Luận án Pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay

Kinh nghiệm cho thấy, những rủi ro có thể gặp phải trong quá trình giao lưu thương mại trên các phương tiện điện tử không chỉ được khắc phục bằng công nghệ, giải pháp kỹ thuật, mà đòi hỏi cần phải có một khung pháp lý đầy đủ. Để thúc đẩy thương mại điện tử phát triển, Nhà nước phải giữ vai trò tiên phong trên cả hai lĩnh vực: Tạo các điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cá nhân cung ứng dịch vụ điện tử và xây dựng hệ thống văn bản đầy đủ, thống nhất và cụ thể để điều chỉnh quan hệ thương mại điện tử. Nếu thiếu các quy phạm pháp luật, các doanh nghiệp, người tiêu dùng phải gánh chịu nhiều rủi ro và thiếu sự an toàn trong giao dịch, làm cho những ưu thế rõ nét về thời gian, chi phí của thương mại điện tử không được khẳng định. Thương mại điện tử là phương thức mới trong hoạt động thương mại toàn cầu, áp dụng thương mại điện tử đã và đang là sự lựa chọn tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, thương mại điện tử đang đặt ra nhiều thách thức trên các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp lý, bảo đảm sự tin cậy cần thiết cho quá trình hội nhập và phát triển ở nước ta.

pdf163 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 02/08/2018 | Lượt xem: 15 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ạch và hữu hiệu, các nguyên tắc liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phải cụ thể, chi tiết, đồng thời, pháp luật cũng cần quy định các biện pháp kỹ thuật để có cơ chế phát hiện kịp thời các vi phạm trên môi trƣờng điện tử cũng nhƣ mạng thông tin – viễn thông. Các vi phạm đƣợc thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin thì cách phát hiện dễ nhất cũng chính bằng công cụ kỹ thuật cao để quản lý, kiểm duyệt và phát hiện. Các quy 128 phạm pháp luật phải quy định chặt chẽ các tiêu chuẩn kỹ thuật, buộc các chủ thể liên quan phải thực hiện để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thƣơng mại điện tử. Trong quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật phải có nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của nguyên tắc này để khuyến khích các cá nhân tổ chức không ng ng sáng tạo các giá trị mới cho xã hội. Thứ sáu, bảo vệ người tiêu dùng khi tham gia giao dịch thương mại điện tử theo chuẩn mực quốc tế như trong giao dịch thương mại truyền thống Không có ngƣời tiêu dùng trong thƣơng mại điện tử thì thƣơng mại điện tử không tồn tại, việc bảo vệ ngƣời tiêu dùng không chỉ đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp cho họ, quan trọng hơn là bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tạo niềm tin của ngƣời tiêu dùng đối với hệ thống pháp luật cũng nhƣ đối với vai trò của thƣơng mại điện tử. Hiện nay, quan hệ pháp luật thƣơng mại điện tử đƣợc điều chỉnh bởi rất nhiều ngành luật, văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Do tính chất nhƣ vậy nên các nguyên tắc bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng đƣợc quy định trong rất nhiều ngành luật, nhƣng các quy phạm nội dung điều chỉnh quan hệ thƣơng mại điện tử nhằm bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng lại đƣợc quy định chủ yếu trong Luật Bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng. Chế tài để xử lý các vi phạm pháp luật xâm hại đến lợi ích ngƣời tiêu dùng gồm chế tài hành chính, hình sự cũng chƣa đƣợc quy định rõ ràng, dẫn đến chƣa xử lý tốt các hành vi vi phạm và chƣa bảo vệ đƣợc quyền lợi ngƣời tiêu dùng. Nhƣ đã phân tích, vai trò của thƣơng mại điện tử rất quan trọng đối với xã hội, với ngƣời tiêu dùng, do vậy, bảo vệ ngƣời tiêu dùng tức là loại bỏ các rủi ro, khắc phục những nhƣợc điểm và tạo sự thuận lợi để ngƣời tiêu dùng tích cực tham gia vào hình thức thƣơng mại mới với nhiều ƣu điểm, thông qua đó thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển và nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân. Pháp luật phải quy định đầy đủ cũng nhƣ đảm bảo tính khả thi của nguyên tắc này bắt đầu t khi xây dựng, tuyên truyền phổ biến, ban hành và thực thi trên thực tế một cách hiệu quả. Do các đặc điểm khác với thƣơng mại 129 truyền thống, thƣơng mại điện tử hoạt động trên nền tảng của các thiết bị điện tử, công nghệ điện tử nên khi xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật điều chỉnh các quan hệ thƣơng mại điện tử phải xây dựng các quy phạm pháp luật chứa đựng các yêu cầu kỹ thuật cao, có cơ chế phát hiện, xử lý vi phạm bằng các hình thức điện tử tƣơng ứng giúp cho ngƣời tiêu dùng nhanh chóng thông báo tới các cơ quan quản lý nhà nƣớc để các cơ quan này kịp thời xử lý vi phạm nhằm bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng. Nhƣ vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các cá nhân, tổ chức, thƣơng nhân khi họ tham gia hoạt động thƣơng mại điện tử, cần bổ sung thêm quy định đối với các chủ thể là chủ sở hữu các website bán hàng, cung cấp dịch vụ phải tham mua bảo hiểm để tránh những rủi ro cho khách hàng (Ngƣời tiêu dùng trong thƣơng mại điện tử). Thứ bảy, xây dựng, ban hành Luật Thương mại điện tử Cần nghiên cứu để xây dựng, ban hành Luật Thƣơng mại điện tử trên cơ sở tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm pháp luật trong các ngành luật cùng điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi thƣơng mại bằng phƣơng tiện điện tử. Tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thƣơng mại điện tử để phân công cụ thể các cơ quan có thẩm quyền cũng nhƣ trách nhiệm của t ng chủ thể quản lý nhà nƣớc trong quá trình thực hiện cơ chế phối hợp để thục thi pháp luật. Việc xây dựng, ban hành, triển khai Luật Thƣơng mại điện tử để thay thế Nghị định về thƣơng mại điện tử sẽ đảm bảo tính tập trung, thống nhất, đồng bộ, minh bạch, hiệu quả, kinh tế và khả thi cao hơn, tránh tình trạng chồng chéo, không rõ ràng, khó thực hiện đối với đối tƣợng điều chỉnh cũng nhƣ không quy kết đƣợc trách nhiệm cho t ng chủ thể quản lý nhà nƣớc trong quá trình thực thi pháp luật, t đó đảm bảo tính khả thi của pháp luật thƣơng mại điện tử. Việc xây dựng, ban hành Luật Thƣơng mại điện tử sẽ giúp cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thƣơng mại điện tử sẽ tập trung, dễ hiểu, tạo điều kiện thuận lợi cho ngƣời dân có thêm 130 nhiều hiểu biết pháp luật khi tham gia các hoạt động thƣơng mại điện tử, qua đó tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình cũng nhƣ có những hành xử phù hợp pháp luật. Khi tạo đƣợc sự đồng thuận, trang bị đầy đủ các kiến thức pháp luật thƣơng mại điện tử cho ngƣời dân, các tổ chức thì điều này sẽ thúc đẩy thƣơng mại điện tử phát triển mạnh mẽ hơn. Việc xây dựng, ban hành Luật Thƣơng mại điện tử với tƣ cách là luật chuyên ngành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh khi các cá nhân, tổ chức tham gia các hoạt động thƣơng mại có sử dụng một phần hay toàn bộ bằng phƣơng tiện điện tử. Luật Thƣơng mại điện tử không thay thế Luật Giao dịch điện tử. 4.2.2. