Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Hơn hai thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đã đem lại cho đất nước ta sự thay đổi to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà bao trùm nhất là việc thực hiện dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Chế độ hành chính quan liêu, bao cấp về mọi mặt đã dấn dần được đẩy lùi, người dân được dần dần làm chủ tư liệu sản xuất, được khuyến khích làm ăn theo pháp luật, được bày tỏ chính kiến, nguyện vọng của mình, được chất vấn, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ đảng và viên chức nhà nước và các cơ quan dân cử. Những chuyển biến bước đầu là rất đáng trân trọng. Tuy nhiên, những bước tiến về dân chủ xã hội vẫn còn khiêm tốn, chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, nhất là khi nước ta hội nhập sâu rộng hơn vào cộng đồng quốc tế. Tình trạng dân chủ một cách hình thức đang còn phổ biến hiện nay, về thực chất, đó là tình trạng mất dân chủ trong đời sống xã hội, đang là nỗi bức xúc của nhân dân, làm giảm lòng tin và tính tích cực của xã hội và làm chậm sự phát triển của đất nước. Người dân đang mong muốn quyền làm chủ đích thực của mình không bị xâm phạm, không bị tha hóa, được thực hiện một cách thực chất và hiệu quả hơn và cần có những hình thức, biện pháp cụ thể để kiểm soát việc thực thi quyền lực. Vấn đề phản biện xã hội (PBXH) càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. PHẦN MỞ ĐẦU 5 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. 10 1.1. Phản biện xã hội: khái niệm, đặc điểm, mục đích, chủ thể, nội dung, hình thức 10 1.1.1. Khái niệm phản biện xã hội 10 1.1.2. Đặc điểm của hoạt động phản biện xã hội 15 1.1.3. Mục đích của phản biện xã hội trong đời sống xã hội 17 1.1.4. Chủ thể và đối tượng của phản biện xã hội 19 1.1.5. Nội dung hoạt động phản biện xã hội 22 1.1.6. Hình thức phản biện xã hội 24 1.2. Sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay 25 1.3. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật: Khái niệm, đặc điểm và các tiêu chuẩn xác định mức độ hoàn thiện. 30 1.3.1. Khái niệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH 30 1.3.2. Đặc điểm của xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH 32 1.3.3. Các tiêu chuẩn để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về phản biện xã hội. 34 1.4. Những điều kiện đảm bảo cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay. 36 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 42 2.1. Thực trạng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay 42 2.1.1. Ưu điểm và nguyên nhân. 42 2.1.2. Hạn chế và nguyên nhân. 56 2.2. Giải pháp tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay 63 PHẦN KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

doc80 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/03/2013 | Lượt xem: 2233 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng PBXH cho một số chủ thể khác. Luật Báo chí năm 1999 đã ghi nhận một cách gián tiếp chức năng phản biện của báo chí thông qua việc quy định chức năng, nhiệm vụ của báo chí và trách nhiệm của bảo chí đối với việc đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Điều 1 Luật này quy định: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội (dưới đây gọi chung là tổ chức); là diễn đàn của nhân dân”. Hay trong Quyết định số 22 của Thủ tướng Chính phủ năm 2002 về hoạt động tư vấn, phản biện về giám định xã hội được xem như bước tiến lớn về mặt thể chế luật pháp ghi nhận vai trò, chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các hội khoa học & kỹ thuật Việt Nam. Điều 1 của Quyết định đã chỉ rõ: “ Đối tượng thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội theo quyết định này là Liên hiệp Hội và các Hội thành viên của Liên hiệp Hội (là các Hội Khoa học và Kỹ thuật ngành Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương). Đây cũng là văn bản pháp luật đầu tiên đưa ra khái niệm phản biện: “…là hoạt động cung cấp các thông tin, tư liệu cùng cá ý kiến phân tích, đánh giá và kiến nghị trong việc đề xuất, xây dựng và thẩm định, phê duyệt đề án”. Nội hàm của khái niệm này tuy chỉ là một khía cạnh của khái niệm PBXH nhưng nó vẫn có giá trị pháp lý và thực tiễn nhất định. Ngoài đối tượng, các vấn đề khác liên quan đến PBXH cũng được quy định trong văn bản như hình thức thực hiện, trách nhiệm của các cơ quan, cơ chế tài chính…Những quy định này chủ yếu đề cập tới vấn đề phản biện mang tính chuyên ngành nhưng nó có ý nghĩa hết sức quan trọng vì là văn bản đầu tiên dành riêng việc điều chỉnh hoạt động PBXH của một đối tượng chủ thể xác định. Nội dung liên quan đến các quy định của pháp luật đối với hình thức phản biện có ý nghĩa rất quan trọng. Vì nó là cơ sở để các chủ thể phản biện biết được những loại hình công việc được phép làm trong phạm vi của mình khi thực hiện hoạt động này. Nhận thức được tầm quan trọng trên, các chủ thể tiến hành xây dựng và hoàn thiện pháp luật cũng rất lưu ý đến những quy định liên quan đến hình thức tiến hành hoạt động. Vì vậy, trong các VBQPPL và áp dụng pháp luật hiện nay, các quy định về hình thức thực hiện PBXH cũng ít nhiều được đề cập. Ví dụ: Trong Luật ban hành VBQPPL năm 2008 đã quy định việc tham gia góp ý vào các dự thảo luật – một hình thức phản biện cơ bản của MTTQVN; Luật báo chí năm1999 (Điều 4); Luật phòng chống tham nhũng (Điều 85, 86) cũng đã quy định một cách gián tiếp một số hình thức phản biện của các chủ thể trong những lĩnh vực mà Luật điều chỉnh. Đặc biệt, gần đây nhất là Quyết định số 97 ngày 24 tháng 7 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục các cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ … cụ thể là Điều 2 của văn bản này, hình thức, thủ tục tiến hành PBXH của các tổ chức khoa học và công nghệ đã được đề cập đến ở khoản 2, đó là: “...Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó tới cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ”. Việc xây dựng các quy định về tiếp nhận xử lí các ý kiến phản biện cũng ý nghĩa rất quan trọng, bởi tính hiệu quả của PBXH phục thuộc rất nhiều vào hoạt động này. Đây là nội dung không thể thiếu khi tiến hành xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH. Các nhà làm luật đã nhận thức được điều nay, chính vì vậy, quy định về tiếp nhận và xử lí các ý kiến phản biện hiện nay đã được ghi nhận trong một số VBQPPL của nhà nước. Khoản 2, 3 Điều 4 Luật ban hành VBQPPL năm 2008 đã quy định: “Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia góp ý kiến về dự thảo văn bản; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; ý kiến tham gia về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu, tiếp thu trong quản trình chỉ lý dự thảo”. Điều 5 Luật báo chí năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định cơ quan báo chí có trách nhiệm: “Đăng, phát sóng tác phẩm, ý kiến của công dân; trong trường hợp không đăng, phát sóng phải trả lời và nói rõ lý do; Trả lời hoặc yêu cầu tổ chức, người có chức vụ trả lời bằng thư hoặc trên báo chí về kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến”. Ngoài ra, vấn đề tiếp nhận, xử lí các ý kiến phản biện của các chủ thể phản biện cũng được quy định trong một số văn bản pháp luật khác. Nhìn chung, pháp luật về PBXH đã đề cập một cách khá đa dạng các nội dung xoay quanh PBXH trong nhiều loại VBQPPL có giá trị pháp lí khác nhau. Sự điều chỉnh này đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của thực tế và khẳng định được những kết quả mà xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội đã đạt được trong thời gian qua. Để đạt được kết quả này, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có những nguyên nhân cơ bản sau đây: Một là, hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH đã kịp thời nhận được sự chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi của Đảng cộng sản Việt Nam. Ngay từ thời điểm, chúng ta hòa nhập với xu thế mở rộng dân chủ cùng nhiều quốc gia khác, Đảng ta đã nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động phản biện và sự cần thiết của việc phải xây dựng một cơ chế thích hợp để điều chỉnh đối với hoạt động này, đồng thời có sự chỉ đạo nhanh chóng và giao nhiệm vụ cho các chủ thể có thẩm quyền. Sự thay đổi trong nhận thức và sự chỉ đạo kịp thời của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng, bởi nó tác động lớn tới nhận thức cũng như hành động của các chủ thể xây dựng hoàn thiện pháp luật về PBXH và mở đường cho các chủ thể “mạnh dạn” hơn trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này. Hai là, hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng đã nhận được sự quan tâm ủng hộ của Nhà nước và toàn xã hội. Cũng xuất phát từ sự thay đổi trong tư duy, nhận thức, các cơ quan nhà nước, các cán bộ công chức cùng toàn thể nhân dân đã có sự hưởng ứng tích cực chủ trương đẩy mạnh hoạt động PBXH của Đảng biến nó trở thành một hoạt động thường xuyên trong công việc hàng ngày của các chủ thể. Từ đó dẫn đến nảy sinh nhu cầu cần có các quy định cụ thể của pháp luật điều chỉnh đối với vấn đề phản biện. Và chính xuất phát từ yêu cầu bức thiết của thực tiễn, đã tạo động lực để các chủ thể có thẩm quyền nhanh chóng xúc tiến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH. Ba là, do sự phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện cả về số lượng và chất lượng của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung. Sự hoàn thiện này thể hiện ở việc hệ thống pháp luật Việt Nam đã đáp ứng được các tiêu chí về tính toàn diện và đồng bộ; tính thống nhất, tính phù hợp, tính khả thi; ngôn ngữ và kĩ thuật xây dựng luật pháp, mặc dù mức độ biểu hiện của từng tiêu chí là khác nhau. Chúng ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật có khả năng bao quát được nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, các quan hệ xã hội quan trọng, phổ biến, điển hình hầu hết đã được pháp luật điều chỉnh. Đặc biệt, việc xây dựng các quy định liên quan đến quyền của công dân nhằm đẩy mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân tiến tới thực hiện một nền dân chủ rộng rãi ngày càng được phát triển và mở rộng trong các lĩnh vực khác nhau đã tác động thuận lợi đến việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về PBXH. Trên cơ sở này, những quy định của pháp luật về PBXH đã được ghi nhận trong nhiều VBQPPL khác nhau. Ngoài ra, các yếu tố như trình độ, kĩ thuật lập pháp ngày càng tiến bộ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các chủ thể có thẩm quyền được nâng cao... cũng là những nguyên nhân để chúng ta đạt được một số kết quả đáng mừng như trên. Bốn là, do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và sự hỗ trợ đắc lực từ công cụ này. Ngày nay, với việc sử dụng phổ biến các phương tiện thông tin truyền thông đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi, không chỉ đối với các cơ quan công quyền trong việc thực hiện các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ và tuyên truyền thông tin pháp luật tới nhân dân mà ngay cả người dân cũng dễ dàng trong việc tiếp cận các thông tin cần thiết từ phía Nhà nước. Trong hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXHnói riêng, thông qua internet, qua đài báo...các cơ quan có thẩm quyền có thể lắng nghe được tâm tư, phản hồi của nhân dân và tranh thủ được nhiều ý kiến đóng góp giá trị từ phía nhân dân để xây dựng và hoàn thiện nên những quy định phù hợp. 2.1.2. Hạn chế và nguyên nhân Trên cơ sở đánh giá, rà soát các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động phản biện xã hội, có thế nhận thấy, bên cạnh một số những ưu điểm đã làm được thì hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH còn tồn tại nhiều yếu điểm và hầu như chưa đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn, biểu hiện thông qua một số hạn chế dưới đây: Thứ nhất, mặc dù các cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành việc thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng về PBXH, nhưng nhìn chung hoạt động triển khai xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động này còn thực hiện khá chậm trễ. Trong chủ trương của Đảng đối với vấn đề PBXH, Đảng ta đã chỉ đạo: “Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”. Thực hiện chủ trương này, đã có một số loại VBQPPL ra đời đề cập đến vấn đề PBXH tuy nhiên, cho đến thời điểm này, mặc dù đã được triển khai nhiều năm trên thực tế nhưng chúng ta vẫn chưa xây dựng được một cơ chế rõ ràng để điều chỉnh đối với hoạt động PBXH. Các chủ thể có thẩm quyền vẫn còn gặp phải nhiều vướng mắc và lúng túng trong việc xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật cụ thể. Việc chưa tạo ra được một cơ chế rõ ràng về PBXH đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của hoạt động này trên thực tế. Điều đó để khẳng định rằng, từ quan điểm nhận thức đến hiện thực hóa trong cuộc sống vẫn còn là khoảng cách không nhỏ. Thứ hai, nội dung và hình thức pháp luật về PBXH còn gặp phải nhiều vướng mắc, chưa phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn cho những chủ thể thực hiện PBXH. Theo những kết quả đã đề cập ở trên cho thấy, từ khi triển khai thực hiện chủ trương của Đảng được đề ra tại Đại hội lần thức X về PBXH, đã có các VBQPPL được xây dựng, ban hành trong đó có đề cập tới một số vấn đề liên quan tới PBXH. Tuy nhiên, chính vì việc quy định trong nhiều loại VBQPPL khác nhau đã dẫn đến một thực trạng là các quy định của pháp luật có liên quan đến PBXH tồn tại một cách khá tản mạn. Các