Tiểu luận Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Việc phát triển du lịch dựa vào quan họ có hai mặt của nó. Thứ nhất là mặt tích cực việc phát triển du lịch dựa vào dân ca quan họ là một hình thức giúp quan họ đươc bảo tồn và phát triển, đồng thời cũng là hình thức quảng cáo giới thiệu với bạn bè trên thế giới về một loại hình nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam- đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực của việc phát triển du lịch gắn với quan họ thì nó cũng co mặt hạn chế. Đóa là hiện tượng “sân khấu hóa” “ hiện đại hóa” và thương mại hóa” dân ca quan họ Bắc Ninh nhằm phù hợp với tính chất, phù hợp với bối cảnh CNH- HHĐ đất nước. Làm cho các giá trị truyền thống, các nét đẹp, nét duyên về cách chơi, cách hát, cách sống trong quan họ xưa dần dần bị mai một đáng kể và có nguy cơ là sẽ mất đi hoàn toàn nếu không có những chính sách bảo tồn một cách đúng đắn.

pdf32 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 24/02/2014 | Lượt xem: 7075 | Lượt tải: 51download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
a bài hát. Kỹ thuật hát nẩy hạt trong hát Quan họ rất khác biệt làm cho phong cách hát Quan họ không giống với các thể loại dân ca khác. Để hát được nẩy hạt, cần mở khẩu hình vừa phải, phù hợp với từng âm nẩy hạt (hự, ơ...), hàm dưới buông lỏng và hơi hạ thấp cằm xuống, môi và hàm trên hơi nhếch lên, khống chế hơi, dùng lực hơi thở đẩy mạnh âm nẩy hạt bật ra. Vang Vang là đặc điểm âm thanh truyền đi mạnh và lan toả rộng ra xung quanh. Vang là kết quả cộng hưởng của miệng hát để khuyếch đại âm thanh. Những yếu tố hỗ trợ vang trong hát Quan họ gồm: giai điệu bài hát phát triển liên tục, sử dụng nhiều âm thêu, luyến, nốt hoa mỹ, âm đệm mở như ơ, í ơ, í a... với độ ngân dài. Vang là một yếu tố quan trọng không chỉ riêng trong hát Quan họ mà ở tất cả các thể loại dân ca. Về mặt âm nhạc, vang có chức năng làm cho tuyến giai điệu của bài hát phát triển ở nhiều cung bậc trầm bổng khác nhau, làm cho tác phẩm nghệ thuật thật sự sống động. Mặt khác, yêu cầu đối với người hát ở bất kỳ dòng nhạc nào đều đòi hỏi có độ vang nhất định. Tuy vậy, hát vang trong Quan họ lại có điểm khác biệt với các thể loại dân ca khác. Chẳng hạn, vang của thanh nhạc được ngân, nghỉ vào những âm ở cuối tiết, câu hoặc đoạn nhạc. Còn vang trong hát Quan họ là nhờ vào tuyến giai điệu phát triển liên tục, kết hợp luyến láy và ngân những âm đệm mở tạo nên, đồng thời vẫn giữ được các yếu tố rền, nền, nẩy. Chính vì vậy, cách hát vang của Quan họ mang nét đặc thù, cần có kỹ thuật hát phù hợp. Để hát được vang cần hát chậm, hơi thở đầy, khẩu hình mở, vòm họng chống lên cao, có độ rỗng bên trong họng. Hàm dưới rơi tự do, hàm và môi trên hơi nhếch cao để lộ ra hàm răng trên Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 8 như cười, tạo cảm giác như hai gò má chống lên cao, phát âm phải rõ chữ và có độ sáng... Cần lưu ý ngân trong hát Quan họ có độ rung, chứ không phẳng như thanh nhạc. Sự phân tích các yếu tố vang-rền-nền-nẩy trong hát Quan họ từ các góc độ khác nhau ở trên cho phép chúng ta nhận diện các yếu tố này dễ dàng và chính xác hơn: mỗi yếu tố có đặc điểm âm thanh riêng, có giá trị âm nhạc nhất định và đòi hỏi kỹ thuật hát phù hợp. Sự kết hợp các yếu tố vang-rền-nền-nẩy trong bài hát Quan họ tạo ra sắc thái âm thanh đặc trưng của bài hát Quan họ. Vì vậy một trong những cái khó của hát Quan họ là người hát phải có được kỹ năng điêu luyện thể hiện kết hợp các yếu tố này. Quan họ được chia thành hai loại là quan họ truyền thống và quan họ mới:  Quan họ truyền thống: “ chơi quan họ”, là hình thức tổ chức văn hóa với quy định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi các liền anh, liền chị phải am hiểu tiêu chuẩn, luật lệ, chỉ tồn tại ở 49 làng. Nó không có nhạc đệm, chủ yếu hát đôi giữa liền anh, liền chị. Hát đôi được gọi là hát hội, hát canh. Hát cả bọn được gọi là hát chúc, mừng, thờ.“Chơi quan họ” truyền thống không có khán giả, người trình diễn là người thưởng thức. các bài quan họ còn ưu thích đến giờ là La rẳng, Tình tang, Cái ả, Cây Gạo.  Quan họ mới: “ hát quan họ”, là hình thức biểu diễn trên sân khấu hoặc trong sinh họat cộng đồng, thực tế thì được trình diễn bất kì ngày nào, luôn có khán thính giả, người hát còn trao đổi tình cảm với người nghe. Quan họ mới không nằm trong không gian làng xã mà còn vươn ra nhiều nơi, ở quốc gia và cả thế giới. Có hình thức biểu diễn phong phú hơn, gồm hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát múa phụ họa,.. có cải biến các bài hát theo hai cách: ý thức và không ý thức. Hát quan họ có nhạc đệm là không ý thức, còn cải biên có ý thức là cải biến cả nhạc và lời của quan họ truyền thống. II.3 Phong tục trong đám hội: Quan họ nam mời trầu Quan họ nữ. Sau đó họ hát với nhau những lời ướm hỏi, nếu tâm đầu ý hợp họ sẽ hẹn nhau ở làng bên nữ để tổ chức lễ kết nghĩa. Nơi tổ chức lễ kết nghĩa có thể ở đình hoặc ở nhà bố mẹ chị Cả, chị Hai và do cụ Đám (còn gọi là ông trùm hoặc bà trùm) đứng ra làm chủ sự. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 9 Lễ kết nghĩa được bắt đầu bằng những lời thăm hỏi tận tình hoặc những lời thề thốt. Sau đó, họ lại có buổi gặp nhau ở bên nam. Tại đây họ có thể hát thâu đêm suốt sáng để thổ lộ với nhau về tình cảm. Căn cứ vào sự đồng nhất về cữ giọng, âm sắc, họ xếp thành từng cặp: Anh Cả - Chị Cả, anh Hai- chị Hai, anh Ba – chị Ba, anh Tư – chị Tư... Lời ca trong quan họ chủ yếu nói về tình yêu nam nữ, sự gắn bó thủy chung. Nhưng trên thực tế họ không hề nghĩ đến chuyện yêu nhau mà chỉ quan hệ trên cơ sở bình đẳng tôn trọng lẫn nhau. Họ gọi nhau bằng anh, chị và xưng em hoặc tôi. Thời gian kết nghĩa của người Quan họ có thể từ đời này sang đời khác hay có khi chỉ một vài năm. Địa điểm ca hát Quan họ thường là ở sân nhà, trước cửa đình , cửa chùa, dưới gốc đa, bên sườn đồi, trên thuyền, bến nước... Hàng năm, mỗi khi đình đám hội hè, làng có hội phải cử đôi Quan họ đến các làng Quan họ kết chạ để mời. Đúng hẹn, các Liền anh Liền chị được mời đến đông đủ. Ngay từ cổng làng, cổng đình chùa, Quan họ chủ nhà đã ra đón khách: Tay bê cơi trầu miệng hát mời đón khách bằng những lời ca nghe ngọt ngào, tế nhị. Sau đó, Quan họ chủ nhà mời quan họ bạn đi lễ Phật, lễ thánh, hát hội. Và ngày xưa hát hội là để giao lưu