Vấn đề nhà nước nói chung và nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Mục Lục Trang Lời cảm ơn .4 Danh mục tài liệu tham khảo .5. Phần A: Lời mở đầu 6 Phần B: Nội dung 8 1: Lý luận chung về nhà nước 9 1: Quan điểm về nhà nước trước Mác 10 2: Quan điểm chủ nghĩa Mác về nhà nước .13 3: Nguồn gốc của nhà nước 15 3.1: Bản chất của nhà nước 17 3.2: Khái niệm-Đặc trưng của nhà nước 18 3.3: Chức năng của nhà nước .19 3.4: Các kiểu nhà nước-hình thức nhà nước .21 4: Giá trị của nhà nước pháp quyền cần kế thừa và phát huy 23 2: Những đặc điểm chung cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam .24 3: Quan điểm cơ bản và nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân .26 3.1. Quan điểm chỉ đạo quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân .27 3.2. Nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN .29 4: Khái quát về thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam 4.1: Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam- bước đổi mới quan trọng trong nhận thức và hành động của Đảng và nhà nước ta 31 4.2: Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam gắn liền với quá trình phát triển lý luận về nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản .34 4.3: Một số kết quả đạt được trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam trong thực tiễn.36 4.4: Những tồn tại cần khắc phục trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam .38. Phần C: Kết luận 40 Những đề xuất và kiến nghị 41 Phần A: Lời mở đầu Nhà nước pháp quyền – một vấn đề được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Theo em biết rằng chưa chắc là có một vấn đề nào lại bị các đại biểu của khoa học, triết học, luật học, kinh tế chính trị học và báo chí tư sản, vô tình hay cố ý, làm cho rắc rối như vấn đề “nhà nước”. Sở dĩ vấn đề này rắc rối và phức tạp đến như thế là vì, hơn tất cả các vấn đề khác, nó đụng chạm đến lợi ích của các giai cấp thống trị (về mặt này, nó chỉ kém các nguyên lý của khoa học kinh tế thôi). Học thuyết về nhà nước là dùng để bào chữa cho những đặc quyền xã hội, bào chữa cho sự bóc lột, bào chữa cho sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản; vì vậy, sẽ sai lầm lớn nếu hy vọng rằng người ta sẽ tỏ ra vô tư trong vấn đề này, nếu cho rằng những người tự cho mình là có tính khoa học thì có thể đem lại cho mọi người một quan điểm khoa học thuần tuý về vấn đề này. Và cần phải nhấn mạnh rằng lý luận ấy gắn liền rất mật thiết với lợi ích của các giai cấp bóc lột, - giai cấp địa chủ và tư bản, - nó phục vụ rất đắc lực cho lợi ích của bọn họ, nó tiềm nhiễm rất sâu vào các tập quán, quan điểm và khoa học của các ngài đại biểu của giai cấp tư sản. Qua thực tiễn tồn tại và phát triển của lịch sử nhân loại, qua nghiên cứu các quan điểm tư tưởng về tổ chức, xây dựng và vận hành của bộ máy nhà nước qua các thời kỳ lịch sử,em nghĩ rằng, khái niệm nhà nước pháp quyền đề cập đến phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước nói chung thông qua hệ thống pháp luật, như hiến pháp, luật và các văn bản pháp quy khác. Nói các khác, nhà nước pháp quyền là nhà nước được xem xét dưới góc độ pháp luật, trong đó tính tối cao của pháp luật được tôn trọng, các tư tưởng và hành vi chính trị, tôn giáo của bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào cũng được giới hạn bởi khuôn khổ pháp luật và chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Nhằm mục đích tìm hiểu sâu sắc và tổng quát hơn về “Vấn đề nhà nước nói chung và nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” ta cần nhìn lại, về mặt lịch sử,nguồn gốc,sự phát triển của nhà nước mà từ đó đi sâu nghiên cứu từng giai đoạn phát triển cụ thể,trong từng xã hội để rồi thấy cái ưu việt của nhà nước pháp quyền cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với các nhà nước khác cũng như các vấn đề cần khắc phục để nhà nước pháp quyền sẽ ngày càng tiến bộ hơn.

doc42 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 29/01/2013 | Lượt xem: 2813 | Lượt tải: 16download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vấn đề nhà nước nói chung và nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, trong đó mọi chủ thể kể cả nhà nước đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật - một hệ thống pháp luật có tính phổ biến cao (đề cao tính tối cao của Hiến pháp và luật), phù hợp với ý chí, thể hiện đầy đủ những giá trị cao cả nhất của xã hội, của con người. 1: Quan điểm về nhà nước trước Mác Theo quan niệm phi Mác xít về nguồn gốc nhà nước Từ thời kỳ cổ đại của lịch sử loài người đã có nhiều nhà tư tưởng đưa ra những cách giải thích khác nhau về nguồn gốc nhà nước. 1.1: Theo thuyết thần học: Cho rằng nhà nhà nước do Thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung, do vậy, quyền lực nhà nước là vỉnh cửu, sự phục tùng quyền lực là cần thiết và tất yếu. 1.2: Theo thuyết gia trưởng: Cho rằng nhà nước là kết quả của sự phát triển gia đình, là hình thức tổ chức tất yếu của cuộc sống cộng đồng, vì vậy, nhà nước có trong mọi xã hội. 1.3: Theo thuyết khế ước: Cho rằng nhà nước ra đời là kết quả của một khế ước được ký kết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên và không có nhà nước, nhà nước phải đại biểu cho lợi ích của các thành viên trong xã hội và trở thành bộ máy phục vụ xã hội. Theo thuyết này, chủ quyền trong nhà nước về bản chất thuộc về nhân dân. Đây là học thuyết có tính cách mạng và tiến bộ, đã trở thành cơ sở tư tưởng, lý luận cho cách mạng tư sản lật đỏ ách thống trị phong kiến. 1.4: Theo thuyết bạo lực: Nhà nước sử dụng bạo lực để bảo vệ quyền lực cho một nhóm người. 