đầy đủ, cả về quy mô lẫn vai trò, tiệm cận với thông lệ thị trường quốc tế. - Thị trường có vai trò to lớn đối với sự phát triển chung của thị trường tiền tệ tại Việt Nam, hoàn thành tốt vai trò điều tiết cung cầu vốn, giúp các TCTD sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả và an toàn. - Bên cạnh những mặt đạt được thì thị trường cũng đã gặp nhiều sóng gió và đứng bên bờ vực khủng hoảng, cho đến nay tuy đã ổn định hơn nhưng thị trường vẫn còn ẩn chứa nhiều rủi ro và nguy cơ khủng hoảng, mà nguyên nhân xuất phát từ nhiều phía như đã phân tích trên đây. - Thực hiện đầy đủ và đồng bộ các giải pháp tương ứng với tình hình thực tế là phương pháp duy nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động và lành mạnh hóa thị trường, tạo điều kiện thị trường phát triển hơn nữa trong thời gian tới.

pdf38 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 09/09/2014 | Lượt xem: 2364 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp phát triển trong giai đoạn hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
sự tham gia của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các công ty tài chính và cho thuê tài chính, là giai đoạn thị trường có sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ về quy mô, khối lượng giao dịch và các đối tượng tham gia. Đây cũng là giai đoạn thị trường phát huy vai trò, chức năng vốn có của nó. Các giao dịch trên thị trường đã thật sự có ý GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 11 nghĩa đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong giai đoạn này, thị trường hoạt động khá an toàn và hiệu quả, không có sự biến động gì lớn, các thông lệ và quy tắc giao dịch trên thị trường được hình thành và duy trì, các giao dịch đều thực hiện thông qua hình thức tín chấp, với quy mô giao dịch ban đầu chỉ vài ba tỷ đồng/giao dịch đã tăng lên hàng trăm tỷ đồng/giao dịch và hàng ngày đều có hàng trăm giao dịch phát sinh trên thị trường giữa các ngân hàng với nhau. Phần lớn các giao dịch liên ngân hàng được thực hiện dưới các hình thức tín chấp, bảo đảm bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngân hàng cho vay; các ngân hàng đã thực hiện quan hệ vay mượn chủ yếu dưới hình thức gửi tiền lẫn nhau. 2.1.2.3 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay: - Đây là giai đoạn phát triển khá đầy đủ của TTLNH cả về quy mô giao dịch, mức độ thường xuyên, sản phẩm giao dịch và đối tượng tham gia thị trường nhưng đây cũng là giai đoạn TTLNH nói riêng và thị trường tài chính tiền tệ nói chung có nhiều biến cố, thăng trầm và rơi vào khủng hoảng với tính chất nghiêm trọng và hệ thống, đây là giai đoạn bùng phát những bất cập và khiếm khuyết của thị trường và cần phải có sự can thiệp của NHNN. Giai đoạn này có sự tham gia đầy đủ của tất cả các loại hình tổ chức tín dụng (quốc doanh, cổ phần, công ty tài chính, cho thuê tài chính, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài). Giai đoạn này cũng là giai đoạn các TCTD bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến vấn đề quản lý rủi ro thị trường, rủi ro đối tác và rủi ro thanh khoản. Hầu hết các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã rút khỏi thị trường theo yêu cầu của ngân hàng M ẹ hoặc co cụm giao dịch trong hệ thống các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và với một vài ngân hàng TMCP lớn và quốc doanh. 2.1.3 Các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu trên Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam. 2.1.3.1 Nghiệp vụ gửi và nhận vốn giữa các TCTD (vay và cho vay). - Nghiệp vụ gửi và nhận vốn (vay và cho vay) giữa các định chế tài chính chiếm đến 80 - 90% khối lượng giao dịch trên Thị trường liên ngân hàng tại Việt GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 12 Nam. Nghiệp vụ gửi nhận vốn nhằm đáp ứng nhu cầu đảm bảo thanh khoản hàng ngày của các chủ thể tham gia, điều tiết và cân bằng nguồn vốn giữa ngân hàng thừa vốn và ngân hàng thiếu vốn ngắn hạn, giúp các ngân hàng sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động. Hình thức giao dịch thông qua thỏa thuận giữa các ngân hàng với nhau trên nguyên tắc tín nhiệm và tự nguyện về số lượng gửi và nhận, kỳ hạn giao dịch, mức lãi suất và các điều kiện khác. Điều kiện giao dịch: - Ngân hàng nhà nước hiện nay chưa có văn bản nào quy định các điều kiện cụ thể để có thể tham gia giao dịch trên TTLNH đối với các định chế tài chính. Các định chế tài chính mặc nhiên được công nhận tham gia thị trường. Do đó, để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro phát sinh, các ngân hàng và định chế tài chính thường tự mình đặt ra các quy định và tiêu chuẩn đối với đối tác giao dịch đồng thời thực hiện cấp hạn mức giao dịch cho từng đối tác cụ thể. Kỳ hạn giao dịch: - Các kỳ hạn giao dịch trên TTLNH thông thường là các kỳ hạn ngắn (dưới 1 năm) và khá đa dạng, phổ biến nhất là kỳ hạn từ 3 - 6 tháng trở xuống, cụ thể các kỳ hạn giao dịch bao gồm: qua đêm (over night), 1, 2 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng,... kỳ hạn giao dịch được xác định hoàn toàn dựa vào thỏa thuận giữa hai đối tác trên cơ sở nhu cầu vốn của một bên và khả năng đáp ứng về nguồn vốn của bên còn lại. Khối lượng giao dịch: - Khối lượng giao dịch là số lượng vốn mà hai bên thỏa thuận vay và cho vay (gửi hay nhận gửi) lẫn nhau, khối lượng giao dịch được thỏa thuận trên cơ sở nhu cầu và khả năng đáp ứng của các bên. Lãi suất giao dịch: - Lãi suất giao dịch chính là giá của nguồn vốn trên thị trường, lãi suất được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa hai bên, tùy theo tình hình cung cầu vốn trên thị trường trong khuôn khổ biên độ lãi suất cho phép của NHNN. Thực tế kể từ năm 2008 trở về trước, NHNN không quy định mức lãi suất trần giao dịch trên thị trường liên hàng, các đối tác được toàn quyền thỏa thuận về GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 13 lãi suất trên cơ sở nhu cầu và lãi suất thị trường, sau cuộc khủng hoảng thanh khoản nghiêm trọng của Thị trường liên ngân hàng giữa năm 2008, NHNN bắt đầu áp dụng cơ chế lãi suất trần trong giao dịch tiền gửi liên ngân hàng, bằng 150% lãi suất cơ bản của NHNN. Các điều kiện đảm bảo giao dịch: - Các định chế tài chính tự thỏa thuận với nhau về hình thức đảm bảo cho giao dịch tiền gửi trên TTLNH, có hai hình thức cơ bản là tín chấp và có đảm bảo bằng tài sản. Trong điều kiện thị trường bình thường, phần lớn các giao dịch tiền gửi trên TTLNH là dưới hình thức tín chấp. Phương thức thanh toán