văn hoá giữa các bọn Quan họ nam và nữ, chứ không thi hát lấy giải. Vui chơi hát hội đến sẩm tối, quan họ chủ nhà mời Quan họ bạn về nhà ông (bà) Trùm để hát canh vào mỗi canh Quan họ thường thâu đêm đến sáng. Vào canh Quan họ, các Liền anh Liền chị ngồi trên tràng kỷ hoặc phản thành bọn nam riêng và bọn nữ riêng để hát đối đáp và bao giờ cũng phải hát bằng hệ thống giọng lề lối như Hừ La, La Rằng…, sau đó chuyển sang giọng Sổng, giọng Bỉ, giọng Vặt và cuối cùng là giọng Giã Bạn. Bao giờ, giữa canh quan họ, quan họ chủ nhà cũng mời cơm quan họ. Gọi là cơm Quan họ, nhưng thực ra là cỗ ba tầng có đầy đủ các món ăn đặc sản của địa phương như giò, chả, nem, bóng, nấm… và bánh trái hoa quả. Trong khi ăn uống, Quan họ luôn mời mọc nhau bằng những lời ca, tiếng hát nghe ngọt ngào, tế nhị. Ăn uống xong, các bọn Quan họ nghỉ ngơi chốc lát, sau đó lại hát tiếp đến khi nghe thấy tiếng chuông chùa thỉnh mới tàn canh Quan họ và chia tay nhau để ra về. Quan họ chủ nhà tiễn bạn ra tận đầu làng và còn lưu luyến nhau bằng đôi câu Quan họ để đến hẹn lại lên. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 10 Cách thức sáng tác một bài bản Quan họ mới được người Quan họ khái quát trong một câu nói: "Ðặt câu, bẻ giọng". Ðặt câu là sáng tác lời ca, thường là thơ, bẻ giọng là phổ nhạc cho lời ca ấy. Như vậy việc sáng tác lời thơ làm lời ca thường diễn ra trước, sau đó là phổ phổ nhạc cho lời ca. Cách thức sáng tác này cho phép được lấy một đoạn thơ, một bài thơ, một đoạn ca dao có sẵn trong vốn thơ ca dân gian, dân tộc để phổ nhạc, hoặc, cũng có thể có người chỉ giỏi "đặt câu" để rồi người khác "bẻ giọng", hoặc cũng có thể một người làm cả việc "đặt câu" và "bẻ giọng". Ai cũng nghĩ tiếng hát Quan họ là tiếng hát cầu duyên, cầu phúc, cầu lộc, cầu tài, cầu may và có thể là cái cầu nối với đất trời, thần, phật để thỉnh cầu: cầu mưa, giải hạn, tiêu trùng... Chính tâm lý này đã tạo nên những thói quen, phong tục đẹp của làng xã, gia đình đối với những người ca hát Quan họ, đối với hoạt động ca Quan họ, do đó, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn, phát triển Quan họ bền vững, lâu dài. II.4. Các làng Quan họ: 49 làng Quan họ tồn tại vào đầu thế kỷ XX phân bố trong 3 huyện và 1 thị xã hiện nay của tỉnh Hà Bắc như sau: Huyện Tiên Sơn gồm 14 làng: Duệ Ðông, Lũng Giang (Lim), Lũng Sơn, Ngang Nội, Hoài Thị (Bịu Sim), Hoàng Trung (Bịu Trung), Vân Khám (Khám), Bái Uyên (Bưởi), Ném Ðoài, Ném Sơn, Ném Tiền, Tiêu, Tam Sơn, Hạ Giang. Huyện Yên Phong gồm 16 làng: Hữu Chấp (Chắp), Viêm Xá (Diềm), Ðẩu Hàn (Hàn), Xuân Ái (Sói), Xuân Ðồng, Xuân Viên (Vương Hồng). Thượng Ðồng (Lẫm), Thụ Ninh, Ðặng Xá (Ðặng), Khúc Toại (Chọi), Trà Xuyên (Trà), Châm Khê, Ðào Xá (Ðiều Thôn), Dương Ổ ( Ống cao), Ông Mơi (Mai), Ðông Yên. Huyện Việt Yên gồm 5 làng: Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ. Thị xã Bắc Ninh gồm 14 làng: Cổ Mễ, Phúc Sơn, Y Na (Nưa), Thị Cầu, Thanh Sơn, Niềm Xá (Niềm), Yên Mẫn (Yên Giữa), Yên Thị Trung (Yên Chợ), Vệ An, Ỗ Xá ( Ọ), Xuân Ổ (Ó), Hòa Ình (Nhôi), Khá Lễ (Sé), Bô Sơn (Bò). Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 11 Các làng trên, đại bộ phận đều có cả những bọn Quan họ nam và bọn Quan họ nữ, thực hiện phong tục kết bạn Quan họ khác giới, khác làng và tiến hành giao du, ca hát Quan họ với làng khác. Nhưng có những làng có những nét riêng: Ngang Nội, Sen Hồ, Thị Cầu chỉ có các bọn Quan họ nam đi kết bạn với Quan họ nữ ở làng khác; không có các bọn Quan họ nữ, hoặc có cũng chỉ hát vui ở hội làng, không giao du ca hát Quan họ với làng khác. Các làng Niềm, Yên, Khúc Toại, Trà Xuyên, từ 1930 - 1935 cũng chỉ còn các bọn Quan họ nam, không còn các bọn quan họ nữ đi giao du, ca hát quan họ. Ở Tam Sơn chỉ còn lứa kết bạn cuối cùng với Lũng Giang vào những năm đầu của thế kỷ 20. Các làng ở Việt Yên đã không đi hát Quan họ với các làng khác từ đầu những năm 30. Một số làng khác ở phía Nam sông Cầu đến trước Cách mạng tháng 8-1945 và sau này cũng không còn hát hay ít hát, hoặc chỉ có một vài người còn hát được. Trong các làng Quan họ, ai cũng biết hát Quan họ, trở thành những liền anh Quan họ, liền chị Quan họ mới có thể hát được trên dưới 200 bài ca và có thể tham dự các cuộc hát Quan họ, thông thạo mọi lề lối, phong tục Quan họ. Mỗi thế hệ nam, nữ của một làng thường có từ 3, 4, 5 bọn Quan họ nam, nữ. Riêng làng Viêm Xá (Diềm) và 2 làng Bịu (Bịu Sim, Bịu Trung) vào đông nhất, mỗi làng cũng chỉ có hơn 10 bọn Quan họ nam, nữ. II.5 Lễ hội: Lễ hội bao gồn phần lễ và hội. quan họ thường diễn ra cả phần lễ và phần hội. Quan họ phần lễ là để hát những làn điệu cổ, còn quan họ phần hội là để các liền anh liền chị của làng đến hát đối đáp giao lưu, mang đậm văn hóa lễ nghĩa của một vùng quê ngàn năm văn hiến. Phần lễ là thờ thần, phật phù hộ cho mùa màng, nhân dân và vật nuôi. Phần hội diễn ra các trò chơi giải trí như: tuồng, ca trù, quan họ,…  Quan hệ phần lễ: là phần để hát các những làn điệu cổ có nội dung ca ngợi công đức của thần, phật, cầu may. Theo tục lệ thì chỉ có nam hoặc nữ của làng được hát. Trong hát thờ chỉ được hát giọng cổ như: Hừ la, La rằng, Cây gạo,.. tuyệt đối không được hát giọng vặt nội dung nam nữ yêu đương.  Quan họ phần hội: là phần quan họ nam và nữ hát đối đáp với nhau nhằm tạo không khí vui vẻ, giải trí. Đấy là phần hấp dẫn nhát bởi các liền anh liền chị bằng những làn điệu Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 12 ngọt ngào thể hiện tâm trạng yêu đương, nhớ nhung đằm thắm của lứa đôi. Các liền anh, liền chị hát từng tốp, hát đối giao duyên say sưa ở các sân đình, chùa, vạt núi, đồi, ruộng, trên ao hồ. Sau khi tham gia hát hội, quan họ chủ đưa khách về nhà để hát canh quan họ, vào canh bao giờ quan họ chủ nhà cũng mời trầu bằng cử chỉ, lời ca cung kính, tế nhị. Họ hát đôi và theo lề lối, khỏang 10 bài rồi chuyển sang giọng sổng vài câu, tiếp là giọng vặt và cuối cùng là giọng giã bạn. Hội Lim là hội quan họ lớn nhất vùng Kinh Bắc được tổ chức vào trung tuần tháng Giêng âm lịch. Từ khỏang mùng 10 đến ngày 13, không khí lễ hội rộn rã và du khách cũng trẩy hội đông nhất. Ngòai ra, còn có hội làng Diềm (6/2 âm lịch) - có đền thờ Vua Bà, được coi là thủy tổ quan họ. Làng Diềm là nơi khai sinh ra quan họ. Ngòai ra vùng Kinh Bắc còn nổi tiếng bởi hội hát như: Bịu, Nhồi, Bùi, Bò. III. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC QUAN HỌ BẮC NINH TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH: III.1 Trước khi được UNESCO công nhận: Trước khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại thì Quan họ đã là một nét văn hóa đẹp của người Kinh Bắc, gắn liền với đời sống của người dân nơi đây từ rất lâu đời. Người Kinh Bắc xưa (ngày nay gồm Bắc Ninh và Bắc Giang) hát Quan họ trong suốt bốn mùa (xuân, hạ, thu, đông) nhưng đặc biệt là vào mùa Xuân, lúc hoa cỏ đang khoe sắc đua hương, vạn vật đang sinh sôi nảy nở, đất trời, cảnh vật như mở ra để đón nhận lòng người và cũng là dịp diễn ra nhiều hội hè, nhất… Vào những ngày này nếu không có Quan họ thì người Kinh Bắc như cảm thấy thiếu cái gì đó rất lớn, sẽ kém vui… Bởi quan họ như một món ăn tinh thần đã ăn sâu vào tiềm thức, tâm hồn, tồn tại hàng thế kỷ tại vùng quê cổ kính này. Ở vùng Kinh Bắc, từ khi mới được sinh ra, trẻ thơ đã được ông, bà, cha, mẹ hát ru bằng những làn điệu dân ca quan họ truyền thống và cứ như vậy khi lớn lên người ta vẫn không thể quên được những làn điệu dân ca độc đáo này, các thế hệ tiếp nối nhau hát quan họ, người trước truyền dạy người sau. Ngày nay, từ trẻ em đến người già đều biết hát quan họ… nhiều người con của quê hương đi xa cũng không thể nào quên được những âm vang tha thiết đó của quê nhà. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 13 Nói đến chơi Quan họ là nói đến một lối chơi có quy củ, nền nếp, buộc người chơi phải tuân thủ theo luật chơi gồm nhiều thể loại: hát đối, hát giao duyên, hát canh, hát kết chạ, hát lễ hội, hát mời nước, mời trầu… chơi cho chỉ nổi kim chìm, chơi cho lở đất long trời mới xứng là trai gái Kinh Bắc. Nhưng không chỉ có thế, Quan họ còn có lối hát tự do, ngẫu hứng thể hiện sự phóng khoáng trong những canh hát ngày xuân. Hát để thay cho nói, tâm sự gửi cả vào trong câu hát, đó cũng là cái tình của người quan họ đã thấm thía, lan tỏa ngàn đời. Đối với Quan họ thì yếu tố vang, rền, nền, nảy là không thể thiếu được và đòi hỏi người hát phải trải qua một quá trình rèn luyện rất kỳ công mới đạt đến độ chuẩn đó. Các bài Quan họ thường thể hiện tâm trạng tình yêu đôi lứa, khát vọng sống ấm no, hạnh phúc, nỗi nhớ mong, tương tư của người quan họ.Quan họ không chỉ là nghệ thuật hát mà nó còn là văn hóa, là "ứng xử" của người dân Kinh Bắc. Đó là cách ứng xử thật khéo léo, tế nhị, kín đáo và mang đầy ý nghĩa như các làn điệu mời nước, mời trầu thật chân tình, nồng thắm . Những làn điệu Quan họ gắn bó mật thiết với đời sống người dân Kinh Bắc, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong các mùa lễ hội. Tuy nhiên trong giai đoạn này nó chỉ có giá trị trong lĩnh vực văn hóa chứ chưa gắn liền với du lịch. Đó là cái riêng nổi bật của vùng đất này, gắn kết những người trong vùng với nhau, nó chỉ phổ biến trong vùng Kinh Bắc chứ chưa có tiếng tăm nhất định,chưa thu hút được sự quan tâm của du khách quốc tế nên việc khai thác các giá trị Quan họ chủ yếu là của chính quyền và người dân địa phương và nó chưa thật sự được phát triển hay bảo tồn một cách có tổ chức III.2 Sau khi được UNESCO công nhận : *Các tiêu chí để Quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện cho nhân loại Vào lúc 19.55 (giờ Việt Nam, tức 16.55 giờ Abu Dhabi), Quan họ đã được Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể long trọng công bố là Di sản phi vật thể đại diện của Nhân loại. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 14 Hồ sơ Quan họ được Hội đồng chuyên môn của UNESCO đánh giá cao về giá trị văn hóa đặc biệt về tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, kỹ thuật hát, phong cách ứng xử văn hóa, bài bản, ngôn từ và cả về trang phục. Hồ sơ đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để Quan họ trở thành di sản đại diện của nhân loại với các kết luận sau: - Quan họ luôn được thực hành trong các hoạt động văn hóa, xã hội của cộng đồng, được cộng đồng hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang lưu giữ, trao truyền từ nhiều thế hệ và trở thành bản sắc của địa phương và lan tỏa trở thành không gian văn hóa đặc thù. - Việc Quan họ được đăng ký vào danh sách đại diện sẽ góp phần tăng cường vị trí, vai trò của di sản đối với xã hội làm giàu thêm bức tranh da dạng văn hóa của Việt Nam và của nhân loại - Một số biện pháp bảo vệ được đề xuất với sự cam kết của quốc gia, chính quyền địa phương và cộng đồng cho thấy tính khả thi của các hoạt động bảo vệ di sản. - Hồ sơ đã thể hiện rõ sự tham gia một cách tự nguyện của người dân hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang trong việc nhận dạng, kiểm kê giá trị di sản và xác lập các biện pháp bảo vệ. Viện Văn hóa Nghệ thuật và Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch được ghi nhận là các cơ quan nghiên cứu và quản lý có vai trò trực tiếp trong việc hướng dẫn cộng đồng thực hiện việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa Quan họ theo đúng yêu cầu của Công ước UNESCO 2003. Ngay sau khi được công nhận, quan họ Bắc Ninh đã có những thay đổi nhất định, nó không chỉ là văn hóa đại diện cho địa phương mà còn là của đất nước Việt Nam. Chính “ sự đăng quang “ Di sản thế giới này đã tạo nên điều kiện để có thể phát triển và bảo tồn loại hình quan họ đồng thời cũng là động lực to lớn thúc đẩy du lịch của vùng, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tìm hiểu nét đặc sắc của di sản văn hóa này. Sau khi được công nhận, Quan họ Bắc Ninh không chỉ tồn tại như một nét văn hóa đặc trưng cho vùng Kinh Bắc mà đã trở thành một lực hút du lịch của vùng, gắn liền với những lễ hội đặc sắc. Nó có vai trò rất quan trọng đối với du lịch, cụ thể là: Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 15  Tìm hiều di sản văn hóa phi vật thể Quan họ Bắc Ninh được xem như hoạt động của “du lịch văn hóa” Du lịch văn hóa đang ngày một phổ biến trên thế giới và được chú trọng phát triển ở Việt Nam. Theo Luật Du lịch, du lịch văn hóa là “loại hình du lịch dựa vào việc khai thác các giá trị di sản văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của nền văn hóa dân tộc, có sự tham gia của đông đảo cộng đồng”. Như vậy, di sản văn hóa là nhân tố cơ bản trong phát triển du lịch văn hóa. Di sản văn hóa góp phần hình thành xu hướng phát triển du lịch trên thế giới. Ngày nay, trong xã hội công nghiệp