2: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước: Nhà nước hình thành không phải do siêu nhiên cũng không phải do gia đình mà là do sự phát triển của xã hội, khi xã hội có sự phân chia thành các giai cấp. Để có cơ sở khoa học xác định nguồn gốc và sự ra đời của Nhà nước, trước hết cần nghiên cứu xã hội cộng sản nguyên thủy và những điều kiện phát sinh nhà nước từ xã hội đó. 2.1: Xã hội cộng sản nguyên thủy và tổ chức thị tộc- bộ lạc: Xã hội cộng sản nguyên thủy là xã hội chưa có giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật.Sự phân chia giai cấp dẫn đến sự ra đời của nhà nước và pháp luật lại nảy sinh chính trong quá trình phát triển và tan rã của xã hội đó. Con người phải dựa vào nhau,sống chung, lao động chung và cùng hưởng thụ những thành quả lao động chung. Không ai có tài sản riêng, không có tình trạng người này chiếm đoạt tài sản của người kia. Thị tộc tổ chức theo huyết thống và do nhũng điều kiện về kinh tế, xã hội và chế độ quân hôn, người phụ nữ có vai trò chính trong thị tộc, vì thế, các thị tộc đã tổ chức theo chế độ mẫu hệ. Đây là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên trong lịch sử (hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thủy). Quyền lực cao nhất trong thị tộc là Hội đồng thị tộc. Hội đồng thị tộc bao gồm: Các thành viên lớn tuổi trong thị tộc. Hội đồng thị tộc có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của thị tộc như tổ chức lao động sản xuất,tiến hành chiến tranh, tổ chức các nghi lễ tôn giáo,giải quyết các vấn đề tranh chấp nội bộ,… Thị tộc là tổ chức tế bào cơ sở của xã hội cộng sản nguyên thủy, là một cộng đồng độc lập. Nhưng do sự phát triển của xã hội,các thị tộc đã mở rộng quan hệ với nhau,dẫn đến sự xuất hiện các bào tộc và bộ lạc. Bào tộc là một liên minh bao gồm nhiều thị tộc hợp lại. Hội đồng bào tộc chỉ việc quan trọng trong bào tộc vẫn do hội nghị tất cả các thành viên của bào tộc quyết định, nhưng trong nhiều trường hợp chỉ do hội đồng bào tộc quyết định. Bộ lạc bao gồm nhiều bào tộc.Tổ chức quyền lực trong bộ lạc thể hiện mức độ tập trung quyền lực cao hơn bào tộc. 2.2: Sự tan rã của tổ chức thị tộc – bộ lạc và sự ra đời của nhà nước: Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, lực lượng sản xuất dần dần được phát triển: con người phát triển hơn về thể lực và trí tuệ, nhận thức đúng đắn hơn về thế giới, chế tạo và cải thiện công cụ,… Xã hội cộng sản nguyên thủy đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội lớn. Sau mỗi lần xã hội lại có những bước tiến mới đẩy nhanh hơn quá trình tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy 2.2.1: Phân công lao động xã hội lần thứ nhất: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt và làm xuất hiện chế độ tư hữu. Trong xã hội đã phân chia thành người giàu ,người nghèo. Chế độ tư hữu xuất hiện làm thay đổi chế độ hôn nhân, chế độ hôn nhân một vợ một chồng thay thế cho chế độ quân hôn, người chồng trở thành người chủ trong gia đình và có quyền quyết định trong gia đình. 2.2.2: Phân công lao động xã hội lần thứ hai: -Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp. Việc tìm ra kim loại, đặc biệt là sắt và và chế tạo các công cụ bằng sắt, không những tạo ra khả năng có thể trồng trên những diện tích rộng lớn hơn mà còn mang lại cho người thợ thủ công nghiệp những công cụ lao động mới. Nghề dệt, nghề chế tạo đò kim loại và những nghề thủ công khác ngày càng làm ra nhiều loại sản phẩm và ngày càng hoàn thiện hơn. Xã hội có nhiều ngành nghề phát triển càng cần sức lao động thì số lượng nô lệ làm việc ngày càng tăng và trở thành một lực lượng xã hội. Sự phân công lao động lần thứ hai này đã đẩy nhanh quá trình phân hóa xã hội làm cho mâu thuẫn giai cấp ngày càng tăng. 2.2.3: Phân công lao động xã hội lần thứ ba: - Xuất hiện tấng lớp thương nhân và ngành thương mại. Nền sản xuất xã hội tách ra thành nhiều nghề khác nhau tất yếu xuất hiện nhu cầu trao đổi. Nền sản xuất lúc này đã trở thành nền sản xuất hàng hóa. Sự phân công này làm nảy sinh một tầng lớp không tham gia vào sản xuất nữa mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, đó là tầng lớp thương nhân. Sự ra đời và phát triển của thương mại đã kéo theo sự xuất hiện của đồng tiền, quyền tư hữu về ruộng đất và chế độ cầm cố. Tất cả những yếu tố đó làm cho sự tích tụ và tập trung của cải vào trong tay số ít người giàu có diễn ra nhanh chóng hơn đồng thời thúc đẩy sự bần cùng hóa của quần chúng. Như vậy, khi xã hội đã phân chia thành các giai cấp đối lập nhau, luôn luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt với nhau để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình thì tổ chức thị tộc không còn phù hợp nữa. Xã hội đó đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức giữ xã hội trong vòng trật tự , có lợi cho những người có của và giữ địa vị thống trị. Tổ chức đó là “nhà nước”. 3: Nguồn gốc của nhà nước 3.1: Bản chất của nhà nước - Nhà nước chỉ sinh ra và tồn tại trong xã hội có giai cấp do đó nhà nước luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc. Bản chất này thể hiện trước hết ở chỗ nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay giai cấp cầm quyền, là công cụ để duy trì sự thống trị giai cấp và bảo vệ quyền lợi của giai cấp cầm quyền, thiết lập và duy trì trật tự xã hội. - Nhà nước mang bản chất xã hội. Ngoài việc thực hiện các chức năng trên, nhà nước còn phải giải quyết tất cả các vấn đề khác nảy sinh trong xã hội. 3.2: Khái niệm- đặc trưng của nhà nước 3.2.1: Khái niệm Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội. 3.2.2: Đặc trưng: Các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền gồm:     - Nhà nước pháp quyền là nhà nước đảm bảo tính tối cao của pháp luật, trong đó pháp luật là ý chí chung của nhân dân. Tính tối cao của pháp luật thể hiện trên hai phương diện:     Thứ nhất: Đảm bảo sự thống trị của pháp luật trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Là nhà nước có hệ thống pháp luật hoàn thiện, trong đó đề cao vai trò của Hiến pháp và các đạo luật.     Thứ hai: Tính bắt buộc của pháp luật đối với bản thân nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân. Pháp luật là tiêu chuẩn, là căn cứ cho mọi hoạt động của nhà nước và xã hội. Nhà nước trong thiết chế của nhà nước pháp quyền là nhà nước tuân thủ pháp luật, mặc dù nhà nước là người ban hành ra pháp luật đó.     - Nhà nước pháp quyền là nhà nước thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do, dân chủ của công dân. Nhà nước pháp quyền  không chỉ công nhận và tuyên bố các quyền tự do của công dân mà còn phải bảo đảm thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi chúng bị xâm hại. Tự do của một người là được làm những gì mà pháp luật không cấm trong khuôn khổ pháp luật, không xâm phạm đến tự do của người khác, pháp luật chỉ cấm những gì có hại cho xã hội.     - Nhà nước pháp quyền là nhà nước đảm bảo trách nhiệm lẫn nhau giữa nhà nước và công dân; quyền của công dân là trách nhiệm của nhà nước và ngược lại quyền của nhà nước là trách nhiệm của công dân. Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình còn công dân phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm pháp luật của mình.     - Nhà nước pháp quyền là nhà nước phải có hình thức tổ chức quyền lực nhà nước thích hợp và có cơ chế hữu hiệu giám sát sự tuân thủ pháp luật, xử lý vi phạm pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện, chống chuyên quyền, lạm quyền.     Xét trong cả chiều dài lịch sử của sự phát triển tư tưởng về nhà nước pháp quyền cho thấy những đặc trưng của nhà nước pháp quyền thể hiện những tư tưởng, quan niệm tiến bộ trong quá trình tìm tòi hình thức tổ chức, hoạt động của quyền lực công cộng trong một “xã hội công dân” thay thế “xã hội thần dân”. 3.3: Chức năng của nhà nước - Chức năng đối nội: là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ của đất nước như: đảm bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế độ, bảo vệ và phát triển chế độ kinh tế, văn hoá,… - Chức năng đối ngoại: thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các nhà nước và dân tộc khác như: phòng thủ đất nước, chống xâm lược từ bên ngoài, thiết lập mối quan hệ với các quốc gia khác,…, 3.4: Các kiểu nhà nước, hình thức nhà nước 1: Các kiểu nhà nước 1.1: Khái niệm kiểu nhà nước. Kiểu nhà nước là tổng thể những dấu hiệu cơ bản, đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại, phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế kinh tế - xã hội nhất định. 1.2: Các kiểu nhà nước Trong lịch sử của xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế - xã hội: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Tương ứng với bốn hình thái kinh tế - xã hội đó, có bốn kiểu nhà nước: - Kiểu nhà nước chủ nô; - Kiểu nhà nước phong kiến; - Kiểu nhà nước tư sản; - Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa. 2. Hình thức nhà nước - Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức và phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước của giai cấp thống trị, bao gồm ba yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị. 2.1:Hình thức chính thể - Chính thể quân chủ: là hình thức trong đó quyền lực nhà nước cao nhất tập trung toàn bộ hay tập trung chủ yếu trong tay một người đứng đầu nhà nước và chỉ được chuyển giao theo nguyên tắc thừa kế, truyền ngôi. - Chính thể cộng hòa: là hình thức trong đó quyền lực nhà nước cao nhất do một cơ quan được bầu ra trong một thời hạn nhất định nắm giữ. 2.2: Hình thức cấu trúc của nhà nước Hình thức cấu trúc của nhà nước là cách thức phân chia các đơn vị hành chính lãnh thỗ và mối quan hệ giữa chúng với cơ quan nhà nước ở Trung ương. Có hai hình thức cấu trúc: 2.2.1: Nhà nước đơn nhất: là nhà nước thống nhất, có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương và có các đơn vị hành chính bao gồm tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường). Vd: Việt Nam, Lào, Ba Lan,… 2.2.2: Nhà nước liên bang: là nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp lại. Loại nhà nước này có hai hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý; một hệ thống chung cho toàn liên bang và một hệ thống trong mỗi nước thành viên; có chủ quyền quốc gia chung của nhà nước liên bang và đồng thời mỗi nước thành viên cũng có chủ quyền riêng. Vd: Mỹ, Nga, An Độ,… 2.3: Chế độ chính trị: Chế độ chính trị là thái độ, quan điểm, chính sách của giai cấp cầm quyền đối với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội, được thể hiện thông qua tổng thể các phương pháp và thủ đoạn mà các cơ quan nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước. 4: Giá trị cơ bản của Nhà nước pháp quyền cần kế thừa và phát huy. - Nhà nước pháp quyền đề cao pháp luật và các giá trị của pháp luật. Khẳng định, đề cao pháp luật là công cụ hữu hiệu để tổ chức quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Pháp luật trong nhà nước pháp quyền phải là ý chí chung của nhân dân. - Nhà nước pháp quyền đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và các Luật. Đảm bảo cơ sở cho một nền pháp chế vững chắc, ổn định. - Khẳng định tính pháp quyền của các thể chế nhà nước; tính bị ràng buộc bởi pháp luật về thẩm quyền, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước; Yêu cầu kiểm soát về quyền lực, đảm bảo sự giám sát đối với quá trình sử dụng quyền lực nhà nước. Nhà nước pháp quyền đảm bảo tính pháp lý của quyền lực nhà nước, sự ràng buộc bởi pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan công quyền. Khẳng định và duy trì sự điều chỉnh của pháp luật đối với tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, đội ngũ công chức nhà nước. Coi nhà nước là tổ chức công quyền chịu sự ràng buộc của pháp luật và quản lý xã hội thống nhất bằng pháp luật; chống lại sự chuyên quyền, độc đoán và sự tuỳ tiện của bộ máy nhà nước. - Nhà nước pháp quyền khẳng định các giá trị của công lý, đề cao vai trò của Toà án và các cơ quan tư pháp. Nhà nước pháp quyền đảm bảo tính độc lập của cơ quan tư pháp. Đảm bảo mọi vi phạm pháp luật đều bị phát hiện xử lý bình đẳng trước pháp luật. - Thừa nhận công dân là chủ thể của “xã hội công dân”; công dân là đối tượng phục vụ của nhà nước, nhà nước có trách nhiệm với công dân, đảm bảo tự do của mỗi công dân trong khuôn khổ không xâm hại đến lợi ích của người khác và lợi ích xã hội. Nhà nước pháp quyền đảm bảo quyền con người và các quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân. Khẳng định nhà nước là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. 2:Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.     Dựa trên các Văn kiện của Đảng cộng sản Việt nam và Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, có thể khái quát những đặc trưng cơ bản thuộc nội hàm khái niệm nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam như sau:     2.1: Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước phải có hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, chất lượng cao thể hiện được ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội, trong đó Hiến pháp và các đạo luật phải giữ vị trí tối cao. Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cán bộ, công chức nhà nước và mọi thành viên trong xã hội phải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. 