Trích dẫn trong nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm trả lời phản biện quốc tế

Tới đây có thể kết luận rằng, trả lời phản biện là một công việc không hề đơn giản. Nó đòi hỏi tác giả bài báo phải tập trung tinh thần, đầu tư nghiêm túc vào từng câu trả lời, nỗ lực thực hiện đầy đủ các yêu cầu. Đối với các tạp chí khoa học, phản biện được ví như những “người gác đền” giữ chất lượng của tạp chí và do đó giữ khoa học đi đúng hướng. Theo (Williams, 2004), có ba quy tắc vàng mà tác giả bài báo phải luôn ghi nhớ khi trả lời phản biện: trả lời đầy đủ, trả lời lịch sự và trả lời có chứng cứ rõ ràng. Mặc dù trả lời phản biện khá vất vả nhưng cũng đáng để làm vì đây được coi là công đoạn cuối cùng để công trình nghiên cứu được chấp nhận đăng trên tạp chí, mang lại niềm hạnh phúc cho tác giả.

docx8 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 17/02/2016 | Lượt xem: 1215 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Trích dẫn trong nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm trả lời phản biện quốc tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Trích dẫn trong nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm trả lời phản biện quốc tế Dương Minh Thành, Khoa Giáo dục Tiểu học Email: thanhdmi@hcmup.edu.vn, điện thoại: 0908453764 Tóm tắt. Trích dẫn và cách thức trả lời phản biện là những kĩ năng không thể thiếu của một nhà khoa học. Mục đích của báo cáo nhằm giới thiệu những nguyên tắc trong trích dẫn và một số kinh nghiệm trả lời phản biện khi gửi đăng bài báo tới một tạp chí khoa học quốc tế. Abstract. Citing and replying to peer review comments are indispensable skills of a scientist. The aim of this report is to introduce principles of citation and some experiences of replying to peer review comments when submitting papers to an international scientific journal. Mở đầu Trong báo cáo này chúng tôi muốn bàn luận một vấn đề liên quan đến kinh nghiệm và kĩ năng trong nghiên cứu khoa học chứ không hẳn là một báo cáo khoa học. Lúc nhận được lời đề nghị từ phía những người tổ chức Hội thảo Khoa học Cán bộ trẻ Trường Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh lần thứ I – năm 2015, chúng tôi khá băn khoăn về việc chọn một nội dung báo cáo phù hợp với chủ đề “Cán bộ trẻ với khoa học giáo dục”. Từ sự gợi ý của họ, chúng tôi nhận ra cần phải nói về một vấn đề gì đó mà ai cũng có thể bắt gặp, có thể tham gia đóng góp ý kiến nhưng không kém phần quan trọng đối với một người làm khoa học. Vấn đề trích dẫn và kinh nghiệm trả lời phản biện quốc tế trong nghiên cứu khoa học có thể đáp ứng được những tiêu chí này. Trích dẫn trong nghiên cứu khoa học không phải là vấn đề mới mẻ, nó đã được đề cập trong hầu hết giáo trình về nội dung, phương pháp nghiên cứu khoa học ở trường đại học cũng như nó đã được thực hiện bởi bất kì ai đã từng viết tiểu luận, làm luận văn tốt nghiệp hoặc xa hơn là thực hiện các nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, đây chẳng bao giờ là vấn đề đơn giản, nhiều người đã không hiểu đúng, thậm chí ngộ nhận. Từ việc không hiểu đúng hoặc ngộ nhận có thể dẫn đến việc không thực hiện đúng, chủ quan hoặc cố tình không thực hiện. Nhiều dẫn chứng đã chỉ ra rằng những sai sót trong việc trích dẫn có thể gây tác hại không nhỏ đến sự nghiệp nghiên cứu của một nhà khoa học. Liên quan đến việc trả lời phản biện quốc tế, kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy, việc này có mối liên hệ mật thiết với vấn đề trích dẫn. Hầu hết các ý kiến phản biện đối với những bài báo khoa học của chúng tôi đều ít nhiều đề cập đến những kết quả trích dẫn trong đó. Bên cạnh đó, hiểu