giao dịch: - NHNN là cơ quan duy nhất cung ứng các dịch vụ thanh toán liên ngân hàng, gồm có các kênh thanh toán như thanh toán điện tử liên ngân hàng, thanh toán bù trừ theo phiên, thanh toán bù trừ trực tiếp trong đó thanh toán điện tử liên ngân hàng được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, nó đảm bảo tiện lợi, nhanh chóng, chính xác và an toàn. Các điều kiện khác: - Các điều kiện giao dịch khác do hai bên thỏa thuận trên cơ sở phù hợp các quy định hiện hành. Các điều kiện giao dịch khác có thể là phương pháp tính lãi, trả lãi, hình thức đảm bảo giao dịch, hình thức xử lý tài sản đảm bảo, điều kiện tất toán trước hạn hợp đồng giao dịch,… 2.1.3.2 Nghiệp vụ mua bán các giấy tờ có giá. Mua bán hẳn giấy tờ có giá ngắn hạn. - Nghiệp vụ mua bán hẳn GTCG ngắn hạn trên thị trường tiền tệ bao gồm hai hình thức: Mua bán trên thị trường sơ cấp từ nhà phát hành và mua đi bán lại trên thị trường thứ cấp. Đối với nghiệp vụ mua bán GTCG trên thị trường sơ cấp, Chính phủ, Kho bạc nhà nước hoặc NHNN với vai trò là người phát hành lần đầu, thực hiện phát hành GTCG ngắn hạn trên thị trường sơ cấp nhằm mục đích huy động vốn hoặc điều tiết cung cầu vốn trên thị trường, tạo công cụ, hàng hóa cho thị trường. Các TCTD với vai trò là nhà đầu tư GTCG. Sau khi các GTCG được phát hành ra thị trường, nó sẽ được các TCTD thực GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 14 hiện mua đi bán lại giữa các TCTD tùy theo nhu cầu. Ngoài ra, các TCTD cũng thực hiện mua bán các GTCG do các TCTD và các tổ chức khác phát hành như chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu ngân hàng, thương phiếu,...Việc mua bán có thể thực hiện ngay tại thời điểm phát hành và từ nhà phát hành hoặc mua đi bán lại trên thị trường. Các GTCG hiện đang được các TCTD thực hiện giao dịch trên thị trường tiền tệ Việt Nam hiện nay là:  Nhóm các GTCG do Chính phủ, Kho bạc nhà nước và Ngân hàng nhà nước phát hành, bao gồm:  Tín phiếu kho bạc.  Tín phiếu Ngân hàng nhà nước.  Công trái các loại.  Trái phiếu ngắn hạn NHNN hoặc Kho bạc nhà nước.  Các GCTG ngắn hạn khác do Chính phủ phát hành.  Nhóm các GTCG do các tổ chức tín dụng phát hành, bao gồm:  Chứng chỉ tiền gửi.  Kỳ phiếu ngân hàng  Tín phiếu ngân hàng  Trái phiếu ngắn hạn ngân hàng.  Các GTCG ngắn hạn khác do các TCTD phát hành. - Việc mua bán và nắm giữ các GCTG còn nhằm mục đích tạo công cụ để các TCTD thực hiện các nghiệp vụ với NHNN trên thị trường tiền tệ. Mua bán có kỳ hạn giấy tờ có giá (repo/reve rse repo). - Thông thường, các NHTM và định chế tài chính tại Việt Nam thường nắm giữ một số lượng GTCG do Chính phủ, chính quyền địa phương hay các TCTD khác phát hành, các GTCG này vừa là công cụ dự trữ thanh khoản thứ cấp, vừa là công cụ kinh doanh để kiếm lời. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của mình, các NHTM luôn phát sinh tình trạng thừa hoặc thiếu vốn tạm thời. Tại những thời điểm như vậy, các NHTM sẽ sử dụng công cụ mua bán có kỳ hạn các GTCG để cân bằng nguồn vốn, các NHTM có thể mua trước và GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 15 cam kết sẽ bán ra chính GTCG đó trong một kỳ hạn nhất định (repo) hoặc bán và cam kết mua lại chính GTCG đó trong một kỳ hạn nhất định (reverse repo), tùy theo tình trạng của Ngân hàng lúc đó là thừa vốn hay thiếu vốn. Nghiệp vụ mua bán lại GTCG được sử dụng khá rộng rãi trên thị trường liên tiền tệ ngân hàng tại Việt Nam và được thực hiện dưới hình thức có chuyển nhượng GTCG hoặc không chuyển nhượng GTCG, các GTCG thực chất là được dùng làm đảm bảo cho giao dịch vay và cho vay vốn nên nghiệp vụ này được các NHTM rất ưa chuộng. Tuy nhiên, hạn chế nhất của loại giao dịch này là các NHTM chỉ sở hữu một khối lượng GTCG nhất định trong cơ cấu tổng tài sản nên không thể thực hiện các giao dịch này với khối lượng lớn được. Các GTCG hiện đang được giao dịch mua bán có kỳ hạn trên Thị trường liên ngân hàng Việt Nam hiện nay là:  Nhóm các GTCG do Chính phủ, Kho bạc nhà nước, Ngân hàng nhà nước và Chính quyền địa phương phát hành, bao gồm:  Tín phiếu kho bạc.  Tín phiếu Ngân hàng nhà nước.  Công trái các loại.  Trái phiếu chính phủ.  Trái phiếu kho bạc.  Trái phiếu chính quyền địa phương.  Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh.  Các GCTG khác do Chính phủ phát hành.  Nhóm các GTCG do các tổ chức tín dụng phát hành, bao gồm:  Chứng chỉ tiền gửi.  Kỳ phiếu ngân hàng  Tín phiếu ngân hàng  Trái phiếu ngân hàng  Các GTCG khác do các TCTD phát hành. GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 16  Các GTCG khác do các tổ chức phát hành như trái phiếu doanh nghiệp, thương phiếu (trên cơ sở thỏa thuận và đồng ý của các bên giao dịch). 2.1.3.3 Nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu, vay cầm cố GTCG, vay tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở và nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ. - Đây là những nghiệp vụ của NHNN đối với các NHTM và định chế tài chính, tùy theo chính sách tiền tệ từng thời kỳ mà NHNN sẽ quyết định thực hiện nghiệp vụ nào, phương thức, khối lượng vốn, lãi suất và kỳ hạn cũng như loại GCTG nào được thực hiện giao dịch. Hiện nay, NHNN đã ngưng thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu mà tập trung vào thực hiện nghiệp vụ thị trường mở do nghiệp vụ này có mức độ linh hoạt và có nhiều ưu điểm hơn, giúp NHNN có thể điều tiết được cung cầu tiền tệ một cách dễ dàng. - Nghiệp vụ thị trường mở đã được NHNN triển khai từ tháng 7 năm 2000 với quy mô ban đầu chỉ có 18 thành viên và chỉ có 2-3 thành viên tham gia thường xuyên, các GTCG sử dụng trong giao dịch có 2 loại là Tín phiếu kho bạc và Tín phiếu ngân hàng nhà nước, đến hiện nay thị trường đã lên tới hàng trăm thành viên, bao gồm hầu hết các loại hình TCTD; các phiên giao dịch liên tục tăng, ban đầu thị trường chỉ tổ chức 10 ngày/phiên, lên 1 tuần/phiên, 2 phiên/tuần, sau đó 3 phiên/tuần và kể từ năm 2003 hàng ngày đều có phiên thị trường mở, và hiện nay đã tăng lên đều đặn 2 phiên/ngày. Các GTCG hay hàng hóa trên thị trường mở cũng được mở rộng nhanh chóng, ban đầu chỉ là các tín phiếu do Kho bạc và NHNN phát hành, hiện nay danh mục các GTCG được thực hiện trên thị trường mở đã khá rộng rãi như tín phiếu các loại, trái phiếu do Chính phủ, Kho bạc nhà nước, NHNN, Chính quyền địa phương, Ngân hàng phát triển Việt Nam, Ngân hàng chính sách xã hội VN phát hành được Chính phủ bảo lãnh,.. Nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ (SWAP) đã được NHNN triển khai áp dụng từ năm 2009, đây là nghiệp vụ mà NHNN sẽ thực hiện việc mua bán hoán đổi giữa USD và VND với các TCTD nhằm cung ứng nguồn vốn VND cho các TCTD với một mức lãi suất nhất định. Theo đó, NHNN sẽ thực hiện mua giao ngay và bán kỳ hạn USD cho các TCTD, tỷ giá mua bán hình thành trên GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 17 cơ sở lãi suất hoán đổi do NHNN quy định, kỳ hạn hoán đổi từ 3-6 tháng. M ục đích của nghiệp vụ này là nhằm điều tiết vốn VND ra thị trường, góp phần bình ổn lãi suất thị trường tiền tệ và giảm lãi suất đầu ra, tăng cường thanh khoản cho các TCTD. 2.2 Thực trạng của thị trường liên ngân hàng tại Việt N am từ năm 2008 đến 2012. 