Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

A. LỜI MỞ ĐẦU Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác nói riêng là một trong những loại trách nhiệm gây nhiều tranh về căn cứ phát sinh, mức bồi thường Hơn nữa, quy định của pháp luật về vấn đề này chủ yếu dừng lại ở các quy định mang tính “định tính” mà không “định lượng” nên gây khó khăn rất nhiều cho các cán bộ áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, án kiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong các án kiện về bồi thường. Sự đối lập về tâm lý của người gây thiệt hại với người bị hại hoặc gia đình của người bị hại làm cho các án kiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại này bị kháng cáo, khiếu nại từ phía các đương sự. B. NỘI DUNG CHÍNH I. Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Luật dân sự. 1. Khái niệm, đặc điểm, bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác. 2. Các quy định của BLDS 2005 trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác. II. Các yêu cầu cơ bản trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác. 1. Căn cứ phát sinh. 2. Nguyên tắc bồi thường. 3. Các hình thức và mức bồi thường. III. Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín và những kiến nghị. 1. Thực trạng 2. Kiến nghị. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO C. KẾT LUẬN

doc21 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/02/2013 | Lượt xem: 3941 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC A. LỜI MỞ ĐẦU 1 B. NỘI DUNG CHÍNH 1 I. Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác trong Luật dân sự 1 1. Khái niệm, đặc điểm, bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác. 2 2. Các quy định của BLDS 2005 trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác. 5 II. Các yêu cầu cơ bản trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác. 7 1. Căn cứ phát sinh 7 2. Nguyên tắc bồi thường 10 3. Các hình thức và mức bồi thường. 11 III. Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín và những kiến nghị. 14 1. Thực trạng 14 2. Kiến nghị 18 C. KẾT LUẬN 19 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20 A. LỜI MỞ ĐẦU “ Ai gây thiệt hại thì người đó phải bồi thường ”, vấn đề này đã được các nhà làm luật coi đó là một nguyên tắc và được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật. Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau mỗi quốc gia đều có những quy định chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bên cạnh đó còn có những quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp cụ thể bởi sự đa dạng về chủ thể gây thiệt hại, đối tượng bị thiệt hại…Kế thừa và phát triển quy định của BLDS 1995, BLDS 2005 đã bổ sung và hoàn hiện thêm về quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng từ Điều 604 đến Điều 630. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác nói riêng là một trong những loại trách nhiệm gây nhiều tranh về căn cứ phát sinh, mức bồi thường…Hơn nữa, quy định của pháp luật về vấn đề này chủ yếu dừng lại ở các quy định mang tính “định tính” mà không “định lượng” nên gây khó khăn rất nhiều cho các cán bộ áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, án kiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong các án kiện về bồi thường. Sự đối lập về tâm lý của người gây thiệt hại với người bị hại hoặc gia đình của người bị hại…làm cho các án kiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại này bị kháng cáo, khiếu nại từ phía các đương sự. Xuất phát từ tình hình trên đây, việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác nói riêng là một trong những vấn đề có ý nghĩa pháp lý và thực tiễn hết sức sâu sắc. Chính vì vậy em đã quyết định lựa chọn đề tài: “ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.” B. NỘI DUNG CHÍNH I. Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Luật dân sự. 1. Khái niệm, đặc điểm, bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác. 1.1 Khái niệm. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác là một quan hệ dân sự mà trong đó người có hành vi trái pháp luật xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác gây ra thiệt hại thì phải có nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại do chính hành vi của mình gây ra. Một điều nữa cần lưu ý là trong mối quan hệ này giữa người gây ra thiệt hại và người bị thiệt hại không có mối quan hệ hợp đồng với nhau. Mặc dù vậy giữa các chủ thể vẫn phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác. Bởi vì đây là quyền nhân thân bất khả xâm phạm, gắn liền với mỗi chủ thể được pháp luật quy định. Do đó mọi hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân này đều bị coi là hành vi trái pháp luật. Tóm lại, khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh từ hành vi gây thiệt hại trái pháp luật. Trong đó người có hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền, lợi ích hợp pháp của người khác gây thiệt hại, phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra mà trước đó giữa các bên không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây ra thiệt hại không có thuộc về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đã kí kết. Hay nói cách khác quan hệ hợp đồng tuy không phải là căn cứ thực tiễn nhưng có thể đưa lại khả năng làm phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác. 1.2 Đặc điểm. Nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác ta thấy: nó mang đầy đủ những đặc điểm của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cơ sở