đúng vai trò của phản biện để từ đó đưa ra những trả lời xác đáng giúp ích nhiều, thậm chí có vai trò quyết định cho việc bài báo khoa học có được nhận đăng hay không. Để hoàn thành bản báo cáo này, chúng tôi dựa chủ yếu trên tài liệu (Nguyễn Văn Tuấn 2013) kết hợp với một số kinh nghiệm thực tế của bản thân trong việc gửi đăng bài báo khoa học và trả lời các phản biện của một số tạp chí quốc tế. Mặc dù chúng tôi đưa ra ví dụ chủ yếu trong chuyên ngành Toán học nhưng những nguyên tắc và kinh nghiệm được đề cập có thể bắt gặp trong bất cứ chuyên ngành khoa học nào. Tại sao phải trích dẫn Nghiên cứu khoa học luôn gắn liền với trích dẫn. Trích dẫn cho phép nhà khoa học diễn giải cơ sở để từ đó đề xuất ý tưởng, cung cấp nguồn gốc của phương pháp sử dụng trong nghiên cứu, cách thức tiến hành nghiên cứu, cuối cùng là đánh giá, bình luận và thiết lập được mối liên hệ giữa kết quả nghiên cứu với những kết quả khác đã công bố trước đó. Theo (Nguyễn Văn Tuấn, 2013), việc trích dẫn chứng tỏ người viết am hiểu kiến thức hiện hành trong chuyên ngành, tức là hiểu được sự phát triển của tri thức khoa học chuyên ngành ở thời điểm thực hiện nghiên cứu. Do đó việc trích dẫn trong bài báo của một nhà khoa học cho ta thấy nhà khoa học đó có thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên ngành mới hoặc nghiên cứu đó có đi cùng dòng chảy với những nghiên cứu khác trong cùng chuyên ngành hay không. Việc trích dẫn không đúng nguyên tắc, không cẩn thận hoặc không trích dẫn có thể dẫn đến “đạo văn”. Đạo văn (plagiarism) được hiểu là sử dụng ý tưởng, phương pháp và câu văn của người khác mà không ghi rõ nguồn gốc. Đạo văn là một vấn đề nghiêm trọng liên quan đến đạo đức khoa học mà bất cứ một nhà khoa học nào cũng cần phải hiểu rõ để tránh. Nguyên tắc trích dẫn Trích dẫn đúng nguồn gốc Khi sử dụng một kết quả của một ai đó, tác giả bài báo phải trích dẫn đúng tài liệu là nguồn gốc của kết quả đó (gọi tắt là tài liệu gốc). Trong trường hợp không trích dẫn đúng nguồn gốc, phản biện của tạp chí có thể yêu cầu tác giả cung cấp thông tin về tài liệu gốc. Ví dụ. Phản biện của tạp chí yêu cầu như sau: “the reference [AB10] in the first line is not the good one. It should be replaced by a reference to Lemma 2.1 in the paper I. Bajo and S. Benayadi (1997), Lie algebras admitting a unique quadratic structure, Communications in Algebra, 25(9), 2795-2805 ” khi phát hiện việc trích dẫn ở đây không đúng với tài liệu gốc. Việc trích dẫn đúng nguồn gốc chứng tỏ tác giả bài báo ghi nhận công lao của người phát kiến và đưa ra được điểm xuất phát của vấn đề. Tuy nhiên cũng có trường hợp không thể trích dẫn tài liệu gốc (vì tác giả không có điều kiện tiếp cận với tài liệu gốc) thì tác giả phải nói rõ, chẳng hạn: “The first examples were given in (Dixmier, 1920, cited in Lee, 1985)”. Trường hợp này được gọi là trích dẫn thứ phát. Trích dẫn thứ phát có thể được chấp nhận nhưng phải có lí do hợp lí (chẳng hạn tài liệu gốc đã có từ rất lâu, rất khó để tìm thấy). Đối với những người làm khoa học thì nên tránh trích dẫn thứ phát vì chúng có thể ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu và làm giảm cảm tình của phản biện bài báo khoa học. Tất cả kết quả quan trọng về mặt lý thuyết và phát biểu về mặt dữ liệu đều phải trích dẫn. Trong Toán học, một kết quả được gọi là quan trọng (hay còn gọi là không tầm thường) nếu có nhiều tác giả khác đề cập và công nhận (bằng cách trích dẫn). Nếu tác giả bài báo không trích dẫn đối với một kết quả quan trọng nào đó thì phản biện có thể phải nhắc nhở tác giả. Ví dụ. “ The link of the paper with existing literature should be carefully