2.2.1 Phân tích tổng quan thực trạng tình hình Thị trường liên ngân hàng Việt Nam từ năm 2008 đến 2012 2.2.1.1 Diễn biến tổng quan về thị trường năm 2008. - Sau một thời gian dài tăng trưởng về tín dụng trong các năm 2005, 2006 và 2007, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân của các ngân hàng trên 40%, nhất là các ngân hàng TMCP nhỏ tốc độ tăng tín dụng lên tới 60-70%. Tín dụng tăng trưởng nóng, lạm phát tăng cao (lên t ới 20% năm 2008). Do tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh trước đó, trong khi tốc độ tăng trưởng huy động vốn các ngân hàng thương mại, nhất là các ngân hàng TMCP lại thấp hơn, buộc các ngân hàng phải sử dụng vốn trên TTLNH để cho vay tín dụng đối với cá nhân và tổ chức kinh tế, kỳ hạn cho vay thường dài hơn trong khi nguồn vốn liên ngân hàng là nguồn vốn ngắn hạn, khi nguồn vốn có biến động do các chính sách của NHNN, lập tức các ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản trầm trọng, TTLNH trở lên quá nóng, lãi suất qua đêm trên thị trường đẩy lên mức 43%/năm, cá biệt có những giao dịch lãi suất lên tới trên 60%/năm. Đứng trước tình hình đó, NHNN cũng đã có một số biện pháp nhằm bình ổn thị trường như hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng nhỏ thông qua nghiệp vụ cho vay tái cấp vốn, vay cầm cố, đồng thời quy định mức lãi suất trần giao dịch trên thị trường, bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố. Lãi suất giao dịch được hình thành trên cơ sở cung cầu về nguồn vốn, lượng cung thì ít và cầu lại nhiều nên lãi suất thực tế không thể giảm ngay được, nên các TCTD vẫn phát sinh các giao dịch ở mức lãi suất cao hơn trần lãi suất do NHNN quy định. Lãi suất thực tế được điều chỉnh giao dịch qua các hình thức khác nhau. GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 18 - Trong năm 2008 chứng kiến sự canh tranh khốc liệt trong huy động vốn, các NHTM đã thực hiện đủ các hình thức khuyến mãi, quảng bá và sử dụng biện pháp hữu hiệu nhất là lãi suất, các ngân hàng đã vào cuộc đua lãi suất. Song song với việc thực hiện các biện pháp tăng cường huy động, các TCTD cũng hạn chế tăng trưởng tín dụng, hạn chế cho vay đối với khách hàng, chỉ thực hiện cho vay đối với các khách hàng quen thuộc và thật sự có uy tín và năng lực kinh doanh hiệu quả. 2.2.1.2 Diễn biến tổng quan thị trường năm 2009. - Năm 2009 cũng là năm các TCTD tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt tín dụng, tăng trưởng tín dụng được khống chế ở mức 38%. Tình hình thanh khoản của các TCTD tiếp tục được cải thiện một cách rõ rệt, giao dịch trên TTLNH diễn ra ổn định và lành mạnh hơn, các giao dịch vẫn tuân theo trần lãi suất do NHNN quy định. - Kinh tế Việt Nam cũng bị ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khủng hoảng này, nền kinh tế đang từ lạm phát cao chuyển sang thiểu phát, tăng trưởng sa sút. Trước tình hình đó, Chính phủ đã phải thực hiện gói kích cầu 1 tỷ USD để hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế, chỉ đạo NHNN thực hiện chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất 4% đối với các doanh nghiệp. Ngoài ra, NHNN cũng đã chủ động và có biện pháp tích cực tham gia vào hoạt động giao dịch trên thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở, đồng thời vẫn tiếp tục thực hiện chính sách cho vay hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng TMCP nhỏ, khó khăn về thanh khoản. - Lãi suất giao dịch có lúc bị đẩy lên đến 17-18% đối với kỳ hạn 1 tuần đến 3 tháng do nhu cầu cho vay tín dụng tăng cao. 2.2.1.3 Tổng quan diễn biến thị trường năm 2010. - Trong năm 2010, tình trạng khan hiếm thanh khoản và khó khăn về khả năng chi trả trên TTLNH cũng vẫn xảy ra cục bộ tại các ngân hàng TMCP. Nguyên nhân vẫn là do các ngân hàng này có tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nóng và cho vay hoặc đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro cao, không có khả năng thu hồi vốn đúng hạn, trong khi đó đã lạm dụng nguồn vốn liên GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 19 ngân hàng vào các mục đích cho vay và đầu tư trung dài hạn. Một lần nữa, NHNN lại phải ra thực hiện các biện pháp hỗ trợ bằng cách cho vay tái cấp vốn đối với các tổ chức này. - Lãi suất huy động vốn trong khối các thành phần kinh tế tiếp tục có sự cạnh tranh khốc liệt. Trước tình hình đó, NHNN đã đưa ra khuyến cáo các NHTM không được tăng lãi suất huy động thị trường vượt quá mức trần lãi suất do NHNN ấn định (bắt đầu từ thời điểm cuối năm 2009 là 10,5%/năm và kéo dài đến tháng 5/2010 thì điều chỉnh lên là 11,5%/năm sau khi có quyết định tăng lãi suất cơ bản lên 8%/năm. Tuy không có bất cứ văn bản nào quy định vấn đề này nhưng các TCTD huy động cao hơn mức lãi suất này sẽ bị NHNN xem xét thanh tra toàn diện. - NHHN tiếp tục sử dụng công cụ thị trường mở để điều tiết thị trường nhằm ngăn chặn lạm phát tăng cao, NHNN đã hút tiền vào dần dần, cụ thể trong tháng 1/2010 hút vào 16.400 tỷ, tháng 2 hút vào 3.500 tỷ, tháng 3 hút vào 38.600 tỷ, tháng 4 hút vào 6.700 tỷ, tổng số hút vào trong 4 tháng bằng đúng với số vốn bơm ra vào tháng 12/2009. Điều này cũng phản ánh tình hình thanh khoản các TCTD đã được cải thiện, các ngân hàng không hấp thu hết số vốn mà NHNN bơm ra. - Do khả năng thanh khoản đã được cải thiện nên lãi suất liên ngân hàng VNIBOR cũng giữ ở mức khá ổn định, hầu hết các giao dịch đều tuân theo mức lãi suất trần do NHNN quy định là từ 12% trở xuống. - Đầu năm 2010, NHNN cũng đã đẩy mạnh nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ (SWAP) với các NHTM , và mua ròng một khối lượng lớn USD từ thị trường (khoảng 01 tỷ USD), làm cho lượng cung tiền tăng lên. 2.2.1.4 Tổng quan diễn biến thị trường năm 2011: - Đầu năm 2011, triển khai Nghị quyết số 11 của Chính phủ, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm giới hạn dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15% - 16%. Thế nhưng, kết quả ước tính lần lượt chỉ là 12% và 10%, góp phần đáng kể vào việc kiềm chế lạm phát. Đó là kết quả của chính sách thắt chặt tiền tệ Ngân hàng Nhà nước áp dụng suốt năm qua. GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 20 - Các lần tăng lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu trong năm 2011 vừa qua: Ngày áp dụng Lãi suất tái cấp vốn Lãi suất tái chiết khấu 17/02/2011 11% 7% 08/03/2011 12% 12% 01/04/2011 13% 12% 01/05/2011 14% 13% 10/10/2011 15% 13% - Năm 2011, NHNN đã 2 lần tăng lãi suất chiết khấu (từ 7% năm 2010 lên 13%), 4 lần tăng lãi suất tái cấp vốn (từ 9% lên 15%), 5 lần tăng lãi suất OMO (từ 8% lên 15%). Lãi suất cơ bản đã được giữ nguyên 9% kể từ năm 2010. - Quy định trần lãi suất 14%/năm khiến các NHTM gặp khó về thanh khoản và phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao. Cá biệt, có những giao dịch lãi suất lên tới mức 30-40%/năm kỳ hạn 1 tháng. - NHNN thu hẹp quy mô giao dịch trên thị trường mở (OM O). Nếu như trước đây, ngân hàng mang giấy tờ có trị giá 10 nghìn tỷ đồng lên giao dịch thì có thể thắng thầu khoảng 80% - 90%, thậm chí cả 100% nhưng ở nhiều thời điểm trong năm 2011, tỷ lệ đấu thành công chỉ 20% - 30%. - NHNN kiên quyết thiết lập trần lãi suất 14%/năm khiến các NHTM gặp khó về thanh khoản và phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao. Cá biệt, có những giao dịch lãi suất lên tới mức 30-40%/năm kỳ hạn 1 tháng. Với sự hỗ trợ tích cực của cơ quan công an, Ngân hàng Nhà nước có đầy đủ bằng chứng vi phạm và tiến hành xử lý nghiêm những ngân hàng lách trần lãi suất như HDBank, DongA Bank và Agribank. Hàng chục cán bộ của các ngân hàng này đều bị kỷ luật dưới nhiều hình thức như cách chức, cấm đảm nhiệm chức vụ trong ngành ngân hàng từ 2 - 3 năm, điều chuyển khỏi vị trí công tác cũ; ban hành văn bản cảnh cáo chủ tịch hội đồng quản trị, ban điều hành ngân hàng; GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 21 đồng thời, trong vòng một năm, những ngân hàng này còn bị cấm mở chi nhánh, phòng giao dịch, đặt máy ATM trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước còn đăng tải rộng rãi hành vi vi phạm trên cổng thông tin điện tử của ngành, trở thành nỗi ám ảnh cho bất cứ tổ chức tín dụng nào muốn phạm vào luật chơi. - Khi NHNN chủ trương hạ lãi suất vào những tháng cuối năm 2011, lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt nhờ NHNN bơm một lượng vốn đáng kể trên thị trường OMO. - Tháng 10/2011, thị trường liên ngân hàng bước vào những bất ổn khi lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện hiện tượng áp cơ chế bảo đảm, thế chấp trong giao dịch giữa các thành viên. Một số ngân hàng quốc doanh, trong đó có Vietcombank, trong thời gian qua đã đòi hỏi ngân hàng nhỏ phải có tài sản thế chấp cho các khoản vay mượn. Điều này đã khiến các ngân hàng vốn đang thiếu thanh khoản, lại càng thêm khốn đốn. Không muốn phải thế chấp tài sản, một số ngân hàng phải chạy đi tìm vay ở ngân hàng khác. Đó là lý do lãi suất liên ngân hàng đã từng tăng lên đến 40%/năm kỳ hạn một tháng trong thời điểm tuần cuối tháng 10 vừa qua. Việc tăng cường đòi hỏi điều kiện đi kèm theo việc cho vay vốn không chỉ đẩy lãi suất liên ngân hàng lên cao, mà còn khiến các ngân hàng co mình lại, giảm cho vay trên thị trường này, hoặc cho vay và đòi hỏi lãi suất cao ngất. Cơ chế bảo đảm, thế chấp này lập tức tạo một không khí ngột ngạt và ảnh hưởng tới sự điều hòa các dòng vốn trong hệ thống, căng thẳng thanh khoản tại một số thành viên. Lý do xuất hiện đòi hỏi có thế chấp trên liên ngân hàng, là trước đây thị trường liên ngân hàng chỉ là nơi giải quyết những thanh khoản ngắn hạn như qua đêm, 1 tuần, nửa tháng, tối đa là 1 – 2 tháng. Nhưng một vài năm gần đây đã biến tướng, có những khoản vay cả năm trời. Điều này không những cho thấy có thiếu hụt thanh khoản kéo dài trong hệ thống, mà còn khiến tiền nằm trong hệ thống ngân hàng mà không đi ra nền kinh tế phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh. - Các ngân hàng nhỏ với tốc độ tăng trưởng nóng trong những năm trước, có xu hướng vay ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Do đó, khi thị trường biến GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 22 động, nguồn vốn khó khăn thì ngân hàng mất khả năng thanh khoản tạm thời. Trước tình hình này, NHNN đã có hỗ trợ nhằm giúp cải thiện đáng kể khả năng thanh khoản của các ngân hàng. Trong khi đó, HĐQT của 3 ngân hàng (Ngân hàng Đệ Nhất, Ngân hàng Tín Nghĩa và Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Sài Gòn ) đã nhóm họp và đi tới quyết định tự nguyện sáp nhập thành ngân hàng mới. Đây là 3 ngân hàng đầu tiên sáp nhập sau khi Chính phủ trong phiên họp thường kỳ tháng 11 vừa qua cơ bản nhất trí với đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại nhằm tái cơ cấu toàn diện hệ thống ngân hàng cả nước. Thực hiện việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, từ nay đến hết quý I- 2012, sẽ hoàn thành việc đánh giá, phân loại các ngân hàng. 2.2.1.5 Tổng quan diễn biến thị trường năm 2012: Ngoài những điểm sáng như lãi suất giảm mạnh, tỷ giá ổn định, thanh khoản của hệ thống được đảm bảo... thì bức tranh bao phủ ngành ngân hàng năm 2012 là màu xám. Đó là tăng trưởng tín dụng thấp nhất trong 20 năm, nợ xấu tăng vọt, loạn giá vàng, lợi nhuận sụt giảm, nhiều TCTD làm ăn thua lỗ, 9 ngân hàng yếu kém buộc phải tái cơ cấu, nhiều TCTD lỡ hẹn với kế hoạch tăng vốn hoặc lên sàn, nhân viên nhiều ngân hàng mất việc, cắt giảm lương, thưởng, thậm chí không có thưởng Tết, nhiều cán bộ ngân hàng rơi vào vòng lao lý… Tốc độ tăng nợ xấu ở mức báo động, khi chỉ trong 9 tháng đầu năm đã tăng tới 66% so với cuối năm 2011. Tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống đến cuối tháng 9 là 8,82% trên tổng dư nợ và ước cả năm vào khoảng 8,5% - 10%. Nợ xấu có tài sản đảm bảo bằng bất động sản và bất động sản hình thành trong tương lai chiếm đến hơn 70% tổng nợ xấu. Nợ xấu tập trung ở nhóm các ngân hàng thương mại với 95,5% tổng nợ xấu của các TCTD trong nước (NHTM Nhà nước chiếm 50,5%). GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 23 Lợi nhuận của các ngân hàng hầu hết sụt giảm trong năm nay, thậm chí có nhiều TCTD kinh doanh thua lỗ. Theo báo cáo tài chính 9 tháng của hơn chục TCTD, lợi nhuận đã giảm trung bình 40% so với cùng kỳ năm ngoái. Cá biệt trong quý 3 có một số ngân hàng lỗ nặng như ACB, SHB. Còn theo