hiện đại, khi chất lượng cuộc sống được nâng cao, con người có điều kiện và nhu cầu muốn được hưởng thụ văn hóa nhiều hơn, được đi tới những miền đất mới tìm hiểu khám phá những nền văn hóa khác. Nếu di sản chỉ được giấu kín trong lòng đất, trong các bảo tàng mà không được nghiên cứu, trưng bày giới thiệu cho công chúng biết thì di sản đó cũng không có giá trị tồn tại. Khi di sản được khách du lịch quan tâm, tìm hiểu thì đó đã tạo cơ hội, môi trường cho di sản được “sống”. Ngược lại, đến lượt mình, di sản văn hóa càng phong phú, đa dạng và giữ được tính xác thực bao nhiêu thì nó lại càng có sức hấp dẫn khách du lịch bấy nhiêu. Do vậy, Bắc Ninh là một nơi có rất nhiều lễ hội, nhiều điểm tham quan hấp dẫn có cơ hội thu hút được nhiều khách du lịch đến để tìm hiểu, chiêm ngưỡng di sản văn hóa. Ở nhiều quốc gia, du lịch văn hóa được xem là loại hình du lịch chính, thậm chí còn trở thành thương hiệu của một quốc gia, một vùng đất. Chính bởi vì bản thân di sản văn hóa đã mang tính lịch sử, tính truyền thống, tính biểu trưng…cho nên sản phẩm du lịch văn hóa có giá trị hấp dẫn đặc biệt. Nếu biết khai thác hợp lý di sản văn hóa phục vụ du lịch thì sẽ tạo ra những sản phẩm du lịch văn hóa giàu sức hút, có ý nghĩa. Muốn du lịch văn hóa phát triển, không thể không dựa vào việc khai thác giá trị các di sản văn hóa. Để du lịch văn hóa thực sự hấp dẫn thì trước hết phải xác định giá trị của mỗi di sản văn hóa (di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể) đối với hoạt động du lịch, tiếp theo là phải có sự đầu tư đúng mức để di sản văn hóa trở thành sản phẩm du lịch văn hóa. Ngược lại, một phần lợi nhuận từ du lịch đem lại cần phải được đầu tư trở lại cho di sản văn hóa (nhằm phục vụ công tác bảo tồn di sản…). Đó là sự phát triển du lịch bền vững. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 16 Xét trường hợp của Quan họ Bắc Ninh, do được lưu truyền bằng phương thức truyền miệng, được biểu diễn rộng rãi trong các lễ hội nên rất phổ biến đối với du khách bởi vậy khi đến với vùng đất Kinh Bắc chắc chắn khách du lịch không thể bỏ qua những làn điệu dân ca tuyệt vời này.Quan họ Bắc Ninh được công nhận là di sản văn hóa và nó hội tụ rất nhiều điểm hấp dẫn để khái thác loại hình du lịch văn hóa. Đó không chỉ là những làn điệu dân ca mượt mà nồng thăm của các liền chị liền anh mà nó còn gắn liền với những lễ hội thể hiện đời sống sinh hoạt của người dân Kinh Bắc, có sức hút đặc biệt giúp du khách có thể tìm hiểu sâu sắc hơn về những văn hóa cũng như nét đẹp tâm hồn của con người nơi đây. Từ khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại, Quan họ Bắc Ninh đã có những bước phát triển nổi bật, nó đã tạo nên tiếng vang lớn, thu hút rất nhiều du khách đến tìm hiểu và thưởng thức, do đó thúc đẩy ngành du lịch của Bắc Ninh,giúp cho chính quyền và người dân ở đây phát triển những tiềm năng du lịch sẵn có trong vùng nhằm phục vụ được nhu cầu đa dạng của du khách trong và ngoài nước. Chính sự phát triển này đã góp phần to lớn đã kéo theo sự đi lên của kinh tế địa phương, tăng thêm thu nhập, tạo việc làm cho người dân địa phương. Đồng thời, nhận thức được ảnh hưởng tích cực từ Quan họ, ý thức bảo vệ gìn giữ và phát huy di sản văn hóa này cũng đã nâng lên, đòi hỏi chính quyền và nhân dân cần có những biện pháp phù hợp để thực hiện nhiệm vụ đó.  -Di sản văn hóa Quan họ là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng đối với hoạt động phát triển du lịch của Bắc Ninh và của cả nước Du lịch gắn với các giá trị di sản văn hóa Quan họ chính là điểm khác biệt, là thế mạnh nổi bật của Bắc Ninh. Nếu được quan tâm đúng mức và đầu tư bài bản cho hoạt động du lịch, chắc chắn hình ảnh du lịch gắn với Quan họ sẽ là thương hiệu hấp dẫn của điểm đến Bắc Ninh nói riêng và của Việt Nam nói chung. Thành phố Bắc Ninh tiếp giáp, cách thủ đô Hà Nội 30km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 45km, cách cảng biển Hải Phòng 110km. Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm – tam giác tăng trưởng Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Đường quốc lộ 18 nối Bắc Ninh với cảng hàng không quốc tế Nội Bài và các tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh. Quốc lộ số 38 nối Bắc Ninh với Hải Dương. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 17 Hệ thống đường giao thông nội tỉnh cũng tương đối phát triển với trục đường quốc lộ chạy qua 1A, 1B, 18, đường sắt xuyên Việt đi Trung Quốc. Đường sông cũng được xem là một lợi thế trong phát triển du lịch của tỉnh, với 3 con sông chính là sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình chảy qua tạo mạng lưới đường thủy dài 127km. Với vị trí như vậy, Bắc Ninh có điều kiện giao lưu kinh tế, buôn bán nội vùng và với các tỉnh bạn, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội. Hoạt động giao thông, giao lưu kinh tế phát triển tạo thuận lợi cho hoạt động du lịch của tỉnh Bắc Ninh và đặc biệt là vùng văn hóa Quan họ. Với những giá trị đã được thế giới công nhận, di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh thực sự là nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Dựa vào di sản văn hóa Quan họ, Bắc Ninh có thể tạo ra nhiều sản phẩm du lịch, kết hợp hình thành các tour, tuyến du lịch phong phú. Có thể kết hợp du lịch Quan họ với du lịch thăm quan di tích, tham dự lễ hội. Trong dân gian ta có câu: “Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài” để ca ngợi những di sản văn hóa cộng đồng nổi tiếng của các miền trong nước. Xứ Bắc hay vùng Kinh Bắc là một trong những xứ sở của đình chùa và lễ hội. Đặc biệt trong những năm gần đây một số chương trình như “ Về miền Quan họ”, “Fesival Bắc Ninh” đã trở thành ngày hội lớn với nhiều chương trinh hấp dẫn thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham gia. Ở đây có những ngôi chùa cổ kính có ý nghĩa lớn về lịch sử và kiến trúc như: chùa Dâu, chùa Cổ Pháp, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp, chùa Dạm, chùa Lim, chùa Xuân Ổ, chùa Viêm Xá (Diềm), chùa Châm Khê...trong đó, có những ngôi chùa nổi tiếng có lễ hội gắn liền với Quan họ cả phần lễ và phần hội như: chùa Lim, chùa Châm Khê, chùa Dương Ổ, chùa Hòa Đình. Ngoài ra, vùng Kinh Bắc cũng nổi tiếng với những ngôi đình “Thứ nhất là đình Đông Khang, thứ nhì đình Bảng, vẻ vang đình Diềm” (câu ca dân