để xác định trách nhiệm chính là những quy định của pháp luật, không có sự thỏa thuận trước giữa các bên và được phát sinh chỉ trên cơ sở hành vi bất hợp pháp do lỗi cố ý hoặc vô ý. Các quyền và nghĩa vụ pháp luật của các bên cũng hoàn toàn do pháp luật quy định, trước thời điểm phát sinh trách nhiệm giữa các bên không có quan hệ hợp đồng với nhau, nếu có thì việc gây thiệt hại không liên quan gì đến việc thực hiện hợp đồng. Ngoài các đặc điểm cơ bản thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại này còn mang cả các đặc tính của chế định trách nhiệm dân sự nói chung, vì vậy nó tương đối ổn định, tồn tại theo các quy luật khách quan và là những quy phạm mang tính chất là biện pháp bảo vệ, giữ gìn sự phát triển bình thường của quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân. Về mặt nguyên tắc thì các quy định của BLDS về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác là những quy định mang tính chất bắt buộc tuân thủ, nó còn được coi là những nghĩa vụ do pháp luật quy định. 1.3 Bản chất pháp lý. Các quan hệ pháp luật dân sự chủ yếu là các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản. Vì vậy trách nhiệm bồi thường dân sự xét về bản chất cũng được hiểu trước hết là trách nhiệm mang tính tài sản. Tính chất tài sản của trách nhiệm bồi thường dân sự thể hiện ở việc chủ thể vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người khác thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc bên vi phạm phải bồi thường bằng chính tài sản của mình. Mặt khác trong quan hệ dân sự giữa các chủ thể luôn tồn tại mối quan hệ bình đẳng trong sự tương quan giữa quyền của chủ thể này tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể kia. Vì thế sự vi phạm nghĩa vụ của chủ thể này sẽ kéo theo quyền của chủ thể kia bị xâm phạm. Chính sự vi phạm này dẫn đến trách nhiệm của người vi phạm đối với người bị thiệt hại ngay cả khi sự vi phạm gây thiệt hại đến quyền lợi nhà nước thì người vi phạm cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho Ngân sách nhà nước. Điểm cần lưu ý khi xác định trách nhiệm dân sự bởi hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đó là trách nhiệm bồi thường luôn phải tương xứng với tính chất của sự vi phạm. Do vậy xét về bản chất pháp lý thì trách nhiệm bồi thường dân sự mang tính chất là biện pháp đền bù nhằm mục đích khôi phục tình trạng tài sản và xác lập lại các quyền, lợi ích bị xâm phạm của người bị thiệt hại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng. Điều 51 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “ Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Nhà nước đảm bảo các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và xã hội. Quyền của công dân do Hiến pháp -Luật quy định”. Đối với quyền về nhân thân của con người cũng vậy, Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm …(Điều 71). Còn theo Điều 73: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật”. Do đó “mọi hành vi xâm phạm đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi về danh dự.” (Điều 74). Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín được thừa nhận trong Hiến pháp thể hiện sự tôn trọng của chúng ta đối với quyền này; đồng thời có ý nghĩa quan trọng trong việc ban hành các quy định cụ thể để bảo vệ quyền này. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín được quy định cụ thể hơn trong các văn bản pháp luật của nhiều ngành luật khác nhau tạo thành một hệ thống các quy định pháp luật về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, chủ thể có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với các tội danh như: Tội làm nhục người khác (Điều 121), Tội vu khống (Điều 122), Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226), Tội truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy (Điều 253). Còn trong quá trình tiến hành tố tụng, “Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật. Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của của họ mà bị đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật” (Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003). Cùng với pháp luật hình sự, pháp luật dân sự đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ quyền đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín. Có thể nói, pháp luật dân sự quy định chi tiết, cụ thể và đầy đủ nhất về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 31, Điều 37, Điều 38, Điều 611) và các văn bản luật khác như Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 21), Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (Điều 204, Điều 205), Luật báo chí năm 1999 (Điều 9). Phần viết sau đây tập trung xem xét vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005. Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Điều 604 BLDS đã xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến các quyền nhân thân của cá nhân như sau: “ Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.” Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác cũng mang bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự nói chung. Vì vậy nó cũng là loại trách nhiệm tài sản nhằm khôi phục và xác lập lại các quyền, lợi ích bị xâm phạm của người bị thiệt hại. Mặt khác, trách nhiệm bồi thường này không chỉ nhằm bảo đảm việc đền bù tổn thất đã gây ra mà nó còn có tác dụng giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đến những bất lợi về tài sản cho người gây ra thiệt hại để bù đắp những thiệt hại mà họ đã gây ra cho người khác. 2. Các quy định của BLDS 2005 trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác. Để tìm hiểu rõ hơn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác, chúng ta cần tìm hiểu danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được hiểu như thế nào? Theo từ điển Tiếng việt thì danh dự, nhân phẩm, uy tín là một phạm trù mang tính xã hội. Trong đó danh dự là sự coi trọng của dư luận xã hội dựa trên giá trị tinh thần và đạo đức tốt đẹp. Như vậy danh dự của cá nhân chính là sự tôn trọng của xã hội đối với các tiêu chuẩn về đạo đức. Vì vậy danh dự là một trong những yếu tố để khẳng định vị trí, vai trò và uy tín của cá nhân đó trong xã hội. Nhân phẩm và uy tín của cá nhân được hiểu là sự coi trọng, thừa nhận của những người xung quanh, của xã hội về những phẩm chất mang tính đặc trưng tạo nên giá trị con người của mỗi cá nhân. Theo định nghĩa trên thì danh dự, nhân phẩm, uy tín của mỗi cá nhân có mối quan hệ qua lại gắn bó với nhau, nó gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của mỗi người được hình thành trong cuộc sống, trong hoạt động nghề nghiệp và các quan hệ xã hội của họ. Tùy theo nhân cách, lối sống, cách ứng xử, tài năng, đạo đức…mà ảnh hưởng của họ đến xã hội cũng khác nhau. Mặc dù vậy, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là vấn đề thiêng liêng, đặc trưng của mỗi con người về mặt tinh thần, cần được bảo vệ như nhau. Khi những giá trị tinh thần này bị xâm phạm bởi các hành vi trái pháp luật thì người có hành vi vi phạm gây thiệt hại về vật chất và tinh thần phải có trách nhiệm bồi thường theo quy định tại Điều 604 BLDS. Cơ sở để xác định những thiệt hại này bao gồm: 1. Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục những thiệt hại. 2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút. 3. Tùy từng trường hợp ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi cải chính công khai, Tòa án quyết định người gây thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm. Theo quy định trên thì những thiệt hại phải bồi thường do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác bao gồm cả thiệt hại về vật chất và tinh thần. Thực tế cho thấy, các hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác được thực hiện bằng việc dùng lời lẽ có tính chất miệt thị thiếu văn hóa, hay có những hành động có tính chất thoái hóa để lăng nhục, hạ thấp nhân cách làm giảm sự tôn trọng, tín nhiệm của những người xung quanh, hoặc cũng có thể là những trường hợp loan truyền tin tức bịa đặt sai sự thật dù vô tình hay hữu ý làm cho người đó phải xấu hổ với mọi người xung quanh, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của các chủ thể. Do vậy pháp luật quy định cho các cá nhân và các chủ thể khác có quyền: Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu Tòa án buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai, hoặc tự mình cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các chi phí để thay đổi môi trường sống như nơi ở, nơi làm việc… Đối với thu nhập bị giảm sút hoặc bị mất do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác cũng được tính giống như cách tính thu nhập bị mất, bị giảm sút trong trường hợp tính mạng, sức khỏe bị xâm hại. Một điểm cần lưu ý trong cơ chế thị trường hiện nay, chúng ta thấy danh dự, uy tín của cá nhân trong kinh doanh cũng được coi là nguồn vốn và tài sản có giá trị. Do vậy, nếu người nào vì mục đích cạnh tranh không lành mạnh có hành vi xâm phạm đến danh dự, uy tín của cá nhân gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, các hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của các cá nhân nhiều khi còn gây ra hậu quả khôn lường về mặt tinh thần cho người bị thiệt hại nên BLDS đã dự liệu khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần để Tòa án buộc người gây thiệt hại phải bồi thường trong những trường hợp nhất định. Về thực chất, khoản tiền bồi thường về tinh thần này không chỉ mang ý nghĩa vật chất thuần túy mà còn mang ý nghĩa an ủi động viên người bị tổn thất, làm dịu bớt nỗi đau và những thiệt hại về mặt tinh thần mà họ phải gánh chịu, đồng thời cũng có tác dụng giáo dục, phòng ngừa người có hành vi vi phạm. Song đối với khoản bù đắp tổn thất tinh thần này khi ấn định mức bồi thường cũng cần xem xét cân nhắc đến tính chất và mức độ nghiêm trọng của sự xâm hại cũng như hậu quả để lại và các yếu tố cụ thể khác có liên quan đến thiệt hại như thời gian, địa điểm, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp của người bị hại. Tóm lại, việc tìm hiểu các quy định của BLDS trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác..ta thấy rằng đây là những thiệt hại chủ yếu được xác định theo chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Để có cơ sở giải quyết một cách đúng đắn những tranh chấp phát sinh do hành vi trái pháp luật xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của các cá nhân trong xã hội, chúng ta không chỉ căn cứ vào Điều 604, Điều 611 BLDS mà còn vận dụng quy định của nhiều điều luật khác trong BLDS. Từ đó mới có cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường cụ thể cho người có hành vi trái pháp luật gây ra. II. Các yêu cầu cơ bản trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác. 1. Căn cứ phát sinh. 1.1 Phải có thiệt hại xảy ra Đây là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi nếu không có thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng không phát sinh. Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là khắc phục, bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hại, do đó phải có thiệt hại thì mục đích đó mới đạt được. Khoản 1 Điều 307 BLDS 2005 quy định: “ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần”. Theo Luật dân sự Việt Nam thì thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do việc xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác. Tổn thất thực tế được đề cập ở đây là sự giảm sút, mất mát về lợi ích vật chất, tinh thần hay những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu. Về ý nghĩa pháp lý và xã hội, thì thiệt hại còn ảnh hưởng đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân. Chính những ý nghĩa này đã lý giải vì sao thiệt hại lại được coi là tiền đề quan trọng có tính chất bắt buộc để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Song vấn đề đặt ra ở đây là tính chất của thiệt hại như thế nào mới phát sinh trách nhiệm bồi thường. Vì vậy điều kiện đầu tiên khi đánh giá thiệt hại để làm cơ sở quy định trách nhiệm bồi thường đó là phải xác định được những thiệt hại khách quan chứ không phải là những thiệt hại theo suy diễn chủ quan nhất là nhất là những thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác là những thiệt hại về các quyền nhân thân rất khó xác định những tổn thất thành tiền một cách chính xác tuyệt đối được. Pháp luật dân sự nói chung, chế định bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm nói riêng là những vấn đề rất nhạy cảm và vô cùng phức tạp, bên cạnh những thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không thể có công thức chung để quy ra tiền áp dụng cho các trường hợp. Việc giải quyết bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cũng chỉ nhằm an ủi, động viên làm dịu bớt nỗi đau cho người bị thiệt hại. Do vậy có thể khẳng định rằng không thể có bồi thường thiệt hại nếu không có thiệt hại xảy ra. 1.2 Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại Hành vi gây thiệt hại trước tiên phải là hành vi pháp luật cấm thực hiện nếu hành vi đó được thực hiện mà pháp luật không cấm thì người thực hiện hành vi đó không phải bồi thường. Hành vi gây thiệt hại là hành vi có ý thức của con người diễn ra trái với quy định của pháp luật và gây thiệt hại đến các đối tượng được pháp luật bảo vệ. Các hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín là các hành vi xâm phạm đến các quyền nhân thân đều bị coi là hành vi trái pháp luật. Như vậy hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác nói chung là hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác mà cụ thể là các quyền về nhân thân của cá nhân. 1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra Nguyên nhân được hiểu là sự tác động qua lại giữa các mặt trong một sự vật và hiện tượng, hậu quả là làm biến đổi sự vật hiện tượng đó hoặc làm biến đổi sự vật hiện tượng khác. Như vậy, đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì hành vi trái pháp luật được coi là nguyên nhân và thiệt hại được coi là hậu quả. Về mặt nguyên tắc, hành vi trái pháp luật phải có trước và thiệt hại có sau. Có thể nói, xác định mối quan hệ nhân quả trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác nói riêng rất phức tạp do đó cần có sự lưu ý đặc biệt, tránh sự đánh giá một cách khiên cưỡng, suy diễn chủ quan, phiến diện. Nếu không có hành vi gây thiệt hại thì không có hậu quả, có nghĩa là thiệt hại đã có sẵn cơ sở trong hành vi. Thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm và ngược lại, người có hành vi vi phạm gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu thiệt hại xảy ra đúng là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật của họ. 1.4 Có lỗi của người gây thiệt hại Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó mang lại. Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Việc đánh giá hình thức, mức độ lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng khác với trách nhiệm hình sự. Khi xác định lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần lưu ý: - Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi người gây thiệt hại có lỗi, bất kể lỗi đó là lỗi vô ý hay cố ý. - Việc xác định lỗi cố ý, vô ý trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ý nghĩa trong một số trường hợp: Để giảm mức bồi thường (Khoản 2 Điều 605 BLDS 2005); Là điều kiện cần thiết để xác định trách nhiệm bồi thường (Khoản 2 Điều 605 BLDS 2005). - Trong một số trường hợp nhất định, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh ngay cả khi người gây thiệt hại không có lỗi ( Khoản 3 Điều 623; Điều 624, BLDS 2005). 2. Nguyên tắc bồi thường. Những nguyên tắc cụ thể được áp dụng trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác đều xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản chung được ghi nhận trong BLDS Việt Nam. Cũng giống như các nguyên tắc cơ bản của BLDS, nguyên tắc bồi thường cơ bản mang đặc tính cơ bản của pháp luật dân sự là tính tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và sự thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Điều 605 BLDS quy định nguyên tắc được áp dụng bồi thường đó là: “1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình. 3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.” Như vậy nguyên tắc mang tính nền tảng trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra được xác định rõ là: “Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”. Nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại của cá nhân, bảo đảm sự công bằng giữa các bên trong quá trình giải quyết các tranh chấp. Đồng thời buộc người gây thiệt hại phải đền bù toàn bộ những thiệt hại do cá