2.2: Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua hình thức dân chủ đại diện (qua cơ quan nhà nước do mình bầu ra) và hình thức dân chủ trực tiếp. 2.3: Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực hiện được quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường được pháp chế trong xã hội, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật, bảo đảm thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình. 2.4: Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giưã các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhằm hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, xâm hại tới lợi ích hợp pháp của công dân từ phía Nhà nước. 2.5: Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước do Đảng cộng sản Việt nam lãnh đạo. Đây là đặc điểm đặc trưng, cơ bản, rất quan trọng mang tính lý luận và đã được kiểm chứng bằng thực tế lịch sử của cách mạng Việt Nam.     Với những đặc trưng nêu trên, nhà nước pháp quyền của chế độ ta thể hiện những tư tưởng quan điểm tích cực, tiến bộ, phản ánh ước mơ và khát vọng của nhân dân đối với công lý, tự do, bình đẳng trong một xã hội còn giai cấp.     Trong điều kiện đổi mới hiện nay, chúng ta đặt vấn đề đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, thực chất là tiếp thu những quan điểm tích cực, tiến bộ và khoa học về nhà nước pháp quyền nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân, dựa trên khối đoàn kết dân tộc mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân - nông dân - trí thức do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đó là, Nhà nước đảm bảo tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền lực nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà  nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đó là, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn ngừa sự tuỳ tiện từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm hiệu lực và hiệu quả hoạt động của nhà nước. Đó là, Nhà nước mà mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức, kể cả tổ chức Đảng, cán bộ, công chức đều phải hoạt động theo pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các hoạt động của mình. Mọi công dân đều có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật. 3: Quan điểm cơ bản và nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân. 3.1. Quan điểm chỉ đạo quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN không phải là xây dựng một Nhà nước mới khác về bản chất của Nhà nước XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã tiến hành hơn mấy chục năm qua. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân là nhiệm vụ cốt lõi của cải cách tổ chức, hoạt động của nhà nước, là cách cơ bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt nam chính là quá trình tiếp tục xây dựng Nhà nước XHCN trong điều kiện hoàn cảnh mới. Dựa trên các văn kiện của Đảng, các quy định của Hiến pháp, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau: 3.1.1. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải được thực hiện trên cơ sở nắm vững những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh xây dựng đất nước và các văn kiện của Đảng ta. 3.1.2. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam nhưng phải giữ vững bản chất giai cấp, bản chất dân chủ thực sự rộng rãi của Nhà nước XHCN. Nhà nước Cộng hoã xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. 3.1.3. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. 3.1.4. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam phải đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phù hợp với đặc điểm truyền thống về lịch sử, văn hoá Việt Nam, có bản sắc Việt Nam; đảm bảo kế thừa và phát huy truyền thống, kinh nghiệm quản lý đất nước của dân tộc ta qua suốt chiều dài lịch sử, tiếp thu có chọn lọc thành tựu của thế giới. 3.1.5. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải trở thành yêu cầu cấp bách đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nói cách khác bất cứ nội dung nào của cải cách tổ chức, hoạt động của nhà nước đều phải thấm nhuần yêu cầu và định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. 3.1.6. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là một quá trình từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện, phải tiến hành từng bước vững chắc, phải dựa trên cơ sở thường xuyên tổng kết thực tiễn, kịp thời điều chỉnh bổ sung. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN gắn liền với quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển nền dân chủ xã hội XHCN và tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị. Phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết và phải đảm bảo ổn định chính trị, ổn định kinh tế-xã hội, ngăn chặn được âm mưu và hành động của các thế lực thù địch và bọn cơ hội. 3.2. Nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. 3.2.1. Tiếp tục xây dựng hệ thống pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện nghiêm minh pháp luật, đáp ứng yêu cầu của với nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hợp tác hội nhập quốc tế và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới. Hướng đến hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của toàn xã hội, nhất là cho tổ chức, hoạt động của nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước, đồng thời có chuẩn mực rõ ràng để đánh giá đúng sai, tăng cường pháp chế trong đời sống nhà nước và xã hội. Một mặt coi trọng hoàn thiện Hiến pháp, các luật điều chỉnh tất cả các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và xã hội, mặt khác phải xác định được thứ tự ưu tiên cần thiết và nâng cao tính khả thi, tính hiệu lực và hiệu quả của pháp luật trong cuộc sống. Đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật. Pháp luật về tổ chức hoạt động của nhà nước phải đi liền với pháp luật về phát triển kinh tế, pháp luật về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, pháp luật về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Pháp luật nội dung phải đi liền với pháp luật hình thức. Pháp luật phải gắn liền với đảm bảo thực hiện pháp luật nghiêm minh. Hoạt động lập pháp muốn vậy phải vừa đảm bảo chất lượng vừa phải theo kịp yêu cầu của sự phát triển. Mặt khác phải đẩy mạnh các hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, mở rộng các hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật, dịch vụ và tư vấn pháp lý trong xã hội, xây dựng nếp sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, xây dựng nền văn hoá pháp lý trong đời sống xã hội. 3.2.2. Tiếp cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước.     Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, xây dựng chương trình dài hạn về lập pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn thi hành luật. Quốc hội phải làm tốt chức năng của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước.     