Tóm tắt luận văn Chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam

Trong quá trình giải quyết các vụ việc cạnh tranh, bên cạnh xác định thị phần, thì xác định thị phần kết hợp cũng là vấn đề quan trọng. Nếu như thị phần chỉ tỷ lệ doanh thu của một doanh nghiệp so với tổng doanh thu của các doanh nghiệp trên thị trường liên quan, thì thị phần kết hợp là tỷ lệ doanh thu của hai hay nhiều doanh nghiệp trên thị trường liên quan. Khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 đã định nghĩa rằng: “Thị phần kết hợp là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia vào thoả thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế” [37]. Trong Luật Cạnh tranh, thị phần kết hợp thường được đề cập đến khi xác định các doanh nghiệp cùng nhau thực hiện các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế. Thị phần kết hợp thể hiện năng lực cạnh tranh của một nhóm doanh nghiệp. Vì vậy, thông qua tỷ lệ thị phần kết hợp người ta xác định một nhóm doanh nghiệp có thuộc trường hợp bị kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh hay không. Theo Luật Cạnh tranh 2004, trường hợp một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chỉ bị cấm khi thị phần liên kết của họ vượt quá 30%, hoặc trường hợp tập trung kinh tế, nếu thị phần kết hợp từ 30% - 50% thì các doanh nghiệp phải báo cáo với cơ quan quản lý cạnh tranh, nếu thị phần kết hợp trên 50% thì hoạt động tập trung kinh tế đó sẽ bị cấm Bởi khi sở hữu tỷ lệ thị phần đó, các doanh nghiệp có thể gây hạn chế cạnh tranh một cách sâu sắc mà không phải do năng lực tự sản xuất, kinh doanh của họ.

pdf20 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 05/12/2015 | Lượt xem: 1502 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tóm tắt luận văn Chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT KIM HOÀN MỸ LINH CHẾ TÀI LIÊN QUAN TỚI HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT KIM HOÀN MỸ LINH CHẾ TÀI LIÊN QUAN TỚI HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số: 60 38 01 07 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG VŨ HUÂN HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Kim Hoàn Mỹ Linh MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 6 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ CHẾ TÀI XỬ LÝ HẠN CHẾ CẠNH TRANH.......... 11 1.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về hạn chế cạnh tranh ............... 11 1.1.1. Khái niệm, căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh .............................. 11 1.1.2. Pháp luật điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranhError! Bookmark not defined. 1.2. Khái niệm và nội dung chế tài xử lý hạn chế cạnh tranhError! Bookmark not defined. 1.2.1. Khái niệm chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh . Error! Bookmark not defined. 1.2.2. Sự cần thiết áp dụng chế tài đối với hành vi hạn chế cạnh tranhError! Bookmark not defined. 1.2.3. Các hình thức chế tài đối với hành vi hạn chế cạnh tranhError! Bookmark not defined. 1.3. Kinh nghiệm pháp luật các nước về chế tài xử lý hạn chế cạnh tranhError! Bookmark not defined. 1.3.1. Kinh nghiệm các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU)Error! Bookmark not defined. 1.3.2. Kinh nghiệm của Canada và Mỹ .................. Error! Bookmark not defined. 1.3.3. Kinh nghiệm của một số nước Châu Á ........ Error! Bookmark not defined. Tiểu kết Chương 1 .............................................................. Error! Bookmark not defined. Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI XỬ LÝ HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAMError! Bookmark not defined. 2.1. Thực trạng pháp luật về chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh ở Việt NamError! Bookmark not defined. 2.1.1. Khái quát về các biện pháp chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh tại Việt NamError! Bookmark not defined. 2.1.2. Thẩm quyền, trình tự và thủ tục xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam ...................................................... Error! Bookmark not defined. 2.2. Thực trạng áp dụng các biện pháp chế tài đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam ........................ Error! Bookmark not defined. 2.2.1. Xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranhError! Bookmark not defined. 2.2.2. Xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyềnError! Bookmark not defined. 2.2.3. Xử lý hành vi tập trung kinh tế .................... Error! Bookmark not defined. 2.3. Đánh giá thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam ............ Error! Bookmark not defined. 