Biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện trạng và giải pháp

Chuyên đề 1: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP A – MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề. Các hoạt động của con người trong nhiều thập kỷ gần đây đã làm tăng đáng kể những tác nhân gây hiệu ứng nhà kính (nồng độ khí thải trong các hoạt động công nghiệp, giao thông, sự gia tăng dân số ), làm trái đât nóng dần lên, từ đó gây ra hàng loạt những thay đổi bất lợi và không thể đảo ngược của môi trường tự nhiên. Nếu chúng ta không có những hành động kịp thời nhằm hạn chế, giảm thiểu và thích nghi, hậu quả đem lại sẽ vô cùng thảm khốc. Theo dự báo của Ủy ban Liên Quốc gia về biến đổi khí hậu (IPCC), đến năm 2100 nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng thêm từ 1,40 C tới 5,80 C. Sự nóng lên của bề mặt trái đất sẽ làm băng tan ở hai cực và các vùng núi cao, làm mực nước biển dâng cao thêm khoảng 90 cm (theo kịch bản cao), sẽ nhấn chìm một số đảo nhỏ và nhiều vùng đồng bằng ven biển có địa hình thấp. Theo dự báo cái giá mà mỗi quốc gia phải trả để giải quyết hậu quả của biến đổi khí hậu trong một vài chục năm nữa sẽ vào khoảng từ 5-20% GDP mỗi năm, trong đó chi phí và tổn thất ở các nước đang phát triển sẽ lớn hơn nhiều so với các nước phát triển. Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH. Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm (IPCC,2007 [6]) Những biến đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và gần đây có thêm hoạt động của con người. BĐKH trong thời gian thế kỷ 20 đến nay được gây ra chủ yếu do con người, do vậy thuật ngữ BĐKH (hoặc còn được gọi là sự ấm lên toàn cầu-global warming) được coi là đồng nghĩa với BĐKH hiện đai. Biến đổi khí hậu gây nguy hại cho tất cả mọi sinh vật sống trên toàn cầu. Vì thế, biến đổi khí hậu là một vấn đề hiện đang được các nước trên thế giới quan tâm sâu sắc. Để góp phần nhỏ vào việc tuyên truyền cho người dân nhận thức rõ hơn về thảm họa của biến đổi khí hậu – Bảo vệ môi trường xanh, sạch đẹp em chọn chuyên đề “Biến đổi khí hậu ở Việt Namthực trạng và giải pháp”

doc40 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 29141 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Chuyên đề 1: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP A – MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề. Các hoạt động của con người trong nhiều thập kỷ gần đây đã làm tăng đáng kể những tác nhân gây hiệu ứng nhà kính (nồng độ khí thải trong các hoạt động công nghiệp, giao thông, sự gia tăng dân số…), làm trái đât nóng dần lên, từ đó gây ra hàng loạt những thay đổi bất lợi và không thể đảo ngược của môi trường tự nhiên. Nếu chúng ta không có những hành động kịp thời nhằm hạn chế, giảm thiểu và thích nghi, hậu quả đem lại sẽ vô cùng thảm khốc. Theo dự báo của Ủy ban Liên Quốc gia về biến đổi khí hậu (IPCC), đến năm 2100 nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng thêm từ 1,40 C tới 5,80 C. Sự nóng lên của bề mặt trái đất sẽ làm băng tan ở hai cực và các vùng núi cao, làm mực nước biển dâng cao thêm khoảng 90 cm (theo kịch bản cao), sẽ nhấn chìm một số đảo nhỏ và nhiều vùng đồng bằng ven biển có địa hình thấp. Theo dự báo cái giá mà mỗi quốc gia phải trả để giải quyết hậu quả của biến đổi khí hậu trong một vài chục năm nữa sẽ vào khoảng từ 5-20% GDP mỗi năm, trong đó chi phí và tổn thất ở các nước đang phát triển sẽ lớn hơn nhiều so với các nước phát triển. Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH. Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm (IPCC,2007 [6]).. Những biến đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và gần đây có thêm hoạt động của con người. BĐKH trong thời gian thế kỷ 20 đến nay được gây ra chủ yếu do con người, do vậy thuật ngữ BĐKH (hoặc còn được gọi là sự ấm lên toàn cầu-global warming) được coi là đồng nghĩa với BĐKH hiện đai. Biến đổi khí hậu gây nguy hại cho tất cả mọi sinh vật sống trên toàn cầu. Vì thế, biến đổi khí hậu là một vấn đề hiện đang được các nước trên thế giới quan tâm sâu sắc. Để góp phần nhỏ vào việc tuyên truyền cho người dân nhận thức rõ hơn về thảm họa của biến đổi khí hậu – Bảo vệ môi trường xanh, sạch đẹp em chọn chuyên đề “Biến đổi khí hậu ở Việt Nam thực trạng và giải pháp” B – NỘI DUNG 2. Cơ sở lý luận 2.1. Định nghĩa về khí hậu (climate): Quan niệm của Alixop về khí hậu: khí hậu của môt nơi nào đó là chế độ thời tiết đặc trưng về phương diện nhiều năm, được tạo nên bởi bức xạ mặt trời, dặc tính của mặt đệm về hoàn lưu khí hậu. Các nhân tố hình thành khí hậu: nhân tố bức xạ, cân bằng bức xạ mặt đất, cân bằng bức xạ khí quyển, cân bằng bức xạ hệ mặt đất-khí quyển, cân bằng nhiệt Trái Đất. Thời tiết trung bình của một vùng riêng biệt nào đó, tồn tại trong khoảng thời gian dài, thông thường 30 năm (theo WMO) bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố thời tiết khác là một trạng thái, gồm thống kê mô tả của hệ thống khí hậu. Các yếu tố khí tượng: bức xạ mặt trời, lượng mây, khí áp (áp suất khí quyển), tốc độ và hướng gió, nhiệt độ không khí, lượng nước rơi (lượng giáng thủy), bốc hơi và độ ẩm không khí, hiện tượng thời tiết. 2.2. Khái niệm biến đổi khí hậu (climate change): Hệ thống khí hậu Trái đất bao gồm khí quyển, lục địa, đại dương, băng quyển và sinh quyển. Các quá trình khí hậu diễn ra trong sự tương tác liên tục của những thành phần này. Quy mô thời gian của sự hồi tiếp ở mỗi thành phần khác nhau rất nhiều. Nhiều quá trình hồi tiếp của các nhân tố vật lý, hóa học và sinh hóa có vài trò tăng tường sự biến đổi khí hậu hoặc hạn chế sự biến đổi khí hậu. Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu đã định nghĩa: “Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”. Biến đổi khí hậu (BĐKH) trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo. Sự thay đổi về khí hậu gây ra trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của con người làm thay đổi cấu thành của khí quyển trái đất mà, cùng với biến đổi khí hậu tự nhiên, đã được quan sát trong một thời kì nhất định”. (UNFCCC). Biến đổi khí hậu là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm (IPCC,2007)... )...” Những biến đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và có sự tác động từ các hoạt động của con người. Những biến đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và gần đây có thêm hoạt động của con người. BĐKH trong thời gian thế kỷ XX đến nay được gây ra chủ yếu do con người, do vậy thuật ngữ BĐKH (hoặc còn được gọi là sự ấm lên toàn cầu – Global warming) được coi là đồng nghĩa với BĐKH hiện đại.) 2.3. Nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu toàn cầu là điều không thể tránh khỏi, dù chúng ta kiểm soát mức phát thải khí nhà kính tốt đến đâu. Nguyên nhân là mức khí thải hiện có trong khí quyển sẽ tiếp tục làm nhiệt độ và mực nước biển gia tăng trong thế kỷ tới. Chuyên gia khí hậu Gerald Meehl và đồng nghiệp thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khí quyển quốc gia Mỹ (NCAR) cùng cộng sự đã sử