gian) và những ngôi đền thờ Mẫu, hầu hết tập trung ở những làng Quan họ gốc. Những ngôi đình, ngôi đền này là không gian văn hóa để Quan họ tồn tại và phát triển. Khi khai thác Quan họ Bắc Ninh để khái thác du lịch có nghĩa là chúng ta tạo ra những sản phẩm du lịch cho du khách. Ngoài việc được tham quan, tìm hiểu thưởng thức những làn điệu dân Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 18 ca ngọt ngào, nồng thắm của Quan họ thì du khách còn có thể kết hợp tham quan đến một số di tích nổi tiếng ở đây. Bắc Ninh cũng có rất nhiều tiềm năng để phát triển du lịch như:  Các di tích lịch sử văn hóa không chỉ là nơi lưu giữ nguồn tài liệu quý giá mà còn hấp dẫn, thu hút đông đảo khách thập phương đến du lịch, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân. Theo số liệu thống kê của Ban quản lý di tích tỉnh, trên địa bàn tỉnh có 1.259 di tích, trong đó có 428 di tích xếp hạng cấp Quốc gia và cấp tỉnh. Một số di tích tiêu biểu có tiềm năng thu hút khách du lịch phân bố tập trung trên địa bàn thị xã Từ Sơn, huyện Thuận Thành, Gia Bình, Tiên Du, thành phố Bắc Ninh. Hệ thống di tích này đóng vai trò là một điểm nhấn quan trọng trong các hành trình du lịch tỉnh Bắc Ninh  Trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bắc Ninh đến năm 2010 đã xác định 3 dự án khu du lịch ưu tiên đầu tư là: Khu du lịch văn hoá Quan họ Cổ Mễ (Thành phố Bắc Ninh); khu du lịch văn hoá Đền Đầm (thị xã Từ Sơn); khu du lịch văn hoá Phật Tích (huyện Tiên Du). Bên cạnh đó, theo dự kiến sẽ có 3 khu du lịch khác là: Khu du lịch lâm viên Thiên Thai (huyện Gia Bình); khu du lịch văn hoá lịch sử Như Nguyệt (huyện Yên Phong); khu du lịch tâm linh Hàm Long - Núi Dạm (thành phố Bắc Ninh) và lựa chọn 22 điểm di tích quy hoạch phát triển thành điểm du lịch làm động lực cho các tuyến du lịch khép kín, liên hoàn và hấp dẫn trên địa bàn. Bên cạnh đó còn có thể kết hợp du lịch Quan họ với du lịch làng nghề. Di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh được hình thành từ những làng Quan họ nhỏ bé, để rồi phát triển thành vùng văn hóa Quan họ. Mặt khác, làng Quan họ đó đồng thời cũng là những làng nghề, hoặc nằm gần với những làng nghề mà cho đến ngày nay, những sản phẩm của những làng nghề truyền thống này vẫn được thị trường ưa chuộng, cả nước biết đến. Việc khai thác cho khách du lịch tìm hiểu các làng nghề truyền thống gắn liền với du lịch Quan họ sẽ tạo nên những sản phẩm du lịch đặc trưng riêng có của tỉnh Bắc Ninh. Các công ty du lịch cũng đã nắm bắt được những ảnh hưởng của quan họ đối với du lịch Bắc Ninh nên thiết kế nhiều tour du lịch đến Bắc Ninh kết hợp giữa việc thưởng thức món ăn tinh Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 19 thần Quan họ còn tham quan tìm hiểu các di tích nổi tiếng và một số điểm du lịch thu hút nhiều du khách. Nhiều công ty du lịch đã rất thành công khi khai thác du lịch ở vùng đất này đặc biệt Công ty du lịch Hà Nội – Sài Gòn của doanh nhân trẻ Đỗ Hoàng Cát đã đạt doanh nghiệp tiêu biểu ở Bắc Ninh, góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển và giữ gìn nét đẹp quan họ . Là người con của đất Bắc Ninh, với tấm lòng yêu quê hương và khao khát muốn giữ gìn những nét đẹp cũng như giới thiệu quê hương với du khách trong và ngoài nước, ông đã xây dựng nhiều tour du lịch đặc biệt để du khách có những ấn tượng tốt đẹp nhất với vùng đất này. Như vậy phát triển du lịch Quan họ sẽ góp phần hình thành xu hướng tìm hiểu văn hóa Quan họ, cũng chính là tìm hiểu lịch sử truyền thống, phong tục tập quán của ông cha ta, bản săc dân tộc ta. Đối với bạn bè quốc tế thì dân ca Quan họ đã trở thành hình ảnh của đất nước, con người Việt Nam. Vì vậy, phát triển du lịch di sản văn hóa Quan họ góp phần quảng bá, đưa hình ảnh đất nước Việt Nam ra với thế giới. Du lịch Bắc Ninh đã đạt được nhiều thành quả to lớn: Lượng khách tới Bắc Ninh hàng năm có tốc độ tăng 17-20%, doanh thu du lịch cũng tăng 17-18%. Tỉnh Bắc Ninh đạt mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 doanh thu du lịch đạt trên 250 tỷ đồng, đón 400.000 lượt khách/năm; khuyến khích đầu tư xây dựng thêm 4 khách sạn tiêu chuẩn 3-5 sao để đảm bảo đáp ứng lượng khách đến thăm khi tổ chức các sự kiện lớn; sớm hoàn chỉnh các dự án xây dựng khu du lịch văn hóa lịch sử tiêu biểu.Chỉ tính riêng trong năm 2010, tỉnh Bắc Ninh đạt doanh thu 125 tỷ đồng từ du lịch, đón gần 200.000 lượt khách đến thăm quan. Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch và dịch vụ những năm gần đây được đầu tư mở rộng, từng bước đưa du lịch Bắc Ninh trở thành điểm đến quen thuộc trong nước. Nhận thấy rõ tiền năng và vai trò to lớn của Quan họ đối với du lịch địa phương, song cuốn theo vòng xoáy của xã hội ngày nay, Quan họ đã có những thay đổi kéo theo đó là những ảnh hương tiêu cực đến du lịch vùng:  Thứ nhất, đó là những làn điệu dân ca Quan họ đã dần bị cuốn theo bởi “ sự hiện đại hóa” Nếu như theo lối hát của Quan họ truyền thống thì Quan họ xưa là hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân Kinh Bắc, với những quy định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi liền Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 20 anh, liền chị phải am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ, Quan họ truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê nhưng Quan họ bây giờ là hình thức biểu diễn trên nền nhạc đệm, rất nhiều bài quan họ được cải biên do đó yêu cầu về kĩ thuật hát độc đáo cũng dần mất đi, cái hồn của Quan họ xưa cũng dần phai nhạt. Một thực tế là không gian văn hóa quan họ bắc ninh đang bị rạn nứt do chịu những tác động tiêu cực của cuộc sống hiện đại. những bài quan họ cổ xuất hiện ít hơn, trình dẫn quan họ theo lề lối cổ cũng dần mất đi, hầu như không có sự sang tạo, ứng tác trong cuộc thi, kể cả các cuộc thi tổ chức hàng năm.Sự hiện đại hóa trong Quan họ không hoàn toàn là tiêu cực bởi nó áp ứng nhu cầu của xã hội ngày nay: đơn giản, dễ nghe, thu hút , không kén khan giả song nó lại âm thầm làm mất đi vẻ đẹp của Quan họ, cái hiện đại làm phai mờ cái cổ truyền.  