Tiểu luận Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán

LỜI GIỚI THIỆU Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán là một xu thế tất yếu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam không thể tách rời xu thế đó. Thị trường chứng khoán (TTCK) hình thành và phát triển sẽ cùng với thị trường tiền tệ tạo ra một thị trường tài chính vận hành có hiệu quả hơn, góp phần đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Là một cấu thành của thị trường tài chính, sự phát triển của thị trường chứng khoán sẽ kém bền vững nếu thiếu sự gắn kết với hệ thống ngân hàng. Từ kinh nghiệm của nhiều nước đã cho thấy rằng, “nếu thị trường chứng khoán là một cạnh cắt của thị trường tài chính, thì các ngân hàng vừa là nền móng vừa là xi măng”. Như vậy có thể thấy hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, kết hợp và tác động với nhau cùng phát triển. Hiểu rõ về mối quan hệ giữa TTCK và NHTM sẽ giúp tăng lên gấp bội sức mạnh của hai lĩnh vực, đồng thời nền kinh tế Việt Nam sẽ đạt được những bước phát triển ngoạn mục hơn nữa. Ngược lại, không nắm rõ về mối quan hệ nhạy cảm này, các nhà hoạch định rất dễ có những chính sách và bước đi sai lầm, kéo nền kinh tế của đất nước vào tình trạng khủng hoảng trì trệ. Vì vậy, trong bối cảnh kinh tế hiện nay, đây là một vấn đè hết sức cần thiết và có ý nghĩa. Nhóm chúng tôi gồm 4 thành viên, đến từ lớp Anh 5 – TCQTB, đã tập trung tìm hiểu để có một cái nhìn rõ ràng và tổng quát về NHTM, TTCK và về vai trò của các ngân hàng thương mại đối với TTCK. Vì kiến thức còn hạn hẹp và thời gian chuẩn bị chưa nhiều, bài tiểu luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong thầy giáo và tập thể lớp góp ý và sửa chửa để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn nữa. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn! Mục lục A. Vài nét về NHTM và TTCK ở Việt Nam .3. I. Một số nét nội bật của hệ thống NHTM 3 II. Tổng quan về TTCK 4 B. Mối quan hệ giữa NHTM và TTCK 7 C. Vai trò của NHTM trên TTCK 9 I. Thị trường sơ cấp 9 1, Chức năng phát hành 9 2, Chức năng đầu tư .10 3, Chức năng bảo lãnh và phát hành .12 II. Thị trường thứ cấp 14 1, Kinh doanh trái phiếu 14 2, Sản phẩm phái sinh 16 3, Cho vay chứng khoán 21 D. Một số kiến nghị và giải pháp 22 E. Kết luận .29

pdf31 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 20/05/2013 | Lượt xem: 2284 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n để đạt được mục tiêu cơ bản đề ra là thiết lập và đưa vào hoạt động một TTCK có tổ chức từ thấp đến cao, từng bước hoàn thiện và phát triển. Việc Uỷ ban chứng khoán Nhà nước chuyển giao về Bộ Tài chính vào đầu năm 2004 đã tạo thuận lợi để hoàn thiện khung pháp lý và chính sách khuyến khích tham gia thị trường, phát triển hàng hoá và mở rộng phạm vi thị trường giao dịch chứng khoán. Có thể nói sau gần 5 năm đi vào hoạt động, nhìn chung quy mô TTCK còn nhỏ, tổng giá trị chứng khoán niêm yết đến hết tháng 3/2005 là khoảng 28.000 tỷ đồng, chỉ chiếm khoảng 3,94% GDP của năm 2004, nhưng cũng đã cho thấy hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ và đầu tư của các tổ chức tham gia thị trường ngày càng tiến tới tính chuyên nghiệp hơn, góp phần cho sự phát triển của TTCK trong tương lai. Việc buôn bán cổ phiếu ở Việt Nam đã diễn ra sôi động kể từ sau khi các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá, nhưng thị trường chứng khoán (TTCK) nước ta mới chính thức hoạt động từ năm 2000, kể từ khi ra đời Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28-7-2000. Khi đó mới có một vài cổ phiếu được giao dịch với tổng số vốn 27 tỉ đồng và 6 công ty chứng khoán thành viên. Hơn 6 năm đầu, mức vốn hoá của thị trường mới chỉ tăng lên 0,5 tỉ USD. Vài năm gần đây mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng 12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) và đến cuối tháng 4- 2007, đạt 24,4 tỉ USD (chiếm 38% GDP), tăng hơn 1400 lần so với năm 2000, và nếu tính cả trái phiếu thì đạt mức 46% GDP. Số lượng doanh nghiệp niêm yết tăng 704% so với năm 2000. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có sự gia tăng đáng kể. Tính đến nay, các nhà đầu tư nước ngoài đã đổ vào khoảng 4 tỉ USD. Theo dự tính, quy mô của thị trường còn tiếp tục được mở rộng do các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá sẽ tiếp tục niêm yết vào năm 2007-2008 trong đó có Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 6 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với số vốn lên tới hàng ngàn tỉ đồng. Chỉ số VN-Index cũng đã chứng minh sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường. Nếu trong phiên giao dịch đầu tiên ngày 28-7- 2000, VN-Index ở mức 100 điểm thì tháng 3 - 2007, chỉ số này đã đạt ở mức kỷ lục trên 1.170 điểm và sau một vài tháng giảm sút, hiện nay VN-Index đang dao động xung quanh ngưỡng 1.000 điểm (đến giữa tháng 5-2007 đã lên 1.060 điểm), tăng hơn 10 lần so với năm 2000. Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tư mới tham gia thị trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên 120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài. Số lượng các nhà đầu tư có tổ chức cũng tăng lên đáng kể, hiện có 35 quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam, trong đó 23 quỹ đầu tư nước ngoài và 12 quỹ đầu tư trong nước. Ngoài ra, còn có gần 50 tổ chức đầu tư theo hình thức uỷ thác qua công ty chứng khoán. Hệ thống các tổ chức trung gian trên TTCK đã hình thành và phát triển nhanh chóng. Tính đến nay, trên thị trường có 55 công ty chứng khoán, tăng mạnh hàng năm, vốn điều lệ bình quân đạt 77 tỉ đồng/công ty. Ngoài ra, còn có sự tham gia của 18 công ty quản lý quỹ, 41 tổ chức tham gia hoạt động lưu ký chứng khoán, 6 ngân hàng lưu ký. Sự ra đời của Luật Chứng khoán (có hiệu lực từ ngày 01-01-2007) đã tạo khung pháp lý cao cho TTCK phát triển góp phần thúc đẩy khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế của TTCK Việt Nam. Những vấn đề liên quan đến TTCK, trong đó những quy định về đăng ký, lưu ký, công khai và minh bạch, giám sát và kiểm tra của các cơ quan chức năng quản lý hoạt động của TTCK từng bước được hoàn thiện. Đáng chú ý là Chính phủ đã chỉ đạo việc phối hợp giữa Bộ Tài chính, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước trong việc tăng cường kiểm soát TTCK ở nước ta, do đó thị trường này vẫn đang ổn định và phát triển khá mạnh. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 7 B. Mối quan hệ giữa NHTM và TTCK Là một cấu thành của thị trường tài chính, sự phát triển của thị trường chứng khoán sẽ kém bền vững nếu thiếu sự gắn kết với hệ thống ngân hàng. Từ kinh nghiệm của nhiều nước đã cho thấy rằng, “nếu thị trường chứng khoán là một cạnh cắt của thị trường tài chính, thì các ngân hàng vừa là nền móng vừa là xi măng”. Như vậy có thể thấy hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, kết hợp và tác động với nhau cùng phát triển. Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán như hai bình thông nhau trong sự luân chuyển vốn, lãi suất ngân hàng tăng hoặc giảm sẽ ảnh hưởng đến giá chứng khoán giảm hoặc tăng, cũng như ảnh hưởng đến dòng luân chuyển vốn (capital flow) : vốn được chuyển từ TTCK sang thị trường tiền tệ hoặc ngược lại. Trong khi đó sự biến động của lãi suất trên thị trường tiền tệ chịu tác động nhiều bởi các giải pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ của NHTW. Do đó nếu chính sách tiền tệ duy trì được lãi suất thị trường tiền tệ ổn định sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường chứng khoán. Ngược lại, thị trường chứng khoán phát triển chính là kênh cung cấp thông tin nhạy bén, phản ánh chính xác hoạt động kinh tế cho NHTW, qua đó giúp NHTW đưa ra các giải pháp điều hành CSTT phù hợp, nâng cao năng lực điều tiết tiền tệ, hiệu quả điều hành CSTT. Thêm vào đó, thị trường chứng khoán phát triển còn tạo thêm những công cụ mới, tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại có thể mở rộng khả năng tham gia các nghiệp vụ thị trường tiền tệ. Điều này thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển, đồng thời hỗ trợ NHTW thực hiện tốt vai trò điều tiết tiền tệ thông qua các công cụ CSTT, nhất là thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Việc mua, bán chứng khoán của NHNN với các NHTM sẽ có tác dụng mở rộng hay thu hẹp khối lượng tiền tệ trong lưu thông, qua đó mà khối lượng tiền tệ được điều tiết theo mục tiêu đã định. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 8 Các TCTD có vai trò then chốt trong việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán, cả với thị trường sơ cấp và thứ cấp. TCTD cũng là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các doanh nghịêp Nhà nước và hình thành các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự phát triển của thị trường chứng khoán. Đồng thời, các TCTD tạo hàng hoá cho thị trường chứng khoán, giúp các công ty phát hành chứng khoán, làm trung gian mua bán chứng khoán, cung cấp các dịch vụ lưu giữ và quản lý chứng khoán cho khách hàng, thực hiện vịêc thanh toán chứng khoán...Ngược lại, thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo điều kiện giảm bớt gánh nặng của các TCTD về đáp ứng vốn dài hạn cho nền kinh tế, tạo thêm cơ hội mở rộng danh mục đầu tư của các TCTD và là kênh quan trọng để các NHTM cổ phần bổ sung vốn điều lệ. Trên thực tế, là một trong các thành viên chủ yếu của thị trường chứng khoán, các TCTD đã có mặt trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động như các NHTM đã thành lập công ty chứng khoán, tham gia làm ngân hàng chỉ định thanh toán, ngân hàng lưu ký, tham gia góp vốn thành lập công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, thực hiện vai trò ngân hàng giám sát.... Tuy nhiên, sự tham gia của các TCTD trên thị trường chứng khoán vẫn còn khả năng mở rộng và phát triển rất nhiều. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 9 C. Vai trò của NHTM trên TTCK I. THỊ TRƯỜNG SƠ CẤP: 1. Chức năng phát hành: a. Ví dụ: Tháng 12/2005 Ngân hàng Ngoại thương VN -Vietcombank (VCB) đã phát hành 1.365 tỷ đồng trái phiếu tăng vốn. Có thể nói, đợt phát hành này theo đánh giá của giới chuyên gia là rất thành công, bởi đã thu hút được mối quan tâm rất lớn của công chúng đầu tư. Ví dụ trên đã đưa ra một câu hỏi: Tại sao các ngân hàng cần phát hành trái phiếu? Lợi ích hay ý nghĩa của nó? b. Định nghĩa: Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn. c. Ý nghĩa: Phát hành trái phiếu ra công chúng thực sự là một kênh huy động vốn hiệu quả, tiết kiệm, chi phí phát hành đối với các DN tại các nước có thị trường vốn phát triển như Anh, Mỹ. Nhiều công ty cổ phần Việt Nam hiện đang huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán nhưng chủ yếu bằng cách phát hành chứng khoán ra công chúng mà chưa coi trọng đúng mức việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, ngoại trừ một số ngân hàng phát hành trái phiếu chuyển đổi. So với cổ phiếu thì trái phiếu có tính an toàn cao hơn,tình thanh khoản tuơng đối sẽ là một công cụ đầu tư hấp dẫn với dân chúng đặc biệt là ở Việt Nam khi cổ phiếu còn là một lĩnh vực mới mẻ. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 10 Quan trọng hơn, phát hành trái phiếu làm tăng tổng tài sản của các ngân hàng. Giờ đây, có thể nói, tổng tài sản lớn đang là một thế mạnh mà các ngân hàng rất quan tâm khai thác. Ngân hàng nào cũng muốn mình có tổng tài sản lớn nhất vì cổ đông và khách hàng của họ cứ thấy ngân hàng nào có tổng tài sản lớn nhất là yên tâm. Điều này hàm chứa nhiều rủi ro. Nhìn vào bảng tổng kết tài sản của một vài ngân hàng, vốn huy động rất nhiều trong khi cho vay không có bao nhiêu, tức vốn vẫn chưa được sử dụng hết. Vậy phát hành trái phiếu để làm gì? Tháng trước, BIDV phát hành 3.000 tỉ đồng trái phiếu. Mặc dù số liệu không công bố nhưng nhiều nguồn tin cho biết đối tượng mua chủ yếu là các ngân hàng khác. Như vậy, có tình trạng là ngân hàng này phát hành trái phiếu, ngân hàng khác mua vào và cứ như thế tổng tài sản của các ngân hàng đều tăng lên! Trong giai đoạn hiện nay và những năm tới, nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước ngày càng lớn.Đã đến lúc việc nghiên cứu để tiến tới phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường trái phiếu quốc tế tạo ra một kênh huy động vốn mới là rất cần thiết có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển kinh tế và chuẩn bị từng bước tham gia vào thị trường vốn quốc tế. Ý nghĩa thứ hai trong việc phát hành trái phiếu là tăng hàng hoá cho thị trường chứng khoán. Bởi vì hàng hóa cho thị truờng chứng khoán gồm 2 loại chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu.Đó cũng là phương thức mở rộng hoạt động và qui mô cho thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, ngân hàng giúp các công ty phát hành chứng khoán, làm trung gian mua bán chứng khoán, cung cấp các dịch vụ lưu giữ và quản lý chứng khoán cho khách hàng, thực hiện vịêc thanh toán chứng khoán... 2. Chức năng đầu tư: a.Ví dụ: Trong năm 2005, tổng lượng trái phiếu Chính phủ phát hành là 17.226 tỷ đồng, trong đó các NHTM mua 12.058 tỷ đồng, chiếm khoản 70%. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 11 Với những con số cụ thể gần đây Ngân hàng Á Châu (ACB) đầu tư vào chứng khoán của ngân hàng này xếp đầu bảng trong các ngân hàng, lên tới 9.636,853 tỷ đồng đến 31/12/2007. Những ngân hàng khác dù nhỏ hơn, nhưng con số đầu tư chứng khoán cũng lên tới hàng ngàn tỷ đồng, chẳng hạn ABBank đã chi ra khoảng 3.600 tỷ đồng để đầu tư vào chứng khoán; SeABank là gần 4.000 tỷ đồng; Techcombank xấp xỉ 7.000 tỷ đồng và VIB Bank là 6.676 tỷ đồng… b.Ý nghĩa: Như đã giới thiệu ở trên, trong những năm gần đây thị trường chứng khoán Việt Nam đang có tốc độ phát triển nhanh chóng. Trong đó vai trò của Ngân hàng thương mại trong việc đầu tư là rất quan trọng và gần như là khách hàng lớn nhất của thị trường này. Ích lợi đầu tiên là lượng tiền của chúng ta có thể đi vào sản xuất, nâng cao đời sống tiêu dùng, giải phóng sức lao động, tăng thêm được rất nhiều công ăn việc làm... Ngân hàng thương mại đã phát huy được nguồn vốn lớn của mình để thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế. Với tư cách là một nhà đầu tư, Ngân hàng đã có những tác động tích cực trong việc mở rộng thị trường, nâng lượng lưu thông hàng hoá trên thị trường chứng khoán, mở rộng qui mô vốn cho các doanh nghiệp từ đó nâng cao sản xuất. Ngoài ra việc này còn tăng tính thanh khoản cho công cụ nợ này, giúp cho trái phiếu có một sức hấp dẫn hơn trên thị trường tiền tệ. Trong thời gian gần đây khi nền kinh tế Việt Nam đang trong tình trạng lạm phát cao, Nhà nước đã đưa ra một loạt các biện pháp kiểm soát tín dụng, lãi suất được áp dụng trong đó một biện pháp hiệu quả là khuyến khich ngân hàng thương mại mua trái phiếu. Khi đó lượng tiền trong nền kinh tế được thu hẹp, chi tiêu công giảm và tăng hiểu quả đầu tư. Chính vì vậy cùng với những chính sách thắt chặt tiền tệ và điều chỉnh lãi suất, đây là một chính sách hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam còn phát triển chưa bền vững. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 12 3. Chức năng phân phối, bảo lãnh phát hành: a.Định nghĩa: Theo quan niệm của một số nhà chuyên môn thì, bảo lãnh phát hành chứng khoán “là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại, hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành, hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng”. b. Ý nghĩa: Với quan niệm này thì, người bảo lãnh có thể là ngân hàng thương mại, hoặc một tổ chức được phép hỗ trợ cho công ty phát hành chứng khoán của mình, hoặc chủ sở hữu chứng khoán phát hành và phân phối chứng khoán. Như vậy, người bảo lãnh cho phát hành chứng khoán không chỉ là nghiệp vụ của các tổ chức tín dụng, của các ngân hàng thương mại nữa, mà còn là nghiệp vụ của các tổ chức được phép hỗ trợ cho công ty phát hành chứng khoán của mình; thậm chí còn là nghiệp vụ của chủ sở hữu chứng khoán phát hành và phân phối chứng khoán! Một vấn đề khác rất đáng được quan tâm là, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán được thực hiện “bằng việc thoả thuận mua bán chứng khoán để bán lại, hoặc bán chứng khoán thay mặt người phát hành hay người chủ sở hữu”. Như vậy, khi đứng ra làm người bảo lãnh phát hành chứng khoán, ngân hàng thương mại hay một tổ chức nào đó được lựa chọn phải làm một cam kết với người phát hành chứng khoán là phải mua và bán hết số lượng đã phát hành. Điều này cũng có nghĩa là, người bảo lãnh phát hành chứng khoán cũng là người bao tiêu toàn bộ “hàng hoá” đã được phát hành ra. Bảo lãnh phát hành chứng khoán là một trong những nghiệp vụ có khả năng đem lại rất nhiều lợi ích không chỉ cho bản thân các ngân hàng với tư cách là người bảo lãnh mà quan trọng hơn là cho tất cả những ai có nhu cầu đầu tư trên thị trường chứng khoán. Đặc biệt, với các doanh nghiệp không phải ngân hàng muốn phát hành cổ phiếu khi có bảo lãnh của ngân hàng thì khả năng bán ra của các cổ phiếu này là rất lớn. Tuy vậy, có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau nên đến nay nghiệp vụ này hầu như chưa TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 13 được thực hiện. Một mặt cũng có thể do nhu cầu bảo lãnh phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp không phải ngân hàng chưa có; mặt khác bản thân các ngân hàng thương mại đang còn rất dè dặt đối với nghiệp vụ đang còn quá mới mẻ này. Để có thể thực hiện được nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, bản thân các ngân hàng thương mại phải là các ngân hàng mạnh, có uy tín trong hoạt động kinh doanh của mình. Đây là điều kiện tiên quyết để các ngân hàng thương mại có thể đứng ra đảm nhận một loại dịch vụ sẽ có thể rất sôi động nhưng đồng thời cũng chứa đầy các yếu tố rủi ro mỗi khi cổ phiếu phát hành ra nhưng không có người mua. Trên thế giới,đây là một trong những nhiệm vụ và cũng là nguồn thu chính của các ngân hàng.Còn ở Việt Nam, các Ngân hàng thương mại mớí chỉ bước đầu thực hiện chức năng bão lãnh phát hành và đây vẫn chưa phải là nguồn thu chính. Theo Quyết định số 10 /2005/QĐBTCngày02/02/2005của Bộ trưởng Bộ Tài chính) đã đưa ra danh sách : “Thành viên tham gia bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính quyền địa phương.” I. Các ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 2. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 3. Ngân hàng Công thương Việt Nam 4. Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam 5. Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển nhà TP. Hồ Chí Minh 6. Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín 7. Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam II. Các công ty chứng khoán 1. Công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 2. Công ty TNHH chứng khoán ngân hàng thương mại cổ phần Á châu 3. Công ty TNHH chứng khoán Thăng Long TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 14 4. Công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương 5. Công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 6. Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt 7. Công ty cổ phần chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 8. Công ty cổ phần chứng khoán Đệ Nhất 9. Công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Công thương II. THỊ TRƯỜNG THỨ CẤP 1. Kinh doanh trái phiếu: Mới đưa vào hoạt động từ tháng 8/2005, hoạt động kinh doanh trái phiếu của NHNT với 13 đối tác là các NHTM và các công ty chứng khoán đã có những kết quả hết sức khả quan. Tính đến hết năm 2005, tổng doanh số giao dịch đạt khoảng 2.700 tỷ đồng, trong đó chiếm phần lớn là hoạt động bán mua lại (chiếm khoảng 2.670 tỷ đồng, tức là khoảng 99%). Do vậy có thể thấy rõ ràng hoạt động kinh doanh trái phiếu của NHNT thực chất là hoạt động chiết khấu, tạo thanh khoản cho thị trường. Bện cạnh đó, hoạt động kinh doanh trái phiếu, công trái với các nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng có tiềm năng phát triển lớn, nhưng chưa được tổ chức thật sự chuyên nghiệp. Một ưu điểm nữa của hình thức kinh doanh này là không bị giới hạn bởi thời gian giao dịch của thị trường chứng khoán tập trung. Tính trong sáu tháng đầu năm, tính thanh khoản trái phiếu rất thấp. Đặc biệt trong tháng 6 – 7 trái phiếu bị bán tháo, mức giá giảm sâu do lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư tăng lên trước biến động mạnh của lạm phát, lãi suất, tỷ giá và những khó khăn trên thị trường tài chính tiền tệ. Nước ngoài liên tục bán tháo trái phiếu với tỷ lệ chiết khấu có khi lên đến 28%. Số liệu thống kê sáu tháng đầu năm do công ty chứng khoán Euro Capital đưa ra, nhà đầu tư nước ngoài bán ròng 570 triệu USD tiền trái phiếu. Thống kê từ trung tâm TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 15 Giao dịch Hà Nội (HaSTC) cho thấy mức bán ròng trung bình từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 7 là 245,46 tỉ đồng/phiên. Tuy nhiên, sau một thời gian dài bị “chê”, xu hướng mua trái phiếu trở lại ngày càng nhiều hơn. Một trong những nhân tố tích cực mua vào là các ngân hàng thương mại cổ phần. Vì sao? Sáu tháng đầu năm 2008, thời điểm các ngân hàng thương mại khủng hoảng thanh khoản ngắn hạn, đồng thời nguồn vốn huy động từ thị trường dân cư giảm sút, trong khi các ngân hàng thương mại quốc doanh (nhờ nắm giữ nhiều trái phiếu chính phủ) tận dụng được lợi thế mua bán trên thị trường mở với mức lãi suất vay 8 – 14%/năm, thấp hơn lãi suất thị trường liên ngân hàng có lúc lên đến 30 – 35%/năm. Trong lúc đó, các ngân hàng thương mại cổ phần gần như đứng ngoài, bởi trong tay có rất ít giấy tờ có giá của Chính phủ, và phải vay lại trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao.Lúc này, nhiều người mới “bật ngửa”: đầu tư trái phiếu chính phủ thông thường có lãi suất thấp, nhưng nó lại là công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả vào những lúc khó khăn về thanh khoản. Để tiếp cận vốn mạnh hơn trên thị trường mở, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đã tăng cường mua vào trái phiếu chính phủ. Theo ông Nguyễn Đoan Hùng, ở thị trường trái phiếu thứ cấp, nhiều người chơi là các ngân hàng thương mại. Và việc bán tháo trái phiếu của các tổ chức với giá thấp, đã tạo điều kiện cho các ngân hàng mua lại với giá hời. Việc những người nắm giữ trái phiếu bán lại dưới mệnh giá, đã tạo điều kiện cho ngân hàng mua lại, mà không phải chịu lãi suất âm do lạm phát. Đồng thời, đến lượt ngân hàng, khi đem trái phiếu giao dịch ở thị trường mở, họ được hưởng lãi suất thấp khi vay vốn. Do vậy, kinh doanh trái phiếu là một món lợi “kép”. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 16 2. Sản phẩm phái sinh: Các NHTM có thể thực hiện các sản phẩm phái sinh như: hoán đổi, kỳ hạn, quyền chọn, hợp đồng tương lai đối với các trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường. Ở đây, sự kết hợp liên thị trường giữa thị trường tiền tệ với thị trường chứng khoán sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư nhiều công cụ để kinh doanh (đầu cơ) và bảo hiểm rủi ro, đồng thời tăng tính thanh khoản của thị trường. 2.1, Khái niệm: Công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận . 2.2, C ác loại công cụ phái sinh: 2.2.1, Quyền lựa chọn ( Option): - Khái niệm: Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hoá với một mức giá xác định, và trong một thời gian nhất định.Các hàng hoá cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai. - Những yếu tố cấu thành một quyền lựa chọn: +Tên của hàng hoá cơ sở và khối lượng được mua theo quyền. +Loại quyền (chọn mua hay chọn bán). +Thời hạn của quyền. +Mức giá thực hiện theo quyền. - Những mức giá liên quan tới một quyền lựa chọn là: +Giá thị trường hiện hành của loại hàng hoá cơ sở. +Giá hàng hoá cơ sở thực hiện theo quyền. +Giá quyền lựa chọn. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 17 Đối với quyền chọn mua, nếu giá thực hiện thấp hơn giá hiện hành của chứng khoán cơ sở, thì quyền đó được gọi là đang được tiền (in the money), tức là người có quyền có thể có lợi từ việc thực hiện quyền. Nếu giá thực hiện bằng với giá thị trường, quyền đang ở trạng thái hoà vốn ( at the money), và nếu cao hơn, gọi là đang mất tiền (out of money). Đối với quyền chọn bán thì ngược lại, người thực hiện quyền sẽ có lợi nếu giá bán thực hiện quyền cao hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở và sẽ bị mất tiền nếu giá thực hiện quyền thấp hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở. Giá trị mà người nắm giữ quyền lựa chọn sẽ nhận được bằng cách thực hiện quyền được gọi là giá trị nội tại (intrinsic value). Nếu quyền ở trạng thái bị mất tiền, giá trị nội tại bằng 0. Giá thị trường của một quyền thường ít nhất là bằng giá trị nội tại. Giá bán quyền được gọi là phần phụ trội, chênh lệch giữa giá bán quyền với giá trị nội tại (trong trường hợp quyền đang được tiền) được gọi là phần phụ trội giá trị theo thời gian. Nói cách khác, khi đó : Giá trị theo thời gian của quyền chọn mua = Giá quyền - (giá thị trường - giá thực hiện). Ví dụ 1: Giá của một quyền chọn mua XYZ là 400.000 đồng, giá thị trường của XYZ là 42.000 đồng. Người giữ quyền có thể chiếm lấy 200.000 đ ngay tức thì bằng cách thực hiện quyền, tức là mua 100 cổ phần ( mức giá được quyền ấn