Đẩy mạnh cải cách hành chính. Xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá. Điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ theo hướng thống nhất quản lý vĩ mô việc thực hiện các nhiêm vụ trong cả nước bằng hệ thống pháp luật, chính sách hoàn chỉnh. Định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc, cung cấp dịch vụ công.     Phân công, phân cấp nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý theo ngành và theo lãnh thổ; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; tổ chức hợp lý hội đồng nhân dân; kiện toàn các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân và bộ máy chính quyền cấp cơ sở.     Đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng một nền tư pháp trong sạch, công tâm, khách quan, độc lập trong hoạt động nghiệp vụ đồng thời chịu sự kliểm tra, giám sát chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền. Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Sắp xếp lại hệ thống toà án nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền của tòa án các cấp. Tổ chức lại cơ quan điều tra theo hướng gọn đầu mối. Thành lập cảnh sát tư pháp. 3.2.3. Phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế.     Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, hoàn thiện các quy định vè tiêu chuẩn đại biểu, các quy định về bầu cử, ứng cử trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thảo luận quyết định những vấn đề quan trọng.     Chăm lo con người, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của con người. Tôn trọng các cam kết quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.     Quan tâm giải quyết kịp thời  khiếu nại, tố cáo của công dân.     Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật. 3.2.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực.     Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, coi trọng cả năng lực và đạo đức.     Có kế hoạch, chính sách đào tạo cán bộ, công chức và sắp xếp đội ngũ cán bộ công chức theo đúng chức danh, tiêu chuẩn. Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, kịp thời thay thế cán bộ, công chức thoái hoá, yếu kém.     Tăng cường cán bộ cho cơ sở. Có chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn. 3.2.5. Đấu tranh chống tham nhũng.     Tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị, ở các cấp, các ngành từ TƯ đến cơ sở. Gắn chống tham nhũng với chống lãng phí, quan liêu, chống buôn lậu.     Bổ sung hoàn thiện các cơ chế chính sách, không để sở hở, lợi dụng.     Xoá bỏ các thủ tục hành chính phiền hà. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm kê, kiểm soát. Cải cách cơ bản chế độ tiền lương nâng cao đời sống, chống đặc quyền đặc lợi.     Phát huy vai trò của đảng viên, tổ chức đảng, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng và toàn xã hội trong đấu tranh chống tham nhũng. Có chính sách khen thưởng đối với người có thành tích.     Thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức.     Xử lý nghiêm theo pháp luật và theo Điều lệ Đảng những cán bộ, đảng viên vi phạm ở bất cứ cấp nào, lĩnh vực nào. Xem xét trách nhiệm hình sự hoặc có hình thức kỷ luật thích đáng đối với những người đứng đầu cơ quan, đơn vị nơi xảy ra những vụ tham nhũng lớn, gây hậu quả nghiêm trọng. 3.2.6. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.     Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là yêu cầu cấp bách. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là bảo đảm cho việc giữ vững bản chất XHCN của nhà nước và cho sự thành công của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.     Trong quá trình hiện nay sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước thể hiện ở việc đề ra chủ trương, đường lối và các chính sách lớn địnhhướng cho sự phát triển trong từng thời kỳ; lãnh đạo nhà nước thực thi Hiến pháp, pháp luật; xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; xây dưng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, có trí tuệ, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; kiểm tra việc quán triệt và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của đảng, pháp luật của Nhà nước; củng cố nâng cao chất lượng và hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên trong bộ máy nhà nước. 4: Khái quát về thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam     Đánh giá đúng về thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là vấn đề không đơn giản. Tuy nhiên những kết quả không thể phủ nhận được phải kể đến đó là kết quả trong nhận thức đặt nền tảng cho hành động; kết quả trong phát triển nghiên cứu lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền và những kết quả đạt được bước đầu trong thực tiễn của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. 4.1. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam - bước đổi mới quan trọng trong nhận thức và hành động của Đảng và Nhà nước ta. Trong tình hình mới của cách mạng Việt nam, Đảng và nhà nước ta đã sáng suốt khẳng định nhiệm vụ cốt lõi của cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Nói cách khác việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam là một tất yếu khách quan. Nhận thức này được coi là một thắng lợi của quá trình đổi mới trong tiến trình xây dựng nhà nước XHCN ở nước ta.     Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là cách thức cơ bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền lực nhân dân. Hiến pháp 1992 khẳng định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Sở dĩ Đảng ta đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam vì những lý do cơ bản sau: Thứ nhất: Đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam vì bản thân lý luận về nhà nước pháp quyền có những điểm tiến bộ, hợp lý trong việc thực hành quyền dân chủ, trong việc tổ chức, hoạt động của nhà nước. Nhà nước pháp quyền trong đặc trưng của nó có nhiều điểm phù hợp với bản chất của nhà nước ta. Tuy nhiên vì nhà nước và pháp luật luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc, vì vậy Đảng ta xác định rõ: xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Thứ hai: Đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam còn xuất phát từ thực trạng tổ chức, hoạt động của nhà nước ta còn nhiều khiếm khuyết, yếu kém, chưa thực sự là nhà nước tuân thủ pháp luật và thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật. Bên cạnh những thành tựu rất to lớn đạt được, bộ máy nhà nước ta chưa