dụng mô hình khí hậu trên máy tính để dự đoán điều gì sẽ xảy ra nếu con người kiểm soát khí thải nhà kính ở các mức khác nhau. Nghiên cứu trên có tính tới phản ứng chậm chạp của đại dương đối với ấm hoá toàn cầu. Kết quả cho thấy viễn cảnh lạc quan nhất - tức lượng khí thải nhà kính trong khí quyển được duy trì ở mức năm 2000 - đòi hỏi phải cắt giảm mạnh mẽ lượng khí CO2 nhiều hơn so với mức trong Nghị định thư Kyoto. Ngay cả trong trường hợp này, nhiệt độ toàn cầu vẫn sẽ tiếp tục tăng thêm 0,4–0,6oC trong thế kỷ XXI, ngang bằng với nhiệt độ gia tăng trong suốt thế kỷ XX. Biến đổi khí hậu là một vấn đề hiện đang được các nước trên thế giới quan tâm sâu sắc. Biến đổi khí hậu mà tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu đang diễn ra. Nhiệt độ trên thế giới đã tăng thêm khoảng 0,70C kể từ thời kỳ tiền công nghiệp và hiện đang tăng với tốc độ ngày càng cao. Ngoài các nguyên nhân tự nhiên và tính chất biến đổi phức tạp của các hệ thống khí hậu trên thế giới, hầu hết các nhà khoa học về môi trường hàng đầu trên thế giới đều khẳng định: các loại khí nhà kính phát thải vào khí quyển do các hoạt động của con người đã làm cho khí hậu toàn cầu nóng lên. Những nghiên cứu gần đây cho thấy việc phát xả khí nhà kính (chủ yếu là CO2 và Metan CH2) là nguyên nhân hàng đầu của BĐKH, đặc biệt kể từ 1950 khi thế giới đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa và tiêu dùng, liên quan với điều đó là sự tăng cường sử dụng nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, sản xuất xi măng, phá rừng và gia tăng chăn nuôi đại gia súc (phát xả nhiều phân gia súc tạo ra nguồn tăng Metan), khai hoang các vùng đất ngập nước chứa than bùn.. Kết luận của các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Berne - Thụy Sĩ công bố trên tạp chí khoa học Nature ngày 15.5 cho biết nồng độ khí CO2 trong khí quyển hiện ở mức cao nhất trong 800.000 năm qua. Vì vậy, nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất được cho là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6. + CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO2 cũng sinh ra tử các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép. + CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than. + N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp. + HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản uất HCFC-22. + PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm. + SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê 2.4. Các biểu hiện của biến đổi khí hậu: - Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung. - Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất. - Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển. - Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người. - Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác. - Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển. Bằng chứng về sự nóng lên của hệ thống khí hậu được thể hiện ở sự gia tăng nhiệt độ trung bình của không khí và đại dương trên toàn cầu, tình trạng băng tan và tăng mực nước biển trung bình trở nên phổ biến. 11 trong số 12 năm qua (1995-2006) được xếp vào những năm có nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng kỷ lục (từ năm 1850). Xu thế nhiệt độ tăng trong 100 năm (kể từ năm 1906 – 2005) là 0,740C (0,560C đến 0,920C), lớn hơn xu thế được đưa ra trong báo cáo đánh giá lần thứ 3 của IPCC là 0,60C (từ 0,40C đến 0,80C) (1901-2000). Sự gia tăng nhiệt độ đang trở nên phổ biến trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các khu vực vĩ độ cao ở phía bắc. Khu vực đất liền nóng lên nhanh hơn các khu vực đại dương. Những thay đổi về nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, các sol khí, độ che phủ đất và bức xạ mặt trời đã làm thay đổi cân bằng năng lượng của hệ thống khí hậu. Lượng khí thải nhà kính trên toàn cầu do con người đã tăng khoảng 70% so với thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, trong khoảng thời gian từ 1970 đến 2004. 3. Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong những năm gần đây Một số phác thảo kịch bản BĐKH ở Việt Nam đã được công bố tại Hội thảo BĐKH toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam tại Hà Nôi tháng 2/2008, được trình bày tóm tắt dưới đây. Bảng 1.Thông báo Quốc gia về Biến đổi khí hậu ở Việt Nam (so với năm 1990) Năm  Nhiệt độ tăng thêm(0C)  Mực nước biển tăng thêm (cm)   2010  0,3-0,5  9   2050  1,1-1,8  33   2100  1,5-2,5  45   Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008 [1]. Chú ý rằng số liệu trên chưa tính đến tính ì của khí hậu và đặc điểm sụt hạ địa chất địa phương Bảng 2.Kịch bản BĐKH các vùng của Việt Nam (nhiệt độ tăng thêm 0C so với năm 1990) Năm  Tây Bắc  Đông Bắc  Đồng bằng BB  Bắc Trung Bộ  Nam Trung Bộ  Tây nguyên  Nam Bộ   2050  1,41  1,66  1,44  1,68  1,13  1,01  1,21   2100  3,49  4,38  3,71  3,88  2,77  2,39  2,80   Nguồn:Nguyễn Khắc Hiếu, 2008 [1]. Bảng 3. Kịch bản nước biển dâng ở Việt Nam so với năm 1990 Kịch bản / năm  2050  2100   A1F1  13,7  39,7   A2  12,5  33,1   A1B  13,3  31,5   B2  12,8  28,8   A1T  12,7  27,9   B1  13,4  26,9   Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, 2008 [1] chú ý số liệu chưa tính đến biên độ sụt hạ địa chất địa phương Tính trung bình của cả 6 kịch bản thì đến cuối thế kỷ 21 nhiệt đô có khả năng tăng thêm 2,80C, mực nước biển dâng cao thêm 37cm chưa tính đến sự tan băng mà chỉ tính đến sự dãn nở nước đại dương.IPCC cũng dự báo rằng cuối thế kỷ 21 mực nước biển có thể tăng thêm tối đa 81 cm [6]. Tuy nhiên các nhà khoa học Anh cho rằng con số đó chưa phản ánh đúng, nước biển cuối thế kỷ 21 có thể tăng thêm đến 163 cm- tức là gấp đôi số liệu dự báo của IPCC. Xu thế chung của BĐKH ở Việt Nam: Nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam, nhiệt độ ở các vùng ven biển tăng chậm hơn các vùng sâu hơn trong lục địa. Đến cuối thế kỷ 21 nhiệt độ có thể tăng thêm từ 4,0 đến 4,50C theo kịch bản cao nhất và 2,0 đến 2,20C theo kịch bản thấp nhất. Biên độ dâng cao mực nước biển ở nước ta là khá lớn theo tất cả các kịch bản, măc dù vậy vẫn chỉ là tương đương hoặc thấp hơn chút ít so với dự báo của IPCC năm 2007 BĐKH kéo theo hiện tượng El Nino, làm giảm đến 20-25% lượng mưa ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên, gây ra hạn hán không chỉ phổ biến và kéo dài mà thậm chí còn gây khô hạn thời đoạn ngay trong thời gian El Nino. Tác động này ở Nam Trung Bộ lớn hơn Bắc Trung Bộ, Bắc Tây Nguyên lớn hơn Nam Tây Nguyên. Những hiểm họa BĐKH đã, đang và sẽ xảy ra ở Việt Nam: Sự biến động của thời tiết nước ta không thể tách rời những thay đổi lớn của khí hậu thời tiết toàn cầu. Chính sự biến đổi phức tạp của hệ thống khí hậu thời tiết toàn cầu đã và đang làm tăng thêm tính cực đoan của khí hậu thời tiết Việt Nam. Như chúng ta đã biết, Thời kỳ băng hà cuối cùng của địa cầu trong kỷ Đệ tứ (băng hà Wurm 2) lạnh nhất cách đây khoảng 18.000 năm. Tại thời điểm đó: Biển lùi xa về phía Đông. Đường bờ biển thời đó nằm trên thềm lục địa ở độ sâu 100- 120 m so với mực nước biển hiện tại. Toàn bộ vùng Vịnh Bắc Bộ và thềm Sunda (nối liền Nam Bộ Việt Nam với Indonesia), vịnh Thái Lan còn là đất liền. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Việt Nam vào thời băng hà lạnh nhất đó thấp hơn so với ngày nay khoảng 5-7°C. Băng bắt đầu tan và mực nước biển bắt đầu dâng lên từ khoảng 15.000 năm trước đây. Nhiệt độ Trái đất cũng như đường bờ biển đạt đến mức như bây giờ vào khoảng 10.000 năm nay. Tuy nhiên, Trái đất vẫn tiếp tục nóng lên và băng tiếp tục tan, biển vẫn tiến lấn sâu hơn vào so với đường bờ hiện tại. Nhiều bằng chứng thực vật ở Đông Nam Á cho thấy, nhiệt độ trung bình ấm hơn ngày nay chừng 2°C ở khoảng 8.000 năm cách nay, nhưng phải đến khoảng 6.000-5.000 năm cách nay, băng mới ngừng tan và nước biển mới dừng ở độ cao 4-6 m so với mực nước biển ngày nay (biển tiến Flanđri). Các nhà nghiên cứu khảo cổ Việt Nam đã phát hiện nhiều bằng chứng về con người trong lịch sử đã chịu ảnh hưởng của các đợt biển tiến do nhiệt độ Trái đất ấm lên đó. Do mực nước biển dâng cao hơn ngày nay 4-6 m, biển lấn sâu vào lục địa có chỗ tới hàng trăm km. Dấu tích đường bờ biển đương thời xuất lộ ngay ở sát rìa Hà Nội, đến tận sát chân các dãy núi đá vôi thuộc Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa và các tỉnh miền Trung. Những tài liệu nghiên cứu chi tiết về địa chất học và khảo cổ học còn cho biết, từ đó đến nay, xu hướng chung là biển lùi, song vẫn có một số chu kỳ tiến, lùi với biên độ dao động mực nước biển trên dưới 2-3 m vào khoảng trước 3000 năm, sát trước và sau công nguyên và khoảng 1000-1200 năm sau công nguyên đến nay. Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng, nếu chu kỳ biển tiến, lùi với biên độ thời gian khoảng 800-1000 năm thì hiện tại chúng ta đang ở đoạn cuối của chu kỳ biển tiến hiện đại, không loại trừ tốc độ sẽ nhanh hơn nhiều hoặc có đột biến. Như vậy, mực nước biển dâng đang xảy ra nằm trong chu trình chung của biến động, cộng thêm tác động nhanh do hiệu ứng nhà kính gây ra. Vậy chúng ta thấy gì và nghĩ gì về những hiểm họa này trước thực tế và thực tiễn Việt Nam? Những biến động thời tiết bất thường gây thiệt hại lớn cho đời sống dân cư và thiên tai cần được nghiên cứu, xem xét theo chiều hướng có sự báo động toàn cầu về gia tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất và mực nước biển ngày càng dâng cao: nhiệt độ khí quyển và thủy quyển tăng lên kéo theo những biến động khác thường (hiện tượng El Nino) làm cho chế độ thời tiết gió mùa bị xáo động bất thường; bão có xu hướng gia tăng về cường độ, bất thường về thời gian và hướng dịch chuyển; thời tiết mùa đông nói chung ấm lên, mùa hè nóng thêm; xuất hiện bão lũ và khô hạn bất thường. Hiện tượng ngập úng vùng đồng bằng châu thổ mở rộng vào mùa mưa lũ, các dòng sông tăng cường xâm thực ngang gây sạt lở lớn các vùng dân cư tập trung ở 2 bờ trên nhiều khu vực từ Bắc chí Nam. Hiện tượng này cũng đồng thời tạo cồn, bãi bồi, lấp dòng chảy các sông, nhánh sông ở vùng hạ du; ở những sông đã xây dựng hệ thống đê kiên cố thì có hiện tượng bồi lấp ngay chính dòng sông cũng như tuyến khống chế giữa hai bờ đê, tạo nên thế địa hình ngược; những dòng sông nổi cao hơn cả đồng bằng hai bên sông. Vào mùa khô, hiện tượng phổ biến là nước triều tác động ngày càng sâu về phía trung du, hiện tượng nhiễm mặn ngày càng tiến sâu vào lục địa. Ở vùng ven biển, đã thấy rõ hiện tượng vùng ngập triều cửa sông mở rộng hình phễu (hiện tượng estuary) trên những diện rộng, nhất là ở hạ du các