nguồn tin từ Thanh tra NHNN, trong 6 tháng đầu năm đã có hơn 20 TCTD kinh doanh thua lỗ. Một số ngân hàng báo lãi, nhưng sau khi thanh tra lại thành lỗ, âm vốn điều lệ như Navibank, Habubank, TienPhongBank, GP.Bank, WesternBank, TrustBank. GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 24 Lãi suất cơ bản giảm 5% so với cuối năm 2011, từ mức trần 14%/năm xuống 9%/năm. Song song việc áp trần lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, NHNN đã cho thả nổi lãi suất kỳ hạn 12 tháng trở lên. Các mức lãi suất điều hành khác cũng giảm mạnh. Lãi suất tái chiết khấu giảm từ 13%/năm xuống còn 8%/năm trong khi lãi suất tái cấp vốn giảm từ 15%/năm xuống 10%/năm. Lãi suất cho vay giảm mạnh từ 3 – 8%/năm. Lãi suất cao nhất chỉ còn 15%/năm, theo chỉ đạo của NHNN. Cuối năm, lãi suất cho vay phổ biến từ 12 – 15%/năm.NHNN quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với 4 lĩnh vực ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ ở mức không quá +/-3% lãi suất cơ bản. Năm 2012 thêm một vụ sáp nhập thành công là Habubank – SHB vào ngày 28/8. Đến nay, hoạt động của SHB đã dần đi vào ổn định sau khi lỗ hơn 1.100 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm. Ngân hàng TienPhongBank cũng đã tự tái cơ cấu thành công hồi tháng 6 sau khi tập đoàn DOJI chi tiền mua lại 20% cổ phần. Đến cuối năm 2012, vẫn còn 4 ngân hàng là Navibank, GPBank, TrustBank, Westernbank chưa công khai phương án tái cơ cấu. Tuy nhiên, trong năm cũng xuất hiện một vài thông tin về việc N avibank sẽ tự tái cơ cấu hay WesternBank sẽ được bán cho PVFC... GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 25 Hai vụ “đổi chủ” đình đám trong ngành ngân hàng năm nay là ngân hàng Sacombank và TienPhongBank. HĐQT của ngân hàng Sacombank thay đổi hoàn toàn, trong đó có 4 người mới đến từ ngân hàng Phương Nam. Ban Giám đốc bổ nhiệm mới 11 phó Tổng giám đốc và 1 Tổng giám đốc. Người đại diện theo pháp luật chuyển từ ông Đặng Văn Thành sang ông Phan Huy Khang. Trong năm, một loạt các cổ đông cá nhân và tổ chức của Sacombank thoái vốn hoàn toàn khỏi nhà băng này. Những ngày cuối năm, con của phó chủ tịch HĐQT Trầm Bê tiếp tục thoái toàn bộ 48 triệu cổ phần tức 4,93% tại Sacombank. Tại TienPhongBank, sau khi gia đình họ Đỗ mua lại 20% cổ phần của ngân hàng, trở thành cổ đông lớn thì ông Đỗ Minh Phú, chủ tịch DOJI cũng lên làm chủ tịch TienPhongBank. Phó chủ tịch ngân hàng hiện là người em Đỗ Anh Tú. Ngoài ra, còn một số ngân hàng thay đổi cơ cấu cổ đông lớn như Vietcombank bán 15% cổ phần cho Mizuho của N hật thu về 11.800 tỷ; ACB thoái vốn khỏi Eximbank và KienLongBank thu về 4.500 tỷ.. Các vụ lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của không ít các cán bộ ngân hàng liên tục bị phanh phui, khởi tố. Rúng động thị trường năm nay là vụ lừa đảo, chiếm đoạt gần 4.000 tỷ đồng của Huỳnh Thị Huyền Như, nguyên phó phòng quản lý rủi ro của ngân hàng Vietinbank chi nhánh Nhà Bè, cùng đồng phạm. Vụ án đã kết thúc điều tra với 17 bị can bị khởi tố.Tiếp đến là vụ nguyên phó chủ tịch Hội đồng sáng lập ngân hàng ACB Nguyễn Đức Kiên,, nguyên TGĐ Lý Xuân Hải, nguyên chủ tịch Trần Xuân Giá và 3 nguyên phó chủ tịch Lê Vũ Kỳ, Trịnh Kim Quang, Phạm Trung Cang của A CB bị khởi tố hồi tháng 8 và tháng 9 do cố ý làm trái quy định của Nhà nước gây hậu quả kinh tế nghiêm trọng. Vụ việc công ty cho thuê tài chính II thuộc Agribank gây thất thoát 3.600 tỷ đồng bị phanh phui hồi năm ngoái và hiện vẫn còn nợ Bảo hiểm Xã hội Việt Nam hơn 1.000 tỷ đồng, cùng với nhiều vụ điều tra, khởi tố, xét xử các cán bộ nhân viên của nhà băng này cũng là sự việc thu hút sự chú ý trong năm nay. Năm 2012, NHNN đã có nhiều chính sách quản lý phù hợp bối cảnh chung của nền kinh tế trong nước và quốc tế. Nhằm kìm hãm đà tăng trưởng tín dụng quá GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 26 nóng những năm trước, năm nay NHNN tiến hành phân nhóm tín dụng cho các TCTD (nhóm 1: tăng tưởng 17%, nhóm 2 tăng trưởng 15%, nhóm 3 tăng trưởng 7 – 8% và nhóm 4 không được tăng trưởng). Giữa năm, theo diễn biến mới và sự phát triển của các ngân hàng, NHNN đã có một số điều chỉnh về "room" tín dụng cho khoảng chục ngân hàng, cao nhất lên đến 30%. NHNN cũng siết chặt thị trường liên ngân hàng bằng các quy định chặt chẽ hơn kể từ ngày 1/9, chẳng hạn bên đi vay nếu nợ quá 10 ngày sẽ không được tham gia thị trường; đi vay phải có tài sản đảm bảo... Trạng thái ngoại tệ cuối ngày của TCTD được điều chỉnh về mức +/- 20% nhằm tránh tình trạng đầu cơ ngoại tệ, chống USD hóa nền kinh tế. Cấm các TCTD huy động vốn bằng vàng kể từ 25/11 và không được trả lãi giữ hộ vàng. Tỷ giá USD danh nghĩa biến động theo một đường thẳng băng kể từ cuối năm 2011 tới nay. Tỷ giá USD trong ngân hàng cũng khá ổn định, không có hiện tượng sốt USD như mọi năm. NHNN liên tục mua ròng USD từ các TCTD, với tổng cộng trên 10 tỷ USD từ đầu năm tới nay. Dự trữ ngoại hối cao nhất kể từ năm 2008 với khoảng 23 tỷ USD, tương đương 12 tuần nhập khẩu. Áp dụng độc quyền vàng miếng để chống đầu cơ vàng miếng và vàng hóa nền kinh tế. Tuy nhiên nỗ lực này cho đến nay dường như chưa phát huy hiệu quả. Ban hành nhiều dự thảo mới nhằm quản lý chặt chẽ hơn thị trường, ví dụ siết chặt hoạt động ủy thác đầu tư ngân hàng; nâng mức phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ngân hàng… Những ngày cuối năm, Thủ tướng Chính phủ đã có các buổi làm việc với lãnh đạo 2 thành phố lớn là H à N ội và Tp.Hồ Chí Minh để đưa ra biện pháp giải quyết nợ xấu cho bất động sản. Theo thông tin từ các buổi làm việc này, lãi suất sẽ giảm trong vài ngày tới và NHNN sẽ bơm ra từ 100.000 - 150.000 tỷ đồng giúp phá băng thị trường bất động sản. Năm 2012, NHNN áp dụng chính sách độc quyền vàng miếng, chọn thương hiệu SJC là thương hiệu vàng Quốc gia. SJC là đơn vị duy nhất được phép dập, gia GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 27 công vàng miếng. Các đơn vị muốn kinh doanh vàng miếng phải đáp ứng nhiều điều kiện như: vốn trên 100 tỷ, hoạt động kinh doanh vàng trên 2 năm, có chi nhánh, điểm bán hàng tại 3 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên, nộp thuế trên 500 triệu đồng/năm trong 2 năm liên tiếp gần nhất… Cũng trong năm nay, NHNN yêu cầu các TCTD phải dừng hoàn toàn huy động vàng (từ 25/11) và không được trả lãi đối với dịch vụ giữ hộ vàng. Do độc quyền vàng miếng, vàng SJC thường duy trì mức cao hơn so với các loại vàng ‘phi’ SJC từ vài trăm đến vài triệu đồng/lượng. So với thế giới, vàng trong nước thường xuyên duy trì khoảng cách chênh lệch (cao hơn) lên tới trên 3 triệu đồng/lượng. Song song đó, nạn vàng giả, vàng nhái SJC cũng xuất hiện. Từ đầu năm tới nay, giá vàng trong nước tăng gần 4,7 triệu đồng/lượng, tương đương mức tăng 10%, trong khi vàng thế giới tăng chưa đến 7%. 