thực sự trong sạch, vững mạnh; tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu còn nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn; hiệu lực quản lý điều hành còn chưa nghiêm; kỷ cương xã hội bị buông lỏng làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Quản lý nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới. Tổ chức bộ máy nhà nước còn nặng nề, sự phân công phối hợp giữa cac cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp còn những điểm chưa rõ về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ phân cấp giữa trung ương và địa phương còn một một số mặt chưa cụ thể làm cho tình trạng tập trung quan liêu cũng như phân tán, cục bộ chậm được khắc phục...Do đó Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh cải cách tổ chức, hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, trong đó cốt lõi là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Thứ ba: Đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam còn xuất phát từ tính tất yếu khách quan của sự phát triển của đất nước theo định hướng XHCN. Sự tất yếu khách quan ấy xuất phát từ định hướng xây dựng CNXCH mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ: dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Đảng ta ý thức sâu sắc rằng để đạt được một chế độ xã hội có mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; một Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Thứ tư: Đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hoá. Nhu cầu hội nhập quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, đảm bảo cho nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, mở rộng dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.     Trong thực tế, qua hơn mười lăm năm đổi mới, thực tiễn đã chứng minh quá trình cải cách tổ chức, hoạt động của nhà nước theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn. Đây phải được coi là thành công quan trọng đầu tiên của thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta. 3.2. Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam gắn liền với quá trình phát triển lý luận về nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Ngay từ khi ra đời Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và nay là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã là Nhà nước mang bản chất của nhà nước kiểu mới được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tính pháp quyền trong tổ chức, hoạt động của nhà nước đã thể hiện trong nhiều văn kiện Đảng và thể hiện ngày càng rõ nét hơn phù hợp với từng giai đoạn cách mạng trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980. Bản chất này của nhà nước tiếp tục được khẳng định trong các Cương lĩnh, các văn kiện của Đảng trong thời kỳ đổi mới, được thể chế hoá rõ trongHiến pháp 1992 và Nghị quyết sửa đổi bổ sung Hiến pháp 1992. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam đòi hỏi phải dựa trên hệ thống lý luận phù hợp với chính điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam. Tư tưởng về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, trong các bản Hiến pháp thể hiện quá trình nhận thức ngày càng đúng đắn, đầy đủ, cụ thể và toàn diện hơn của Đảng, Nhà nước ta về tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại cũng như vấn đề xây dựng Nà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản ở nước ta hiện nay. Những nhận thức cơ bản này là một đảm bảo quan trọng cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đạt được kết quả thắng lợi.      Ngay từ lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện hoàn cảnh nước ta. Tư tưởng của Người về Nhà nước pháp quyền là một bộ phận quan trọng trong kho tàng lý luận của Đảng ta. Trước hết pháp quyền được người sử dụng là khẩu hiệu để đấu tranh chống áp bức và chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc. Trong bài viết "Yêu sách của dân An nam", Người từng đưa ra yêu cầu: "Phải thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật". Người nhấn mạnh: "Trăm điều phải có thần linh pháp quyền". Xuất phát từ tư tưởng trên, khi xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân, Người đã khẳng định: Nhà nước ta là một nhà nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân cử. Tư tưởng về xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, do dân và vì dân ngày càng được thể hiện rõ nét trong các văn kiện của Đảng cộng sản Việt nam, trong các bản Hiến pháp qua các thời kỳ. Tuy nhiên, xét về thời điểm sử dụng thuật ngữ, lần đầu tiên Văn kiện của Đảng sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” là Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII. Tại phần thứ 2 về “Những nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới” của Văn kiện hội nghị này đã nêu nhiệm vụ thứ 7 là “Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt nam của dân, do dân và vì dân” . Đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân, quản lý mội mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền XHCN được xây dựng trên cở sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng lãnh đạo.     Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khoá VII (1/ 1995) đã nêu ra 5 quan điểm cơ bản cần nắm vững trong quá trình xây dựng kiện toàn nhà nước; một trong 5 quan điểm là xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với gia cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng cộng sản lãnh đạo. Gắn xây dựng nhà nước pháp quyền với tăng cường pháp chế XHCN; quản lý xã hội bằng pháp luật đồng thời coi trọng giáo dục đạo đức XHCN.     Văn kiện đại hội lần thứ VIII tiếp tục nhắc lại 5 quan điểm và các nhiệm vụ xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước. Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 ban chấp hành TƯ khoá VIII về “phát huy quyền làm chủ của nhân dân tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh” khi đánh giá đã nêu nhận xét đầu tiên là: đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Mặt khác khi phân tích nguyên nhân yếu kém trong xây dựng nhà nước, Nghị quyết chỉ rõ: việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm vừa tìm tòi rút kinh nghiệm.     Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân đều có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Mặt khác Văn kiện cũng xác định: Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là nhiệm vụ số một, nhiệm vụ bao trùm, chi phối các nhiệm vụ khác trong nội dung phần thứ IX về “đẩy mạnh cải cách tổ chức, hoạt động của Nhà nước...”