quy định này nằm rải rác từ Hiến pháp, các đạo luật về tổ chức bộ máy, các đạo luật chuyên ngành cho đến các văn bản hướng dẫn thi hành. Các chủ thể khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật đã không đề cao tính thống nhất của pháp luật, dẫn đến hiện tượng các quy định liên quan đến PBXH được xây dựng một cách không có hệ thống, gây khó khăn cho các chủ thể khi muốn tiếp cận cơ sở pháp lý cho hoạt động này. Không chỉ nằm rải rác trong nhiều loại văn bản khác nhau, nội dung các quy định cũng có nhiều hạn chế. Có thể thấy một thực tế là đã có một số VBQPPL, chủ yếu được ban hành trong thời gian gần đây quy định trực tiếp về hoạt động PBXH của một số loại chủ thể còn hầu hết các văn bản trước đây chỉ quy định một cách gián tiếp một số nội dung liên quan đến hoạt động này, dẫn đến các quy định còn chung chung, không cụ thể. Tính chất chung chung không cụ thể được thể hiện từ việc quy định về khái niệm PBXH, chủ thể tiến hành, đối tượng, nội dung, hình thức phản biện... Ngay cả khái niệm PBXH chưa được thể chế hóa trong các VBQPPL mà chỉ thường diễn đạt dưới dạng như những đóng góp ý kiến, kiến nghị, tư vấn phản biện theo yêu cầu. Các vấn đề khác như nội dung, đối tượng, hình thức thực hiện...cũng chỉ được đề cập một cách gián tiếp trong những lĩnh vực cụ thể mà không có những quy định làm rõ nội hàm của các hoạt động cũng như trách nhiệm của các chủ thể khi tiến hành các hoạt động vì vậy mà vẫn không có một cách hiểu thống nhất về PBXH. Hạn chế này không chỉ làm các chủ thể gặp nhiều khó khăn khi thực hiện PBXH mà nó còn có thể là sơ hở để những thế lực thù địch lợi dụng thực hiện mục tiêu chống phá dưới những hình thức “núp bóng” phản biện. Đặc biệt hiện nay, chúng ta đang thiếu những quy định rõ ràng và cụ thể về cơ chế tiếp nhận ý kiến phản biện và chế tài đối với việc không tiếp nhận ý kiến phản biện gây ra hậu quả ngiêm trọng và thiệt hại cho nhà nước. Thực tế cho thấy, hiệu quả của hoạt động PBXH phụ thuộc rất nhiều vào khâu tiếp nhận xử lý các ý kiến phản biện của các chủ thể có thẩm quyền. Phản biện dù có hay và mạnh mẽ và thuyết phục đến đâu nếu không tiếp nhận và xử lí thì cũng không giải quyết được vấn đề. Chúng ta không thể cho các chủ thể bị phản biện quyền được tự do xử lí các ý kiến phản biện. Các chủ thể khi tiếp nhận xử lý các ý kiến phản biện có thể chấp nhận sửa đổi phương án cũ (như đã từng làm với công trình thủy điện Sơn La, dự án thay nước Hồ Tây) hoặc không chấp nhận thay đổi (như phá hủy hội trường Ba Đình hay việc sáp nhập Hà Tây với Hà Nội). Tuy nhiên việc xử lý có thể theo chiều hướng chấp nhận hoặc không chấp nhận đều phải có lí do và sự giải trình cụ thể và công khai để chủ thể phản biện biết được ý kiến phản biện vì sao được chấp nhận hoặc không được chấp nhận. Cơ sở để thực hiện được hoạt động này chính là pháp luật phải có quy định cụ thể, rõ ràng và minh bạch về trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền khi tiếp nhận ý kiến phản biện. Nếu xây dựng được cơ chế này nó không chỉ tăng thêm niềm tin cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia phản biện mà nó còn nâng cao nhận thức của các nhà cầm quyền về trách nhiệm của mình khi tiếp nhận ý kiến phản biện đồng thời tăng sức mạnh, tầm ảnh hưởng của PBXH trong thực tế đời sống. Việc quy định một cách tản mạn, rải rác trong nhiều loại văn bản vừa không giải quyết được vấn đề về mặt nhận thức, vừa gây khó khăn cho hoạt động quản lí đối với lĩnh vực này. Thực tế này đưa đến một hạn chế là sau rất nhiều năm, kể từ khi có chủ trương của Đảng về hoạt động PBXH mà nhận thức cũng như hiệu quả của hoạt động này vẫn không được cải thiện là bao. Rất nhiều người dân, trong đó có cả những người làm việc trong các cơ quan công quyền vẫn không hiểu PBXH là gì, hay mơ hồ về quyền và trách nhiệm của mình khi thực hiện PBXH. Hạn chế này xuất phát từ thiếu sót của những người xây dựng pháp luật của các nhà cầm quyền đã không tạo ra được một hệ thống pháp luật đầy đủ toàn diện về PBXH để giúp cho người dân có nhận thức đúng đắn về nó. Ngoài ra, liên quan đến vấn đề giá trị pháp lý của văn bản, hiện nay trong số các văn bản đề cập đến phản biện xã hội hầu hết tồn tại dưới hình thức là những văn bản dưới luật như Nghị định số 81 năm 2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoa học và công nghệ; Quyết định số 22 của Thủ tướng Chính phủ năm 2002 về hoạt động tư vấn, phản biện về giám định xã hội; Nghị định số 88 năm 2003 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lí Hội; Nghị định số 79 năm 2003 về ban hành cơ chế thực hiện dân chủ ở cơ sở; Pháp lệnh Dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007; Quyết định số 97 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục các lĩnh vực cá nhân được phép thành lập tổ chức khoa học và công nghệ... Hình thức tồn tại này một mặt không thể hiện được tính chất quan trọng của hoạt động PBXH, mặt khác phạm vi tác động của văn bản trên các phương diện về không gian, đối tượng... sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn. Bên cạnh đó, nội dung của các văn bản này cũng không quy định trực tiếp về PBXH, mà chỉ có một số quy định đề cập đến hoạt động phản biện nhưng mang tính chuyên ngành. Việc chưa có một VBQPPL có giá trị pháp lý cao sau Hiến pháp quy định riêng về PBXH đã dẫn tới việc thực hiện không thống nhất, thiếu nghiêm túc và thiếu sự tổ chức chặt chẽ. Thứ ba, hiện nay chúng ta không chỉ thiếu các quy định điều chỉnh trực tiếp các phương diện của hoạt động PBXH mà một số quy định tồn tại trong các văn bản pháp luật có nội dung không phù hợp với nội hàm, tính chất của hoạt động PBXH. Cụ thể cho sự quy định không phù hợp này được thể hiện trong Quyết định số 97 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục các lĩnh vực cá nhân được phép thành lập tổ chức khoa học và công nghệ. Văn bản này có quy định về vấn đề PBXH của các tổ chức, cá nhân, cụ thể tại khoản 2 Điều 2 đã quy định: “..Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó tới cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ”. Tuy nhiên, sau khi công bố, quyết định này đã vấp phải sự phản ứng dữ dội của giới trí thức trong nước. Các tổ chức khoa học công nghệ là một trong những loại tổ chức được tiến hành hoạt động PBXH. Trên thực tế, ở Việt Nam đã có nhiều tổ chức khoa học và công nghệ đóng vai trò tích cực trong việc nghiên cứu và PBXH. Một trong số đó là Viện nghiên cứu Phát triển IDS, với những tên tuổi trí thức như Giáo sư Hoàng Tụy, Nguyễn Quang A, Phan Đình Diệu, Lê Dăng Doanh, Phạm Chi Lan…Việc quy định không công khai danh nghĩa khi tiến hành PBXH, có nhiều ý kiến cho rằng, quy định pháp luật mới này giống như một hành động “bịt miệng phản biện”, giống như “gáo nước lạnh” dội lên tinh thần cầu thị được đóng góp, được phản biện của những tổ chức uy tín và những nhà trí thức yêu nước. Tính chất công khai là một trong những đặc trưng quan trọng của PBXH, để phân biệt phản biện xã hội với một số hoạt động khác. Phản biện mà không được thực hiện một cách công khai thì đâu còn gọi là phản biện. Tóm lại, cơ chế liên quan đến PBXH cũng chưa được định hình một cách rõ ràng. Vì vậy, sự vận hành của hệ thống PBXH rất cần khung pháp lý đồng bộ hơn, đầy đủ hơn, đặc biệt là sửa đổi Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ban hành Luật về hội, Luật minh bạch, công khai…Khung pháp lý chưa hoàn thiện là một khó khăn lớn để các pháp nhân và thể nhân dân thực hiện PBXH. Trong các VBQPPL hiện hành vẫn thiếu những quy định về trách nhiệm, chế tài cụ thể từ phía nhà nước như cung cấp thông tin, minh bạch hóa… để các chủ thể của quyền lực xã hội có điều kiện phản biện. Những quy định vẫn chỉ nhấn mạnh phương thức, nội dung phản biện theo yêu cầu của đối tượng chịu sự phản biện, chưa tạo khuôn khổ pháp lý khuyến khích vai trò phản biện độc lập, chủ động, tích cực của các pháp nhân và thể nhân, tổ chức và cá nhân nên kết quả còn hạn chế. Theo tinh thần, chủ trương chỉ đạo của Đảng, nhiệm vụ cấp bách được đề ra đối với các chủ thể có thẩm quyền hiện nay là xây dựng được cơ chế pháp lý dành riêng cho PBXH. Những đã nhiều năm trôi qua, chủ trương của Đảng vẫn không được thể chế hóa bằng những quy định cụ thể. Vậy nguyên nhân là do đâu? Một là, xuất phát từ yếu tố truyền thống văn hóa, lịch sử. Nói chung từ trong truyền thống của người Việt xưa nay đã thiếu tư duy phản biện. Sự thiếu kĩ năng và tư duy phản biện không những do nguyên nhân tâm lí mà nó còn là kết quả của một nền giáo dục thụ động, một chiều. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đa số học sinh đã có thói quen thầy đọc, trò chép, những kiến thức được truyền đạt chủ yếu từ một phía là người thầy. Học sinh đã quen với việc tiếp nhận một cách thụ động, không có sự phản biện, tranh luận trong quá trình tiếp thu kiến thức. Tâm lí ngại phản biện, ngại tranh luận đã trở thành một thói quen ăn sâu vào tiềm thức của người Việt, vì thế, văn hóa phản biện còn là một thứ khá xa lạ đối với nhiều người Việt Nam. Hai là, chính vì còn xa lạ đối với văn hóa phản biện nói chung và phản biện xã hội nói riêng, nên nhận thức về phản biện đối với nhiều người, ngay cả đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, có liên quan đến hoạt động PBXH còn nhiều hạn chế. Đối với những cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền - những chủ thể hàng ngày, hàng giờ tiếp nhận những ý kiến phản biện của nhân dân cũng chưa có sự nhận thức rõ ràng về nhiều khía cạnh liên quan đến PBXH. Khi nhận thức còn chưa rõ ràng, minh bạch thì đương nhiên nó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến trình độ lập pháp cũng như tiến độ xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH... Ba là, do chúng ta chưa có được một lực lượng phản biện chuyên nghiệp. Dù hiện nay, có nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội, nhiều nhà khoa học, nhà trí thức… quan tâm đến hoạt động này, song sự phản biện từ phía lực lượng này chưa đủ mạnh để làm cho phản biện xã hội phát huy hết được những giá trị của nó. Sự thiết “chất” trong hoạt động làm cho PBXH chưa được quan tâm một cách đúng mức nên việc các chủ thể phản biện cũng như chủ thể bị phản biện chưa quan tâm đúng mức đối với công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật là một dễ hiểu. Họ không nhận thấy tính bức thiết là cần phải có các quy định của pháp luật để điều chỉnh nên việc xây dựng cơ chế về PBXH vẫn bị lùi vô thời hạn. Bốn là, xuất phát từ nguyên nhân về mặt thể chế, thiết chế chính trị. Mặc dù việc đẩy mạnh việc thực hiện dân chủ xã hội đã tạo ra nhiều điều kiện cho người dân được thể hiện quan điểm, tiếng nói của mình nhưng nói chung việc thực hiện quyền tự do ngôn luận còn nhiều hạn chế. Ở phương diện chính trị, nhiều người cho rằng PBXH là một vấn đề khá nhạy cảm. Đối với những đối tượng chịu sự phản biện, có thể do bản lĩnh của người lãnh đạo còn yếu, do tâm lí sợ tình hình trở nên phức tạp và bất ổn, do sự bảo thủ trì trệ nên có thành kiến với việc PBXH, coi nó là rào cản đối với việc thực hiện và duy trì quyền lực của mình. Đối với những đối tượng thực hiện hoạt động PBXH, do tâm lí sợ quyền lực, ngại va chạm còn ảnh hưởng mạnh trong tâm lí và suy nghĩ nên đôi khi việc phản biện mang nặng tính hình thức, không dám nói thẳng, nói thật, nói cho xong chuyện. Một cơ chế chính trị mà mối quan hệ giữa đối tượng phản biện và đối tượng chịu sự ràng buộc, một cơ chế hạn chế quyền tự do ngôn luận của con người thì sẽ không thể có PBXH đúng nghĩa. Nếu như chúng ta làm rõ, giải quyết được mối quan hệ này cũng như chứng minh được phản biện xã hội chính là động lực cho sự phát triển thì khi đó việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật với mục đích tạo ra một cơ sở pháp lý và cơ chế rõ ràng cho hoạt động này mới có khả năng được thực hiện một cách nhanh chóng trên thực tế. 2.2. Giải pháp tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay Trong bối cảnh đất nước ta hiện nay, hoạt động PBXH đang chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Đó là những yếu tố về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…Những sự tác động đó, dù ít hay nhiều cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động PBXH nói chung. Để phản biện xã hội thật sự trở thành một hoạt động mang tính dân chủ, phục vụ đắc lực cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, căn cứ vào tình hình thực hiện hoạt động PBXH ở nước ta hiện nay, cần thiết phải nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện được các quy định của pháp luật để điều chỉnh hoạt động này. Đây vừa là mục tiêu, vừa là trách nhiệm đặt ra đối với các chủ thể có thẩm quyền. Nhất là trong hoàn cảnh, PBXH ở Việt Nam còn là một vấn đề mới mẻ, vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH càng không phải là một công việc không dễ dàng, cần phải thực hiện theo những trình tự và bước đi cụ thể. Trong tiến trình đi đến mục tiêu là xây dựng và hoàn thiện được một hệ thống các quy định phù hợp, thống nhất điều chỉnh hoạt động phản biện xã hội, việc đề ra những giải pháp để phát huy được những ưu điểm, khắc phục và giải quyết những hạn chế, khó khăn của thực tiễn hiện nay là rất cần thiết. Trước tiên cần có sự đổi mới về nhận thức và hoạt động của các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị nói chung, theo hướng: Thứ nhất, phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng – giải pháp quan trọng hàng đầu để thực hiện PBXH đối với hệ thống lãnh đạo – quản lí ở nước ta. Trong điều kiện