hệ thống sông nghèo phù sa. Rõ nhất là vùng hạ du hệ thống sông Thái Bình - Bạch Đằng, ở vùng ven biển Hải Phòng, Quảng Ninh và hệ thống sông Đồng Nai, ở vùng ven biển Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh. Vào mùa khô, các nhánh sông và dòng sông ở các khu vực này đã không thể đóng vai trò tiêu thoát nước về phía biển, biến thành những dòng sông, kênh tù đọng với mức độ ô nhiễm nhân tạo gây nguy hại cho đời sống của những vùng dân cư đông đảo (thuộc diện này có thể kể đến cả vùng rộng lớn thuộc các lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy, Châu Giang ở phía tây nam Hà Nội và các tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình). Hiện tượng sạt lở bờ biển trên nhiều đoạn kéo dài hàng chục, hàng trăm km với tốc độ phá hủy bờ sâu vào đất liền hàng chục, thậm chí hàng trăm mét, là hiện tượng xảy ra thường xuyên trong nhiều năm gần đây, liên quan đến sự tàn phá do gia tăng bão, sóng lớn và sự thay đổi của động lực biển ở đới bờ. Hiện tượng hình thành các cồn cát chắn và tái trầm tích bồi lấp luồng vào các cửa sông, gây trở ngại lớn cho hoạt động vận tải ra vào các cảng biển, khiến cho những công trình nạo vét rất tốn kém đều nhanh chóng bị vô hiệu hóa. Biến đổi khí hậu tại Việt Nam (VN) ảnh hưởng lên đời sống của người dân ngày càng rõ ràng. Nếu như năm 1990, TP.HCM chỉ có 10 điểm ngập thì đến năm 2003, số điểm ngập đã tăng lên 80 điểm và hiện là 100 điểm ngập.Th.s Hoàng Phi Long, ĐH Bách Khoa dự tính, nếu mức thủy triều đỉnh chỉ cần tăng lên 50cm nữa thì gần như 90% diện tích đất của TPHCM đều bị ngập. Khảo sát của Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và môi trường cho biết, tại Bến Tre, mực nước biển đã dâng lên khoảng 20 cm so với cách đây 10 năm, hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện ngày càng nhiều. “Trước đây vùng này không hề có bão nhưng năm 2007 đã có bão...”. Do biến đổi khí hậu, ô nhiễm mặn đã tăng lên khoảng 20% so với trước đó 10 năm. Tại Thừa Thiên - Huế, thay đổi khí hậu còn đậm nét hơn, cường độ mưa tăng rõ rệt. Từ năm 1952 đến 2005 đã có 32 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp và lũ lụt thường xuyên hơn nửa đầu thế kỷ trước. Không những thế, mực nước biển và đỉnh lũ lần sau luôn cao hơn lần trước. Chỉ riêng năm 1999, mực nước biển tháng 11 đã lên đến mức cao nhất so với trước đây. “Thay đổi khí hậu làm gia tăng thiên tai ở nhiều vùng miền của VN. Điều này được thể hiện rõ qua hiện tượng bão lụt xảy ra liên tiếp tại khu vực duyên hải miền Trung VN những năm gần đây” - ông Christophe Bahuet, Phó đại diện Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại VN, khẳng định. Báo cáo phát triển con người 2007/2008 của ông Christophe Bahuet cảnh báo rằng nếu nhiệt độ tăng lên từ 30C-40C, các quốc đảo nhỏ và các nước đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Khi mực nước biển dâng lên khoảng 1 m, VN sẽ có khoảng 22 triệu người bị mất nhà cửa; vùng trũng Ai Cập có khoảng 6 triệu người mất nhà cửa và 4.500 km2 đất ngập lụt; ở Bangladesh có khoảng 18% diện tích đất ngập úng, tác động tới 11% dân số... Tuy nhiên, ông Christophe Bahuet cũng cho rằng không chỉ những nước đang phát triển ảnh hưởng mà những nước đã phát triển cũng không tránh khỏi thảm họa biến đổi khí hậu. Trước mắt, băng tan sẽ đe dọa hơn 40% dân số toàn thế giới. Mặt khác, biến đổi khí hậu sẽ làm cho năng suất nông nghiệp giảm, thời tiết cực đoan tăng, thiếu nước ngọt trầm trọng trên toàn thế giới, hệ sinh thái tan vỡ và bệnh tật gia tăng... Những