established and eventually extended the well known object (see for example Dixmier’s book: Enveloping algebras or previous literature) ”. “ there is not any such reference in the submitted paper ”. “ Some lines later (in section 7.1) the authors recall the notion of quadratic dimension of quadratic Lie algebras and the formula of this dimension in the case of reductive Lie algebras, proved in Corollary 2.1 in : S. Benayadi, Socle and some invariants of quadratic Lie superalgebras, Journal of Algebra 261 (2003), 245-291. The reference to this paper should be added ”. “In Section 2 it would be necessary to mention Theorem 3.1 in [BBB], besides the already given ”. Có những kết quả không thực sự quan trọng hoặc dễ dàng hiểu được thì không cần phải trích dẫn cho dù kết quả đó đã từng xuất hiện ở đâu đó. Nói một cách khác, một nhà khoa học có thể phát hiện ra nhiều kết quả nhưng không có nghĩa toàn bộ chúng đều có giá trị đến mức những người đi sau phải trích dẫn. Những người đi sau có quyền chọn lọc, đánh giá kết quả xem có xứng đáng trích dẫn hay không. Do đó nếu được trích dẫn một kết quả nào đó, nhà khoa học sẽ cảm thấy vinh hạnh vì kết quả của mình được đồng nghiệp ghi nhận và đánh giá cao. Bên khoa học thực nghiệm cũng tương tự, những kiến thức phổ biến, quen thuộc với nhiều người thì không cần phải trích dẫn. Việc lạm dụng trích dẫn, trích dẫn kể cả những kết quả không quan trọng hoặc những kiến thức phổ biến có thể làm giảm giá trị của bài báo và đưa đến việc phản biện đánh giá thấp tác giả bài báo (chẳng hạn họ có thể đánh giá tác giả không hiểu biết nhiều về chuyên ngành). Không trích dẫn tài liệu mà người viết chưa đọc Khi muốn trích dẫn kết quả nằm trong một tài liệu nào đó tác giả bài báo phải có tài liệu đó trong tay để kiểm chứng kết quả và xem xét liệu có mối liên hệ thực sự giữa kết quả đó với kết quả của mình hay không. Đôi khi trong quá trình bình duyệt bài báo, phản biện sẽ chỉ ra một số tài liệu cần phải trích dẫn (nhưng không có trong danh mục tài liệu tham khảo của bài báo) thì tác giả bài báo cần phải tìm đọc cẩn thận những tài liệu đó. Ví dụ. “Also an explanation in order to clarify the work here, should be given in relation to: Albuquerque, Helena; Barreiro, Elisabete; Benayadi, Said Quadratic Lie superalgebras with a reductive even part. J. Pure Appl. Algebra 213 (2009), no. 5, 724 – 731”. “It would be necessary to review these references in order to complete the presentation of the work”. Không được phép trích dẫn những tài liệu chỉ nhằm mục đích mượn danh nâng giá trị bài báo của tác giả lên mà không nhằm mục đích thể hiện mối liên hệ trực tiếp giữa tài liệu trích dẫn và kết quả nghiên cứu của tác giả. Thậm chí trích dẫn kết quả vì sự tôn trọng đối với tác giả kết quả đó cũng không được phép. Nếu tác giả bài báo trích dẫn tài liệu không vì mục đích khoa học thì khi gửi tới các tạp chí đàng hoàng sẽ rất dễ bị các phản biện phát hiện. Nếu nhẹ thì phản biện sẽ yêu cầu giải thích rõ ý đồ của việc đưa tài liệu đó vào danh sách các tài liệu tham khảo. Nặng hơn thì phản biện sẽ từ chối cho đăng bài báo. Ở đây chúng ta luôn chú ý rằng, phản biện ở các tạp chí quốc tế đàng hoàng đều là chuyên gia trong lĩnh vực mà tác giả bài báo đang nghiên cứu. Một chú ý khác, nếu muốn bình luận một kết quả trong một tài liệu nào đó thì tác giả bài báo càng phải đọc cẩn thận tài liệu đó chứ không được lấy bình luận của người khác đưa vào bài báo của mình. Cho dù tác giả bài báo đồng ý với bình luận đó thì cũng phải trình bày theo một cách khác (trong tài liệu (Nguyễn Văn Tuấn, 2013) có đề xuất một số cách trình bày). Những tài liệu