Thứ hai, mục đích hát Quan họ đã thay đổi: Nếu trước đây hát Quan họ được xem là lối sinh hoạt quen thuộc của người dân Kinh Bắc nhằm giao lưu kết bạn giữa các liền anh liền chị, gủi gắm những tâm tư tình cảm nổi niềm trong bài hát đồng thời cũng là giữ gìn nét đẹp văn hòa của vùng thì ngày nay hát Quan họ đã trở thành những tiết mục biểu diễn nhằm thu lợi nhuận, quan họ được biểu diễn trong các nhà hàng hoặc các buổi tiệc tùng, những tiết mục được xây dựng dường như chỉ có hình thức mà nội dung và chất lượng đã không còn được quan tâm. Đó chính là một trong những nguyên nhân làm mất đi bản chất của Quan họ.  Thứ ba, đội ngũ nghệ nhân hát Quan họ ngày càng giảm đi về cả chất lẫn lượng Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh của các dòng nhạc như nhạc trẻ, nhạc nước ngoài dường như Quan họ lại càng kén khan giả hơn và cả đội ngũ nghệ nhân hát quan họ cũng dần ít đi. Nguyên nhân có thể là do những “di sản văn hóa sống” hát Quan họ theo lối cổ đã hiếm nay lại khó hòa hợp với đội ngũ những nghệ sĩ hát Quan họ theo lối mới, hiện trạng cho thấy ngày nay chỉ ở vùng Kinh Băc chỉ còn hai nghệ nhân hát theo lối cũ là cụ Nguyễn Thị Nguyên và cụ Ngô Thị Nhi, còn lại những nghệ sĩ hát Quan họ theo lối mới thì hầu như chất lượng không cao, không truyền tải được hết bản chất của quan họ và cùng với đó là sự khan hiếm liền anh có chất lượng cũng là điều khó khăn cho Quan họ Bắc Ninh. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 21 Tóm lại, từ những hiện trạng trên có thể thấy Quan họ Bắc Ninh có những tiềm năng nhất định ảnh hưởng lớn đến du lịch của địa phương. Đồng thời chúng ta cũng thấy rõ sự mai một dần của di sản văn hóa này, do đó đòi hỏi Nhà nước và chính quyền địa phương cần phải thấy được thực trạng khai khai thác để có những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị to lớn của di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh xứng tầm với di sản văn hóa đại diện cho nhân loại. IV. BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ BẮC NINH: Sau 5 năm( 2005-2009) triển khai lập hồ sơ khoa học đề cử di sản ngày 30-09-2009, Tổ chức văn hóa khoa học- giáo dục của Liên hợp quốc ( UNESCO) công nhận Dân ca quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Sự kiện này không những mang đến cho người dân Bắc Ninh mà còn mang đến cho người dân cả nước niềm vui, tự hào dân tộc, đồng thời còn đặt ra nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi trách nhiệm hết sức lớn lao của các cấp ngành từ Trung ương đến địa phương đặc biệt là của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản. Quan họ là một loại hình dân ca phong phú về giai điệu và được lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác bằng phương thức truyền khẩu. Tuy nhiên, cũng chính phương thức lưu truyền này đã làm cho các bài Quan họ lưu truyền trong dân gian bị biến đổi nhiều, thậm chí còn bị biến đổi khác hẳn so với ban đầu. Do vậy, hiện nay nhiều giai điệu cổ đã hoàn toàn biến mất. Mặc dù sự thay đổi này làm cho Quan họ phát triển, nhưng ở trong bối cảnh văn hóa Phương Tây đang xâm nhập mạnh mẽ vào xã hội Việt Nam, thì vấn đề bảo tồn nguyên trạng Quan họ trong từng giai đoạn phát triển là một việc làm cấp bách. Những năm qua, Bộ Văn hóa Thông tin đã xác định Dân ca Quan họ Bắc Ninh là một di sản Văn hóa đặc biệt, để bảo tồn và phát huy giá trị của nó. Từ năm 1954, chính quyền địa phương rất quan tâm đến bảo tồn và phát huy giá trị của di sản Quan họ. Tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện rất nhiều dự án nhằm bảo tồn và phát huy di sản như: - Năm 1962, tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Hội nghị Quan họ lần 1/1962. - Từ năm 1963 đến 1966, tỉnh Hà Bắc (gồm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang), đã tổ chức 06 hội thảo về Quan họ. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 22 - Năm 1969, Đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh được thành lập để bảo tồn, phát triển và trình diễn dân ca Quan họ. - Tỉnh Hà Bắc thành lập trung tâm văn hóa quan họ để sưu tầm nghiên cứu nhằm bảo vệ Quan họ. - Tỉnh Bắc Ninh trong quyết định số 1357/QĐ-CT ngày 19-11-2003 đã quy hoạch khu đồi Lim (huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) thành khu trung tâm lễ hội dân gian, để trình diễn Quan họ. - Năm 2004, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Ninh thực hiện dự án bảo tồn làng Quan họ Viêm Xá. - Hằng năm, hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang tổ chức hội thi hát đối đáp Quan họ vào mùa xuân để phát hiện những giọng ca mới. - Năm 2003, với sự hỗ trợ của văn phòng UNESCO Hà Nội, Cục di sản văn hóa và Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Ninh thực hiện “Dự án thi điểm nghiên cứu xây dựng danh sách nghệ nhân Quan họ tiêu biểu”. - Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo quốc tế: Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hộ đương đại (trường hợp quan họ Bắc Ninh ở Việt Nam) vào tháng 3/2006. - Cuối năm 2006, Sở Văn hóa Thông tin Bắc Ninh tổ chức tọa đàm khoa học “Bảo tồn Quan họ Bắc Ninh”. Ngoài những dự án, hội thảo tỉnh Bắc Ninh cũng đã có rất nhiều hành động cụ thể để bảo tồn loại hình văn hóa đặc sắc này và nhiều chính sách phối hợp với ngành du lịch khai thác và phát huy giá trị di sản Quan họ một cách bền vững. Có thể kể đến một số biện pháp tiêu biểu: - Giúp cộng đồng nhận diện và kiểm kê Dân ca Quan họ Bắc Ninh theo định kỳ từng năm. - Xây dựng chính sách đãi ngộ với nghệ nhân như lương, phụ cấp, nhất là những nghệ nhân được phong tặng “Báu vật nhân văn sống” ở các làng quan họ trên địa bàn hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. - Hoàn thiện tư liệu và kết quả nghiên cứu về Quan họ Bắc Ninh, kể cả những làng quan họ thuộc vùng lân cận. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 23 - Hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang cùng với cộng đồng tổ chức các liên hoan quan họ Bắc Ninh định kỳ 2 năm/lần trên cơ sở festival quan họ Bắc Ninh theo địa bàn huyện 1 năm/lần (Festival Bắc Ninh 2010 diễn ra từ ngày 14-4 đến 18-4-2010). - Hỗ trợ cộng đồng phục hồi tập quán, tín ngưỡng và các lễ hội liên quan đến Dân ca quan họ Bắc Ninh ở các làng quê. - Thành lập hiệp hội nghệ nhân Quan họ Bắc Ninh, trên cơ sở các Câu lạc bộ ở các làng hiện nay, xây dựng chương trình hoạt động cho hiệp hội để tổ chức phi chính phủ này đóng vai trò tích cực trong việc truyền dạy cho thế hệ trẻ. - Hỗ trợ cộng đồng xây dựng nội dung truyền dạy Quan họ Bắc Ninh trong các gia đình, các lớp dạy Quan họ Bắc Ninh tại cộng đồng theo địa bàn làng xã. - Cục Di sản văn hóa, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam phối hợp với Sở Giáo dục và đào tạo hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang xây dựng chuyên đề Dân ca quan họ Bắc Ninh để đưa vào giảng dạy ở nhà trường cấp 2,3 trong chương trình văn học địa phương. Thành lập khoa Dân ca quan họ Bắc Ninh trong trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật của cả hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. - Mở chuyên mục Dân ca quan họ Bắc Ninh trên báo Bắc Ninh, Bắc Giang, Đài phát thanh truyền hình Bắc Ninh, Bắc Giang định kì. Sử dụng đội truyền thanh cơ sở để tuyên truyền, giới thiệu giá trị của Dân ca quan họ Bắc Ninh trong cộng đồng làng xã. - Xây dựng đồi Lim thành một trung tâm văn hoá quan họ, khôi phục hình thức hát thờ ở hội làng Viên Xá ( thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) để bảo tồn các giọng Lề lối của Dân ca Quan họ Bắc Ninh…. - Giúp cộng đồng nâng cao nhận thức về giá trị của di sản thông qua việc xuất bản và cung cấp cho cộng đồng những sản phẩm văn hóa, Quan họ Bắc Ninh dưới mọi hình thức: đĩa CD, VCD, DVD, sách, tờ gấp,… - Tạo mọi điều kiện để cộng đồng trình diễn/giao lưu dân ca quan họ Bắc Ninh với các cộng đồng khác trong nước và ngoài nước. Bên cạnh đó, người dân địa phương không chỉ riêng hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang mà cả nước và kiều bào sống và làm việc tai nước ngoài cũng có ý thức bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 24 tộc – dân ca quan họ. Từ các câu lâc bộ quan họ lớn nhỏ trên khắp cả nước, các diễn đàn, website chuyên về quan họ, các buổi biểu diễn quan họ do kiều bào tổ chức tại nước ngoài,…Từ đó có thể thấy người dân đã ý thức được trách nhiệm của bản thân cần phải gìn giữ, quảng bá, phổ biến nghệ thuật văn hoá truyền thống quý báu, độc đáo của quê hương mình. Vai trò của người dân, đặc biệt là những nghệ nhân làm nhiệm vụ “đưa quan họ lên sân khấu” là vô cùng quan trọng. Theo TS. Trần Đình Luyện:” Biểu diễn và giới thiệu là một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc bảo tồn quan họ. Nhiệm vụ này đã được Dân ca Quan họ thực hiện dựa trên nền tảng là quan họ gốc, từ đó phát triển, cải biên...và đây là một thành tựu đáng ghi nhận”; “Những nguời tham gia trực tiếp bảo tồn Quan họ phải là nhân dân – những người đã sáng tạp ra di sản văn hóa đặc sắc này. Nếu người dân không nhận thức được những giá trị của di sản văn hóa Quan họ, không tham gia vào việc bảo tồn thì mọi chủ trương, chính sách của người lãnh đạo chỉ còn là lí thuyêt”. Ngoài ra, ngành du lịch tỉnh cũng đã có những động thái tích cực trong vấn đề bảo tồn Quan họ. Đưa Quan họ thành sản phẩm du lịch đặc thù là những bước đi để giữ gìn và phát huy giá trị di sản quan họ của Bắc Ninh. Trong thời gian qua, du lịch Bắc Ninh đã bước đầu khai thác lợi thế tiềm năng để phát triển du lịch, lượng khách đến tỉnh hàng năm có tốc độ tăng từ 17-20%, doanh thu du lịch cũng tăng 17-18% /năm. Sau khi UNESCO công nhận dân ca quan họ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, ngành Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch Bắc Ninh cũng xác định phương hướng làm sao gắn phát triển du lịch với các hoạt động biểu diễn dân ca Quan họ. Cụ thể, Bắc Ninh có 44 làng quan họ cổ có thể phát triển thành những điểm du lịch thu hút khách, không những khách trong nước, quốc tế; kết hợp với các công ty lữ hành trên địa bàn xây dựng những tour du lịch nội tỉnh. Ví dụ khách đến thì đi thăm quan các di tích lịch sử kết hợp đến các làng quan họ cổ để phục vụ du khách trong nước và quốc tế. Có thể đề xuất với tỉnh có những chỉ đạo, đầu tư, hỗ trợ với các làng quan họ: - Một là về cơ sở vật chất ( hỗ trợ về trang phục, kinh phí để các câu lạc bộ ở các làng quan họ cổ có thể duy trì), hoặc kinh phí về xây dựng cơ sở hạ tầng như xây dựng đường vào các làng quan họ cổ, các công trình vệ sinh hoặc một số công trình hạ tầng khác để bộ mặt của các làng quan họ cổ khang trang, sạch sẽ hơn. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 25 - Hai là nâng cấp Đoàn dân ca Quan họ hiện nay thành Nhà hát Quan họ để xứng tầm với công tác biểu diễn, truyền dạy cho đủ tầm và phát huy được giá trị. Nếu ngành văn hoá và du lịch tỉnh có thể khai thác lợi thế sẵn có này thì dân ca quan họ sẽ trở thành một sản phẩm du lịch đặc thù của Bắc Ninh mà các tỉnh khác muốn có cũng không được. Tóm lại, vấn đề giữ gìn sinh hoạt văn hoá quan họ phải được đặt trong không gian văn hoá quan họ truyền thống, nhưng cũng phải nghĩ đến đặc điểm của xã hội đương đại, không gian văn hoá đó đang trong quá trình vận động, biến đổi, phát triển. Vì thế không thể bảo tồn quan họ theo kiểu “đóng cứng”, mà phải bảo tồn sinh hoạt văn hoá đó trong sự vận động của xã hội. Bên cạnh đó nhóm chúng tôi cũng đưa ra một số giải pháp để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa đặc sắc này như sau: - Các công ty lữ hành, đơn vị tổ chức không nên chỉ tạo tour đưa khách đến nghe hát quan họ mà nên kết hợp tour đến những di tích lịch sử, những điểm tham quan khác ở các vùng lân cận để dễ dàng thu hút khách du lịch. - Nhà nước nên có những chính sách hậu đãi cho người dân địa phương ở đây để họ nhiệt tình chào đón khách du lịch. - Nhà nước trích một ít ngân sách cho Đài truyền hình để quảng cáo những ca khúc, bài hát quan họ trên tivi cho mọi người cùng biết đến. - Khách du lịch đến nghe quan họ nên được phát các tờ rơi hay cuốn sách nhỏ có in lời bài hát quan họ. - Hướng dẫn viên và dân địa phương phải phối hợp với nhau chỉ cho khách du lịch hát một vài bài hát quan họ. - Tổ chức các trò chơi để khách du lịch hiểu thêm về quan họ: cho họ mặc thử trang phục hát quan họ, trò chơi thi hát giữa những du khách tham gia tour và phần thưởng có thể là đĩa CD có các bài hát quan họ. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 26 - Xây dựng khu bán quà lưu niệm, các mặt hàng có thể là: thơ quan họ, hình búp bê trong trang phục quan họ, đĩa CD quan họ,… với giá cả phải chăng tiện lợi cho du khách mua về làm quà tặng. V. NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ Dân ca Quan họ Bắc Ninh là một loại hình văn hóa nghệ thuật đặc sắc, nó được hình thành và đin sâu vào đời sống tinh thần của người dân từ lâu đời. Ngày nay cùng với nhiều thể loại nhạc đương đại được du nhập từ các nước như : Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản… thì dân ca quan họ Bắc Ninh đang phải cố gắng hết sức mình để chính bản than quan họ không bị biến mất theo thời gian, mà hoạt động tiêu biểu cho sự cố gắng của Nhà nước cũng như chính quyền địa phương là việc lập hồ sơ đề nghị với UNESCO đưa dân ca quan họ Bắc Ninh trở thành di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Hiện nay theo nhiều nghiên cứu và đánh giá của các nhà nghiên cứu thì quan họ Bắc Ninh có 213 giọng ( điệu) khác nhau và có khoảng 400 bài ca. Với số lượng giọng ( điệu) và bài ca phong phú, dân ca quan họ Bắc Ninh thật sự là một loại hình kiệt tác của người dân Kinh Bắc. Các nghệ nhân xưa kia đi khắp đó đây tìm kiếm dân ca , đem về “quan họ hóa”, trước hết là để quan họ bạn bất ngờ, sau là để cho kho tàng làn điệu quan họ sinh sôi mãi và thêm phong phú. Theo thời gian, dân ca quan họ Bắc Ninh dần dần bị mai một trong xã hội đương đại. Hiện tại các nghệ nhân tuổi xế chiều đang ngày càng yếu và thưa vắng hơn, mang theo những khúc đoạn khác nhau của kho tàng văn hóa quan họ. Tình trạng chung hiện nay là chỉ còn vài chục cụ nghệ nhân cao tuổi trong các làng quan họ của toàn tỉnh. Có làng thì còn được vài cụ, có làng thì đã không còn cụ nào.Đáng buồn hơn nữa là trong các nghệ nhân hiện nay vẫn có những người sống trong cảnh nghèo khổ. Một số nghệ nhân có vốn liếng dồi dào, say mê hát từ thủa nhỏ, thông thuộc lề lối chơi quan họ, nắm vững bài bản quan họ và có khả năng truyền dạy tốt nhưng họ chưa có điều kiện tham gia giảng dạy trong các trường nghệ thuật. Thực tế hiện nay cho thấy rằng các lớp quan họ được tổ chức trong một thời gian ngắn ngủi, chương trình sơ lược, kinh phí hạn chế, vì thế mà kết quả đào đạo cũng chỉ mới dừng lại ở mức khiêm tốn. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 27 Dân ca quan họ Bắc Ninh hiện nay đang được “ hiện đại hóa” và “ sân khấu hóa” một cách mạnh mẽ. Trong khi quan họ cổ là hình thức hát đối đáp giữa liền anh – liền chị của hai cộng đồng làng xã không hề có nhạc cụ kèm theo, thì hiện nay quan họ thường được hình dung như một tiết mục đơn ca, tốp ca có nhạc đệm “xịn”,khi đưa quan họ lên sân khấu, những tiếng đệm, tiếng láy bị cắt bỏ không thương tiếc cho vừa thời lượng của một ca khúc. Và cũng chính vì vậy mà lối chơi quan họ cổ đã dần dần biến mất theo thời gian. Quan họ Đoàn hay quan họ đời thường cũng chỉ đưa lên sân khấu những bài thộc giọng vặt, giọng giã- dễ nghe dễ hát, còn thường bỏ qua các bài thuộc giọng lề lối Quan họ ngày nay không chỉ được “ hiện đại hóa” và “ sân khấu hóa” mà còn được “ thương mại hóa”. Việc đưa quan họ lên sân khấu đã đi quá xa, đến mức làm cho đa số công chúng nhầm tưởng rằng quan họ chỉ là những gì Đoàn quan họ Bắc Ninh đang thể hiện. Ngày nay quan họ đang được thương mại hóa một cách triệt để, nhất là trong tình quan họ đang được “ xuất khẩu” đi ra nhiều địa phương khác nhau. Hiện nay một câu lạc bộ quan họ cấp huyện ở BắC Ninh trong một mùa cao điểm( tức là từ mừng 3 tết cho đến rằm tháng Hai ) diễn khoảng 100- 200 buổi phục vụ, từ khao họ đám, hội nghị, tân gia lễ hội ở trong tỉnh và các tỉnh lân cận cho tới tour du lịch với khách nước ngoài. Các show diễn bao gồm cả chèo, chầu văn và ca mới...tổng cộng tiền cát sê cũng lên tới vài tram triệu. Còn vào mỗi dịp hè, các CLB chứ không phải là các nghệ nhân là người dạy hát quan họ cho giới trẻ. Đồng thời quan họ ngày nay phổ biến tới mức, người nghe có thể dễ dàng tìm thấy cho mình 1 vài đĩa CD,VCD về quan họ được trình bày bởi các diễn viên chuyên nghiệp của Đoàn quan họ. Và cùng với đó là những chính sách gắn phát triển du lịch với các hoạt động biểu diễn quan họ… Cứ như thế người dân trong vùng và chính quyền địa phương vô tình hay hữu ý đều bị cuốn theo vòng quay kinh doanh quan họ. Trong thời gian hiện nay, chính quyền tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều chính sách nhằm khai thác tiềm năng của quan họ vào phát triển du lịch. Xây dựng các làng quan họ cổ thành những điểm du lịch thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế. Trong thời gian hiện nay, đã có rất nhiều công ty du lịch tổ chức các tour du lịch tới Bắc Ninh, các tour đó thường là kết hợp tham quan nhiều các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh và bên cạnh đó là lồng ghép với các chowng trình nghe quan họ và tìm hiểu về qua họ. Tuy nhiên, các Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 28 sản phẩm du lịch từ quan họ hiện nay chưa thực sự thu hút khách du lịch, chương trình tour cũng rất đơn giản, chưa có sự đầu tư đúng mực về nội dung của tour. Lý do là chưa thực sự khai thác được tiềm năng, và chưa thực sự tạo ra các sản phẩm du lịch từ quan họ. Việc phát triển du lịch dựa vào quan họ có hai mặt của nó. Thứ nhất là mặt tích cực việc phát triển du lịch dựa vào dân ca quan họ là một hình thức giúp quan họ đươc bảo tồn và phát triển, đồng thời cũng là hình thức quảng cáo giới thiệu với bạn bè trên thế giới về một loại hình nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam- đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực của việc phát triển du lịch gắn với quan họ thì nó cũng co mặt hạn chế. Đóa là hiện tượng “sân khấu hóa” “ hiện đại hóa” và thương mại hóa” dân ca quan họ Bắc Ninh nhằm phù hợp với tính chất, phù hợp với bối cảnh CNH- HHĐ đất nước. Làm cho các giá trị truyền thống, các nét đẹp, nét duyên về cách chơi, cách hát, cách sống trong quan họ xưa dần dần bị mai một đáng kể và có nguy cơ là sẽ mất đi hoàn toàn nếu không có những chính sách bảo tồn một cách đúng đắn. Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 29 Một số hình ảnh minh họa Quan họ Bắc Ninh: Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 30 Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 31 TÀI LIỆU THAM KHẢO:  -“Tìm hiểu dân ca Quan họ Bắc Ninh”, Trần Linh Qúy – Hồng Thảo, Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội & Sở Văn hóa thông tin Hà Bắc (1997).  ml  www.quanho.org/quanho/phat-trien-quan-ho  khong-gian-vn-hoa-quan-h-bc-ninh-bo-tn-va-phat-huy.html Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 32  ghi-nhan-va-cac-bien-phap-bao-ve-di-san-van-hoa.html 

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfquka_2626.pdf