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật thƣơng mại điện tử Thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật TMĐT nói riêng, yếu tố con ngƣời vẫn là yếu tố then chốt bởi vì dù là chủ thể áp dụng(thi hành) pháp luật hay tuân thủ, sử dụng pháp luật đều là con ngƣời và thông qua con ngƣời cụ thể. Do vậy khi hoàn thiện cơ chế thực hiện pháp luật thƣơng mại điện tử thì phải làm tốt những vấn đề sau đây: Thứ nhất, tăng cường năng lực và hiệu quả công tác của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử Hiện nay, Cục Thƣơng mại điện tử và Công nghệ thông tin là các đơn vị trực thuộc Bộ Công thƣơng, thực hiện chức năng tham mƣu, giúp Bộ trƣởng quản lý nhà nƣớc và tổ chức thực thi pháp luật trong lĩnh vực hoạt động thƣơng mại điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin v.v... Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại điện tử quốc gia và công nghệ thông tin ngành Công Thƣơng, Cục Thƣơng mại điện tử và Công nghệ thông tin cần tăng cƣờng hơn nữa nhiệm vụ hoàn thiện hạ tầng cho thƣơng mại điện tử; phổ biến pháp luật về thƣơng mại điện tử nhằm nâng cao nhận thức xã hội; phối hợp với các đơn vị liên quan giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong thƣơng mại điện tử; là đầu mối kết nối với các địa 131 phƣơng, hiệp hội, ngành hàng và doanh nghiệp nhằm phát triển thƣơng mại điện tử; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về thƣơng mại điện tử; Cục Thƣơng mại điện tử và Công nghệ thông tin phải giữ trọng trách đảm bảo hệ thống hạ tầng thƣơng mại điện tử vững chắc; tạo bƣớc tiến phát triển nguồn nhân lực về lĩnh vực thƣơng mại điện tửvà công nghệ thông tin cho ngành Công Thƣơng nói riêng và của cả nƣớc nói chung. Bên cạnh đó, cần chú trọng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại điện tử. Hiện nay, số lƣợng website bán hàng phát triển rất nhanh nhƣng số có đăng ký rất ít, ngoài ra trên các mạng mở khác nhƣ facebook hay Yahoo cũng đƣợc các cá nhân, tổ chức sử dụng để thực hiện các hành vi thƣơng mại điện tử nhƣ quảng cáo, mua bán hàng hóa dịch vụ hoặc thanh toán điện tử, các mạng mở này thƣờng có các quan hệ thƣơng mại điện tử theo mô hình C2C (ngƣời tiêu dùng với ngƣời tiêu dùng) nên nằm ngoài tầm kiểm soát của cơ quan chức năng. Để hạn chế các tranh chấp trong lĩnh vực này thì công tác quản lý, hiệu lực và hiệu quả của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền có vai trò đặc biệt quan trọng, làm tốt công tác quản lý nhà nƣớc, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực này sẽ triệt tiêu tận gốc những tranh chấp trong thƣơng mại điện tử bởi khi thực hiện việc đăng ký và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng thì các doanh nghiệp hay thƣơng nhân có đăng ký kinh doanh sẽ thực hiện tốt hơn các nghĩa vụ của mình đối với ngƣời tiêu dùng trong thƣơng mại điện tử [100]. Các cơ quan quản lý nhà nƣớc liên quan phải nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong giao dịch điện tử; phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng giao dịch điện tử để l a đảo, xâm phạm quyền lợi của ngƣời tiêu dùng. Việc giám sát hoạt động thƣơng mại điện tử đƣợc tiến hành trực tuyến trên môi trƣờng mạng bằng phƣơng tiện điện tử, thiết bị số với bảy nội dung chính là: (i) Giám sát việc chấp hành pháp luật về thƣơng mại điện tử của tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động thƣơng mại điện tử; (ii) Giám sát tình hình hoạt 132 động thƣơng mại điện tử trên môi trƣờng mạng; (iii) Giám sát hoạt động của Website thƣơng mại điện tử; hoạt động của phần mềm, ứng dụng thƣơng mại điện tử cài đặt trên phƣơng diện điện tử, thiết bị số; (iv) Giám sát hoạt động kinh doanh phần mềm, ứng dụng, thông tin số, nội dung số, xuất bản phẩm điện tử trên môi trƣờng mạng;(v) Giám sát hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ trong thƣơng mại điện tử; (vi) Giám sát hoạt động đánh giá tín nhiệm website thƣơng mại điện tử, hoạt động đánh giá và chứng nhận chính sách bảo vệ thông tin cá nhân, hoạt động chứng thực hợp đồng điện tử; (vii) Giám sát an toàn thông tin trong hoạt động thƣơng mại điện tử. Ngoài ra, cần nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động cho các tổ chức xã hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong việc hỗ trợ thông tin, hƣớng dẫn và cảnh báo ngƣời tiêu dùng về những nguy cơ bị xâm hại quyền lợi khi giao dịch điện tử, nâng cao nhận thức cũng nhƣ trách nhiệm cho ngƣời tiêu dùng trong việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi của họ khi tham gia giao dịch điện tử v.v... Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ của đội ngũ công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước Để tăng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc thì điều kiện đầu tiên và tiên quyết là yếu tố con ngƣời, vì mọi quyết định cá biệt hay chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách hay triển khai áp dụng pháp luật đều bắt đầu t các cán bộ, công chức trong các cơ quan này. Để quản lý một hoạt động mới hình thành trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông và các thiết bị điện tử vào hoạt động thƣơng mại với nhiều tính chất phức tạp về mặt cơ cấu cũng nhƣ thiết chế quản lý đòi hỏi phải có đội ngũ nhân lực quản lý có trình độ tƣơng ứng. Thƣơng mại điện tử càng thuận lợi, dễ dàng, nhanh chóng với các chủ thể tham gia hoạt động thì sẽ càng phức tạp trong cấu trúc nền tảng phục vụ cho hoạt động này. Để đáp ứng đƣợc nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động thƣơng mại điện tử trong tình hình mới, khi mà các nhu cầu xã hội phát triển nhanh chóng cần đào tạo đội ngũ cán bộ có chuyên môn sâu về công nghệ thông tin viễn thông cũng nhƣ các kiến thức pháp luật cần thiết, 133 đặc biệt là pháp luật có liên quan đến thƣơng mại điện tử nhằm đáp ứng đƣợc công tác quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại điện tử ở trung ƣơng và địa phƣơng. Việc đào tạo, bồi dƣỡng chuyên môn cần đƣợc quy định chặt chẽ, đồng thời thực hiện việc thanh tra, kiểm tra, sát hạch trình độ cần đảm bảo tính đúng đắn, nghiêm minh mới tránh đƣợc bệnh hình thức hoặc các