định) với tổng chi phí 4.000.000 đồng, cũng theo mức giá thực hiện theo quyền là 40.000 đ một cổ phần; sau đó bán ngay với giá thị trường, thu về 4.200.000 đ. Giá trị nội tại của quyền là 200.000 đ. Mức phụ trội giá trị theo thời gian = giá quyền – giá trị nội tại = 400.000 đ - 200.000 đ = 200.000 đ.Người mua vẫn sẵn sàng trả phần phụ trội cho các quyền lựa chọn vì họ nhận được nhiều lợi ích từ một quyền lựa chọn. -Ưng dụng của quyền lựa chọn:Quyền lựa chọn cho phép nhà đầu tư thu được tỷ lệ % lợi tức trên vốn đầu tư cao. Ví dụ 2: Giả sử thị trường hiện nay của cổ phiếu XYZ là 42.000 VND/cổ phần, và bạn dự đoán sau nửa năm nữa, giá cổ phiếu XYZ sẽ tăng mạnh, lên tới 50.000 VND. Giả sử các quyền lựa chọn có liên quan đến giao dịch cổ phiếu XYZ được niêm yết, bạn TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 18 có thể mua một quyền chọn mua cổ phiếu XYZ với giá 40.000 VND/cổ phần.Trong vòng 6 tháng giá cổ phiếu XYZ tăng lên 50.000 VND/cổ phần. Bạn có thể buộc người bán giao 100 cổ phần XYZ cho bạn với giá 40.000 VND/cổ phần, sau đó bán chúng ra thị trường với giá 50.000 đồng.Như vậy bạn đã tạo ra một lợi nhuận đáng kể. Trên thực tế bạn đã thu được lợi nhuận 60.000 đồng trên khoản đầu tư 40.000 đồng, vậy lợi suất là 150%, trong khoảng thời gian là 6 tháng. Quyền lựa chọn được sử dụng để bảo vệ lợi nhuận Ví dụ 3: Với XYZ đang có giá thị trường là 44.000 đồng, người sở hữu 100 cổ phần XYZ bán một quyền chọn mua XYZ 44.000 với giá quyền là 400.000 đồng.Nếu giá thị trường của XYZ giảm xuống 40.000 đồng, người bán sẽ được bảo vệ trước khoản thua lỗ nhờ có 40.000 đồng nhận được từ việc bán quyền chọn. Nếu XYZ tiếp tục giảm giá thì đương nhiên người bán sẽ mất tiền. Như vậy khoản thu 40.000 đồng từ việc bán quyền lựa chọn tạo ra một sự bảo vệ cụ bộ đối với tình trạng sụt giá. Nếu trong 6 tháng tới giá XYZ vẫn giữ nguyên, quyền sẽ không được thực hiện. Khoản thu phụ trội 40.000 đồng là một thu nhập bổ sung trên tổng đầu tư. 2.2.2, Quyền mua trước (right): Quyền mua trước là một quyền lựa chọn mua có thời hạn rất ngắn, có khi chỉ vài tuần. Quyền này được phát hành khi các công ty tăng vốn bằng cách phát hành thêm các cổ phiếu thường. Quyền cho phép một cổ đông mua cổ phiếu mới phát hành với mức giá đã ấn định trong một khoảng thời gian xác định. Loại quyền này thường được phát hành theo từng đợt, mỗi cổ phiếu đang lưu hành được kèm theo một quyền. Số quyền cần để mua một cổ phiếu mới được quy định tuỳ theo từng đợt phát hành mới. Giá cổ phiếu ghi trên quyền thường là thấp hơn giá hiện hành của cổ phiếu. Giá của quyền tính bằng chênh lệch giữa giá thị trường hiện hành của cổ phần đang lưu hành và giá mua cổ phần mới theo quyền, chia cho số lượng quyền cần có để mua một cổ phần mới TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 19 Ví dụ: cổ phiếu bán theo quyền (giá thực hiện) là 800.000 đồng/cổ phần, nhưng có giá thị trường là 1.000.000 đồng, nếu cứ 10 quyền được mua một cổ phần mới thì giá của quyền được xác định theo công thức Vr = P0 - Pn/r Trong đó: Vr là giá trị của một quyền, P0 là giá thị trường của cổ phiếu đang lưu hành, Pn là giá thực hiện cổ phiếu mới và r là số quyền cần có để mua một cổ phiếu mới.Vậy, giá quyền ở đây là Vr = (1.000.000 – 800.000)/10 = 20.000 đồng.Nếu không muốn thực hiện quyền, cổ đông thường có thể bán quyền trên thị trường trong thời gian quyền chưa hết hạn. Giá quyền có thể lên xuống trong khoảng thời gian chào bán, tuỳ thuộc biến động giá thị trường của cổ phiếu. 2.2.3, Chứng quyền (warrants) Chứng quyền là quyền cho phép mua một số cổ phần xác định của một cổ phiếu, với một giá xác định, trong một thời hạn nhất định. Quyền này được phát hành khi tiến hành tổ chức lại các công ty, hoặc khi công ty muốn khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua những trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi nhưng có những điều kiện kém thuận lợi. Để chấp nhận những điều kiện đó, nhà đầu tư có được một lựa chọn đối với sự lên giá có thể xảy ra của cổ phiếu thường. Đặc điểm:Khác với quyền mua trước, chứng quyền có thời hạn dài hơn, do công ty đã phát hành công cụ cơ sở phát hành đồng thời với công cụ cơ sở. Khác với quyền lựa chọn (option), khi chứng quyền được thực hiện, nó tạo thành dòng tiền vào cho công ty và tăng thêm lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường. Chứng quyền có thể được giao dịch tách rời với trái phiếu hay cổ phiếu mà nó đi kèm.Các điều kiện của chứng quyền được ghi rõ trên tờ chứng chỉ: số cổ phiếu được mua theo mỗi chứng quyền (thườnglà 1:1); giá thực hiện cho mỗi cổ phiếu; tại thời điểm chứng quyền được phát hành, giá này bao giờ cũng cao hơn giá thị trường của cổ phiếu cơ sở, và giá đó có thể cố định, có thể được tăng lên định kỳ; và thời hạn của quyền, đa số trường hợp là 5 đến 10 năm. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 20 2.2.4, Hợp đồng kỳ hạn Hợp dồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay. Hàng hoá ở đây có thể là bất kỳ thứ hàng hoá nào; từ nông sản, các đồng tiền, cho tới các chứng khoán. Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai bên tự thoả thuận với nhau, dựa theo những ước tính mang tính các nhân. Giá hàng hoá đó trên thị trường giao ngay vào thời điểm giao nhận hàng hoá có thể thay đôỉ, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đã ký kết trong hợp đồng. Khi đó, một trong hai bên mua và bán sẽ bị thiệt hại do đã cam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường. Như vậy bằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình. Vì chỉ có hai bên tham gia vào hợp đồng, cho nên mỗi bên đều phụ thuộc duy nhất vào bên kia trong việc thực hiện hợp đồng. Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tăng lên khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, vì mức giá đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không chính xác. 2.2.5, Hợp đồng tương lai Hợp đồng tương lai, nhờ đặc tính linh hoạt của nó, đã khắc phục được những nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn, và thường được xem là một cách thức tốt hơn để rào chắn rủi ro trong kinh doanh.Những điểm khác biệt căn bản của hợp đồng tương lai so với hợp đồng kỳ hạn là: -Niêm yết trên sở giao dịch. Một giao dịch hợp đồng tương lai nói chung được xử lý trên một Sở giao dịch. Điểm này cho phép giá cả được hình thành hợp lý hơn, do các bên mua bán được cung cấp thông tin đầy đủ và công khai. - Xoá bỏ rủi ro tín dụng. Trong các giao dịch hợp đồng tương lai được niêm yết trên sở giao dịch, cả hai bên bán và mua đều không bao giờ biết về đối tác giao dịch của TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 21 mình. Công ty thanh toán bù trừ sẽ phục vụ như một trung gian trong tất cả các giao dịch. Người bán bán cho công ty thanh toán bù trừ, và người mua cũng mua qua công ty thanh toán bù trừ. Nếu một trong hai bên không thực hiện được hợp đồng thì vẫn không ảnh hưởng gì đến bên kia. -Tiêu chuẩn hoá. Các hợp đồng kỳ hạn có thể được thảo ra với một hàng hoá bất kỳ, khối lượng, chất lượng, thời gian giao hàng bất kỳ, theo thoả thuận chung giữa hai bên bán, mua. Tuy nhiên, các hợp đồng tương lai niêm yết trên sở giao dịch đòi hỏi việc giao nhận một khối lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước. -Điều chỉnh việc đánh giá theo mức giá thị trường (Marking to market). Trong các hợp đồng kỳ hạn, các khoản lỗ, lãi chỉ được trả khi hợp đồng đến hạn. Với một hợp đồng tương lai, bất kỳ món lợi nào cũng được giao nhận hàng ngày. Cụ thể là nếu giá của hàng hoá cơ sở biến động khác với giá đã thoả thuận (giá thực hiện hợp đồng) thì bên bị thiệt hại do sự thay đổi giá này phải trả tiền cho bên được lợi từ sự thay đổi giá đó. Trên thực tế, vì không bên nào biết về đối tác của mình trong giao dịch, nên những người thua đều trả tiền cho công ty thanh toán bù trừ, và công ty này sẽ trả tiền cho những người thắng. 3. Cho vay chứng khoán: Nghiệp vụ cho vay chứng khoán rất phổ biến đối với các TTCK phát triển. Tại Mỹ, Cục dự trữ liên bang (Fed) thực hiện nghiệp vụ này với các đại lý sơ cấp đối với trái phiếu Chính phủ. Nghiệp vụ này một mặt làm tăng thanh khoản của thị trường, mặt khác giúp Fed điều tiết được lượng cung tiền. Tài sản thế chấp thường là tiền mặt. Nghiệp vụ cho vay chứng khoán giữa các trung gian tài chính có phạm vi rộng hơn cả về danh mục chứng khoán cho vay cũng như danh mục tài sản thế chấp. Bên vay thế chấp tài sản khi nhận chứng khoán và phải trả lại chứng khoán, đồng thời nhận lại tài sản thế chấp khi đáo hạn. Việc cho vay chứng khoán thực sự góp phần làm tăng tính thanh khoản của thị trường, đồng thời có thể giúp các bên tham gia (đặc biệt là đối với các trung gian tài chính) tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc kinh doanh chứng khoán đi vay hoặc nhận thế chấp. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 22 Ở Việt Nam, Việc ban hành một cơ chế cho vay kinh doanh, đầu tư chứng khoán vào thời điểm này là rất cần thiết, giúp xây dựng một cơ chế rõ ràng, minh bạch cho hoạt động rất nhạy cảm này. D. Một số kiến nghị và giải pháp Một là, đẩy mạnh thị trường OTC với hoạt động nòng cốt là NHTM và công ty chứng khoán để mục đích tạo thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư. Đồng thời, cần sớm triển khai đưa trung tâm lưu ký chứng khoán vào hoạt động. Trung tâm lưu ký chứng khoán độc lập này sẽ tập trung hoá tất cả hoạt động lưu ký đối với các chứng khoán niêm yết và đăng ký giao dịch của hai Trung tâm giao dịch tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch ngoài sàn do các NHTM, công ty chứng khoán thực hiện. Có nhiều quan điểm khác nhau về thị trường OTC. Có người cho rằng, thị trường OTC là thị trường “phi chính thức” hoặc “thị trường phi tập trung”. Quan niệm này xuất phát từ sự so sánh về tính chất giữa thị trường OTC với Sở giao dịch chứng khoán - thị trường chính thức, được tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tập trung, công khai, trung gian và đấu giá. Chính với cách hiểu sai lầm này, nhiều người đang hiểu thị trường giao dịch chứng khoán ngoài sàn hiện nay là thị trường OTC, song thực chất, đây chỉ là thị trường “chợ đen” hay chợ “vỉa hè”.Do có những cách gọi như vậy thì không thể phản ánh được đúng bản chất của thị trường OTC. Thị trường OTC có sự tham gia của các nhà tạo lập thị trường (Market Maker. Thông thường, các nhà tạo lập thị trường phải là các nhà đầu tư có tổ chức, là các tổ chức tài chính trung gian (TCTG) ) luôn nắm giữ một lượng chứng khoán đủ lớn và sẵn sàng mua, bán nhằm tạo lập thị trường cho chứng khoán đó. Song không phải tổ chức TCTG nào cũng có thể trở thành nhà tạo lập thị trường. Vấn đề này trước hết phụ thuộc vào mô hình kinh doanh chứng khoán. Có ba mô hình kinh doanh chứng khoán cơ bản: TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 23 mô hình ngân hàng đa năng toàn phần, mô hình chuyên doanh và mô hình đa năng một phần. Việt Nam đang thực hiện mô hình đa năng một phần. Ở mô hình này, các ngân hàng thương mại (NHTM) muốn thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty chứng khoán (CTCK) trực thuộc. Do vậy, các NHTM không thể thực hiện hoạt động tạo lập thị trường do không được thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán và hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán. Hoạt động tạo lập thị trường đang được xem là lĩnh vực độc quyền của các CTCK. Tuy nhiên, quan niệm này là cứng nhắc và không chuẩn xác. Ngoài ra, cơ chế xác lập giá trên thị trường OTC được thực hiện qua cơ chế thương lượng trực tiếp. Các phương thức thực hiện giao dịch khác nhau sẽ tạo thu nhập khác nhau cho các nhà tạo lập thị trường. Do cơ chế giao dịch thỏa thuận nên hoạt động giao dịch trên thị trường OTC thường diễn ra tại sàn giao dịch của các CTCK, các NHTM, hoặc qua mạng điện tử diện rộng, mạng điện thoại. Vì thế, thị trường OTC được gọi là thị trường chứng khoán bậc cao với hệ thống trang thiết bị giao dịch hiện đại và phương thức giao dịch, thanh toán linh hoạt. Thị trường OTC thường hoạt động theo cơ chế tự quản. Theo đó, vai trò của Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán là rất quan trọng. Tuy nhiên, do vai trò ngày càng quan trọng của thị trường chứng khoán nói chung và thị trường OTC nói riêng, Chính phủ các nước ngày càng tăng cường quản lý nhà nước đối với thị trường, bao gồm cả thị trường OTC, thông qua cơ chế cấp phép đối với các thành viên, quản lý đăng ký và giao dịch, quản lý các thành viên và trung tâm OTC, kiểm soát giao dịch… Những biện pháp quản lý này đã làm tăng hiệu quả hoạt động của thị trường, tránh những tác động tiêu cực và làm tăng lòng tin của công