tham khảo không có tác dụng đối với nội dung nghiên cứu thì không đưa vào danh mục tài liệu tham khảo Có nhiều người thích đưa nhiều tài liệu tham khảo vào danh mục tài liệu tham khảo như là thói quen hoặc nhằm “đánh bóng” bài báo. Đây là sở thích tai hại. Trong khoa học người ta quy ước rằng chỉ những tài liệu tham khảo có liên quan đến kết quả nghiên cứu và được đề cập trong nội dung bài báo mới được phép đưa vào danh mục tài liệu tham khảo. Cho dù một tài liệu nào đó có liên quan nhưng không đề cập bất kì ở đâu trong nội dung bài báo cũng sẽ bị phản biện hoặc ban biên tập nhắc nhở. Ví dụ. “In the bibliography there are some references, explicitly, [BB97], [Bou58], [Bou71], [FS87] and [Sam80], which are not cited within the text. It should be either removed or cited somewhere ”. Không trích dẫn những nguồn tư liệu không đáng tin cậy, không thể kiểm chứng Trong nghiên cứu khoa học, thông tin trên báo chí truyền thông hoặc phát biểu của một ai đó (cho dù người đó có uy tín cỡ nào) đều có thể được xếp vào những thông tin không được kiểm chứng và không đáng tin cậy. Do đó nhà khoa học cần phân biệt tạp chí khoa học với tạp chí phổ thông và không nên sử dụng các thông tin trên tạp chí phổ thông trong bài báo khoa học của mình. Ngược lại nhà khoa học sau khi thực hiện nghiên cứu cần gửi những kết quả tới các tạp chí khoa học chứ không nên công bố chúng trên các tạp chí phổ thông. Bởi vì các kết quả này sẽ không được sử dụng hoặc trích dẫn sau đó. Tuy nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ là tạp chí phổ thông đó có uy tín trong khoa học (chẳng hạn tờ The Washington Post) thì thông tin công bố trên đó có thể coi là đáng tin cậy. Ngoài ra những số liệu trong báo cáo của những cơ quan quản lý cấp quốc gia, những tổ chức quốc tế có uy tín (ví dụ Bộ Giáo dục Singapore, UNESCO, WHO) cũng có thể coi là những thông tin đáng tin cậy. Từ ý trên, những cơ quan quản lý cấp quốc gia, những tổ chức quốc tế có uy tín mỗi khi công bố báo cáo đều phải cung cấp số liệu đáng tin cậy. Nếu không có thể gây ra những hệ lụy khó lường cho những người sử dụng các số liệu đó. Khi trích dẫn kết quả nào đó trong bài báo quốc tế, không đề học vị và chức danh của tác giả kết quả đó (trừ phần cám ơn) Như vậy trích dẫn đúng không phải là điều đơn giản. Do đó nhà khoa học phải tập thói quen trích dẫn đúng, ban đầu có thể sẽ khó khăn và mắc một số lỗi nhưng sau một vài lần sẽ quen dần. Ngoài ra nhà khoa học phải biết lập kế hoạch và quyết định sử dụng tài liệu trích dẫn nào, phải thường xuyên cập nhật các tài liệu trích dẫn để tránh lạc hậu trong nghiên cứu, phải kiểm tra cẩn thận danh mục tài liệu tham khảo trước khi gửi đăng bài báo (Nguyễn Văn Tuấn, 2013). Trả lời phản biện quốc tế Sau khi nhận được bài báo gửi đăng, ban biên tập sẽ đọc qua, nếu đánh giá bài báo không đạt họ sẽ từ chối ngay nhưng thường kèm theo lí do lịch sự nào đó. Ví dụ. Ban biên tập từ chối một bài báo ngay từ đầu: “Informal consultations with potential referees have persuaded me that unfortunately we cannot consider your article. At present we have an extremely large backlog of excellent articles awaiting publication. We are thus forced to return articles that might otherwise be considered ”. Hoặc lịch sự hơn họ nói như sau (được coi như lời từ chối): “. So, in the case of your submission, I very much regret having to say that, following an initial review, I am not able to process your paper in the manner you would expect. This should certainly not be considered as a rejection of your paper, as my decision has nothing to do with the quality of the work, it is solely concerned with the need