tiêu cực trong vấn đề đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ dẫn đến tình trạng quản lý không hiệu quả. Thứ ba, triển khai hoạt động thống kê về thương mại điện tử và các hoạt động hỗ trợ thương mại điện tử Cần có các quy định chặt chẽ về công tác thống kê trong hoạt động thƣơng mại điện tử là trách nhiệm của mọi chủ thể tham gia hoạt động này để tiến tới hình thành các cơ sở dữ liệu quốc gia dùng chung cho các lĩnh vực hải quan, thuế, quản lý doanh nghiệp, quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, tài chính tín dụng, thống kê. Làm tốt công tác này sẽ xây dựng đƣợc các chỉ số định lƣợng phục vụ cho việc hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật thƣơng mại điện tử. Thứ tư, xây dựng chính sách, chương trình hỗ trợ cho cộng đồng Phải có những chính sách phù hợp cũng nhƣ bố trí nguồn lực tài chính hợp lý để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, cá nhân hiện diện trên môi trƣờng internet, xây dựng thƣơng hiệu trực tuyến, triển khai hoạt động tiếp thị điện tử, mở rộng mô hình thanh toán điện tử trung gian, áp dụng chữ ký số trong các hoạt động thƣơng mại nhằm giúp doanh nghiệp thay đổi phƣơng thức sản xuất, kinh doanh, ứng dụng cách thức quản lý và điều hành tiên tiến. Thứ n m, tăng cường hợp tác quốc tế về thương mại điện tử và các lĩnh vực liên quan Chính sách phát triển công nghệ thông tin – viễn thông của Việt Nam đã đƣợc triển khai thực hiện t rất sớm, tuy nhiên nếu so sánh với các nƣớc phát triển thì chúng ta còn đi sau một quãng đƣờng rất dài. T lẽ đó, đƣơng nhiên các hoạt động thƣơng mại điện tử cũng vì thế mà phát triển muộn do 134 vậy cần có những chƣơng trình hợp tác với các tổ chức kinh tế thƣơng mại quốc tế và khu vực, các tổ chức thƣơng mại của Liên Hợp Quốc, các đối tác trong các Hiệp định FTA song phƣơng và đa phƣơng mà Việt Nam đã ký kết. Nhà nƣớc cần có cơ chế khuyến khích các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp hợp tác với các đối tác nƣớc ngoài tạo môi trƣờng phát triển thƣơng mại điện tử quốc tế, tăng cƣờng hoạt động kinh doanh trực tuyến qua biên giới và chuyển giao công nghệ. Tăng cƣờng trao đổi, học tập kinh nghiệm t các quốc gia tiên tiến về thƣơng mại điện tử, đặc biệt là Hoa Kỳ và các nƣớc tham gia TPP, liên kết hợp tác trong các chƣơng trình đào tạo nguồn nhân lực cho cơ quan quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại điện tử, tăng cƣờng hợp tác quốc tế về thƣơng mại điện tử. Thứ sáu, nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật của các chủ thể trong giao dịch điện tử. Thực tiễn cho thấy, một trong những khó khăn, bất cập ảnh hƣởng đến việc phát triển thƣơng mại bền vững, an toàn và hiệu quả ở nƣớc ta thời gian qua là nhận thức của các chủ thể tham gia thƣơng mại điện tử và ý thức pháp luật về vấn đề này còn hạn chế. Bởi vậy, để khắc phục tình trạng trên, các doanh nghiệp kinh doanh thƣơng mại điện tử ngoài việc thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật, cần phải tập trung đầu tƣ nhiều hơn nữa cho việc phát triển hoạt động thƣơng mại điện tử; xây dựng đƣợc lòng tin đối với ngƣời tiêu dùng, thƣờng xuyên đổi mới và nâng cao chất lƣợng dịch vụ cũng nhƣ sản phẩm để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng; đặc biệt, cần cam kết bảo mật thông tin, tôn trọng sự riêng tƣ, giao hàng đúng nơi, đúng hạn, trả lời và giải quyết các khiếu nại của ngƣời tiêu dùng một cách kịp thời, thỏa đáng v.v... Việc nâng cao nhận thức và ý thức của các cá nhân tổ chức tham gia vào hoạt động thƣơng mại điện tử phải đƣợc tuyên truyền, phổ biến giáo dục thƣờng xuyên, liên tục, với nhiều hình thức đa dạng và dễ hiểu thì mới đạt đƣợc hiệu quả. Pháp luật phải có các quy định cụ thể về nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan liên quan cũng nhƣ Uỷ 135 ban nhân dân các cấp để cung cấp những kiến thức, những kỹ năng cần thiết cho các chủ thể tham gia hoạt động thƣơng mại điện tử để họ có thể chủ động chấp hành, tuân thủ pháp luật một cách tự giác, thƣờng trực cũng nhƣ có thể tự bảo vệ mình khi tham gia hoạt động thƣơng mại điện tử. Khi việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật đúng phƣơng pháp, các cá nhân tổ chức còn có những phản hồi kịp thời để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp và quan trọng hơn là các chủ thể này còn có ý thức tự bảo vệ nhau bằng những cảnh báo cho mọi ngƣời kịp thời để tránh các rủi ro. Phải có nguồn kinh phí phù hợp và chính sách đào tạo kỹ năng cho chính những ngƣời làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong các cơ quan có chức năng đảm trách nhiệm vụ này bằng các quy định pháp luật. 4.2.3. Nâng cao năng lực cơ chế giải quyết tranh chấp và sửa đổi, bổ sung chế tài xử l vi phạm trong thƣơng mại điện tử i) Xây dựng cơ chế phát hiện vi phạm trong lĩnh vực thƣơng mại điện tử Xử lý các vi phạm trong lĩnh vực thƣơng mại điện tử có vai trò quan trọng, ngoài việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia, nó còn làm lành mạnh hóa hoạt động này trên cơ sở răn đe và phòng ng a, nâng cao ý thức của các chủ thể. Để xử lý đƣợc các vi phạm thì cơ chế phát hiện là vấn đề quan trọng trong hoạt động thƣơng mại điện tử, trên thực tế, việc phát hiện các vi phạm bằng thanh tra chuyên ngành còn rất hạn chế, chủ yếu tiếp nhận thông tin vi phạm t những ngƣời tham gia mua hàng hóa dịch vụ hoặc báo chí, do vậy cơ chế phát hiện chƣa đáp ứng đƣợc các yêu cầu về xử lý vi phạm. Do có sự tham gia của các phƣơng tiện điện tử nên cần thiết phải xây dựng cơ chế phát hiện vi phạm bằng biện pháp kỹ thuật đƣợc xây dựng và quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật để các chủ thể tham gia hoạt động TMĐT có thể thêm đƣợc các biện pháp bảo vệ mặc định, không những 136 thế, cá nhân tổ chức là bên mua hàng hóa dịch vụ có thêm các kênh thông tin nhằm phản ánh các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực TMĐT. Để các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động TMĐT chủ động, tích cực cung cấp thông tin về các vi phạm liên quan đến lĩnh vực cho các cơ quan có thẩm quyền xử lý cần phải có cơ chế hữu hiệu bằng nhiều biện pháp khác ngoài việc quy định về nghĩa vụ của họ trong các quy đinh pháp luật, các biện pháp đó có thể gồm: Tuyên truyền phổ biến pháp luật, khen thƣởng, các hộp thƣ trao đổi thông tin vi phạm qua cổng thông tin của các cơ quan chức năng có thẩm quyền, đƣờng dây nóng v.v... Nếu xây dựng đƣợc cơ chế phát hiện vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thƣơng mại điện tử phù hợp, hiệu quả thì mới có thể thực hiện bƣớc tiếp theo là xử lý vi phạm, qua đó đảm bảo quyền lợi ngƣời tiêu dùng cũng nhƣ củng cố niềm tin cho các cá nhân, tổ chức đã và sẽ tham gia các hoạt động thƣơng mại điện tử. ii) Sửa đổi, bổ sung chế tài xử l đối với các hành vi vi phạm pháp luật về thƣơng mại điện tử Để đảm bảo tính răn đe và phòng ng a các vi phạm pháp luật trong hoạt động thƣơng mại điện tử, các cơ quan quản lý nhà nƣớc phải xây dựng, ban hành hay hoàn thiện pháp luật liên quan để bảo đảm rằng, các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này bị phát hiện nhanh chóng. Do các vi phạm xảy ra trong lĩnh vực có các thiết bị, phƣơng tiện điện tử nên cần có các quy định về hàng rào kỹ thuật, biện pháp kỹ thuật để phát hiện cho tƣơng thích với công cụ, phƣơng tiện, cách thức vi phạm mà những cá nhân tổ chức đã thực hiện. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này cần đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, nhanh chóng, kịp thời, xây dựng lực lƣợng thanh tra chuyên ngành t trung ƣơng tới địa phƣơng để đảm bảo tính chuyên nghiệp với đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra có chuyên môn sâu, đúng chuyên ngành và có đủ kiến thức cần thiết khi thực hiện công vụ vì lực lƣợng thanh tra phải am hiểu về công nghệ thông tin nhằm truy xuất dữ liệu, tìm 137 kiếm dữ liệu, vận hành các thiết bị điện tử phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra. Phải bổ sung thanh tra chuyên ngành về thƣơng mại điện tử ở cấp tỉnh để kịp thời phát hiện các vi phạm trong lĩnh vực này. Tăng cƣờng thẩm quyền cũng nhƣ mở rộng đối tƣợng thanh tra kiểm tra của cơ quan thanh tra và xây dựng cơ chế thanh tra, để kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật trong hoạt động thƣơng mại điện tử. Do mức độ ảnh hƣởng tới xã hội rất lớn nên cần sửa đổi theo hƣớng tăng nặng mức xử phạt hành chính trong lĩnh vực thƣơng mại điện tử để ngăn ng a các vi phạm pháp luật, bảo vệ tốt quyền lợi ngƣời tiêu dùng cũng nhƣ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động thƣơng mại điện tử. Để có căn cứ xử lý vi phạm trong lĩnh vực thƣơng mại điện tử, việc cần thiết là bổ sung thêm hành vi vi phạm theo khoản 1 điều 78 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thƣơng mại điện tử, theo đó: - Tại khoản 1, điều này cần bổ sung thêm hành vi vi phạm các nguyên tắc cơ bản của hoạt động thƣơng mại điện tử. - Bổ sung thêm hành vi; Các chủ thể có chức năng quản lý nhà nƣớc không áp dụng các nguyên tắc khi giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thƣơng mại điện tử, không sử dụng các nguyên tắc của hoạt động thƣơng mại điện tử làm căn cứ khi ban hành các quyết định hành chính cá biệt xử lý vi phạm hành chính. Để đảm bảo tính răn đe và phòng ng a vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thƣơng mại điện tử, việc quy định phạt tiền là phù hợp, tuy nhiên mức phạt cao nhất hiện nay theo Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 đối với các hành vi vi phạm trong TMĐT là 50.000.000 đồng, quá thấp so với giá trị hàng hóa dịch vụ bán ra vì các giao dịch TMĐT có mức doanh thu và lợi nhuận rất lớn. Việc áp dụng hình phạt bổ sung ngoài thu hồi tên miền .vn của các Website thƣơng mại điện tử sẽ đƣợc mở rộng sang các tên miền khác đang hoạt động bằng biện pháp kỹ thuật. Đối với biện pháp thu hồi số tiền thu lợi bất hợp pháp phải đƣợc giao cho cơ quan có thẩm quyền ra các quyết định 138 để cƣỡng chế và quy định ngay trong các văn bản pháp luật, tránh trƣờng hợp chỉ quy định cho có mà không đƣợc bảo đảm thi hành trên thực tế. Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo các nguyên tắc đƣợc thực hiện, các điều cấm không bị xâm phạm cần có các chế tài phù hợp để xử lý các vi phạm pháp luật phát sinh, ngoài các biện pháp chế tài hành chính thì cũng cần sửa đổi, bổ sung các tội danh mới trong Bộ luật Hình sự để đảm bảo tính răn đe, phòng chống tội phạm liên quan đến các hoạt động thƣơng mại điện tử. Hiện nay, Bộ luật Hình sự 2015 (Hiện bị hoãn thi hành) đã dành một mục tại chƣơng XXI t điều 285 đến điều 294 quy định các tội về công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Tuy nhiên, do có nhiều tranh cãi nên trong Dự thảo Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ điều 292 vì có sự trùng lặp với các tội danh khác, chỉ khác nhau là hành vi phạm tội xảy ra ở hai môi trƣờng khác nhau đó là mạng ảo và đời sống thực mà thôi.Nhƣ vậy, với 9 điều luật đã đƣợc quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 có thể đáp ứng đƣợc yêucầu của thực tiễn để bảo vệ các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thƣơng mại điện tửđang phát triển hiện nay ở nƣớc ta. Để đảm bảo tính đúng đắn, đúng pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nƣớc, cần xây dựng các chế tài nghiêm khắc đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà nƣớc về TMĐT không hoàn thành nhiệm vụ, thiếu trách nhiệm hay cố ý làm trái, lạm quyền trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động thƣơng mại điện tử để phát huy trách nhiệm cá nhân của cán bộ, công chức trong lĩnh vực này. Cần xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nƣớc mà trong đó quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng nhƣ trách nhiệm của các cơ quan này làm căn cứ để giải quyết các vấn đề về bồi thƣờng nhà nƣớc nếu để xảy ra thiệt hại đối với các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thƣơng mại điện tử, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm làm mất niềm tin của ngƣời dân vào các cơ quan nhà nƣớc và pháp luật. 139 Song song với các chế tài để xử lý vi phạm, cần có chế độ khen thƣởng kịp thời, thỏa đáng và hợp lý đối với các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội, cá nhân trong hoạt động thƣơng mại điện tử để khuyến khích, tạo động lực cống hiến, sáng tạo, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nƣớc cũng nhƣ các đóng góp cho thƣơng mại điện tử. iii) Nâng cao năng lực cơ chế giải quyết tranh chấp trong thƣơng mại điện tử Pháp luật cần quy định phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp đơn giản, trực tiếp giữa ngƣời tiêu dùng và ngƣời bán hàng qua mạng internet, chủ các website bán hàng bằng các công cụ trực tuyến để giải quyết các tranh chấp phát sinh nhƣ: Quảng cáo, mua bán hàng hóa, dịch vụ, thanh toán điện tử, cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ tin học, viễn thông bằng các quy định chặt chẽ có nội dung quy phạm dựa trên các biện pháp kỹ thuật để các bên có tranh chấp giải quyết nhanh gọn, kịp thời nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, không gây khiếu kiện kéo dài cũng nhƣ mất an ninh trật tự an toàn xã hội. Bởi vậy, cần có những giải pháp để nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp trong thƣơng mại điện tử nhƣ bổ sung các quy phạm pháp luật quy định giá trị pháp lý của chứng cứ là các thông điệp giữ liệu, chứng t điện tử. Pháp luật tố tụng dân sự cũng cần bổ sung thêm chế định về thu thập, lƣu giữ, sử dụng các chứng cứ điện tử để phục vụ cho công tác xét xử các vụ án dân sự liên quan đến hoạt động thƣơng mại điện tử. Bên cạnh đó, cần có các biện pháp để bảo đảm thi hành đối với các quyết định hành chính, bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án nhƣ thẩm quyền, biện pháp phong tỏa tài sản, kê biên, khóa tài khoản hay các biện pháp khác để đảm bảo rằng công lý phải đƣợc thực thi, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động thƣơng mại không bị xâm hại. Cần xây dựng cơ chế, trình tự thủ tục đơn giản để giải quyết các tranh chấp bằng trọng tài trong hoạt động thƣơng mại điện tử. Do các chủ thể thực hiện hoạt động thƣơng mại điện tử bằng phƣơng tiện điện tử trực tuyến, nên 140 cần quy định các cách thức, biện pháp giải quyết tranh chấp tƣơng ứng và đa dạng để các chủ thể có thể lựa chọn, cụ thể: Một là, xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua các công cụ trực tuyến trong thương mại điện tử.Để đảm bảo quyền lợi chính đáng của ngƣời tiêu dùng thì hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp là giải pháp tiết kiệm và hiệu quả nhất. Theo đó, cần bổ sung các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật thƣơng mại điện tử về cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến bằng các biện pháp kỹ thuật nhƣ: Các website bán hàng hay trên sàn giao dịch điện tử phải công bố đầy đủ các bƣớc và trình tự giải quyết để ngƣời tiêu dùng biết các quyền và nghĩa vụ của mình; đảm bảo rằng các website phải đƣợc thiết kế theo những giao diện tiêu chuẩn và thể hiện đầy đủ nội dung hợp đồng với các điều khoản cụ thể về đối tƣợng, giá cả, phƣơng thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên cũng nhƣ phƣơng thức giải quyết tranh chấp. Thực tiễn cho thấy, chỉ có các biện pháp kỹ thuật mới hạn chế các rủi ro phát sinh t các hành vi sử dụng phƣơng tiện kỹ thuật. Việc giải quyết tranh chấp trực tuyến sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí, không gây phiền hà cho ngƣời tiêu dùng, đồng thời sẽ làm giảm chi phí xã hội, tạo tâm lý thoải mái, yên tâm và tin tƣởng vào các hoạt động thƣơng mại điện tử của ngƣời tiêu dùng trong thƣơng mại điện tử. Hai là, quy định cơ chế đại diện thông qua Hội Bảo vệ người tiêu dùng.Do tính chất của hợp đồng theo mẫu (hợp đồng gia nhập) có tính chất giống nhau, các hàng hóa, dịch vụ là sản phẩm sản xuất hàng loạt, hàng hóa dịch vụ đơn lẻ, đặc định rất ít khi đƣợc giao dịch trong thƣơng mại điện tử, nên các tranh chấp gần nhƣ giống nhau về bản chất. T đặc điểm này, nên chăng cần có cơ chế đại diện thông qua cơ quan bảo vệ ngƣời tiêu dùng ở các địa phƣơng trên cơ sở ủy quyền của ngƣời tiêu dùng để cơ quan này đứng ra làm đại diện khởi kiện, tham gia tố tụng tại Tòa án có thẩm quyền hay đại diện để giải quyết tranh chấp tại Trọng tài thƣơng mại để bảo vệ cho nhóm ngƣời tiêu dùng bị xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp. Nếu áp dụng cơ chế 141 đại diện này thì sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí cho ngƣời tiêu dùng và đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, qua đó giảm chi phí xã hội đáng kể. Ba là, xem xét quy định về thẩm quyền, thủ tục r t gọn để giải quyết tranh chấp.Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết thƣờng là nơi cƣ trú của bị đơn, trong thƣơng mại điện tử, nếu ngƣời bán hàng là doanh nghiệp vi phạm hợp đồng thì nơi thụ lý giải quyết sẽ là nơi cƣ trú của bị đơn. Cũng theo quy định của pháp luật tố tụng thì Tòa án nơi thực hiện hợp đồng cũng có thẩm quyền thụ lý giải quyết, tuy nhiên trƣờng hợp này ít đƣợc áp dụng giải quyết. Để đảm bảo việc giải quyết tranh chấp trong thƣơng mại điện tử đƣợc nhanh chóng, thuận lợi cần có những hƣớng dẫn cụ thể về thẩm quyền giải quyết vụ án cũng nhƣ các thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự cả về thời gian cũng nhƣ cung cấp chứng cứ, có nhƣ vậy mới đảm bảo đƣợc các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động này. Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp trong thƣơng mại điện tử sẽ giúp đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia vào hoạt động thƣơng mại điện tử, củng cố niềm tin của các cá nhân tổ chức, khuyến khích họ tham gia vào loại hình thƣơng mại này. Bên cạnh đó, cần chú trọng xây dựng bộ máy phù hợp để giải quyết kịp thời những tranh chấp và vấn đề phát sinh trong thƣơng mại điện tử, nâng cao năng lực của bộ máy thực thi pháp luật để xử lý kịp thời các tranh chấp trong thƣơng mại điện tử. KẾT LUẬN CHƢƠNG 4 Xét cho cùng, mục đích của việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về pháp luật thƣơng mại điện tử, nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật thƣơng mại điện tử cũng chính là nhằm đƣa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật thƣơng mại điện tử nhằm thúc đẩy sự phát triển của thƣơng mại điện tử, đáp ứng nhu cầu của xã hội cũng nhƣ nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế quốc tế. Bởi vậy, nhiệm vụ nghiên cứu và đƣa ra quan điểm và định hƣớng hoàn thiện pháp luật để t đó có 142 những giải pháp hoàn thiện hành lang pháp lý rõ ràng, đầy đủ, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào các hoạt động thƣơng mại điện tử có ý nghĩa quan trọng và quyết định. Kinh nghiệm cho thấy, những rủi ro có thể gặp phải trong quá trình giao lƣu thƣơng mại trên các phƣơng tiện điện tử không chỉ đƣợc khắc phục bằng công nghệ, giải pháp kỹ thuật, mà đòi hỏi cần phải có một khung pháp lý đầy đủ. Để thúc đẩy thƣơng mại điện tử phát triển, Nhà nƣớc phải giữ vai trò tiên phong trên cả hai lĩnh vực: Tạo các điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cá nhân cung ứng dịch vụ điện tử và xây dựng hệ thống văn bản đầy đủ, thống nhất và cụ thể để điều chỉnh quan hệ thƣơng mại điện tử. Nếu thiếu các quy phạm pháp luật, các doanh nghiệp, ngƣời tiêu dùng phải gánh chịu nhiều rủi ro và thiếu sự an toàn trong giao dịch, làm cho những ƣu thế rõ nét về thời gian, chi phí của thƣơng mại điện tử không đƣợc khẳng định. Thƣơng mại điện tử là phƣơng thức mới trong hoạt động thƣơng mại toàn cầu, áp dụng thƣơng mại điện tử đã và đang