2.3.1. Đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh............................................... Error! Bookmark not defined. 2.3.2. Đánh giá thực tiễn xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranhError! Bookmark not defined. Tiểu kết Chương 2 .............................................................. Error! Bookmark not defined. Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI XỬ LÝ HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM ......................................... Error! Bookmark not defined. 3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam .................................................. Error! Bookmark not defined. 3.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam ........................................ Error! Bookmark not defined. 3.2.1. Xu hướng pháp luật và việc sử dụng các chế tài đối với hành vi hạn chế cạnh tranh của các nước trên thế giới .... Error! Bookmark not defined. 3.2.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về chế tài hạn chế cạnh tranh ở Việt NamError! Bookmark not defined. 3.3. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam ........................................ Error! Bookmark not defined. 3.3.1. Các giải pháp pháp lý ................................... Error! Bookmark not defined. 3.3.2. Các giải pháp bổ trợ khác ............................. Error! Bookmark not defined. Tiểu kết Chương 3 .............................................................. Error! Bookmark not defined. KẾT LUẬN ......................................................................... Error! Bookmark not defined. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 16 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, thì cạnh tranh luôn là một điều kiện và là yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, nếu để tồn tại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các thủ đoạn nhằm kìm hãm quá trình cạnh tranh sẽ đưa lại những hệ quả không mong muốn về mặt kinh tế và xã hội, thị trường bị bóp méo, thay đổi cấu trúc xã hội về sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo. Do đó, yêu cầu kiểm soát và điều chỉnh đối với quá trình cạnh tranh là một nhiệm vụ cần thiết đặt ra cho các thiết chế quản lý nền kinh tế thị trường. Những thủ đoạn cạnh tranh tiêu cực trên thị trường rất đa dạng, trong đó, các hành vi hạn chế cạnh tranh có ảnh hưởng lớn tới môi trường kinh doanh và cấu trúc thị trường. Nếu như các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại trực tiếp cho các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng xã hội, thì các hành vi hạn chế cạnh tranh còn gây thiệt hại và ảnh hưởng đến một ngành hay lĩnh vực kinh tế, phá vỡ cấu trúc thị trường. Bởi vậy, nếu không được điều tiết, kiểm soát một cách thỏa đáng và phù hợp, thì các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, thống lĩnh thị trường, tập trung kinh tế sẽ loại trừ khả năng cạnh tranh của các đối thủ tiềm năng, kéo theo đó là sự trì trệ, thậm chí thụt lùi của nền kinh tế. Cho nên, pháp luật các nước trên thế giới đều chú trọng xây dựng pháp luật để điều chỉnh vấn đề này với những chế tài rất nghiêm khắc. Hiểu được vai trò của việc xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh trong phát triển kinh tế xã hội nói chung, năm 2004, Việt Nam đã ban hành Luật Cạnh tranh, trong đó có các quy định nhằm điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh và đặt ra chế tài để xử vi phạm để răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng đã cho thấy, chế tài đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh chưa đủ mạnh, thủ tục xử lý chưa phù hợp, các chế tài được quy định rải rác trong nhiều văn bản luật và các bất cập khác đã gây khó khăn cho việc tổ chức thực thi pháp luật trên thực tế. Trong khi đó, sự tồn tại với vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp nhà nước, sự gia tăng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh mẽ, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các thủ đoạn nhằm hạn chế cạnh tranh ở nước ta vốn đã phức tạp lại ngày càng tinh vi hơn, đã gây nhiều tổn hại đến quyền và lợi ích của các doanh nghiệp, người tiêu dùng cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ những phân tích ở trên, việc hoàn thiện pháp luật cạnh tranh nói chung và hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của các chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh nói riêng đang là những yêu cầu rất cấp thiết. Với ý nghĩa như vậy, nên tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam” để nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sĩ luật học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trên thế giới, Mỹ, Cộng hòa Liên bang Đức, các nước thuộc Liên minh châu Âu, Nhật Bản và các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều đã có những công trình nghiên cứu sâu sắc, cũng như các án lệ liên quan đến xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh. Ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã có rất nhiều các nghiên cứu về các hành vi hạn chế cạnh tranh như: "Căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam" của ThS. Hồ Thị Duyên; "Thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam" của ThS. Mai Duy Phước; "Về thoả thuận hạn chế cạnh tranh" của tác giả Trần Thị Nguyệt, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1(237)/2008; "Kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay" của ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga; "Pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng quyền lực thị trường ở Việt Nam" của ThS. Nguyễn Ngọc Quý; "Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam" của ThS. Phạm Thị Ngoan Ngoài ra, còn nhiều bài viết, bài báo liên quan đến pháp luật cạnh tranh nói chung và những phản ánh về thực tế hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung vào phân tích, làm rõ các vấn đề pháp lý đối với từng nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh, còn các vấn đề về chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh, thì chưa có nghiên cứu khoa học chuyên sâu nào đề cập nghiên cứu, bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng pháp luật các chế tài này ở Việt Nam cũng chưa nhiều. Bởi vậy, nếu nghiên cứu và bảo vệ thành công, có thể xem đây là công trình chuyên khảo đầu tiên ở cấp độ Luận văn Thạc sĩ luật học về đề tài "Chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam". 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh; bản chất, nội dung, đặc điểm của các biện pháp chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các biện pháp chế tài đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh ở thị trường Việt Nam, chỉ ra những bất cập, hạn chế, để từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh, đặc biệt là nâng cao hiệu quả của các biện pháp chế tài đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Từ mục đích nghiên cứu ở trên, đề ra nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là: - Nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật về hạn chế cạnh tranh, bản chất, nội dung, đặc điểm của các biện pháp chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh; - Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật cạnh tranh hiện hành về các chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh, cũng như thực tiễn áp dụng các biện pháp chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam. - Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất, kiến nghị các giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này, cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp chế tài xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan tới chế tài đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh, bao gồm các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, các biện pháp chế tài, trình tự áp dụng chế tài, thẩm quyền xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh..., được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành như: Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và các văn bản hướng dẫn thi hành, cùng với thực tế áp dụng chế tài xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là các biện pháp chế tài xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh và các vấn đề có liên quan theo quy định của pháp luật Việt Nam từ thời điểm Luật Canh tranh năm 2004 có hiệu lực thi hành. Bên cạnh đó, việc tham khảo kinh nghiệm pháp luật của một số nước trên thế giới về vấn đề này chỉ nhằm làm rõ hơn đối tượng nghiên cứu và rút ra bài học kinh nghiệm góp phần hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp chế tài đối với hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam. 5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, so sánh pháp luật... để làm sáng tỏ mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài. 6. Những đóng góp mới của đề tài Luận văn nếu được thực hiện và bảo vệ thành công sẽ đưa lại các đóng góp mới như sau: - Góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận pháp luật về kiểm soát và xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh; bản chất, nội dung, đặc điểm của các biện pháp chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. - Góp phần đánh giá trung thực, khách quan về thực trạng pháp luật và hiệu quả áp dụng các chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay. - Góp phần hoàn thiện pháp luật về các biện pháp chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam, từ đó, xây dựng và hoàn thiện môi trường cạnh tranh bình đẳng, công bằng ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn có kết cấu gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật hạn chế cạnh tranh và chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh. Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam. Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế tài xử lý hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ CHẾ TÀI XỬ LÝ HẠN CHẾ CẠNH TRANH 1.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về hạn chế cạnh tranh 1.1.1. Khái niệm, căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh 1.1.1.1. Khái niệm hành vi hạn chế cạnh tranh Cạnh tranh là một quy luật vận động cơ bản của kinh tế thị trường là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, nhờ có cạnh tranh - với sự thay đổi liên tục về nhu cầu và bản tính tham lam của con người - mà nền kinh tế thị trường đã có những bước phát triển nhảy vọt chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Theo Black’Law Dictionary, cạnh tranh - với tư cách là động lực nội tại trong mỗi chủ thể kinh doanh - được hiểu là sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba. Về bản chất, cạnh tranh là sản phẩm của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có thể được mô tả thông qua những dấu hiệu riêng vốn có của nó: (i) Cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu như các chủ thể kinh doanh có quyền tự do hành xử trên thị trường; (ii) Cạnh tranh thể hiện sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp, nói cách khác, cạnh tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng; (iii) Mục đích của cạnh tranh là tranh giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ [52, tr. 11]. Trong đó, hành vi cạnh tranh thường được phân loại thành: hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thường chỉ là hành vi đơn độc của doanh nghiệp, ít có được sự đồng thuận từ các đối tác và chỉ áp dụng tới một vài đối thủ, khách hàng và trong một phạm vi nhất định. Ngược lại, các hành vi hạn chế cạnh tranh, được coi là hành vi có mức độ nguy hiểm và tính phức tạp cao, hành vi hạn chế cạnh tranh mang tính chất khống chế thị trường nhằm mục đích hạn chế đi tới triệt tiêu cạnh tranh, biến dạng thị trường, gây nguy hại không chỉ cho các đối tượng cạnh tranh, người tiêu dùng mà toàn thị trường cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Luật Cạnh tranh Việt nam đã đưa ra định nghĩa về hạn chế cạnh tranh theo hướng liệt kê các nhóm hành vi cụ thể, theo đó “hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường” [37, Điều 3, Khoản 3]. Mặc dù, không đưa ra một khái niệm chung về hạn chế cạnh tranh, nhưng thông qua các hành vi cụ thể được các nhà làm luật điều chỉnh trong chế định hạn chế cạnh tranh, thì có thể thấy hành vi này có đặc điểm chính là: - Chủ thể thực hiện hành vi có thể là một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp, các doanh nghiệp này hoặc là đã có sức mạnh thị trường, hoặc hướng đến việc hình thành nên sức mạnh thị trường bằng cách thỏa thuận hoặc tập trung kinh tế. - Hành vi hạn chế cạnh tranh mang tính chất khống chế thị trường, áp đặt sự thống trị duy nhất của doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp lên thị trường. Ví dụ như thỏa thuận ấn định giá mua bán hướng tới hạn chế đi tới triệt tiêu cạnh tranh về giá cả giữa các doanh nghiệp, thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ hoặc thị trường cung cấp nguyên vật liệu buộc người mua không có sự lựa chọn từ đó áp đặt sự thống trị của doanh nghiệp trong những phạm vi nhất định, gây cản trở và làm hạn chế cạnh tranh. - Các hành vi được thực hiện nhằm mục tiêu làm biến dạng cạnh tranh và đi tới triệt tiêu cạnh tranh. Sự biến dạng của cạnh tranh có thể là làm thay đổi cấu trúc thị trường, thay đổi tương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, loại bỏ đối thủ, ngăn cản đối thủ tiềm năng để làm giảm đi sức ép cạnh tranh hiện có hoặc sẽ có, bóc lột khách hàng. 1.1.1.2. Căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh Tùy vào đặc điểm nền kinh tế của mỗi quốc gia mà pháp luật cạnh tranh có những cách điều chỉnh đối với hành vi hạn chế cạnh tranh khác nhau. Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận, pháp luật các nước xác định hành vi hạn chế cạnh tranh căn cứ vào yếu tố thị trường liên quan và thị phần, thị phần kết hợp. * Xác định thị trường liên quan Dưới góc độ kinh tế học, thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định. Cục Thương mại công bằng của Vương quốc Anh đã nhận định: Thị trường là một giai đoạn rất quan trọng trong bất cứ cuộc điều tra nào về hành vi lạm dụng. Bởi lẽ thị phần chỉ được tính toán sau khi những ranh giới của thị trường đã được xác định. Do đó, nếu thị trường được xác định sai, thì tất cả những phân tích tiếp theo dựa trên thị phần hoặc cấu trúc thị trường đều không hoàn thiện [53, tr. 238]. Việc xác định được thị trường liên quan là để có thể đánh giá được sức mạnh thị trường của một doanh nghiệp, là để xem mức độ những sản phẩm và dịch vụ thay thế lẫn nhau tạo sức ép cạnh tranh lên các nhà cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tương ứng. Thị trường liên quan là cơ sở quan trọng để các cơ quan thực thi luật, kết luận một hành vi cụ thể là có vi phạm Luật Cạnh tranh hay không. Nói cách khác, xác định thị trường liên quan là công đoạn đầu tiên trong chuỗi tác nghiệp thực thi Luật Cạnh tranh liên quan đến các hành vi hạn chế cạnh tranh. Thị trường liên quan được cấu thành bởi hai loại giới hạn cơ bản là giới hạn về sản phẩm (loại hàng hóa, dịch vụ) và giới hạn về phạm vi, không gian địa lý, khu vực địa lý. Đó là: thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan. Thứ nhất, thị trường sản phẩm liên quan được xác định trong một phạm vi mà ở đó hàng hoá, dịch vụ có những đặc tính, hình dạng, mục đích sử dụng và giá cả tương tự, có khả năng thay thế cho nhau một cách hợp lý. Tính chất tương tự giữa những hàng hoá, dịch vụ này phải được xét trong tổng thể các yếu tố nói trên, không ngoại trừ yếu tố nào. Căn cứ để xác định đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả của hàng hóa, dịch vụ cũng như “thuộc tính có thể thay thế cho nhau” được quy định tại Nghị định số 116/2005/NĐ-CP (Điều 5), đặc tính của hàng hóa, dịch vụ được xác định theo một hoặc một số căn cứ sau: tính chất vật lý, tính chất hóa học; tính năng kỹ thuật; tác dụng phụ của sản phẩm; khả năng hấp thụ. Mục đích sử dụng của hàng hóa, dịch vụ được xác định căn cứ vào mục đích sử dụng thông thường nhất của hàng hóa, dịch vụ đó. Giá cả của hàng hóa, dịch vụ là giá ghi trong hóa đơn bán lẻ. Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt, thị trường sản phẩm liên quan còn có thể được xác định là thị trường của một loại sản phẩm đặc thù hoặc một nhóm các sản phẩm đặc thù căn cứ vào cấu trúc thị trường và tập quán của người tiêu dùng. Trong trường hợp này, việc xác định thị trường sản phẩm liên quan có thể xem xét thêm thị trường của các sản phẩm bổ trợ cho sản phẩm liên quan [11]. Thứ hai, thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể có thể là một thành phố, một tỉnh, một miền, một quốc gia, một khu vực kinh tế, thậm chí là toàn cầu mà ở đó hàng hoá, dịch vụ có khả năng thay thế được cho nhau một cách hợp lý với các điều kiện cạnh tranh tương tự, đặc biệt, khu vực địa lý này phải có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận khác về hàng rào kiểm soát thương mại, phương tiện phân phối, chi phí vận chuyển và ngôn ngữ thương mại. Theo khoản 3 Điều 7 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, khu vực địa lý được coi là có điều kiện cạnh tranh tương tự và khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận nếu thỏa mãn một trong các tiêu chí sau: (i) Chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển làm giá bán lẻ hàng hóa tăng không quá 10%; hoặc (ii) có sự hiện diện của một trong các rào cản gia nhập thị trường như: rào cản từ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật về sở hữu công nghiệp; rào cản về tài chính bao gồm chi phí đầu tư vào sản xuất, phân phối, xúc tiến thương mại hoặc khả năng tiếp cận với các nguồn cung cấp tài chính; quyết định hành chính của cơ quan quản lý nhà nước; quy định về điều kiện kinh doanh, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, các chuẩn mực nghề nghiệp; thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu; tập quán của người tiêu dùng [11]. * Xác định thị phần, thị phần kết hợp Theo Luật Cạnh tranh năm 2004: Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm [37, Điều 3, khoản 5]. Dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, thị phần được đề cập đến khi xác định hành vi hạn chế cạnh tranh, đặc biệt là vị trí thống lĩnh thị trường và tập trung kinh tế. Bản thân thị phần chưa đủ để khẳng định một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Tuy nhiên, thị phần cũng là điều kiện cần thiết để xác định hành vi hạn chế cạnh tranh. Trong quá trình giải quyết các vụ việc cạnh tranh, bên cạnh xác định thị phần, thì xác định thị phần kết hợp cũng là vấn đề quan trọng. Nếu như thị phần chỉ tỷ lệ doanh thu của một doanh nghiệp so với tổng doanh