nhân đã gây ra bằng tài sản, tiền hoặc thực hiện công việc một cách nhanh chóng, kịp thời cho người bị thiệt hại tạo điều kiện cho họ khôi phục lại các quyền nhân thân đã bị xâm hại. Trong việc bồi thường do xâm phạm đến đanh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì nguyên tắc bồi thường kịp thời, nhanh chóng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chính sự bồi thường kịp thời sẽ giúp ích cho người bị thiệt hại nhanh chóng khắc phục được thiệt hại. Tuy nhiên việc bồi thường thiệt hại nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của người bị thiệt hại còn bị ràng buộc bởi yếu tố lỗi của người gây thiệt hại. Khoản 2 Điều 605 có đề cập đến việc xem xét mức độ lỗi của người gây thiệt hại khi Tòa án quy định mức bồi thường. Nếu do lỗi vô ý mà thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng thực tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại thì có thể xem xét cho họ được giảm mức bồi thường. Việc quyết định giảm mức bồi thường này đã tính đến khả năng thực thi các phán quyết của tòa án trong thực tế, đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Ngoài ra mức bồi thường thiệt hại cũng không được ấn định một cách bất biến cho đến khi thi hành xong các khoản tiền bồi thường mà khi xuất hiện các căn cứ cho thấy mức độ bồi thường không còn phù hợp với thực tiễn thì người bị thiệt hại và người gây thiệt hại đều có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường cho phù hợp (Khoản 3 Điều 605). Đối với người bị thiệt hại cũng có thể yêu cầu tăng mức bồi thường cho phgươù hợp với giá cả thực tế. Về phía người gây thiệt hại có thể yêu cầu giảm mức bồi thường do khả năng kinh tế hiện tại không đủ để tiếp tục bồi thường hoặc do có những yếu tố khách quan khác. Ngoài những nguyên tắc nói trên, nội dung của Điều 605 còn thể hiện một nguyên tắc rất quan trọng xuất phát từ những nguyên tắc chung của BLDS là tôn trọng sự thỏa thuận của các đương sự. Vì vậy khi giải quyết việc bồi thường thiệt hại, các bên có thể tự do thỏa thuận với nhau về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, hiện vật, hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường trừ trường hợp pháp luật có quy định. Như vậy nhà nước sẽ chỉ can thiệp buộc người gây thiệt hại phải bồi thường khi giữa các bên đương sự không đạt được sự thỏa thuận cần thiết hoặc không có sự tự nguyện của bên phải gây thiệt hại. 3. Các hình thức và mức bồi thường. Thông thường việc giải quyết các tranh chấp về bồi thường thiệt hại nói chung đều được thể hiện bằng quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, bản án dân sự hay một quy định về bồi thường dân sự trong bản án hình sự. Các quy định này đều ghi rõ hình thức và mức bồi thường. 3.1 Các hình thức bồi thường Theo Điều 605 về nguyên tắc: “Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” Một số hình thức bồi thường mà các bên có thể lựa chọn để áp dụng mức bồi thường được quy định trong BLDS trong trường hợp xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác, đó là: w Bồi thường bằng tiền: Đây là hình thức bồi thường được áp dụng phổ biến trong các trường hợp bồi thường bằng hiện vật không thể thực hiện được. Đặc biệt đối với những thiệt hại xâm phạm đến quyền nhân thân như gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì không có hiện vật nào thay thế được. Do đó tất cả những chi phí nhằm phục hồi danh dự, nhân phẩm và uy tín của người bị thiệt hại đều được tính thành một khoản tiền buộc người gây ra thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường. w Bồi thường bằng việc thực hiện một công việc cụ thể nào đó: Trong trường hợp này, các bên có thể lựa chọn một công việc để làm, tiền công được coi là khoản tiền tương đương với quyền lợi bị thiệt hại. Thông thường việc bồi thường chỉ áp dụng hình thức bồi thường phổ biến bằng tiền bởi những thiệt hại xâm phạm đến quyền nhân thân gắn liền với chủ thể mang ý nghĩa về tinh thần nhiều hơn. Mặt khác không có một thứ tài sản nào khác có thể thay thế ngang bằng với danh dự, nhân phẩm, uy tín của con người được. Các khoản chi phí hợp lý của người bị thiệt hại hay những chi phí đăng tin cải chính, tổn thất tinh thần …đều được tính một cách tương đối chính xác bằng một khoản tiền nhất định. Tuy vậy, hình thức bồi thường bằng tiền trong những trường hợp này cũng có thể được các bên thỏa thuận thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau được luật cho phép bồi thường như bồi thường một lần hay nhiều lần hoặc cũng có thể bồi thường theo tháng, quý, năm…Việc thỏa thuận phương thức bồi thường này phụ thuộc vào khả năng kinh tế của người gây thiệt hại hoặc tính chất của khoản tiền bồi thường. 3.2 Mức bồi thường Khi áp dụng các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại, cần phải xem xét thực tế và tùy vào từng trường hợp cụ thể mà quyết định mức độ lỗi của người gây ra thiệt hại và người bồi thường thiệt hại, khả năng kinh tế thực tế của người gây thiệt hại và người bị thiệt hại để ta xem xét có nên giảm mức bồi thường hay giữ nguyên, như vậy thì quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mới được đảm bảo tuyệt đối. Người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do lỗi cố ý mà mình gây ra, còn nếu vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài thì có thể được giảm mức bồi thường hoặc có thể chỉ phải bồi thường thấp hơn mức thiệt hại hoặc người bị thiệt hại cùng có lỗi. Tuy nhiên, mức bồi thường do Tòa án ấn định buộc người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại không vĩnh viễn bởi mọi sự vật, hiện tượng trong xã hội đều có sự biến đổi không ngừng. Vì vậy pháp luật đã quy định dự liệu cho những trường hợp thay đổi đó là: “ Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường” ( Khoản 3 Điều 605 BLDS). Có thể nói, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là các yếu tố gắn liền với nhân thân chủ thể nên không thể trị giá được thành tiền. Khi người gây thiệt hại xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín thì việc buộc người gây thiệt hại cho người bị thiệt hại cũng chỉ có ý nghĩa khắc phục và khôi phục tình trạng ban đầu trước khi có hành vi gây thiệt hại. Điều 611 BLDS 2005 quy định về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm hại, bao gồm: w Đối với thiệt hại về vật chất: - Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại bao gồm: chi phí cần thiết cho việc thu hồi ấn phẩm, tài liệu…có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; tiền tàu, xe đi lại, thuê nhà trọ (nếu có) theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí để yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc, cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; chi phí tổ chức xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại và các chi phí thực tế, cần thiết khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại (nếu có). - Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút: Nếu trước khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm có thu nhập thực tế, nhưng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm người bị xâm phạm phải thực hiện những công việc để hạn chế, khắc phục thiệt hại, nên khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Căn cứ để tính thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút đuợc xác định như trường hợp thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm ( nếu là cá nhân). w Đối với tổn thất về tinh thần: Bên cạnh việc bồi thường tổn thất vật chất, người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường một khoản tiền khác để bù dắp tổn thất về tinh thần mà người đó phải gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận căn cứ vào hình thức xâm phạm (bằng lời nói hay đăng trên báo viết, báo hình …), hành vi xâm phạm, mức độ lan truyền thông tin xúc phạm …Nếu các bên không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường. Tóm lại, những quy định của BLDS về các hình thức bồi thường cũng như việc ấn định thiệt hại vừa mang tính bao quát, vừa mang tính chi tiết, về cơ bản đã đảm bảo quyền lợi của cả người bị thiệt hại và người gây thiệt hại. Đây được coi là những “chuẩn mực pháp lý” vững chắc cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng nhưu Tòa án làm căn cứ giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung cũng như việc giải quyết bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác một cách có lý, có tình, phù hợp với thực tế. III. Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín và những kiến nghị. 1. Thực trạng Trong những năm gần đây, do sự phát triển của tình hình kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân ta không ngừng được nâng cao, bên cạnh đó sự tác động của nền kinh tế thị trường đã bộc lộ ra không ít mặt trái của nó. Yếu tố tự do cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thị trường được coi là động lực cơ bản thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển, song chính nó cũng đưa đến nhiều khả năng hoạt động vượt quá giới hạn của pháp luật dẫn đến hành vi gây thiệt hại cho người khác, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của các chủ thể. Hàng năm ngành Tòa án phải giải quyết một khối lượng rất lớn các vụ án hình sự và dân sự liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của các cá nhân trong xã hội. Những năm gần đây, số lượng những vụ việc xâm phạm quyền được  bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín được giải quyết tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tăng lên đáng kể, đặc biệt là số vụ việc được giải quyết theo thủ tục tố tụng tại Toà án. Mặc dù những vụ việc này chủ yếu được giải quyết tại các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà nội và phần lớn liên quan đến cá nhân, tổ chức hoạt động văn học, nghệ thuật, tuy nhiên, điều này cũng chứng tỏ mức độ nhận thức cao hơn của cá nhân, tổ chức về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Từ khi BLDS có hiệu lực thi hành, các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã thực sự trở thành “cẩm nang” pháp lý vững vàng tạo điều kiện cho Tòa án nhân các cấp vận dụng trong quá trình giải quyết các tranh chấp về bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm,uy tín của các cá nhân trong xã hội, giúp cho người bị thiệt hại hoặc những người thân thích của người bị thiệt hại khắc phục được phần lớn những tổn thất mà họ phải gánh chịu. Tuy nhiên qua tìm hiểu những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn xét xử các vụ án bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác, bản thân em thấy rằng: Có những quy định mới của BLDS chưa được sự hướng dẫn cụ thể của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên việc nhận thức và áp dụng các quy định của pháp luật ở các cấp Tòa án có nhiều điểm lúng túng chưa thống nhất, còn một số vướng mắc tập trung ở một số điểm sau đây: Thứ nhất, Vấn đề tính toán thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Khó khăn chủ yếu khi tính toán khoản tiền bồi thường do thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút hiện nay đó là cách tính thu nhập. Trong giai đoạn nền kinh tế thị trường thì thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: ngành nghề, độ tuổi, khu vực…Đồng thời, các thu nhập cũng xuất phát từ rất nhiều nguồn phong phú và được coi là hợp pháp. Vì vậy, nên theo nguyên tắc “ Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời” thì liệu đối với những người làm nghề đặc biệt hoặc làm trong các liên doanh với người nước ngoài có thu nhập so với mặt bằng chung là rất cao thì liệu có thể buộc người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ khoản thu nhập này không? Thực tế mỗi nơi áp dụng một cách tính khác nhau, có nơi tính thu nhập của người bị thiệt hại theo mặt bằng chung của lao động cùng loại tại địa phương sau đó cộng thlêm một khoản thu nhập phụ bằng 50% thu nhập chính để người bị thiệt hại đở thiệt thòi. Song có nơi lại tính toàn bộ thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại sau đó áp dụng các quy định của Khoản 2 Điều 605 BLDS để giảm mức bồi thường cho người gây thiệt hại vì xác định thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại. Theo đánh giá riêng của bản thân em thì cả hai cách tính trên đều có điểm chưa đúng với quy định của BLDS. Đặc biệt trong cách tính thứ hai không thể áp dụng cho mọi trường hợp bồi thường thiệt hại được, bởi nó chỉ hạn chế trong trường hợp lỗi của người gây thiệt hại phải là lỗi vô ý. Căn cứ để tính thu nhập cũng là vấn đề có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau. Để đỡ thiệt thòi cho người bị hại cần căn cứ vào mức thu nhập bình quân của lao động phổ thông và mức doanh thu bình quân của doanh nghiệp ở địa phương để “suy ra” mức bồi thường “tương ứng” với mức độ thiệt hại cụ thể. Có như vậy thì nguyên tắc “gây thiệt hại bao nhiêu phải bồi thường bấy nhiêu” mới được đảm bảo thực hiện, hơn nữa trong thực tế không ít những trường hợp bên bị thiệt hại không hề có thu nhập hoặc không bị mất và giảm sút thu nhập vì vậy không thể buộc người gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường được. Rõ ràng quan điểm này là hợp lý hơn vì ý nghĩa của việc xác định mức độ bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật là nhằm bảo đảm quyền lợi và sự công bằng cho cả hai phía bị thiệt hại và người gây thiệt hại. Thứ hai, Quy trình áp dụng các quy định của Điều 617 BLDS khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác khi người bị thiệt hại cùng có lỗi xuất hiện những vướng mắc do cách hiểu quy định của Điều luật chưa thống nhất. Theo Điều 617 quy định: “ Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình”. Vì vậy không ít các Tòa án khi xác định người bị thiệt hại có lỗi là đương nhiên giảm ngay phần trách nhiệm bồi thường cho người gây thiệt hại một cách tùy tiện, không cần xem xét đến việc hành vi có lỗi của người gây thiệt hại có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại của chính mình hay không. Một đặc trưng cơ bản của của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác là trách nhiệm dân sự đa phần thường đi kèm với trách nhiệm hình sự của người gây ra thiệt hại. Do đó không ít Tòa án đã hình thành một “nguyên tắc” khi xét xử là nếu các bị cáo được giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự thì cũng được giảm nhẹ một phần trách nhiệm bồi thường dân sự. Thực tiễn xét xử tại các cấp Tòa án cho thấy có rất nhiều vụ án khi xét sử các bị cáo về các loại tội như vu khống, làm nhục người khác…đều giảm 1/3, 1/2 trách nhiệm bồi thường dân sự cho các bị cáo khi xác định được lỗi của người bị hại mà không cần xác định thiệt hại tương ứng với mối quan hệ nhân quả đó. Việc vận dụng như vậy là chưa đúng với tinh thần của điều luật quy định. Thứ ba, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền gặp khó khăn trong xác định hành vi xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Về khó khăn này, em xin minh chứng bằng vụ việc ca sĩ Phương Thanh kiện blogger Cogaidolong (Lê Nguyễn Hương Trà) vì hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của Phương Thanh. Ngày 16/10/2007, ca sĩ Phương Thanh đã khởi kiện blogger Cogaidolong (Lê Nguyễn Hương Trà) trước Toà án nhân dân quận Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh) vì blogger đã xúc phạm danh dự của Phương Thanh. Theo Phương Thanh, bài viết về liveshow “Mưa” và bài viết “Chuyện của…Cờ” trên blog của Hương Trà viết về cô với nội dung “sai sự thật, xúc phạm tới danh dự, hạ uy tín”. Ca sĩ Phương Thanh cho rằng trong bài viết “Mưa”, Hương Trà viết “bảo vệ mở rộng cửa cho khán giả nhào vào. Ghế trống đầy…” là không đúng sự thật, hơn nữa hạ uy tín của một ca sĩ tên tuổi như cô. Blogger Hương Trà lại cho rằng bài viết về liveshow “Mưa” là đúng sự thật, vì tối đó trời mưa rất lớn, nơi biểu diễn không có mái che nên khán giả bị ướt, bảo vệ phải mở cửa cho khán giả vào để tránh mưa chứ không phải để miễn mua vé. Còn bài viết “Chuyện của…Cờ” không phải viết về Phương Thanh mà viết theo lối phóng tác. Về vụ việc này, có những quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề mấu chốt: blogger Hương Trà có xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của ca sĩ Phương Thanh hay không. Đây cũng chính là khó khăn dẫn đến vụ việc kéo dài, chưa được giải quyết. Thứ tư ,cơ quan, tổ chức có thẩm quyền gặp khó khăn trong xác định mức bù đắp tổn thất tinh thần. Thực tế, bên bị xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín thường chứng minh tổn thất tinh thần và yêu cầu được bồi thường nhưng mức bồi thường trong bản án, quyết định của Toà án lại rất nhỏ so với tổn thất mà bên bị xâm phạm phải ghánh chịu. Chính vì vậy, bên bị xâm phạm không thấy thoả đáng; bản án, quyết định của Toà án không mang tính thuyết phục, thậm chí còn gây khiếu kiện kéo dài. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là quyền dân sự cơ bản, quan trọng của cá nhân. Khi quyền này bị xâm phạm gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sự tồn tại và phát triển của bên bị xâm phạm. Chính vì vậy, cần phải hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; đồng thời cần nâng cao nhận thức của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội để quyền này được tôn trọng và bảo vệ tốt hơn. 2. Kiến nghị. Để giải quyết tốt những tranh chấp về vấn đề bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể khác trong tình trạng kinh tế - xã hội của giai đoạn hiện nay ở nước ta, cũng như việc không ngừng nâng cao chất lượng xét sử và từng bước tháo gở những khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật ở các cấp Tòa án, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp tích cực, mang tính đồng bộ đó là: Thứ nhất, thường xuyên tổng kết, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật, nắm bắt tình hình của tòa án nhân các cấp địa phương về khó khăn, vướng mắc xung quanh việc thực hiện những quy định của BLDS trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp về bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến quyền nhân thân của các cá nhân trong xã hội. Từ đó sớm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành phù hợp với thực tiễn, tạo ra một cơ chế xét xử thống nhất trong ngành tòa án. Thứ hai, Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan như công an, kiểm sát, Tòa án, bảo hiểm…để xây dựng hệ thống văn bản pháp luật hoàn chỉnh nhằm tạo ra một quy chế đồng bộ, hỗ trợ tương tác về hoạt động công vụ thống nhất trong phạm vi cả nước. Thông qua đó từng bước nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như bảo vệ được các quyền được tôn trọng về danh dự, nhân phẩm, uy tín của mọi công dân trong xã hội mà Hiến pháp và pháp luật đã quy định. Thứ ba, liên tục kiện toàn tổ chứ bộ máy quản lý Tòa án không ngừng tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử nhất là đội ngũ thẩm phán, nhiều về số lượng, mạnh về chất lượng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu xét xử trong tình hình kinh tế - xã hội hiện tại. Thứ tư, đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật sâu sắc trong nhân dân. Đây sẽ là cầu nối đưa pháp luật vào cuộc sống bằng các hình thức tổ chức các câu lạc bộ tìm hiểu pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật…trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cộng đồng dân cư, phường, xã…Cần chú trọng việc đưa pháp luật vào các trường học, cấp học để ngày càng nâng cao hiểu biết pháp luật cho các tầng lớp nhân dân đặc biệt là thanh thiếu niên, từng bước hình thành ý thức chấp hành pháp luật, biết tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng nhưu quyền lợi ích hợp pháp của người khác, giảm bớt các mâu thuẫn không đáng có trong xã hội. Đối với thiệt hại do bị xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác mà người gây thiệt hại bị Tòa án buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi và cải chính công khai thì tòa án nhân dân các cấp nên tổ chức đưa vụ án này về xét xử lưu động tại địa phương nơi xảy ra sự việc để tạo điều kiện cho người gây thiệt hại có thể xin lỗi và cải chính công khai trước nhân dân địa phương nhằm giải tỏa một phần những tổn thất tinh thần cho người bị hại qua đó cũng góp phần giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân. C. KẾT LUẬN Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác là một dạng trách nhiệm pháp lý nói chung. Dưới góc độ trách nhiệm dân sự thì đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, phát sinh từ hành vi trái pháp luật gây thiệt hại. Trong đó người có hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và các quyền lợi ích hợp pháp của người khác gây thiệt hại phải đền bù những tổn chất vật chất và tinh thần cho bên bị xâm phạm. Đặc trưng cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại này được Nhà nước áp dụng như là một biện pháp cưỡng chế tích cực nhằm tác động vào chính tài sản của người gây thiệt hại buộc họ phải gánh chịu trách nhiệm bằng việc dùng tài sản của mình để khắc phục những thiệt hại do chính họ đã gây ra theo nguyên tắc thiệt hại phải phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Tìm hiểu một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác là một đề tài hết sức mới mẻ và thú vị. Nhưng với khả năng và tầm hiều biết có hạn, bài làm của em vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế. Chính vì vậy em rất mong nhận được nhiều ý kiến dóng góp của các thầy cô để bài làm của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Tập 2, Nxb.CAND, Hà Nội, 2009. 2. Lê Đình Nghị ( chủ biên), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2009. 3. Bộ luật dân sự năm 2005. 4. Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ – HĐTP ngày 8/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. 5. Bộ tư pháp, Những vấn đề cơ bản của Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb tư pháp, Hà Nội, 2005. 6. Các website: - http: /// vi.wikipedia.org - http: /// vn.answers.yahoo.com.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTrách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác - một số vấn đề lý luận và thực tiễn.doc
Luận văn liên quan