to maintain our desired speed of publication This situation is likely to continue for the next six months or so. Please feel free to submit your paper to another journal for consideration. I wish you well with that ”. Còn nếu ban biên tập đánh giá bài báo có tiềm năng họ sẽ gửi cho phản biện (2-3 phản biện kín tùy theo tạp chí). Phản biện sau khi đọc xong có quyền từ chối cho đăng bài báo (với một lí do học thuật nào đó), ban biên tập sẽ thông báo tác giả về việc từ chối cho đăng bài nhưng họ không gửi kèm lí do mà phản biện đưa ra. Ví dụ. Một trường hợp từ chối bài báo do phản biện không đồng ý: “ We have received an evaluation from our referee on the paper entitled ABC submitted for publication in Kodai Mathematical Journal. We regret to say that we cannot accept the paper for publication in Kodai Mathematical Journal because the referee does not recommend it ”. Trong trường hợp phản biện đồng ý cho đăng bài báo (thường kèm theo những yêu cầu chỉnh sửa theo ý của phản biện), ban biên tập sẽ gửi thông báo đến tác giả bài báo và yêu cầu chỉnh sửa bài báo theo yêu cầu của phản biện. Ngoài ra tác giả bài báo phải trả lời những thắc mắc hoặc làm rõ những điều chưa rõ do phản biện chỉ ra. Sau đó tác giả bài báo chỉnh sửa và gửi bản trả lời phản biện cho ban biên tập tạp chí, họ sẽ gửi chúng đến các phản biện. Khi nhận được, các phản biện sẽ xem xét lại bài báo đã chỉnh sửa và các câu trả lời, nếu thấy không thỏa đáng họ có thể từ chối cho đăng. Còn nếu họ thấy tác giả bài báo trả lời đầy đủ, tiếp thu nghiêm túc những ý kiến, làm thỏa mãn những thắc mắc của họ thì chắc chắn bài báo sẽ được đăng. Một lưu ý nữa khi trả lời phản biện, tác giả bài báo phải tỏ thái độ trân trọng các ý kiến đóng góp của phản biện (cần coi đó là những ý kiến xác đáng làm cho chất lượng bài báo trở nên tốt hơn), trả lời một cách lịch sự không thái quá, không được né tránh những yêu cầu của phản biện hoặc thực hiện những yêu cầu đó một cách qua loa, đại khái. Tác giả bài báo đôi khi phải nỗ lực để làm thỏa mãn tối đa yêu cầu của phản biện. Chẳng hạn phản biện yêu cầu viết lại một phần nào đó (vì quá dài, vì phần đó viết chưa tốt hoặc viết khó hiểu) thì tác giả bài báo phải bỏ công sức viết lại thực sự theo một cách tốt hơn hẳn. Thường mở đầu cho phần trả lời nên có một vài câu dẫn nhập để tác giả bài báo chứng tỏ là đã tiếp thu và sửa chữa đầy đủ theo yêu cầu của phản biện. Ví dụ. “Thanks to the pertinent remarks and comments by the reviewers, the changes below were implemented in the paper. All suggested modifications were applied.” Sau đó đi vào chi tiết, tác giả bài báo sẽ trả lời từng phần nhỏ, làm rõ tất cả các yêu cầu của phản biện. Ví dụ. Nếu phản biện yêu cầu viết lại phần tóm tắt và nhắc nhở tác giả chú ý những điều sau: “The abstract does not result informative enough. Since the notion of singular quadratic Lie superalgebra of the title is not standard, the abstract should give a more precise information on the definition. In particular, I think that the name “dup-number” should be explicit in the abstract. The sentence “Finally, we study a class of quadratic Lie superalgebras obtained by the method of generalized double extension” is quite vague; the authors should briefly clarify at least one of their goals. Finally, I recommend to avoid the citations to the references in the abstract ” thì tác giả bài báo phải viết lại một cách cẩn thận, bổ sung các thông tin cần thiết và trả lời khẳng định với phản biện rằng tác giả đã nghiêm túc thực hiện công việc: “The abstract was modified. The notion of “singular quadratic Lie superalgebra” is defined, as well the