thu của các doanh nghiệp trên thị trường liên quan, thì thị phần kết hợp là tỷ lệ doanh thu của hai hay nhiều doanh nghiệp trên thị trường liên quan. Khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 đã định nghĩa rằng: “Thị phần kết hợp là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia vào thoả thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế” [37]. Trong Luật Cạnh tranh, thị phần kết hợp thường được đề cập đến khi xác định các doanh nghiệp cùng nhau thực hiện các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế. Thị phần kết hợp thể hiện năng lực cạnh tranh của một nhóm doanh nghiệp. Vì vậy, thông qua tỷ lệ thị phần kết hợp người ta xác định một nhóm doanh nghiệp có thuộc trường hợp bị kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh hay không. Theo Luật Cạnh tranh 2004, trường hợp một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chỉ bị cấm khi thị phần liên kết của họ vượt quá 30%, hoặc trường hợp tập trung kinh tế, nếu thị phần kết hợp từ 30% - 50% thì các doanh nghiệp phải báo cáo với cơ quan quản lý cạnh tranh, nếu thị phần kết hợp trên 50% thì hoạt động tập trung kinh tế đó sẽ bị cấm Bởi khi sở hữu tỷ lệ thị phần đó, các doanh nghiệp có thể gây hạn chế cạnh tranh một cách sâu sắc mà không phải do năng lực tự sản xuất, kinh doanh của họ. 1.1.1.3. Phân loại các nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh Các hành vi hạn chế cạnh tranh tồn tại phổ biến dưới các dạng: thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền, tập trung kinh tế. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Tiếng Việt: 1. Nguyễn Thị Vân Anh (2011), “Một số bất cập trong pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam”, Tạp chí luật học, (4), tr.4-9. 2. Bộ Thương mại (2002), Luật Cạnh tranh của Liên minh Châu Âu, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội. 3. Bộ Thương mại (2002), Luật Cạnh tranh của Pháp, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội. 4. Bộ Thương mại (2002), Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội. 5. Bộ Thương mại (2003), Luật Cạnh tranh thương mại của Vương quốc Thái Lan, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội. 6. Bộ Thương mại (2003), Luật chống độc quyền tư nhân và duy trì cạnh tranh của Nhật Bản, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội. 7. Bộ Thương mại (2003), Luật Mẫu về Cạnh tranh, Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội. 8. Bộ Thương mại (2003), Luật Thương mại lành mạnh và những quy định về độc quyền của Hàn Quốc, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội. 9. Bộ Thương mại (2003), Tài liệu tham khảo khuôn khổ pháp lý đa phương điều chỉnh hoạt động cạnh tranh và Luật Cạnh tranh của một số nước và vùng lãnh thổ, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội. 10. Bộ Thương mại (2004), Luật Cạnh tranh Canada và bình luận, (tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội. 11. Chính phủ (2005), Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh, Hà Nội. 12. Chính phủ (2005), Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/09/2005 quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Hà Nội. 13. Chính phủ (2006), Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09/1/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng Cạnh tranh, Hà Nội. 14. Chính phủ (2006), Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/1/2006 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh, Hà Nội. 15. Chính phủ (2013), Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện, Hà Nội. 16. Chính phủ (2014), Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Hà Nội. 17. Cục Quản lý Cạnh tranh - Bộ Công thương (2009), Báo cáo tập trung kinh tế tại Việt Nam: Hiện trạng và dự báo, (truy cập ngày 7/8/2014). 18. Cục Quản lý Cạnh tranh - Bộ Công thương (2010), Báo cáo hoạt động thường niên năm 2010, (truy cập ngày 12/7/2014). 19. Cục Quản lý Cạnh tranh - Bộ Công thương (2011), Báo cáo hoạt động thường niên năm 2011, annual%20report%20Tieng%20Viet.pdf, (truy cập ngày 12/7/2014). 20. Cục Quản lý Cạnh tranh - Bộ Công thương (2012), Báo cáo hoạt động thường niên năm 2012, (truy cập ngày 12/7/2014). 21. Cục Quản lý Cạnh tranh - Bộ Công thương (2012), Báo cáo rà soát các quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam (phiên bản chi tiết), NewsDetail.aspx?ID=1415&CateID=157, (truy cập ngày 12/7/2014). 22. Cục Quản lý Cạnh tranh - Bộ Công thương (2012), Báo cáo tập trung kinh tế tại Việt Nam năm 2012, CateID=157, (truy cập ngày 12/7/2014). 23. Cục Quản lý Cạnh tranh - Bộ Công thương (2013), Báo cáo hoạt động thường niên năm 2013, (truy cập ngày 12/7/2014). 