chúng đầu tư đối với thị trường. Do đó để hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 24 Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán cần hoạch định rõ chiến lược phát triển thị trường OTC. Trong đó, cần hoạch định sự phát triển thị trường OTC đồng bộ với sự phát triển của thị trường tập trung. Thứ hai, cần xây dựng thị trường trái phiếu Việt Nam theo mô hình thị trường OTC. Trong đó, cho phép các NHTM, các công ty bảo hiểm và các tổ chức TCTG khác đủ yêu cầu trở thành nhà tạo lập thị trường trái phiếu. Thứ ba, để hình thành và phát triển thị trường OTC đối với cổ phiếu, cần phát triển các nhà tạo lập thị trường, đặc biệt là các ngân hàng thương mại ( NHTM ) và các công ty chứng khoán ( CTCK ). Thứ tư, để nâng cao chất lượng chứng khoán giao dịch, cần hoàn thiện lĩnh vực quản trị điều hành, minh bạch hóa về thông tin thông qua các biện pháp tuyên truyền, hỗ trợ đào tạo, tư vấn. Thứ năm, phát triển hoạt động của Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam. Đẩy mạnh thị trường OTC phát triển một mặt giúp cho nền kinh tế phát triển, một mặt là giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với TTCK. Từ đó có thể phòng tránh và giảm thiểu tối đa mức rủi ro để đảm bảo an toàn cho các nhà đầu tư. Hơn nữa, chúng ta đẩy mạnh phát triển thị trường OTC phải đồng thời triển khai sớm để đưa các trung tâm lưu ký chứng khoán vào hoạt động để tạo thuận lợi cho các NHTM và các CTCK thực hiện các chiến lược của mình. Trích dẫn : “Thực tế. Ngày 27/7/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 189/2005/QĐ-TTg về việc thành lập Trung tâm Lưu Ký Chứng khoán (TTLKCK), có nhiệm vụ thực hiện đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ việc giao dịch, mua bán chứng khoán.” Hai là, thu hút mạnh đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân nhỏ và phát triển dịch vụ quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng cá nhân. Với dịch vụ này, các NHTM sẽ thiết kế các sản phẩm để thu hút vốn để đầu tư trong nước hoặc liên kết với các đối tác nước ngoài để bán các sản phẩm quỹ đầu tư của nước ngoài (đầu tư ra nước ngoài). Thu hút các nhà đầu tư bên ngoài (các quỹ đầu tư tư nhân, các nhà đầu tư nước ngoài) là một xu hướng nhằm tạo thêm động lực và kích thích cho sự phát triển. Với TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 25 chiến lược thu hút đầu tư này sẽ đem lại điều kiện thuận lợi trong việc bán ra các sản phẩm dịch vụ giúp đem lại tỷ suất lợi nhuận cao. Như : Tỷ lệ lãi ròng là thước đo rất tốt để phản ánh giá trị tăng thêm mà công ty kinh doanh đã đưa vào sản phẩm. Đối với doanh nghiệp làm dịch vụ, lãi ròng chính từ hoạt động phục vụ trực tiếp cho khách khàng có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều các khoản thu khác. Với việc đưa các sản phẩm dịch vụ của mình vào thì sẽ tạo thêm cơ hội phát triển và đánh giá được chất lượng sản phẩm của mình so với các loại sản phẩm khác. Ngoài ra, giúp cho thị phần và vị thế của công ty thúc đẩy một cách nhanh chóng. Khi đưa và liên kết sẽ thúc đẩy cạnh tranh, tất yếu sẽ thúc đẩy sự phát triển sản phẩm mới đa dạng và hoàn thiện hơn… Ba là, tiếp tục phát triển các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Tham khảo mô hình của Singapore cho thấy: tại một thị trường tài chính lớn và phát triển như Singapore, nơi có trên 230 công ty quản lý tài sản với khoảng 1.000 nhân viên và quản lý trên 450 tỷ SGD (khoảng 276 tỷ USD), mà các điều kiện đầu tư đối với các nhà đầu tư cá nhân rất đơn giản và dễ dàng. Nếu đầu tư vào các thị trường phát triển và các nước đông nam á, nhà đầu tư chỉ cần có 1.000 SGD (hoặc tương đương nếu là ngoại tệ khác), tức khoảng 615 USD, đối với các thị trường khác là 5.000 SGD (khoảng 3.000 USD). Ta có thể thấy với vai trò của các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán giúp cho NHTM có thể huy động nguồn lực vốn cần thiết, đồng thời có thể quản lý phần tài sản của mình để hoạch định tập trung những danh mục đầu tư và quản lý đầu tư doanh nghiệp. Ngoài ra với vai trò khác của các công ty quản lý quỹ đầu tư giúp cho NHTM thực hiện các chính sách của mình một cách đúng đắn. Như đối với các nhà đầu tư hay khách hàng thì NHTM có thể thực hiện tư vấn đầu tư và tư vấn quản trị cho khách hàng hay hỗ trợ tối ưu hóa thông qua các khoản đầu tư cho các nhà đầu tư. Đặc biệt, NHTM có thể giám sát thực hiện việc bảo quản, lưu ký tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán và giám sát công ty quản lý quỹ nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư… TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 26 Bốn là, tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc và minh bạch, đồng thời khuyến khích NHTM tham gia hoạt động chứng khoán. Việc khuyến khích các NHTM tham gia hoạt động chứng khoán, đặc biệt là hoạt động cổ phiếu sẽ phát huy được các thế mạnh của các NHTM. Đó là: Ưu thế về mạng lưới. Khả năng phát triển thị trường OTC. Xu thế của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng - đầu tư. Một thực tế cho thấy rằng, khi các NHTM Việt Nam được phép và đã thực hiện hoạt động quản lý tài sản, thực chất là hoạt động đầu tư chứng khoán tại nước ngoài nhưng lại bị hạn chế đối với hoạt động này ở trong nước. Khuôn khổ pháp lý vững chắc và minh bạch là tiền đề cho sự phát triển nhanh và lành mạnh là vấn đề then chốt của các hoạt động thanh toán trong NHTM nói riêng và thanh toán trong toàn bộ nền kinh tế nói chung. Kết hợp với sự chỉ đạo của Chính phủ và vai trò của Ngân hàng Nhà nước là những nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động thanh toán trong nền kinh tế, cả hiện tại và trong tương lai. Năm là, xây dựng được hệ thống xếp hạng (định mức) tín nhiệm. Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của thị trường chứng khoán là tính minh bạch. Do vậy, ở tất cả các thị trường phát triển, vấn đề xếp hạng tín nhiệm các định chế tham gia thị trường được thực hiện bởi các công ty xếp hạng độc lập, các thông tin được công bố công khai cho các nhà đâu tư và các chủ thể tham gia hoặc có liên quan đến thị trường. TTCK Việt Nam muốn phát triển cũng phải xây dựng được một cơ chế đánh giá xếp hạng tín nhiệm độc lập và hữu hiệu. ý tưởng về việc thành lập và đưa vào hoạt động một công ty xếp hạng tín nhiệm thì Việt Nam đã có. Như là một nỗ lực thúc đẩy tiến trình này, vào tháng 7/2006, NHNT sẽ phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Hiệp hội ngân hàng châu á (ABA). Hội đồng tư vấn doanh nghiệp AFEC (ABAC) cùng tổ chức hội thảo quốc tế về vấn đề này. Chỉ số tín nhiệm là hệ số đánh giá khả năng tài chính và khả năng thanh toán của một tổ chức đối với các khoản tiền nghĩa vụ - gốc và lãi - của các công cụ nợ mà nó phát hành. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 27 Công cụ nợ bao gồm cả công cụ ngắn hạn như hối phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, hoặc dài hạn như trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi. Tổ chức phát hành có thể là chính phủ cấp quốc gia, cấp tỉnh, thành phố, hay các công ty. Với các ngân hàng thì kết quả xếp hạng hệ số tín nhiệm có ảnh huởng rất lớn đến sự thành công của quá trình kinh doanh. Ví dụ như ảnh hưởng tới việc phát hành trái phiếu của các NHTM ( với vai trò là công ty phát hành) , nhất là khi phát hành trái phiếu ra nuớc ngoài, cũng như việc xác định lãi suất trái phiếu (hệ số tín nhiệm càng cao thì lãi trái phiếu càng thấp và ngược lại). Thiếu sự xác định hệ số tín nhiệm, thị trường trái phiếu dài hạn của các công ty chưa thể phát triển được. Ngoài việc căn cứ vào hệ số tín nhiệm để quyết định mua trái phiếu, họ còn dùng hệ số tín nhiệm của trái phiếu của NHTM đó để làm căn cứ để quyết định có đưa cổ phiếu của NHTM đó vào danh mục đầu tư của mình hay không… Với TTCK, một trong những đặc điểm quan trọng nhất của là tính minh bạch. Do vậy, ở tất cả các thị trường phát triển, vấn đề xếp hạng tín nhiệm các định chế tham gia thị trường được thực hiện bởi các công ty xếp hạng độc lập, các thông tin được công bố công khai cho các nhà đâu tư và các chủ thể tham gia hoặc có liên quan đến thị trường. TTCK Việt Nam muốn phát triển cũng phải xây dựng được một cơ chế đánh giá xếp hạng tín nhiệm độc lập và hữu hiệu. ý tưởng về việc thành lập và đưa vào hoạt động một công ty xếp hạng tín nhiệm thì Việt Nam đã có.. Vì vậy, xây dựng chỉ số tín nhiệm là mục tiêu quan trọng và cần thiết. Nó sẽ là cầu nối thông tin giữa các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán mà còn trong việc lựa chọn đối tác và danh mục đầu tư của mình hợp lí. Đối với các NHTM, việc xây dựng, xếp hạng, đánh giá hệ số tín nhiệm là nhu cầu thiết yếu, nó được coi là “giấy thông hành” giúp cho NHTM huy động vốn trên TTCK và giúp cho các nhà đầu tư có thêm thông tin về đối tác, giúp cho các nhà đầu tư có thêm cơ hội khi lựa chọn cơ hội đầu tư cho mình …. Sáu là, mở rộng hoạt động của công ty chứng khoán. Việc tăng năng lực tài chính cũng như phạm vi hoạt động của các công ty chứng khoán với mục tiêu trở thành các ngân hàng đầu tư, đủ sức bảo lãnh phát hành và thực hiện các dịch vụ đầu tư chứng khoán không chỉ trong thị trường Việt Nam mà còn tiến tới tham gia vào quá trình phát TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 28 hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam là hết sức cần thiết. Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) trong tổng thể các biện pháp nhằm tăng cường giám sát, phát triển thị trường chứng khoán ổn định và bền vững, đồng thời tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm pháp năm 2008, UBCKNN bắt đầu triển khai việc giám sát và kiểm tra quy trình mở tài khoản, đặt lệnh và giao dịch tại các công ty chứng khoán. Đây là việc kiểm tra thường xuyên theo quy định về thực hiện công tác giám sát của UBCKNN, và nằm trong chương trình kiểm tra định kỳ và thường xuyên của UBCKNN. Mục tiêu của việc kiểm tra là nhằm đảm bảo việc cung cấp dịch vụ môi giới, giao dịch cho nhà đầu tư của các công ty chứng khoán được công bằng, đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, Ủy ban chứng khoán khẩn trương nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống đào tạo hành nghề và đào tạo công chúng, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước nhằm tăng cường công tác quản lý nhằm phát triển nhanh, ổn định và bền vững thị trường chứng khoán. Tiếp tục tăng cường tính công khai minh bạch của thị trường, kết hợp đồng thời Ủy ban chứng khoán phải kiểm soát chặt chẽ và công khai liên tục để nhà đầu tư lựa chọn; thực hiện lưu ký chứng khoán tập trung và áp dụng cơ chế thông tin nhằm hạn chế tối đa những rủi ro, tiếp tục phát triển thị trường chứng khoán nhanh và bền vững. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 29 E. Kết luận Thị trường chứng khoán là một cơ hội lớn, mới mẻ với cả nền kinh tế Việt Nam và việc Ngân hàng thương mại ko những ko xung đột với nó mà còn là hai cánh tay đắc lực của thị trường tiền tệ là một dấu hiệu đáng mừng cho nền kinh tế. Dù còn nhiều hạn chế trong cơ cấu và tổ chức hoạt động nhưng những ảnh hưởng tích cực và vai trò to lớn của Ngân hàng thương mại đôi với thị trường tài chính là điều ko thế phủ nhận. Có thế nói rằng nếu được phát triển đúng hướng thì đây sẽ là một lợi thế của Việt Nam trong sự nghịêp phảt triển nền kinh tế quốc dân. Do sự hiều biết và thời gian còn hạn chế, chúng tôi vẫn còn nhìêu điều chưa để cập hết được và nhiều thiếu sót ko thể trảnh khỏi, mong độc giả thông cảm. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn. Nhóm tác giả TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 30 DANH MỤC CÁC NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO + Đề cương bài giảng Lý thuyết tài chính tiền tệ - ĐH Ngoại thương + Giáo trình tài chính tiền tệ - HV Ngân hàng + Giáo trình tài chính tiền tệ - ĐH KTQD + Một số bài báo cáo của cty cổ phần chứng khoán Kim Long, Biển Việt + Thông tin từ các trang web www.sbv.gov.vn - Ngân hàng nhà nước Việt Nam www.ssc.gov.vn - Uỷ ban chứng khoán nhà nước www.vietnamnet.vn Website chính thức của một số ngân hàng thương mại và công ty chứng khoán www.bsc.com.vn – Cty CK BIDV Bank www.hdbank.com.vn www.icb.com.vn – Ngân hàng công thương www.vietcombank.com.vn – Ngân hàng ngoại thương www.agribank.com.vn – Ngân hàng nông nghiệp vietbao.vn chungkhoan24h.com saga.com Và một số nguồn thông tin khác trên Internet khác. TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Vai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán 31

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfVai trò của Ngân hàng thương mại trong Thị trường chứng khoán.pdf
Luận văn liên quan