dup-number. Some goals are clearly announced. It results a fully condensed abstract” Nếu phản biện yêu cầu viết lại phần dẫn nhập vì quá dài “The introduction is clearly too long. Although it is interesting to give a summary of the main results, the apparition of so many new definitions (which will be defined again in the main sections of the paper) and the complete statement of the theorems result, to my opinion, in a quite unreadable introduction” thì tác giả bài báo phải rút ngắn lại đáng kể (chẳng hạn còn một nửa so với ban đầu) và trả lời: “Following the useful remarks from the referee, the Introduction was shortened to 2 pages long. It summarizes the results with highlights only”. Nếu phản biện yêu cầu so sánh kết quả trong bài báo với một kết quả trong bài báo khác: “It should be necessary to compare the results here with those in [BK03].” thì tác giả bài báo phải tìm đọc bài báo đó, đưa vào danh mục tài liệu tham khảo và đưa ra được những so sánh để trả lời như sau: “Following the remarkable suggestions from the referee, the reference to [BK03] was addressed in the Introduction to present the classification problem and also in Remark 1.18 with a comparison with obtained results”. Nếu phản biện yêu cầu xem lại phần tài liệu tham khảo: “In the bibliography there are some references, explicitly, [BB97], [Bou58], [Bou71], [FS87] and [Sam80], which are not cited within the text. It should be either removed or cited somewhere” thì tác giả bài báo phải xem xét lại cẩn thận để có thể trả lời: “The non-cited references were removed from the bibliography”. Tới đây có thể kết luận rằng, trả lời phản biện là một công việc không hề đơn giản. Nó đòi hỏi tác giả bài báo phải tập trung tinh thần, đầu tư nghiêm túc vào từng câu trả lời, nỗ lực thực hiện đầy đủ các yêu cầu. Đối với các tạp chí khoa học, phản biện được ví như những “người gác đền” giữ chất lượng của tạp chí và do đó giữ khoa học đi đúng hướng. Theo (Williams, 2004), có ba quy tắc vàng mà tác giả bài báo phải luôn ghi nhớ khi trả lời phản biện: trả lời đầy đủ, trả lời lịch sự và trả lời có chứng cứ rõ ràng. Mặc dù trả lời phản biện khá vất vả nhưng cũng đáng để làm vì đây được coi là công đoạn cuối cùng để công trình nghiên cứu được chấp nhận đăng trên tạp chí, mang lại niềm hạnh phúc cho tác giả. TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyễn Văn Tuấn (2013), Từ nghiên cứu đến công bố - Kỹ năng mềm cho nhà khoa học, Tái bản lần thứ 1, NXB Tổng hợp TP.HCM. Williams HC (2004), “How to reply to referees’ comments when submitting manuscripts for publication”, Journal of the American Academy of Dermatology 51, 79-83. Tư liệu cá nhân gồm ý kiến của phản biện và trả lời của nhóm tác giả cho những bài báo được đăng sau: Minh Thanh Duong, Georges Pinczon and Rosane Ushirobira, (2012), “A new invariant of quadratic Lie algebras”, Journal of Algebra and Representation Theory 15(6), 1163-1203 (tạp chí quốc tế SCIE). Minh Thanh Duong and Rosane Ushirobira (2014), “Singular quadratic Lie superalgebras”, Journal of Algebra 407, 372-412 (tạp chí quốc tế SCI). Minh Thanh Duong (2014), “A classification of solvable quadratic and odd quadratic Lie superalgebras in low dimensions”, Revista de la Unión Matemática Argentina 55(1). 119–138 (tạp chí quốc tế SCIE). Minh Thanh Duong, “The Betti numbers for a family of solvable Lie algebras”, Bulletin of the Malaysian Mathematical Sciences Society (to appear) (tạp chí quốc tế SCIE).

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxtrich_dan_trong_nghien_cuu_khoa_hoc_va_kinh_nghiem_tra_loi_phan_bien_quoc_te_thanh_2_7809.docx
Luận văn liên quan