một đảng cầm quyền đây là một giải pháp quan trọng , thúc đẩy việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật đảm bảo cho PBXH được thực hiện một cách hiệu quả. Trước hết, những quan điểm của Đảng về PBXH trong văn kiện Đại hội X cần được quán triệt, nhận thức sâu sắc trong toàn thể cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ các cương vị chủ chốt trong hệ thống chính trị, những cán bộ trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ là xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Để những quan điểm này đi vào thực tế, vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng là cần khắc phục sự e dè, ngần ngại với PBXH ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nhất là những người giữ những trọng trách quan trọng trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị nói chung và các cơ quan thực hiện chức năng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH nói riêng. Chỉ khi nào, chúng ta thực hiện tốt việc củng cố và hoàn thiện về mặt nhận thức, tư tưởng về phản biện xã hội, đặc biệt đối với những chủ thể có thẩm quyền, thì khi ấy công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH mới có thể được thực hiện một cách thuận lợi, có sự phối hợp, đồng bộ chặt chẽ giữa các chủ thể với nhau trong việc cùng tiến tới một mục tiêu chung. Bên cạnh đó, việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng còn thể hiện ở việc, Đảng không chỉ đề ra chủ trương đường lối cho việc xây dựng cơ chế về phản biện xã hội mà cần có sự chỉ đạo sát sao hơn nữa đối với hoạt động này thông qua việc thường xuyên kiểm tra, theo dõi, giám sát, trên cơ sở đó đánh giá tiến trình cũng như kết quả thực hiện hoạt động của các cơ quan, chủ thể có thẩm quyền. Từ đó, có sự định hướng, chỉ đạo kịp thời cho các chủ thể trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH. Đây là một vấn đề mới, chưa có tiền lệ ở Việt Nam nhưng nó lại có ảnh hưởng quan trọng và liên quan đến hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị nói chung, các cơ quan có thẩm quyền sẽ không tránh khỏi nhiều khó khăn, vướng mắc trong hoạt động xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật. Vì vậy, với vị trí đứng đầu và vai trò lãnh đạo tiên phong toàn bộ hệ thống chính trị Đảng cần có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao hơn nữa thông qua các hoạt động cụ thể để tạo thuận lợi cho các chủ thể trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Cũng liên quan đến vai trò lãnh đạo của Đảng, một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng và có thể được coi là một giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH ở Việt Nam hiện nay đó là cần phải có sự đổi mới về cơ chế phối hợp hoạt động trong mối quan hệ giữa ba bên đó là Đảng – Nhà nước và xã hội. Sở dĩ như vậy, vì PBXH là vấn đề có liên quan thậm chí tác động đến nhiều hoạt động của cả ba chủ thể nói trên và việc xây dựng, hoàn thiện các quy định điều chỉnh vấn đề này là nhiệm vụ chung mà các chủ thể phải tiến hành. Chính vì vậy, cơ chế phối hợp giữa Đảng – Nhà nước – xã hội mang ý nghĩa rất quan trọng, trong đó, Đảng giữ vai trò lãnh đạo, Nhà nước trực tiếp triển khai thực hiện và quản lí, xã hội giám sát và đóng góp ý kiến. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH, bên cạnh tính độc lập trong khi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, các chủ thể cần có sự thống nhất, phối hợp, trao đổi thường xuyên để cùng giải quyết những khó khăn, vướng mắc, đồng thời đó cũng là một yếu tố đảm bảo sự thống nhất của các quy định pháp luật về PBXH. Sự phối hợp này cần được thực hiện thường xuyên trong tất cả các giai đoạn của hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Thứ hai, các chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật cần có ý thức rõ ràng hơn về trách nhiệm của mình, chủ động tiến hành việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về PBXH để đáp ứng kịp thời nhu cầu thực tiễn, chứ không chỉ trông đợi vào sự chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. Thực tế, các chủ thể thực hiện thường rơi vào tâm lí coi PBXH là một vấn đề khá “ nhạy cảm” và mang tính “động chạm” cao vì vậy, thường có thái độ thụ động trong việc triển khai thực hiện xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tiến độ cũng như chất lượng xây dựng pháp luật về PBXH. Để khắc phục tình trạng này, trong quá trình hoạt động các chủ thể có thể chủ động đề xuất việc xây dựng các chương trình, dự án, đề án về xây dựng và hoàn thiện pháp luật, chủ động trình bày những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện với cấp trên để cùng tìm hướng khắc phục và giải quyết khó khăn. Có thể nói, chất lượng của hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH phụ thuộc rất nhiều vào thái độ trách nhiệm của các chủ thể trực tiếp tiến hành. Khi nào, các chủ thể có thẩm quyền thật sự thấy được sự cần thiết phải xây dựng cơ chế dành riêng cho PBXH và có được sự thống nhất và phối hợp đồng bộ với nhau trong quá trình thực hiện thì khi đó chất lượng xây dựng và hoàn thiện pháp luật mới có thể đáp ứng được yêu cầu của thực tế. Điều này không chỉ phụ thuộc vào sự đổi mới trong hoạt động lãnh đạo của Đảng mà từ phía Nhà nước cũng cần có sự thay đổi nhất định trong việc quản lý triển khai thực hiện. Nhà nước cần phải có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng cho các chủ thể, để các chủ thể có thẩm quyền có cơ sở pháp lý thực hiện một cách tốt nhất chức năng xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Ví dụ, hiện nay MTTQVN là chủ thể được giao trọng trách chủ trì thực hiện Đề án xây dựng cơ chế về PBXH, tuy nhiên, ngay cả chức năng PBXH cũng không được quy định trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – VBQPPL điều chỉnh trực tiếp mọi hoạt động của tổ chức này. Điều này đã gây nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận. Vì vậy, Nhà nước cần có sự bổ sung kịp thời các quy định để tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể trong quá trình thực hiện xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Thứ ba, xuất phát từ thực tiễn xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH ở Việt Nam, có thể thấy, hoạt động này hiện nay đang gặp phải nhiều hạn chế, vướng mắc. Nhìn chung, các quy định về PBXH nằm rải rác trong các VBQPPL hiện hành đều đề cập một cách chung chung, không rõ ràng các vấn đề về PBXH, nhiều quy định không phù hợp với tinh thần PBXH. Thực tế này đã gây rất nhiều khó khăn cho các chủ thể, khi muốn thực hiện PBXH mà không biết phải dựa trên cơ sở pháp lý nào. Chúng ta đang bị thiếu “trầm trọng” những quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh hoạt động này, sự thiếu vắng các quy định của pháp luật