2.2.2 Đánh giá về thực trạng của thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến nay 2.2.2.1 Những mặt tích cực - Thị trường liên ngân hàng Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ cả về quy mô, khối lượng giao dịch, các đối tượng tham gia và hiệu quả hoạt động,…thể hiện cụ thể qua các tiêu chí về định lượng và định tính sau đây:  Đối tượng tham thị trường: khi hình thành các giao dịch liên ngân hàng đều thông qua NHNN và chỉ có một vài ngân hàng lớn tham gia thì cho đến nay hầu hết các TCTD và định chế tài chính đều tham gia hoạt động trên TTLNH với mức độ khác nhau, trong đó phải kể đến các ngân hàng TM QD (05 ngân hàng), các ngân hàng TM CP (35 ngân hàng), các chi nhánh ngân hàng nước ngoài (50 chi nhánh), các ngân hàng liên doanh (4 ngân hàng), các công ty tài chính (18 công ty) và các định chế tài chính khác. NHNN cũng tham gia vào thị trường một cách tích cực với vai trò là người phát hành, kiểm soát, điều tiết lượng cung cầu vốn khả dụng trên thị trường và thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng đối với nền kinh tế. GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 28  Các sản phẩm, hình thức giao dịch trên thị trường: các sản phẩm, hình thức giao dịch ngày càng đa dạng, ngoài sản phẩm truyền thống là gửi nhận vốn giữa các TCTD, đã phát triển được các sản phẩm như mua bán có kỳ hạn GTCG, mua bán hẳn GTCG, hoán đổi tiền tệ nhằm sử dụng linh hoạt giữa các loại tiền tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn huy động. Doanh số giao dịch trên Thị trường liên ngân hàng tăng bình quân hàng năm 20%, trong những năm gần đây tăng đến 30-40%. Doanh số giao dịch bình quân trên TTLNH từ năm 2009 trở lại đây là 62.000-86.000 tỷ/tuần, cá biệt trong tuần tháng 6/2010, doanh số giao dịch đã tăng đột biến lên trên 100.000 tỷ đồng.  Phương thức giao dịch: ngày càng đổi mới và hiện đại, hầu hết các giao dịch được thực hiện qua hệ thống giao dịch điện tử kết nối toàn cầu, có hệ thống lưu trữ dữ liệu an toàn và bảo mật cao.  Công cụ thanh toán giao dịch: công cụ thanh toán giao dịch ngày càng hiện đại và đồng bộ, từ chỗ thanh toán thủ công, đến nay đã phát triển được hệ thống thanh toán bù trừ điện tử, thanh toán điện tử liên ngân hàng, đáp ứng quy mô thanh toán tăng lên gấp hàng trăm lần so với 05 năm trước đây. - Thị trường liên ngân hàng đã phát huy vai trò điều tiết cung cầu nguồn vốn giữa các TCTD, tăng cường việc luân chuyển, tăng vòng quay nguồn vốn, giúp các TCTD sử dụng nguốn vốn khả dụng một cách hiệu quả và giúp các TCTD điều hành thanh khoản và khả năng chi trả một cách tốt hơn. - Thị trường liên ngân hàng đã tạo ra cho các NHTM và các định chế tài chính Việt Nam một kênh kinh doanh hiệu quả, an toàn, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, phát triển được những sản phẩm mới an toàn và hiệu quả ngoài các sản phẩm truyền thống. - Thị trường liên ngân hàng đã thực sự là công cụ hữu hiệu giúp NHNN thực hiện các chính sách tiền tệ một cách hiệu quả bằng cách can thiệp vào thị trường với vai trò là nhà phát hành lần đầu các công cụ, cung ứng hàng hóa cho thị trường hoạt động hiệu quả, thực hiện tốt vai trò là người cho vay cuối cùng của nền kinh tế. Các nghiệp vụ của NHNN đã đảm bảo nhanh chóng, thuận GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 29 tiện, thời gian giao dịch và thanh toán đều rút gọn, việc giao dịch đều được thực hiện qua mạng điện tử. - Thông tin thị trường ngày càng công khai, minh bạch, rõ ràng và đầy đủ, không những giúp cho các thành viên thị trường nắm bắt kịp thời thông tin để thực hiện nghiệp vụ hợp lý, chính xác và hiệu quả mà còn giúp cho các thành viên chưa tham gia thị trường và các tổ chức, cá nhân nắm rõ diễn biến các hoạt động của thị trường cũng như của nền kinh tế. 2.2.2.2 Các vấn đề tồn tại - M ặc dù đã có những bước phát triển vượt bậc nhưng TTLNH Việt Nam vẫn còn một số tồn tại, đó là:  Tồn tại lớn nhất của thị trường tiền tệ là đã để xảy ra cuộc khủng hoảng thanh khoản cuối năm 2007 và đầu năm 2008 và hậu quả của nó là rất lớn, cho đến hiện nay thị trường vẫn chưa thật sự ổn định và vẫn ẩn chứa nhiều nguy cơ khủng hoảng, thị trường chưa phát triển vững chắc nên dễ bị tác động.  Năng lực của các đối tác tham gia, hiện nay có một phần không nhỏ các NHTM và định chế tài chính vẫn gặp khó khăn về việc quản lý thanh khoản, quản lý vốn khả dụng, chưa đảm bảo các tỷ lệ an toàn về thanh khoản theo quy định và theo thông lệ, nguồn vốn và sử dụng vốn vẫn không ổn định và phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn trên TTLNH.  Hoạt động nghiệp vụ của một số TCTD chưa minh bạch, chưa đúng quy định, vẫn mang tính chất “lách luật” nhiều hơn.  Hiện nay, thị trường mới chỉ có các sản phẩm như gửi nhận vốn, mua bán các GTCG (bao gồm cả mua bán hẳn và mua bán có kỳ hạn), chưa phát triển được các sản phẩm phái sinh như hợp đồng hoán đổi lãi suất, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn về lãi suất.  Lãi suất VNIBOR mặc dù đã hình thành nhưng chưa thực sự trở thành loại lãi suất tham chiếu rộng rãi cho các giao dịch trên thị trường tiền tệ trong nước.  Cơ sở pháp lý và các quy định cụ thể về hoạt động của thị trường GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 30 chưa hoàn thiện, hiện chưa có quy chế hoạt động của thị trường, chưa có quy định nào đối với tiêu chuẩn của các TCTD tham gia thị trường nhằm hạn chế rủi ro cho thị trường. Các quy trình, quy chế nghiệp vụ trên thị trường mở vẫn còn phải chỉnh sửa và hoàn thiện, trong đó có việc xây dựng quy chế phối hợp việc lưu ký GTCG nhằm đảm bảo nhanh chóng, sử dụng hiệu quả.  Các công cụ thanh toán, các công cụ giao dịch chưa được trang bị đầy đủ và đồng bộ tại các TCTD.  Hệ thống thông tin thị trường bao gồm thông tin về tình hình hoạt động và thông tin dự báo, cảnh báo còn thiếu và yếu.  Công tác quản lý điều hành thị trường của NHNN còn nhiều lúng túng, thiếu biện pháp xử lý kiên quyết và đồng bộ, việc xử lý chạy theo tình huống phát sinh, bùng phát đến đâu dập đến đó, chưa có định hướng, biện pháp hay kế hoạch “dài hơi” cho việc quản lý và điều tiết thị trường.  