là sự lựa chọn tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, thƣơng mại điện tử đang đặt ra nhiều thách thức trên các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp lý, bảo đảm sự tin cậy cần thiết cho quá trình hội nhập và phát triển ở nƣớc ta. 143 KẾT LUẬN Sau khi thực hiện nghiên cứu đề tài“Pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay”, cho phép rút ra một số kết luận chủ yếu sau đây: 1. Theo Tổ chức Thƣơng mại thế giới, thƣơng mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm đƣợc thực hiện bằng phƣơng tiện điện tử có kết nối internet, mạng viễn thông và các mạng mở khác, nhƣng đƣợc giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng nhƣ những thông tin số hoá thông qua mạng Internet. Thƣơng mại điện tử đang là mô hình kinh doanh có mức tăng trƣởng nhanh và ngày càng phổ biến, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế hiện đại nhờ phát huy khả năng tiện lợi, cắt giảm chi phí và tiết kiệm thời gian cho ngƣời tiêu dùng. Việc áp dụng thƣơng mại điện tử trong hoạt động kinh doanh hiện là một xu thế tất yếu trên thế giới và ở Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hƣớng phát triển chung đó. Kinh doanh trực tuyến giờ đây không còn xa lạ với ngƣời tiêu dùng Việt Nam. Cùng với tốc độ phát triển internet, việc ứng dụng internet để mở rộng sản xuất, kinh doanh đang đƣợc nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm. Pháp luật thƣơng mại điện tử đƣợc ra đời do sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và mạng Internet trên thế giới và ở Việt Nam, đồng thời, pháp luật của nhiều quốc gia về thƣơng mại điện tử đều có sự tiếp thu t pháp luật thƣơng mại điện tử thế giới và có sự vận dụng để điều chỉnh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh phát triển ở t ng quốc gia. Đối tƣợng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật thƣơng mại điện tử là các quan hệ thƣơng mại trên các phƣơng tiện điện tử, các vấn đề liên quan mà pháp luật thƣơng mại truyền thống không đề cập, bởi vậy, cơ chế điều chỉnh và nội dung pháp luật về thƣơng mại điện tử có những đặc trƣng riêng. Điều này thể hiện pháp luật phải bảo đảm tính an toàn, hợp pháp và minh bạch trong hoạt động thƣơng mại điện tử; th a nhận các thông điệp nội dung giao dịch thƣơng 144 mại qua các phƣơng tiện điện tử; th a nhận chữ ký điện tử nhằm bảo đảm tính xác thực, toàn vẹn, bảo mật của thông tin đƣợc trao đổi; quy định cụ thể các vấn đề có liên quan đến việc giao kết hợp đồng thƣơng mại điện tử; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong thƣơng mại điện tử; quy định cơ chế giải quyết tranh chấp và việc xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động thƣơng mại điện tử v.v... 2. Pháp luật Việt Nam trong những năm qua đã ghi nhận các hoạt động kinh doanh, thƣơng mại trên các phƣơng tiện điện tử, quy định kinh doanh dịch vụ thƣơng mại điện tử là một ngành, nghề kinh doanh; th a nhận giá trị pháp lý của chứng t điện tử; các quy định về thuế nhƣ hƣớng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế, công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng về giao dịch điện tử trong hoạt động hải quan; quy định về vấn đề bảo vệ ngƣời tiêu dùng khi tham gia giao dịch thƣơng mại điện tử nhƣ trong giao dịch thƣơng mại truyền thống v.v... Có thể nói, các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động thƣơng mại điện tử mà Nhà nƣớc ta đã ban hành đang dần đáp ứng đƣợc yêu cầu bảo đảm về mặt pháp lý cho việc phát triển thƣơng mại điện tử. Tuy nhiên, để những quy định pháp luật có thể đƣợc triển khai hiệu quả cần có sự hợp tác của cả doanh nghiệp và ngƣời dân. Doanh nghiệp cần phải làm nhiều hơn mức chuẩn mực chung mà pháp luật quy định để xây dựng lòng tin của ngƣời tiêu dùng vào một mô hình kinh doanh hay một đơn vị kinh doanh cụ thể. Điều này đòi hỏi nỗ lực liên tục và lâu dài t phía doanh nghiệp nhằm xây dựng uy tín, thƣơng hiệu. Và bản thân ngƣời tiêu dùng cũng là một lực lƣợng đáng kể giúp xây dựng môi trƣờng giao dịch lành mạnh, thông qua việc theo dõi, giám sát và phản hồi nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 3. Xét cho cùng, mục đích của việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về pháp luật thƣơng mại điện tử, nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật thƣơng mại điện tử chính cũng chính là nhằm đƣa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật thƣơng mại điện tử nhằm thúc đẩy sự phát triển của thƣơng 145 mại điện tử, đáp ứng nhu cầu của xã hội cũng nhƣ nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế quốc tế. Bởi vậy, nhiệm vụ nghiên cứu và đƣa ra quan điểm và định hƣớng hoàn thiện pháp luật để t đó có những giải pháp hoàn thiện hành lang pháp lý rõ ràng, đầy đủ, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào các hoạt động thƣơng mại điện tử có ý nghĩa quan trọng và quyết định. Việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật về thƣơng mại điện tử ở nƣớc ta cần tiếp cận và hài hòa hóa với các quy định của pháp luật các nƣớc đồng thời cần tiếp cận với các chuẩn mực của quốc tế. Tuy nhiên, quá trình hoàn thiện pháp luật về thƣơngmại điện tử cũng cần phải tính đến những đặc điểm văn hóa, thói quen của ngƣời Việt Nam và trình độ phát triển khoa học, công nghệ của nƣớc ta. Ngoài ra, việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật về thƣơng mại điện tử đòi hỏi phải có sự chỉ đạo thống nhất, phối hợp chặt chẽ, có lộ trình hợp lý, có sự quyết liệt cần thiết và thiết lập đƣợc sự ƣu tiên cho hoạt động lập pháp và lập quy. 146 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Tiếng Việt 1. TS.Mai Anh – Thƣơng mại điện tử tƣơng lai của kinh doanh, thƣơng mại, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 7 năm 2005. 2. TS.Lê Ngọc Anh – Thẩm quyền quản lí hoạt động quảng cáo thƣơng mại theo pháp luật Anh, Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam. (Tạp chí Luật học số 3/2015). 3. TS.Trần Văn Biên - “Hợp đồng điện tử theo pháp luật Việt Nam”, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội năm 2012; 4. TS.Lại Kiên Cƣờng (2014) - “Phòng ng a tội phạm trong lĩnh vực thƣơng mại điện tử của lực lƣợng Cảnh sát nhân dân” Học viện Cảnh sát nhân dân - Bộ Công an. 5. TS.Bùi Ngọc Cƣờng (2002) Vai trò của pháp luật kinh tế trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh.( Tạp chí KHPL số 7/2002) 6. TS.Vũ Ngọc C (2001), Thƣơng mại điện tử, Nxb Giao thông vận tải 7. TS.Nguyễn Thị Dung (Chủ biên) (2009), Pháp luật về hợp đồng trong thƣơng mại và đầu tƣ - Những vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 8. TS.Nguyễn Trọng Đàn (1997), Hợp đồng Thƣơng mại quốc tế, Nxb Thống kê; 9. TS.Trần Thanh Điện “Tài liệu hƣớng dẫn học tập Thƣơng mại điện tử” Đại học Cần Thơ nghiên cứu và biên soạn năm 2013. 10. TS.Nguyễn Đăng Hậu - “Nghiên cứu cơ sở và phƣơng hƣớng phát triển thƣơng mại điện tử ở Việt Nam” - Luận án Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Kinh tế quốc dân năm 2003; 11. PGS-TS.Nguyễn Vũ Hoàng – Thỏa thuận thƣơng mại khu vực và những tác động tới thƣơng mại và đầu tƣ quốc tế. (Tạp chí Luật học số 5/2015). 147 12. TS.Phạm Thị Thanh Hồng “Những vấn đề chung về thƣơng mại điện tử, phân tích khả năng thiết lập kênh phân phối qua mạng của các doanh nghiệp v a và nhỏ và triển vọng của thƣơng mại điện tử ở Việt Nam” - Luận án Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Quốc Gia Yokohama Nhật Bản năm 2005. 13. TS.Vũ Thị Minh Hiền “Đổi mới tổ chức quản trị các doanh nghiệp có ứng dụng thƣơng mại điện tại Việt Nam” - Luận án Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Kinh tế quốc dân năm 2011 14. TS.Lê Linh Lƣơng “Nghiên cứu ứng dụng thƣơng mại điện tử trong các doanh nghiệp Việt Nam” - Luận án Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Bách Khoa Hà Nội năm 2003. 15. GS.TS Nguyễn Thị Mơ (2008), Bài giảng Chữ ký số, Hội thảo Thƣơng mại điện tử, Bộ Công thƣơng; 16. GS.TS Nguyễn Thị Mơ (2005), Cẩm nang pháp lý về hợp đồng điện tử, Nxb Lao động – Xã hội; 17. TS.Vũ Thị Hòa Nhƣ – Thẩm quyền quản lí hoạt động quảng cáo thƣơng mại theo pháp luật Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. (Tạp chí Luật học số 9/2015) 18. TS.Trần Hoài Nam “Phát triển ứng dụng mô hình thƣơng mại điện tử B2B ở Việt Nam” - Luận án Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Thƣơng Mại năm 2013. 19. TS.Trần Đình Sang “Những tác động của sự phát triển công nghệ thông tin đối với hiệu quả kiểm toán ở Việt Nam” - Luận án Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Sarasota, Florida, Hoa Kỳ năm 2010. 20. TS.Trần Thị Thu Phƣơng –Thỏa thuận lựa chọn Tòa án trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại quốc tế. (Tạp chí Luật học số 3/2015). 21. TS.Mai Hồng Quỳ - Một số vấn đề pháp lý của thƣơng mại điện tử và việc áp dụng ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật số 2 năm 2000. 148 22. TS.Trần Ngọc Thái – Giáo trình Thƣơng mại điện tử, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội năm 2005, tr.32. 23. TS.Nguyễn Đức Tài - “Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nƣớc đảm bảo an toàn trong thƣơng mại điện tử ở Việt Nam” - Luận án Tiến sĩ chuyên ngành thƣơng mại tại Viện Nghiên cứu Thƣơng mại – Bộ Công Thƣơng năm 2013; 24. PGS.TS Nguyễn Văn Thoan - “Ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế” Luận án Tiến sĩ kinh tế tại Đại học Ngoại Thƣơng năm 2010 25. PGS.TS Nguyễn Văn Thoan (2009), Bài giảng Thƣơng mại điện tử, Trƣờng đại học Ngoại thƣơng; 26. TS.Nguyễn Thanh Tùng – Bất cập trong việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, tạm ng ng thực hiện hợp đồng trong thƣơng mại – Một số kiến nghị. (Tạp chí Luật học số 7/2015). 27. TS.Nguyễn Thị Anh Thƣ - “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến ứng dụng thƣơng mại điện tử trong các doanh nghiệp v a và nhỏ tại Việt Nam” - Luận án Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh năm 2006. 28. TS.Đào Anh Tuấn “Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại điện tử “ Luận án Tiến sĩ tại Trƣờng Đại học kinh tế Quốc dân 2014 29. TS.Lê Danh Vĩnh (2007), Các vấn đề kỹ thuật, công nghệ, chủ yếu trong thƣơng mại điện tử: Lý thuyết và thực hành, Nxb Lao động; 30. TS.Lê Hà Vũ với “Xây dựng khung pháp lý nhằm phát triển thƣơng mại điện tử ở Việt Nam’ Luận văn Thạc sĩ – Trƣờng Đại học Luật Hà Nội 2006. 31. Ban Tƣ tƣởng – Văn hóa Trung ƣơng (2001), Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc, Nxb Chính trị quốc gia; 149 32. Báo cáo Điều tra về thƣơng mại điện tử năm 2006 của Vụ Thƣơng mại điện tử - Bộ Công thƣơng; 33. Báo cáo Thƣơng mại 34. điện tử Việt Nam năm 2007 - Bộ Công thƣơng; 35. Báo cáo Thƣơng mại điện tử Việt Nam năm 2008 - Bộ Công thƣơng; 36. Báo cáo Thƣơng mại điện tử Việt Nam 2012 - Bộ Công thƣơng; 37. Báo cáo Thƣơng mại điện tử Việt Nam năm 2013 - Bộ Công thƣơng 38. Báo cáo Thƣơng mại điện tử Việt Nam năm 2014 - Bộ Công thƣơng 39. Bài giảng về thƣơng mại điện tử của tác giả Trần Công Nghiệp – Trƣờng Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên 40. Chính phủ (2005), Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thƣơng mại điện tử giai đoạn 2006-2010; 41. Chính phủ (2006), Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06/2006 quy định chi tiết Luật Giao dịch điện tử về Thƣơng mại điện tử; 42. Luật Mẫu của Uỷ ban Luật Thƣơng mại Quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL) về thƣơng mại điện tử 43. Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nƣớc và pháp luật, Viện Nghiên cứu Nhà nƣớc và Pháp luật, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1995, tr. 220. 44. Phòng Thƣơng mại và công nghiệp Việt Nam (2012), Báo cáo nghiên cứu MEI 2012- Chỉ số hiệu quả hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật về kinh doanh của các Bộ năm 2012, Hà Nội 45. Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thƣơng mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010; 46. Tập các bài tham luận Hội thảo về thƣơng mại điện tử quốc tế và các chính sách cơ sở hạ tầng thông tin tổ chức vào tháng 11 năm 2002 tại Hà Nội. 47. Thông tƣ số 09/2008/TT-BCT ngày 21/7/2008 Bộ Công thƣơng (2008) về giao kết hợp đồng trên website thƣơng mại điện tử; 150 48. Viện khoa học pháp lý,Những khía cạnh pháp lý của thương mại điện tử ; Trần Hoài Nam,Một số vấn đề của thương mại điện tử; Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội,Giáo trình thương mại điện tử, năm 2005. 49. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia; II. Tiếng Anh 50. “Customer’s behaviour in Electronic Commerce in China” author Hong Xin Xung and Chen Yan (Savonla University Of Applied Sciences) . The UK's E-Commerce Regulations bao 08 51. E- Commerce and economic Development in Libia - Thesis Philosophy of Author Abdalla Hamed ( Wales University, USA) 4/ 2005. 52. Electronic Commerce - DR Mihaela-Roxanafercală- Romani- Babes- Bolyai University, 2011. 53. The Development of E-Commerce in Malaysia Ainin Sulaiman, Rohana Jani, Shamshul Bahri 54. Marc Bacchetta, Patrick Aaditya Mattoo, Ludger Schuknecht, Hannu Wager và Madelon Wehenr – Electronic commerce and the role of the WTO University Cambrigde Publisshing, tr.11. 