về PBXH nếu không được giải quyết một cách kịp thời sẽ là trở ngại cho hoạt động PBXH nói chung. Cho nên, yêu cầu cần thiết đặt ra là xây dựng và hoàn thiện pháp luật cần phải được đẩy mạnh thực hiện hơn nữa trong thời gian tới, trước hết, nó cần phải có một định hướng rõ ràng và tập trung vào những nội dung và mục tiêu cụ thể. Đó là hoạt động xây dựng pháp luật trước hết cần phải hướng tới mục tiêu là tạo khung khổ luật pháp cho sự xác lập đồng bộ và thực chất của chủ thể phản biện xã hội. Không có chủ thể thì không có PBXH. Tạo ra khuôn khổ pháp lý cho sự xác lập các chủ thể PBXH là giải pháp có ý nghĩa rất quan trọng trong hệ giải pháp. Hệ thống thể chế, luật pháp đó hình thành không chỉ xuất phát từ yêu cầu thuận lợi cho quản lý nhà nước mà trước hết phải xuất phát từ sự đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân trong PBXH. Phạm vi điều chỉnh của luật pháp phải bao hàm cả các chủ thể PBXH trực tiếp và bán trực tiếp (Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, các tổ tư vấn, báo chí – truyền thông), coi trọng các mối liên hệ, tác động qua lại giữa các chủ thể. Các chủ thể bán trực tiếp rất dễ biến dạng nhất là hành chính hóa, không làm tròn chức trách xã hội, nếu thiếu sự hỗ trợ cần thiết của các hình thức phản biện xã hội trực tiếp của nhân dân. Vấn đề cấp bách đặt ra trước mắt là xây dựng khung pháp lý hoàn thiện chức năng PBXH của MTTQVN, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, báo chí – truyền thông, các tổ chức tư vấn, phản biện. Nói đến tạo quyền cho các chủ thể phản biện thì các quyền tham gia sáng kiến pháp luật, quyền giám sát tình hình thực hiện luật và quyền tư pháp đều có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt, quyền tư pháp cần được chú trọng nhằm bảo vệ các chủ thể phản biện khi đối diện với các nguy cơ hình sự hóa, nếu sự phản biện đó chịu áp lực lớn từ phía cơ quan quyền lực. Đối với những vấn đề về tự do ngôn luận, quyền kiểm duyệt báo chí, quyền tự do thông tin…phải có các chế định tư pháp bảo vệ quyền của công dân và các tổ chức khi tiến hành PBXH. Ở trên đã đề cập đến vấn đề ràng buộc pháp lý cho hoạt động PBXH. Và giải pháp có ý nghĩa lâu dài để điều chỉnh và khắc phục được nhiều hạn chế, nhược điểm của hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật là cần phải ban hành Luật về phản biện xã hội trong đó quy định rõ vai trò, chức năng và trách nhiệm của chủ thể PBXH, chủ thể bị PBXH, đối tượng bị PBXH và quy trình PBXH… Những quy định cụ thể sẽ làm cho PBXH trở thành hợp pháp, tự nhiên, có hệ thống, bắt buộc và cũng nhằm tránh tình trạng cá nhân hoặc chính quyền không tiếp thu ý kiến PBXH. Thực tế cho thấy, PBXH hiện nay còn chiếu lệ, chưa có PBXH đầy đủ, có hệ thống và thực sự có hiệu quả, từ đó sự lộng quyền lợi dụng chức vụ thường xuyên xảy ra. Điều này khiến cho việc xây dựng và ban hành Luật về phản biện xã hội càng trở nên cần thiết. Đó sẽ là một giải pháp có thể giải quyết một cách triệt để nhất những hạn chế của hoạt động PBXH hiện nay và là “đòn bẩy” thúc đẩy hoạt động PBXH phát huy được hết những giá trị tích cực của nó. Muốn xây dựng và ban hành Luật về phản biện xã hội, trước tiên cần phải coi PBXH là một đối tượng điều chỉnh của pháp luật, để PBXH có thể trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật, phải có những điều kiện cần và đủ. Trước hết, điều kiện cần là chúng ta phải có tư tưởng pháp luật về PBXH trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Muốn có được tư tưởng thì trước hết phải đổi mới tư duy pháp lí, nhận thức pháp lí về phản biện xã hội mà tinh thần cơ bản là coi PBXH không chỉ là một hiện tượng chính trị - xã hội mà còn là một hiện tượng chính trị - xã hội - pháp lý, từ đó đi tới khẳng định cần pháp luật hóa PBXH. Một thực tế hiện nay đang diễn ra là PBXH đang được nghiên cứu và được thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau, chính vì vậy, để có thể luật hóa được hoạt động này, thì trong nhận thức của chính chúng ta, trước hết là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xây dựng pháp luật và ở ngoài xã hội cần có sự thay đổi. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi lẽ, nếu trong các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền xây dựng pháp luật và ở ngoài xã hội có sự nhận thức thống nhất về sự cấn thiết phải pháp luật hóa vấn đề PBXH thì sẽ tạo ra được sự đồng thuận cao giữa nhà nước với xã hội trong việc thể chế hóa tư tưởng pháp luật về PBXH thành pháp luật về PBXH, điều này sẽ góp phần thuận lợi để Luật phản biện xã hội sẽ nhanh chóng được xây dựng và hoàn thiện và thực thi trong cuộc sống. Đế có sự nhận thức tư tưởng pháp luật về PBXH một cách thống nhất thì phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau, trong đó quan trọng nhất là tuyên truyền, phổ biện, giáo dục tư tưởng pháp luật về phản biện xã hội trong Đảng, Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, để có thể xác định phạm vi và mức độ điều chỉnh của pháp luật đối với vấn đề PBXH thì cần thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có những biện pháp cơ bản sau đây: Một là, khảo sát thực tế về những vấn đề liên quan đến PBXH cần pháp luật hóa. Việc khảo sát này rất quan trọng vì nó là cơ sở để tính toán cân nhắc đánh giá những vấn đề của PBXH cần được điều chỉnh bằng pháp luật. Việc khảo sát thực tế có thể được tiến hành bằng nhiều phương thức khác nhau như phỏng vấn (hỏi) trực tiếp đối tượng cần lấy thông tin, phát phiếu điều tra xã hội học cho những đối tượng điều tra xã hội học, trao đổi trực tiếp với những cá nhân có trách nhiệm trong bộ máy Đảng, bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và các cá nhân khác. Nội dung phỏng vấn hoặc phiếu điều tra xã hội học hoặc trao đổi trực tiếp là những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến PBXH cần được pháp luật hóa. Đối tượng phỏng vấn, điều tra xã hội học, trao đổi trực tiếp chủ yếu là các cơ quan, cá nhân có trách nhiệm trong bộ máy Đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Kết quả khảo sát cần được xử lí chi tiết, cụ thể, đầy đủ. Hai là, tiến hành tổng kết, đánh giá việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức lấy ý kiến của nhân dân nói chung, của các nhà quản lí, nhà khoa học và các chuyên gia nói riêng vào quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm đưa ra những mặt ưu, khuyết điểm để tìm ra những biện pháp phát huy hay khắc phục. Những vấn đề liên quan đến PBXH có thể được phân chia thành các nhóm sau: a) Nhóm 1: Nhóm những vấn đề chung gồm: Giải thích những khái niệm cơ bản như “ phản biện”, “phản biện xã hội”, “chủ thể PBXH”, “khách thể PBXH”, “nguyên tắc PBXH”, “nội dung PBXH”, “hình thức PBXH”, “phương pháp PBXH”; Mục tiêu và tính chất của PBXH, chủ thể và khách thể của PBXH, nguyên tắc chung của PBXH, căn cứ PBXH, nội dung, hình thức và phương pháp của PBXH…; b) Nhóm 2: Nhóm các vấn đề liên quan đến PBXH và việc xử lí kết quả PBXH ở giai đoạn xây dựng chính sách pháp luật của Nhà nước gồm nội dung, hình thức, phương pháp PBXH, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, tiếp thu và sử dụng kết quả PBXH, cơ chế bảo lưu ý kiến hợp lý nhưng chưa được tiếp thu và sử dụng trong hiện tại…; c) Nhóm 3: Nhóm các vấn đề liên quan đến PBXH việc xử lí kết quả PBXH ở giai đoạn thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước. Ở giai đoạn này, cần xác định rõ, cụ thể trình tự PBXH; nội dung, hình thức, phương pháp PBXH, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, tiếp thu và xử lí kết quả PBXH; d) Nhóm 4: Nhóm các vấn đề liên quan đến những đảm bảo của nhà nước và xã hội bao gồm: trách nhiệm của Quốc hội, HĐND các cấp, Chính phủ, UBND các cấp và các cơ quan nhà nước khác có liên quan trong việc tạo mọi điều kiện cần thiết để các cá nhân, tổ chức thực hiện đúng đắn và có hiệu quả quyền PBXH của mình đối với chính sách pháp luật của nhà nước ở giai đoạn xây dựng và thực hiện chúng; trách nhiệm của MTTQVN và các tổ chức thành viên, của mọi cá nhân, tổ chức khác trong xã hội đối với việc thực hiện PBXH. Tổng hợp các QPPL về PBXH hợp thành một hệ thống gọi là “hệ thống các quy phạm pháp luật về phản biện xã hội” (hay hệ thống pháp luật về PBXH). Các QPPL về PBXH cần được chứa đựng trước hết trong Hiến pháp và Luật về phản biện xã hội và trong các VBQPPL dưới luật khác. Những QPPL này lại được chia thành từng nhóm nhỏ điều chỉnh quan hệ xã hội có nội dung, tính chất, đặc điểm đồng nhất được gọi là chế định luật. Có thể nói, cũng như các bộ phận pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, pháp luật về PBXH cũng cần được xây dựng, củng cố, phát triển, hoàn thiện trên cơ sở phù hợp với bản chất, mục tiêu của chế độ chính trị và trình độ phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội. Bên cạnh đó, cần thiết phải có sự tính toán đầy đủ, toàn diện những tác động tích cực và tiêu cực từ bên ngoài tới sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, dân chủ của nước ta để việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXHcó thể đáp ứng được những yêu cầu của thực tế khách quan. Trên cơ sở tinh thần nêu trên, cần bổ sung trong Hiến pháp 1992 quyền PBXH của công dân đối với chính sách pháp luật của nhà nước chứ không để một điều chung như hiện nay (Điều 57). Bên cạnh đó, cần xây dựng Luật phản biện xã hội, quy định những vấn đề cơ bản và quan trọng nhất về PBXH. Về đối tượng điều chỉnh, Luật phản biện xã hội cần quy định những vấn đề cơ bản và quan trọng nhất về PBXH như đã nêu ở trên. Về phạm vi điều chỉnh, Luật phản biện xã hội quy định những vấn đề về PBXH đối với chính sách, pháp luật của nhà nước ở giai đoạn xây dựng chính sách pháp luật và giai đoạn thực thi chính sách pháp luật. Về cấu trúc của Luật về phản biện xã hội, Luật có thể được cấu tạo thành các chương sau: Chương 1 – Những quy định chung giải thích các khái niệm cần thiết; quy định mục tiêu, tính chất, nguyên tắc chủ thể và khách thể của PBXH; nguyên tắc chung của phản biện xã hội; căn cứ để PBXH; nội dung, hình thức và phương pháp của PBXH…; Chương 2 – Phản biện xã hội đối với chính sách pháp luật ở giai đoạn xây dựng chính sách, pháp luật; Chương 3 – Phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật ở giai đoạn thực thi chính sách, pháp luật; Chương 4 – Trách nhiệm Nhà nước đối với việc bảm đảm thực hiện PBXH; Chương 5 – Trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội đối với việc bảo đảm thực hiện PBXH; Chương 6 – Quản lí nhà nước về PBXH Đó là một số đề xuất cho việc xây dựng Luật về phản biện xã hội, cơ sở pháp lý hoạt động PBXH nói chung trên tất cả các phương diện về: khái niệm, mục đích, chủ thể, đối tượng... Ngoài việc nhanh chóng triển khai hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH mà trọng tâm là xây dựng Luật về PBXH – một giải pháp có tính chất quyết định đến hiệu quả của hoạt động PBXH, các cá nhân có thẩm quyền cần phải phối hợp thực hiện thêm những giải pháp khác. Đó là, trong thời gian tới cần tiếp tục bổ sung, điều chỉnh Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật báo chí, Luật phòng chống tham nhũng, Luật bầu cử… nhằm tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho các chủ thể PBXH; tăng cường tính minh bạch, công khai và giải trình của nhà nước, khuyến khích hợp tác giữa xã hội dân sự với hệ thống lãnh đạo – quản lí; phòng ngừa các khả năng đối lập; đặt cán bộ, công chức trước sự phản biện của nhân dân. Đồng thời, cũng cần phải sớm ban hành những luật mới để trao địa vị pháp lý, tư cách pháp nhân và tạo quyền cho các chủ thể PBXH, trong đó ban hành Luật về hội, Luật tiếp cận là những vấn đề không thể chậm trễ. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy việc tạo ra một môi trường tranh luận, phổ biến trong tất cả các lĩnh vực để hình thành nên tư duy phản biện trong suy nghĩ và hành động của người Việt, rèn luyện năng lực và phong cách PBXH của nhân dân. Nhân dân là chủ thể PBXH vì vậy cần được nâng cao trình độ và phong cách để thực hiện PBXH. PBXH là một hoạt động mang tính khoa học vì vậy đòi hỏi người tham gia cần có trình độ, có sự hiểu biết để làm nòng cốt về cả cách nghĩ và cách nói. Thiết nghĩ, để hình thành nên thói quen phản biện, không chỉ là câu chuyện của riêng ngành giáo dục mà là sự quan tâm chung của toàn xã hội. Chỉ khi nào, văn hóa phản biện được hình thành một cách rõ nét, thì khi đó, PBXH mới trở thành một hoạt động mang tính thường xuyên và nghiêm túc. Ngoài ra, nên tổ chức một số hình thức khác nhằm bắm bắt sự phản hồi của xã hội để bổ trợ cho PBXH. Để PBXH có kết quả, cần và có thể tiến hành một số hoạt động khác nhằm khai thác nhiều kênh thông tin trong xã hội, tìm hiểu phản ứng của xã hội đối với các chủ trương, chính sách, pháp luật của các cơ quan nhà nước. Một số hoạt động bổ trợ có thể kể đến như thăm dò dư luận xã hội, trưng cầu dân ý… Những hình thức hoạt động này không phải PBXH nhưng có thể cung cấp những thông tin quan trọng phục vụ cho hoạt động PBXH. Vì đó là những hoạt động nối liền Nhà nước với nhân dân, làm cho sinh hoạt dân chủ trong xã hội được cải thiện, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Bên cạnh đó, giải pháp để đảm bảo cơ chế tự chủ của các tổ chức xã hội gắn với xây dựng quan hệ hợp tác giữa các tổ chức xã hội với Nhà nước cũng rất quan trọng. Cần phải có những chủ trương, giải pháp để tạo môi trường hài hòa giữa các tổ chức xã hội với Nhà nước để vận hành hệ thống PBXH. Đảm bảo cơ chế tự chủ của các tổ chức xã hội ở đây thể hiện ở việc đảm bảo