Công tác thanh tra, giám sát còn nhiều bất cập, chưa chuyên nghiệp, chưa phát hiện kịp thời các biểu hiện sai trái và lệch lạc trong hoạt động của các TCTD. GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 31 CHƯƠ NG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜN G LIÊN NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM Căn cứ vào đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, xu thế tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế, cũng như những hạn chế tồn tại của thị trường liên ngân hàng Việt Nam, Nhóm sẽ trình bày một số giải pháp nhằm góp phần khắc phục những yếu kém và từng bước củng cố, hoàn thiện và phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng như sau: 3.1 Các giải pháp đối với cơ quan quản lý. - M ột là, hoàn thiện khung pháp lý về Thị trường liên ngân hàng. Văn bản có giá trị pháp lý và có liên quan chặt chẽ nhất đến hoạt động nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ hiện nay là Quyết định số 1310/2001/QĐ-NHNN ngày 15/10/2001 về việc ban hành quy chế vay vốn giữa các tổ chức tín dụng. Quy chế này ban hành đã khá lâu và hiện nay có một số điểm không còn phù hợp và cần phải sửa đổi, bổ sung do hoạt động của các định chế tài chính đã có nhiều thay đổi và phát triển. NHNN cần phải sớm ban hành quy chế về hoạt động giao dịch trên Thị trường liên ngân hàng, trong đó quy định rõ nguyên tắc hoạt động của thị trường, các điều kiện tham gia thị trường đối với các TCTD, các công cụ giao dịch chính thức, các sản phẩm nghiệp vụ, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia thị trường,... Hiện nay tất cả các giao dịch đều thực hiện trên cơ sở thông lệ thị trường và chủ yếu dựa vào uy tín của các đối tác, phương thức giao dịch qua điện thoại, xác nhận qua fax và bản chính sẽ được gửi sau đó đã trở thành thông lệ và phổ biến, hiện nay các TCTD có sử dụng thêm công cụ giao dịch điện tử là hệ thống giao dịch điện tử của Hãng Reuters và Bloomberge, hiện chưa có văn bản nào của NHNN quy định việc xử lý tranh chấp phát sinh khi thực hiện giao dịch qua các phương tiện điện tử này. Các TCTD cũng đã tự ký với nhau các thỏa thuận giao GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 32 dịch qua fax và qua hệ thống giao dịch điện tử nhưng chưa đầy đủ và thống nhất. NHNN cũng sớm ban hành các quy định về các nghiệp vụ trên thị trường, trong đó sớm hoàn thiện quy định về nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn GTCG (repo/reverse repo), quy định cụ thể về việc chuyển nhượng GTCG trong giao dịch này. - Hai là, đa dạng và chuẩn hoá các công cụ trên thị trường. Bên cạnh những công cụ sẵn có, cần được chuẩn hoá theo những khuôn khổ pháp lý thống nhất, cần sớm đưa vào thị trường các công cụ giao dịch khác như các công cụ chứng khoán phái sinh, các loại thương phiếu, các bảo lãnh của ngân hàng (bank acceptances), kỳ phiếu ngân hàng, v.v… Những công cụ này không chỉ góp phần đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng - tài chính mà còn tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia có cơ hội lựa chọn nhằm đáp ứng cao nhất nhu cầu về nguồn và sử dụng nguồn khi tham gia thị trường. - Ba là, khuyến khích các tổ chức tín dụng Việt Nam tham gia vào hoạt động thị trường tiền tệ trong khu vực và trên thế giới, trước hết là thị trường Hongkong và Singapore. Để thúc đẩy các tổ chức tín dụng tham gia hoạt động thị trường tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Nhà nước cũng cần thay đổi một số những quy định pháp lý về quản lý ngoại hối và sự di chuyển của những luồng vốn. Song, quan trọng hơn, các tổ chức tín dụng vẫn phải tích cực và chủ động trong việc vươn ra thị trường nước ngoài, tranh thủ sự cộng tác với các ngân hàng có uy tín của nước ngoài thông qua những quan hệ như là quan hệ ngân hàng đại lý, ủy thác, trung gian giải ngân. - Bốn là, triển khai thực hiện quy chế môi giới tiền tệ, mặc dù đã được ban hành từ năm 2004 nhưng quy chế này vẫn chưa được thực hiện, cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một tổ chức nào được cấp phép thực hiện nghiệp vụ môi giới tiền tệ. NHNN cần có hướng điều tra, giải quyết các vướng mắc để nhằm triển khai quyết định này, đây cũng là một công cụ dẫn vốn, giúp nguồn vốn được lưu thông tốt hơn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn. GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 33 - Năm là, tăng cường các biện pháp thanh tra, kiểm tra của NHNN và nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát. Thanh tra, kiểm tra là một việc làm cần thiết của cơ quan quản lý đối với bất cứ hoạt động nào, thanh tra, kiểm tra giúp phát hiện ra những biểu hiện sai trái, lệch lạc trong hoạt động nghiệp vụ của các chủ thể so với các quy định hiện hành để từ đó có biện pháp xử lý, uốn nắn và điều chỉnh các hoạt động theo đúng pháp luật, đảm bảo an toàn và hiệu quả, nhưng việc tranh tra, kiểm tra không được gây xáo trộn trong hoạt động bình thường của tổ chức, không áp đặt ý chỉ riêng của thanh tra và lại càng không có yếu tố tư lợi, không đặt tình huống gây sức ép để trục lợi; tranh tra, kiểm tra phải mang tính chất minh bạch, rõ ràng, chí công vô tư, đúng quy trình nghiệp vụ. Thanh tra, kiểm tra trong hoạt động ngân hàng nói chung và trong hoạt động của TTLNH nói riêng cũng không nằm ngoài mục đích, ý nghĩa và nguyên tắc nêu trên. Ngày 6/2/2012, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản số 539/NHNN-DBTKTT yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài báo cáo một số thông tin về quan hệ cho vay, tiền gửi đầu tư trái phiếu của các tổ chức tín dụng khác. Theo đó, để đánh giá hoạt động thị trường liên ngân hàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (trừ quỹ tín dụng nhân dân cơ sở) báo cáo một số thông tin về quan hệ cho vay, gửi tiền, đi vay, nhận tiền gửi với các tổ chức tín dụng khác và đầu tư trái phiếu, giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng khác phát hành. Trong nửa cuối năm 2011, trên thị trường liên ngân hàng bắt đầu xuất hiện cơ chế phải có bảo đảm, thế chấp trong hoạt động vay mượn giữa các thành viên; có hiện tượng một số ngân hàng vay trên thị trường này nhưng lần khất trả nợ khi quá hạn, hay sự bất cập trong những món nợ đồng lần thu hút sự chú ý của dư luận thời gian qua. Những bất cập trên gây xáo trộn, hạn chế chức năng của thị trường liên ngân hàng trong vai trò điều hòa vốn cho hệ thống. Và có thể sau khi tập hợp dữ liệu qua yêu cầu trên, Ngân hàng Nhà nước sẽ đánh giá và có những biện pháp xử lý để thị trường liên ngân hàng hoạt động tốt hơn. GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 34 - Sáu là, hoàn thiện cơ chế lãi suất giao dịch, đưa lãi suất VNIBOR trở thành lãi suất tham chiếu rộng rãi cho các giao dịch trên thị trường tiền tệ. 3.2 Các giải pháp đối với các chủ thể tham gia thị trường. - Nâng cao năng lực, lành mạnh hóa hoạt động và khả năng quản lý thanh khoản an toàn, hiệu quả; đầu tư trang bị công nghệ thông tin hiện đại của các TCTD. Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính tiền tệ và sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, các chủ thể tham gia TTLNH của Việt Nam khá đa dạng, các TCTD thuộc tất cả các thành phần đều tham gia thị trường. Tuy nhiên, hiện nay mới chỉ có một số các ngân hàng tham gia có hiệu quả và có sức chi phối thị trường, đó là các ngân hàng TM QD vì các ngân hàng này có nguồn vốn lớn và thường xuyên, giao dịch của các ngân hàng này hình thành nên mức lãi suất của thị trường và có tính dẫn dắt, định hướng thị trường. Để thị trường hoạt động hiệu quả hơn, cần phải có một hệ thống tiêu chuẩn đối với các TCTD khi tham gia thị trường, đảm bảo cho mỗi TCTD khi tham gia thị trường đều phát huy được vai trò và trách nhiệm của mình, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong tất cả các giao dịch, làm cơ sở cho thị trường hoạt động hiệu quả hơn. - Đa dạng hóa sản phẩm thị trường. M ột thị trường hoạt động hiệu quả thì phải có đầy đủ các sản phẩm, hàng hóa, theo thông lệ thị trường quốc tế, ngoài các sản phẩm truyền thống hiện nay là vay và cho vay vốn (nhận gửi và gửi vốn), mua bán các GTCG, mua bán có kỳ hạn GTCG (repo/reverse repo), nhóm nghiệp vụ của NHNN đối với các NHTM (chiết khấu, tái chiết khấu, thị trường mở, vay cầm cố, tái cấp vốn), còn phải phát triển các sản phẩm hiện đại đã phát triển trên thị trường quốc tế. - Hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả của công cụ thanh toán. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng cũng cần phải hiện đại hóa và nâng cấp hơn nữa, khắc phục tình trạng nghẽn mạch trong thanh toán nhằm tăng cường lưu chuyển dòng vốn và đảm bảo uy tín trong thanh toán cho các GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 35 TCTD, việc cập nhật các lệnh thanh toán tại TCTD phải được thực hiện hoàn toàn tự động, tăng cường an ninh bảo mật, phát hiện các mở rộng cho các chi nhánh của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng được tham gia, mở rộng giờ giao dịch. NHNN cũng xem xét và mở rộng hình thức thanh toán thấu chi trong ngày, cấp hạn mức thấu chi theo từng TCTD dựa trên uy tín và năng lực của TCTD đó. Việc tổ chức tốt công tác thanh toán liên ngân hàng còn giúp NHNN kiểm soát được dòng vốn khả dụng và dự trữ thanh toán của các TCTD, kiểm soát được các giao dịch bất thường và hạn chế rủi ro trong thanh toán giao dịch liên ngân hàng. GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 36 KẾT LUẬN Thị trường liên ngân hàng là một thị trường thành phần trong tổng thể thị trường tiền tệ. TTLNH được hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng và thị trường tiền tệ. TTLNH tại Việt Nam đã có quá trình hình thành và phát triển trong vòng 20 năm và trải qua các giai đoạn khác nhau. M ặc dù có quá trình hình thành và phát triển chưa dài, chỉ mới có 20 năm và giai đoạn thực sự phát triển và hoạt động trong 10 năm trở lại đây và có thể tóm lược những đặc điểm cơ bản nhất của TTLNH của Việt Nam thời gian vừa qua là: - Thị trường đã có những bước phát triển khá nhanh và đầy đủ, cả về quy mô lẫn vai trò, tiệm cận với thông lệ thị trường quốc tế. - Thị trường có vai trò to lớn đối với sự phát triển chung của thị trường tiền tệ tại Việt Nam, hoàn thành tốt vai trò điều tiết cung cầu vốn, giúp các TCTD sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả và an toàn. - Bên cạnh những mặt đạt được thì thị trường cũng đã gặp nhiều sóng gió và đứng bên bờ vực khủng hoảng, cho đến nay tuy đã ổn định hơn nhưng thị trường vẫn còn ẩn chứa nhiều rủi ro và nguy cơ khủng hoảng, mà nguyên nhân xuất phát từ nhiều phía như đã phân tích trên đây. - Thực hiện đầy đủ và đồng bộ các giải pháp tương ứng với tình hình thực tế là phương pháp duy nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động và lành mạnh hóa thị trường, tạo điều kiện thị trường phát triển hơn nữa trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, nhóm đã quyết định chọn đề tài “Thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp phát triển trong giai đoạn hiện nay”, đề tài không mới nhưng chúng tôi hy vọng với việc nghiên, cứu và phân tích trong đề tài phần nào đóng góp được những giải pháp hữu ích cho sự phát triển của thị trường, cho các nhà quản lý điều hành và cho các thành viên tham gia thị trường. Đề tài bắt đầu bằng việc nghiên cứu các cơ sở lý luận về TTLNH, đến phân tích quá trình hình thành và phát triển, thực trạng của TTLNH liên ngân hàng Việt Nam từ năm 2008 đến nay và sau cùng đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 37 động của thị trường. Với kiến thức có phần hạn chế, mong được Quý thầy cô và các bạn đóng góp và góp ý thêm. GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết Nhóm 3 Trang 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1) Giới thiệu về thị trường Future và Option – Tiến sĩ Bùi Lê Hà, TS Nguyễn Văn Sơn, TS Ngô Thị Ngọc Huyền và Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Thu. 2) Quản trị Ngân hàng Thương mại – PGS.TS Trần Huy Hoàng. 3) Website Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: www.sbv.gov.vn 4) Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ – Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam. 5) Tạp chí ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 6) Thời báo kinh tế Việt Nam và trang điện tử Thời báo kinh tế Việt Nam: www.vneconomy.vn 7) Báo cáo thường niên năm 2008, 2009 và 2010 của các Ngân hàng TMCP Á Châu, Sài Gòn Thương tín, Xuất nhập khẩu VN, Đông á, Sài gòn Công thương, Nam á, Đệ Nhất, Gia định, Việt á, Phương Đông, Sài Gòn, Phương Nam, Việt Nam Tín Nghĩa, An Bình và Phát Triển Nhà TP.HCM. 8) Website các ngân hàng; Ngân hàng TMCP Á Châu: www.acb.com.vn, Ngân hàng TM CP Sài Gòn Thương Tín: www.sacombank.com.vn, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam: www.eximbank.com.vn, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam: www.bidv.com.vn, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam: www.vietcombank.com.vn.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfthi_truong_lien_ngan_hang_final_6945.pdf
Luận văn liên quan