24. Dominique Brault (2006), Chính sách và thực tiễn Pháp luật cạnh tranh của Cộng hòa Pháp - Quản lý cạnh tranh, Tập 3, (Tài liệu dịch tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 25. Nguyễn Đăng Duy (2005), Chế tài thương mại trong Luật Thương mại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội. 26. Hồ Thị Duyên (2010), Căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội. 27. Đặng Vũ Huân (2004), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. Đặng Vũ Huân (2006), “Giải pháp thực thi các quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh”, Tạp chí Luật học, (6). 29. Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật Cạnh tranh của Pháp và liên minh Châu Âu, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 30. MUTRAP, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2009), Hành vi hạn chế cạnh tranh: Một số vụ việc điển hình, Dự án hỗ trợ thương mại đa biên, Hà Nội. 31. Vũ Hoài Nam (2012), “Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân – nhìn từ dấu hiệu hình phạt”, doi.aspx?ItemID=4540, (truy cập ngày 11/8/2014). 32. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, tr. 795-864, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 33. Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 34. Phạm Hồng Quang (2011), “Chế tài hành chính ở Việt Nam và kinh nghiệm của Luật Xử phạt hành chính Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, Tạp chí Luật học, (10). 35. Trương Hồng Quang (2011), “Cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam: Những bất cập và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (6). 36. Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự Việt Nam, Hà Nội. 37. Quốc hội (2004), Luật Cạnh tranh Việt Nam, Hà Nội. 38. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự Việt Nam, Hà Nội. 39. Quốc hội (2009), Luật số 37/2009/QH12 ngày 19/06/2009 sửa đổi một số điều của Bộ luật Hình sự, Hà Nội. 40. Quốc hội (2012), Luật Giá số 11/2012/QH13 ngày 20/6/2012, Hà Nội. 41. Quốc hội (2012), Luật Xử lý vi phạm hành chính năm số 15/2012/QH13 ngày 20/56/2012, Hà Nội. 42. Quốc hội (2013), Luật Đấu thầu năm số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013, Hà Nội. 43. Lê Ngọc Thạch (2013), Một số bất cập của pháp luật cạnh tranh hiện hành, D=369, (truy cập ngày 10/9/2014). 44. Phan Công Thành (2008), Chính sách khoan hồng và tác động phá vỡ các-ten, dam_Thang11_08.pdf, (truy cập ngày 12/8/2014). 45. Tổ chức quốc tế pháp ngữ (2005), Bộ luật Dân sự Pháp, (tài liệu dịch), Nxb Tư pháp, Hà Nội. 46. Tòa án nhân dân tối cao (2008), Tài liệu tập huấn về Luật Cạnh tranh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 47. Trịnh Quốc Toản (2013), “Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, (1), tr. 60-73. 48. Trường Đại học Ngoại thương (2009), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội. 49. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa Luật (2007), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 50. Lê Anh Tuấn (2009), Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 51. Nguyễn Cửu Việt (2005), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 52. Lê Danh Vĩnh (2010), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nxb Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh. 53. Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội. II. Tiếng Anh 54. DOJ (2008), Competition and Monopoly: single firm conduct under Section 2 of the Sherman Act, (5/11/ 2009), chapter 9. 55. European Committee (2002), Council Regulation No 1/2003 of 16 December 2002 on the implementation of the rules on competition laid down in Articles 81 and 82 of the Treaty. 56. French National Assembly (2004), Code de commerce (Last amended in 2004), 57. Gerhard Dannecker and Oswald Jansen (2003), Competition Law Sanctioning in the European Union, Kluwer Law International, Netherlands. 58. Germany Parliament (2013), Act against Restraints of Competition of Germany (amended in 2013), 59. Stuart M. Chemtob (2000), Antitrust Deterence in United States and Japan, retrieved on 23/7/2014. 60. The council of the European Economic Community (1962), Regulation No 17 First Regulation implementing Articles 85 and 86 of the Treaty. 61. Tran Hoang Nga (2011), Regulations agains abusive pricing – A comparision of EU, US, And Vietnamese laws and an application of its results to Vietnam, Doctoral dissertation of law, Ho Chi Minh City. 62. United States Congress (1890), The Sherman Antitrust Act, United States. 63. United States Congress (1914), The Clayton Antitrust Act, United States.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf00050004844_5807.pdf
Luận văn liên quan