55. e-Commerce & Operations Management https://www.ida.gov.sg/programmes-partnership/sectors/eCommerce- Operations-Management 56. New E-commerce Law in Oman - May 18, 2008 57. New E-commerce Law in Oman - May 18, 20 151 III. Tài liệu trên các Website 58. Ảnh hƣởng của hệ thống pháp luật đến các hoạt động thƣơng mại điện tử tại Việt Nam - http//www. luatdongtay.com/tuvanluat/tu-van- luat/luat...viet-nam/1006.html 59. Báo cáo Thƣơng mại điện tử Việt Nam năm 2014 Viet-Nam-nam-2014 60. Bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong giao dịch thƣơng mại điện tử và tín dụng tiêu dùng giao-dich-thuong-mai-dien-tu-va-tin-dung-tieu- dung#sthash.5VabBP3b.dpuf.( 7/10/2015) 61. Ban hành quy chế quản lý và thực hiện Chƣơng trình phát triển thƣơng mại điện tử quốc gia thuc-hien-chuong-trinh-phat-trien-thuong-mai-dien-tu-quoc-gia.aspx. ( 10/3/2015) 62. Báo cáo Thƣơng mại điện tử 2014 2014.aspx 63. Bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong các giao dịch thƣơng mại điện tử cac-giao-dich-thuong-mai-dien-tu.aspx. ( 23/7/2015) 64. Chứng cứ và bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong thƣơng mại điện tử. ?Source=&Category=&ItemID=1907&Mode=1. ( 8/1/2011) 65. Cơ hội mở rộng hợp tác phát triển thƣơng mại điện tử 12/4/2012) 66. Cơ hội khai thác thị trƣờng APEC và châu Phi 152 ( 12/4/2012) 67. Cần triển khai nhiều hoạt động để thúc đẩy giao dịch thƣơng mại điện tử qua biên giới de-thuc-day-giao-dich-thuong-mai-dien-tu-qua-bien-gioi-.aspx. ( 12/4/2012) 68. Dịch vụ hoàn tất đơn hàng: Mấu chốt để phát triển Thƣơng mại điện tử chot-de-phat-trien-Thuong-mai-dien-tu#sthash.HYmc3pHz.dpuf. 11/01/2015) 69. Đẩy mạnh hoạt động quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại điện tử nha-nuoc-ve-thuong-mai-dien-tu.aspx( 2/6/2012) 70. Đào tạo Thƣơng mại điện tử - Nhìn lại một khóa thử nghiệm Nhin-lai-mot-khoa-thu-nghiem#sthash.nNvi9nbN.dpuf. (01/10/2015) 71. Đa cấp núp bóng thƣơng mại điện tử nt=515. ( 16/8/2011) 72. Giải pháp thanh toán trực tuyến cho thƣơng mại điện tử và dịch vụ hành chính công ntent=1134.( 27/11/2014) 73. Giới thiệu cơ quan, tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp bảo vệ ngƣời tiêu dùng của Hàn Quốc ( 06-11-2014) 74. Google đánh tiếng thị trƣờng thƣơng mại điện tử bằng nút "Mua" thuong-mai-dien-tu-bang-nut-Mua#sthash.foaLtmLE.dpuf.( 19/8/2015) 153 75. Hệ thống quản lý Website thƣơng mại điện tử Việt Nam - (Nguồn: Cục TMĐT và CNTT- Bộ CT) quan-ly-website-thuong-mai-dien-tu-viet-nam/( 1/11/2010) 76. Hệ thống quản lý Website thƣơng mại điện tử Việt Nam quan-ly-website-thuong-mai-dien-tu-viet-nam/ 77. Kinh nghiệm phát triển thƣơng mại điện tử trên di động thuong-mai-dien-tu-tren-di-dong.aspx. ( 14/8/2015) 78. Khuyến cáo về việc giao dịch Bitcoin trên các website thƣơng mại điện tử bitcoin-tren-cac-website-thuong-mai-dien-tu.aspx. ( 28/3/2014) 79. Liên minh châu Âu (EU) ủng hộ sáng kiến thúc đẩy thƣơng mại điện tử 6/2/2012) 80. Nghị quyết về Chính phủ điện tử tu( 19/10/2015) 81. Nền tảng di động: Tiềm năng lớn cho thƣơng mại điện tử lon-cho-thuong-mai-dien-tu.aspx. ( 8/1/2015) 82. Những điều cần chú ý khi mua sắm trực tuyến ntent=1286. ( 5/8/2015) 83. Nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ Thƣơng mại điện tử doanh-nghiep-nho-thuong-mai-dien-tu.aspx. ( 27/6/2013) 84. Những Giải Pháp Đòn Bẩy Cho Thƣơng Mại Điện Tử 154 bay-cho-thuong-mai-dien-tu-/.( 24/10/2015) 85. Mạng xã hội nào phải đăng ký nhƣ sàn giao dịch thƣơng mại điện tử? - (Nguồn: Báo Hải quan) nao-phai-dang-ky-nhu-san-giao-dich-thuong-mai-dien-tu/ 86.Pháp luật chƣa lƣờng kịp sự phát triển của thƣơng mại điện tử - trien-cua-thuong-mai-dien-tu/77778.bld 87. Pháp luật về thƣơng mại điện tử thế giới và Việt Nam; tren-the-gioi-va-viet-nam.vhtml 88. Quy định về quản lý website thƣơng mại điện tử quan-ly-website-thuong-mai-dien-tu/ 89. Sumitomo tham gia thị trƣờng thƣơng mại điện tử Việt Nam - Tri Phương (TTXVN) ( 28/8/2013) 90. Tổng kết công tác thực thi pháp luật trong thƣơng mại điện tử phap-luat-trong-thuong-mai-dien-tu.aspx. ( 10/12/2012) 91. Thúc đẩy phát triển thƣơng mại điện tử 20/12/2010) 92. Thƣơng mại điện tử tại Việt Nam sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới trien-manh-trong-thoi-gian-toi.html.( 18/9/2015) 93. Thƣơng mại điện tử là cơ hội của mọi doanh nghiệp 155 c?p_pers_id=42058&p_folder_id=39013&p_main_news_id=38425414 &p_year_sel= 94. Tọa đàm Phát triển thanh toán trong thƣơng mại điện tử phat-trien-thanh-toan-trong-thuong-mai-dien-tu/ 95. Thƣơng mại điện tử: cơ hội và thách thức trong thời khủng hoảng - (P.QLTM theo báo Công Thương) dien-tu-co-hoi-va-thach-thuc-trong-thoi-khung-hoang/ 96. Thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu thƣơng mại - (Theo Thời báo tài chính Việt Nam) dien-tu-doi-voi-hang-hoa-xuat-nhap-khau-thuong-mai/ 97. Việt Nam tham gia hợp tác quốc tế về thƣơng mại điện tử 22/7/2009) 98. Việt Nam và APEC hợp tác đào tạo về thƣơng mại điện tử ( 20/8/2008) 99. Xu hƣớng phát triển thƣơng mại điện tử mai-dien-tu.aspx. ( 7/1/2013) 100. Xử phạt các website bán hàng không đăng ký website-ban-hang-khong-dang-ky/ 101. Website: www.moit.gov.vn 102. 103. 0110894.html.( 28/7/2015) 156 104. _quan_tri/882471810613/file 105. moi-nguoi-viet-nam-so-huu-1-4-thue-bao-di-dong-123053.ict 106. mat-nhung-kho-khan-gi-2014040310543638016.chn .( 3/4/2014) 107. dddn.com.vn/.../thuong-mai-dien-tu-tien-ao-hang-ao-quan-sao- 2014122.( 12/3/2016) 108. cuu/finish/45/640( 10/2013) 109. nay-1502468.html. (20/6/2013) 110. pages.ca.inter.net/~euclid1/esiglaws.html 111. http: tu-tren-the-gioi-va-viet-nam.vhtml 112. 113. https://www.sba.gov/managing-business/business-law- regulations/industry-laws-regulations/online-business-law 157 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ 1. Lê Văn Thiệp (2016),” Pháp luật về bảo vệ Người tiêu dùng trong Thương mại điện tử” Tạp chí Dân chủ & Pháp luật Số tháng 2 (287) năm 2016, tr 30-34. 2. Lê Văn Thiệp (2016), “Một số vấn đề về chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án- một số kiến nghị”.Tạp chí Kiểm sát số 5/2016 (Tháng 3/2016) tr 49-54. 3. Lê Văn Thiệp (2016)“Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp trong Thương mại điện tử” . Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số tháng 3(288) năm 2016, tr 22-24.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfphap_luat_thuong_mai_dien_tu_o_viet_nam_hien_nay_6168.pdf
Luận văn liên quan