.     Như vậy, Văn kiện Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định rõ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là vấn đề tất yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời đúc kết tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong quá trình nhận thức, vận dụng và bổ sung vào thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. 4.3. Một số kết quả đạt được trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam trong thực tiễn. 4.3.1. Về xây dựng, củng cố, cải cách, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Nhà nước.     +. Đánh giá chung. Thời gian qua trên cơ sở phân tích sâu sắc thực trạng của bộ máy nhà nước ta và yêu cầu của tình hình mới Đảng và Nhà nước đã đưa ra những kết luận quan trọng, vạch ra những quan điểm chỉ đạo và những giải pháp nhằm xây dựng kiện toàn bộ máy nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Qua đó kết quả đạt nổi bật được thể hiện như:     Tiếp tục phát huy cao độ bản chất dân chủ của nhà nước, tạo điều kiện cho nhân dân lao động thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của mình thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, tham gia tích cực vào xây dựng và bảo vệ nhà nước, kiểm tra giám sát hoạt động của nhà  nước, cán bộ, công chức nhà nước.     Kiện toàn một bước bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, trong sạch, vững mạnh hoạt động có hiệu lực và hiệu quả; nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước trước nhân dân. Các thể chế hành chính nhà nước và tổ chức hành chính nhà nước đều được tăng cường, nền hành chính nhà nước đang đổi mới theo xu hướng dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá.     Đảm bảo và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.     +. Các kết quả lớn cụ thể. Các kết quả lớn cụ thể đạt được của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN  Việt Nam trong thời gian qua gồm:     Đổi mới và nâng cao một bước chất lượng hoạt động của Quốc hội (các kỳ họp Quốc hội, chất lượng và hoạt động của đại biểu Quốc hội, vị thế của Quốc hội trong bộ máy nhà nước và trong đòi sống xã hội). Quốc hội đang thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có khả năng thực hiện tốt nhất quyền lập pháp, quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước.     Củng cố, kiến toàn hội đồng nhân dân các cấp làm đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định.     Cải cách một bước nền hành chính nhà nước, trước hết đã tập trung cải cách thủ tục hành chính, từng bước cải cách thể chế hành chính trên các lĩnh vực phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện hội nhập quốc tế; xây dựng một hệ thống hành chính thông suốt, rõ về chức năng, nhiệm vụ, tinh giản gọn nhẹ (đổi mới chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, uỷ ban nhân dân các cấp).     Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao. Việc quản lý, sử dụng, được đổi mới một bước theo các quy định của pháp luật về cán bộ công chức. Coi trọng  gắn kết hợp chế độ trách nhiệm, khen thưỏng và kỷ luật. Cải cách một bước chế độ tiền lương để nâng cao đời sống. Quan tâm đầu tư cho cán bộ cấp cơ sở.     Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp đảm bảo dân chủ, khách quan, minh bạch, chống và giảm bớt oan, sai. Củng cố đồng bộ hệ thống cơ quan toà án, viện kiểm sát,điều tra, thi hành án, bổ trợ tư pháp.     Tiến hành kiên quyết thường xuyên công tác đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, xử lý nghiêm những người vi phạm đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, củng cố kỷ luật trong nội bộ cơ quan nhà nước. 4.3.2. Về xây dựng, đổi mới hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật.     Trong thời gian qua, công tác xây dựng pháp luật được quan tâm hơn, cơ chế xây dựng pháp luật được đổi mới, do đó hệ thống pháp luật đã có những đổi mới quan trọng phù hợp với sự thay đổi cơ chế kinh tế, với tình hình và nhiệm vụ mới của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế.     Hiến pháp được sửa đổi thích ứng với đòi hỏi của tình hình. Các văn bản luật được quan tâm ban hành để điều chỉnh cho hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống pháp luật phát triển khá cân đối, điều chỉnh cho các lĩnh vực: tổ chức, hoạt động của nhà nước (Luật Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Toà án, Viện kiểm sát...); trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; trong lĩnh vực kinh doanh (Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật kinh doanh bảo hiểm...); trong bảo vệ quyền của công dân và các chủ thể...     Hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật được tăng cường. Nhà nước đã dần thực sự dựa vào pháp luật để quản lý nhà nước và quản lý xã hội. 4.4: Những tồn tại cần khắc phục trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước vẫn còn bộc lộ nhiều khuyết điểm, yếu kém: tổ chức còn cồng kềnh, nhiều tầng, nhiều nấc, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, thảm quyền; tiêu chuẩn cán bộ, công chức nhà nước chưa được xác định rõ; hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước chưa cao. Hoạt động lập pháp đang đứng trước yêu cầu to lớn về hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như yêu cầu mới mẻ, phức tạp của việc điều chỉnh pháp luật nên đã bộc lộ một số bất cập trong thiết kế hoàn thiện tổng thể  hệ thống pháp luật và trong xác định thứ tự ưu tiên cần thiết của từng văn bản pháp luật cũng như nâng cao tính khả thi và tính hiệu lực của văn bản pháp luật. Hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước còn bộc lộ không ít những nhược điểm, nhiều mặt còn chưa theo kịp và đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Tổ chức  hành chính chưa thông suốt, còn hạn chế trong việc xử lý mối quan hệ ngang, thậm chí còn hiện tượng cục bộ, bản vị. Chế độ phân cấp trách nhiệm còn thiếu rành mạch. Thẩm quyền cá nhân chưa được quy định rõ. Phong cách làm việc trước dân của cán bộ, công chức còn là vấn đề bức xúc. Về lĩnh vực tư pháp, tổ chức và  hoạt động còn nhiều bất cập, sai sót. Hệ thống pháp luật còn cần tiếp tục đổi mới mạnh và sâu sắc hơn nữa. Nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền đang đặt ra là  quyết tâm đổi mới hệ thống pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật nghiêm minh. Phần kết luận Qua nghiên cứu sự hình thành, phát triển