cơ chế tự chủ cho tổ chức trong vấn đề tài chính về tổ chức nhân sự để hạn chế phần nào sự phụ thuộc của các tổ chức đối với Nhà nước. Vì sự phụ thuộc này là một nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong việc PBXH của các tổ chức. Nhà nước pháp quyền XHCN phải đưa ra hệ thống pháp luật bảo đảm cho các tổ chức nhân dân phát huy được vai trò độc lập, tự chủ của mình trong khuôn khổ Hiến pháp chứ không làm cho các tổ chức của dân ngày càng phụ thuộc vào Nhà nước. Ngoài ra, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các vấn đề liên quan đến PBXH cũng cần thiết phải đẩy mạnh hơn nữa để góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân đối với hoạt động này. Nhận thức của người dân sẽ là một yếu tố đảm bảo để pháp luật về PBXH được xây dựng và thực thi. Các công cụ trợ giúp hiệu quả để chúng ta thực hiện mục tiêu này có thể kể ra như các phương tiện thông tin đại chúng như mạng internet, báo chí, phát thanh, truyền hình… Đó là một hệ thống các giải pháp cần thiết để hệ thống pháp luật về PBXH có thể đi vào cuộc sống. Chúng cần thiết phải được vận hành đồng bộ và đan xen, không có sự tách rời, biệt lập mà phải bổ sung cho nhau một cách liên hoàn tạo ra những triển vọng cho việc thực hiện PBXH. Tuy nhiên, giải pháp quan trọng nhất và cần thiết nhất hiện nay vẫn là đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xây dựng và hoàn thiện cho được hệ thống pháp luật điều chỉnh vấn đề này, mà trọng tâm là xây dựng và ban hành Luật về phản biện xã hội . Đó chính là bước đệm để PBXH có sự phát triển hơn nữa về mặt chất lượng, góp phần hiệu quả vảo công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. PHẦN KẾT LUẬN Dân chủ hóa là xu thế nổi trội trong thời đại ngày nay, mọi quốc gia dân tộc đang bị cuốn hút vào xu thế đó. Việt Nam, bằng đường lối đổi mới đúng đắn đã mang lại những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử làm thay đổi bộ mặt đất nước và vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Trong những thành tựu trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…, thành tựu mang ý nghĩa bền vững hơn cả là đã khởi động được đời sống dân chủ của xã hội, trước hết là dân chủ về kinh tế sau nhiều thập kỷ đất nước sống trong đời sống thời chiến và thời bao cấp sơ cứng, từ đó đã tác động đến đời sống dân chủ trong xã hội. Việc xây dựng một đời sống dân chủ rộng rãi trong xã hội đã tạo điều kiện cho người dân được phát huy một cách tối đa các quyền làm chủ của mình trong đó có quyền PBXH. Thực tế chứng minh rằng, nếu PBXH được tổ chức một cách khoa học, mang lại kết quả thiết thực sẽ làm cho hệ thống chính trị ngày càng hoàn thiện, tính dân chủ được nâng cao, thể hiện rõ sức mạnh và tính ưu việt, khắc phục những yếu kém, khuyết điểm, mang lại niềm tin cho nhân dân. Tuy nhiên, trước khi có thể đi tới kết quả này, xuất phát từ những diễn biến của hoạt động PBXH, có thể thấy, nhiệm vụ mà chúng ta cần phải thực hiện trong thời điểm hiện nay chính là phải xây dựng và hoàn thiện được một khung pháp lý hoàn chỉnh, mà trong đó, trọng tâm là xây dựng Luật về phản biện xã hội. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả của PBXH nói chung. Chừng nào chúng ta chưa xây dựng được một cơ chế pháp lý rõ ràng với những quy định cụ thể để điều chỉnh thì khi đó, nó vẫn còn là một trở ngại cho sự phát triển của hoạt động PBXH ở Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, những kết quả trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH trong thời gian vừa qua chưa thật sự đáng kể, nó đã bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của hoạt động PBXH nói chung. Vì vậy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới, bên cạnh việc thực hiện các giải pháp khác, Đảng – Nhà nước – xã hội, cần tiếp tục có sự phối hợp, đồng thuận để thực hiện mục tiêu chung là tạo ra cơ sở pháp lý cụ thể rõ ràng cho hoạt động PBXH, để PBXH thật sự là hoạt động mang tính dân chủ ở Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO Đảng cộng sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, 2006. Đảng cộng sản Việt Nam – Nghị quyết Hội nghị TW7 ( khóa IX). Hệ thống luật pháp, Luật Mặt trận Tổ quốc, Luật Báo chí, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thanh tra, Luật ban hành băn bản quy phạm pháp luật. Nguyễn Trần Bạt, Phản biện xã hội. 27/2/2007 Nguyễn Minh Đoan, Bàn thêm về phản biện xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 3 – 2011 Nguyễn Quang Hiền, Tính tất yếu của phản biện xã hội trong nhà nước dân chủ, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20 – 10/2010 Kiên Định, Phản biện xã hội – nhân tố quan trọng của sự phát triển xã hội, 31/3/2007 Trần Thị Ngọc Lan, Nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp của Việt Nam hiện nay – Luận văn thạc sĩ Luật học – 2005 Trần Đăng Tuấn, Câu hỏi đặt ra từ cuộc sống, Phản biện xã hội, Nxb Đà Nẵng, 2006 Thang Văn Phúc – Nguyễn Minh Phương (chủ biên), Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb CTQG, 2007. Lê Minh Thông, Tăng cường cơ sở pháp luật về dân chủ trực tiếp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1 – 2000. Trường Đại học Luật Hà Nội, Kỷ yếu hội thảo khoa học Phản biện xã hội – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam – tháng z10/2009 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 5 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. 10 1.1. Phản biện xã hội: khái niệm, đặc điểm, mục đích, chủ thể, nội dung, hình thức 10 1.1.1. Khái niệm phản biện xã hội 10 1.1.2. Đặc điểm của hoạt động phản biện xã hội 15 1.1.3. Mục đích của phản biện xã hội trong đời sống xã hội 17 1.1.4. Chủ thể và đối tượng của phản biện xã hội 19 1.1.5. Nội dung hoạt động phản biện xã hội 22 1.1.6. Hình thức phản biện xã hội 24 1.2. Sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay 25 1.3. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật: Khái niệm, đặc điểm và các tiêu chuẩn xác định mức độ hoàn thiện 30 1.3.1. Khái niệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH 30 1.3.2. Đặc điểm của xây dựng và hoàn thiện pháp luật về PBXH 32 1.3.3. Các tiêu chuẩn để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về phản biện xã hội. 34 1.4. Những điều kiện đảm bảo cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay 36 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 42 2.1. Thực trạng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay 42 2.1.1. Ưu điểm và nguyên nhân 42 2.1.2. Hạn chế và nguyên nhân 56 2.2. Giải pháp tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay 63 PHẦN KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docXây dựng và hoàn thiện pháp luật về phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.doc
Luận văn liên quan