và các quan điểm lý luận về nhà nước pháp quyền,chúng ta có thể xác định, nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định và thừa nhận tính tối cao của pháp luật; bao hàm việc xác định rõ ràng quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội, nhất là việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân (hoặc con người nói chung). Nhà nước bảo đảm sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội, thiết lập khuôn khổ luật pháp,xây dựng cơ sở vật chất tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế. Chúng ta có thể thấy,tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền đã có từ rất lâu trong lịch sử nhân loại và tương ứng với mỗi kiểu nhà nước (chủ nô, phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa) đều có một hệ thống pháp luật tương ứng và đạt mức độ phát triển khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thống nhất với quan điểm cho rằng, “bất cứ nhà nước nào có hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm khác nhau đều coi là nhà nước pháp quyền” mà cần xác định rằng, tư tưởng về nhà nước pháp quyền phát triển không ngừng, là thành quả của nhân loại, nó hình thành và phát triển cùng với sự tiến bộ xã hội và cho đến nay đã được thế giới thừa nhận về mặt lý luận như một học thuyết về nhà nước pháp quyền. Với những định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thì mục tiêu hàng đầu phát triển kinh tế thị trường ở nước ta được xác định là giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, phát triển nền kinh tế, động viên mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế, trên cơ sở đó, cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, từng bước thực hiện sự công bằng, bình đẳng và lành mạnh các quan hệ xã hội. Từ đó sẽ khắc phục được tình trạng tự túc tự cấp của nền kinh tế, thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển, mở rộng ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động. Áp dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động xã hội, tăng số lượng, chủng loại và chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Thúc đẩy tích tụ, tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế giữa các địa phương, các vùng lãnh thổ, với các nước trên thế giới. Động viên mọi nguồn lực trong nước và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài. Phát huy tinh thần năng động, sáng tạo của mỗi người lao động, mỗi đơn vị kinh tế, tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước nghèo và kém phát triển, thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy, có thể nói, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam đang có những hướng đi tích cực trong thời đại hòa nhập với nền văn minh mới. Vai trò của nhà nước ở bất kỳ một quốc gia nào cũng đều rất to lớn. Phương thức và hiệu quả quản lý của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đối với sự phát triển về mọi mặt của quốc gia đó.  Việt Nam đã lựa chọn cho mình con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội và xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã có quan điểm rõ ràng và đúng đắn về nhà nước xã hội chủ nghĩa đó là: “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”. Từ khi đổi mới đất nước, Đảng ta lại càng chú trọng vận dụng, phát triển, cụ thể hoá vấn đề nhà nước của dân, do dân, vì dân. Do vậy, sự quản lý của nhà nước đối với mọi mặt của đời sống xã hội lại càng ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sự phát triển và bộ mặt của đất nước. Vấn đề nâng cao vai trò của nhà nước là một vấn đề hết sức hệ trọng; luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, chú ý và đưa ra trong các kỳ Đại hội Đảng. Sau đây là đề xuất và kiến nghị Để xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước ta phải đáp ứng những yêu cầu sau: 1: Tiếp tục phát huy cao độ bản chất dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua các hinh thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, tham gia tích cực vào việc xây dựng va bảo vệ nhà nước, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước. 2: Kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tính giản, gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả; nâng cao trách nhiệm của các cán bộ, công chức nhà nước trước công dân. 3: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước. + Công tác xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiệ nay bao gồm những nội dung sau: 1: Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả của Quốc Hội, trọng tâm là công tác lập pháp, quyết định và phân bố ngân sách nhà nước, thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của nhà nước. 2:Xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ trong sạch, vững mạnh từng bước hiện đại hóa. Tiếp tục cải cách hành chính nhà nước, xây dựng một hệ thống cơ quan quản lí thống nhất,thông suốt, có hiệu lực và hiệu quả, đủ năng lực thực thi các nhiệm vụ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.Phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý nghành và quản lý lảnh thổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; tổ chức hợp lý Hội đồng nhân dân; kiện toàn các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân và bộ máy chính quyền cấp cơ sở. 3: Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và các bộ tư pháp trong công tác điều tra không để xảy ra những trường hợp oan, sai. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Sắp xếp lại hệ thống tòa án các cấp, Tổ chức lại cơ quan điều tra và cơ quan thi hành án theo nguyên tắc gọn đầu mối. thành lập cảnh sát tư pháp. 4: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm giữ vững bản chất của nhà nước, bảo đảm quyền lực nhân dân, đưa công cuộc đổi mới đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nướ, bảo đảm chất lượng công tác lãnh đạo của Đảng đồng thời phát huy trách nhiệm, tính chủ động và hiệu lực cao trong quản lý, điều hành bộ máy nhà nước. 5: Tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chông tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị, ở các cấp, các nghành, từ trung ương đến cơ sở. Xử lý nghiêm minh những người vi phạm pháp luật đồng thời tăng cường công tác xây dựng pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật và cũng cố kỹ luật bộ máy nhà nước.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docVấn đề nhà nước nói chung và nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.doc