nước như VN, Bangladesh, Ai Cập... sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Nguy cơ bão lụt, thiên tai sẽ làm cho những nước này rất khó khăn để phát triển kinh tế, đẩy lùi đói nghèo. Theo dự báo của Văn phòng quản lý điều tra tài nguyên biển và môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), ở Việt Nam mực nước biển sẽ dâng cao từ 3 đến 15 cm năm 2010 và từ 15 đến 90 cm vào năm 2070; các vùng ảnh hưởng gồm có Cà Mau, Kiên Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình. Cũng theo dự báo này, nếu mực nước biển dâng cao 1 mét thì 23% dân số sẽ thiếu đất. Bảng 1: Các vụ thiên tai lớn gần đây ở Việt Nam & các tác động Thiên tai  Số người chết, mất tích/thương tật  Tác động chính(số liệu do CCFSC cung cấp chính thức)  Ước tính tổn thất (triệu USD)   Các trận lũ ở Đồng bằng Sông Hồng, 1996  89, 0 / 82  84,265 căn nhà bị đổ và ngập 1,313 lớp học bị thiệt hại 57,900 ha lúa bị ngập 11,675 ha đất nông nghiệp bị thiệt hại 806 ha ao tôm/cá bị ngập tràn 178 tấn cá và tôm bị thiệt hại  30   Bão Linda ở Cà Mau, 1997  778, 2123 / 1232  312,456 căn nhà bị đổ và phá huỷ 7,151 trường bị phá huỷ 348 bệnh viên và trung tâm y tế bị ngập và phá huỷ 323,050 ha ruộng lúa bị thiệt hại 57,751 ha đất nông nghiệp bị ngập và phá huỷ 136,334 ha đầm cá bị ngập 7,753 tàu thuyền bị phá huỷ  450   Các đợt hạn hán 1997, 1998   tổn thất nặng nề cây trồng ở miền Trung  Không có số liệu   Các trận lụt miền Trung năm 1999  721, 35 / 476  Hơn 1 triệu căn nhà bị hư hại 5,915 lớp học bị phá huỷ 701 bệnh viện và trung tâm y tế bị ngập và phá huỷ 67,354 ha ruộng lúa bị ngập 98,109 ha đất nông nghiệp bị thiệt hại 41,508 ha đầm cá tôm bị ngập 1,335 tấn cá tôm bị phá huỷ 2,232 tàu thuyền bị chìm  300   Các trận lũ sông ở đồng bằng Sông Cửu Long, 2000  481, 1 / 6  895,499 căn nhà bị hư hại 12,909 lớp học bị huỷ hoại 379 bệnh viện và trung tâm y tế bị ngập và phá huỷ 401,342 ha ruộng lúa bị ngập và thiệt hại 85,234 ha đất nông nghiệp bị thiệt hại 16,215 ha đầm nuôi cá tôm bị ngập 2,484 tấn cá tôm bị phá huỷ  250   Các trận lũ sông ở đồng bằng Sông Cửu Long, 2001  393, 1 / 0  345,238 căn nhà bị hư hại 5,315 lớp học bị huỷ hoại 20,690 ha ruộng lúa bị ngập và thiệt hại 1,872 ha đất nông nghiệp bị thiệt hại 4,580 ha đầm nuôi cá tôm bị ngập 969 tấn cá tôm bị phá huỷ  100   Cơn bão Damrey ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ, 2005  10, 0 / 11  113,431 căn nhà bị hư hại 3,922 lớp học bị huỷ hoại 2,227,627 ha ruộng lúa bị ngập và thiệt hại 55,216 ha đất nông nghiệp bị thiệt hại 21,193 ha đầm nuôi cá tôm bị ngập 1,300 tấn cá tôm bị phá huỷ  200   Bão Chanchu ở miền Trung, 2006  19, 249 / 1  Thuyền đánh cá bị chìm ở Biển Đông  2   Bão Xangsane ở miền Trung, 2006  72, 4 / 532  349,348 căn nhà bị đổ và ngập 5,236 lớp học bị huỷ hoại 21,548 ha ruộng lúa bị ngập và thiệt hại 3,974 ha đầm nuôi cá tôm bị ngập 494 tấn cá tôm bị phá huỷ 951 tàu thuyền bị chìm  650   Và gần đây nhất ở miền Trung Sáu trận lụt liên tiếp chưa từng có xuất hiện đã gây thiệt hại nặng nề cho người dân. Rồi đợt triều cường lớn nhất trong vòng 48 năm qua ở TPHCM và nhiều tỉnh Nam Bộ, dịch tiêu chảy cấp bùng phát phức tạp và bất thường khiến ngành y tế nước ta lúng túng…  Làng mạc Quảng Nam ngập chìm trong lũ lịch sử vùa xảy ra gần đây Biến đổi khí hậu tại Việt Nam ngày càng khắc nghiệt theo (báo Dân trí) - Biến đổi khí hậu (BĐKH) sẽ tác động nghiêm trọng đến Việt Nam trong thời gian tới. Nhiệt độ toàn quốc tăng cao, hạn hán kéo dài và bất thường, nguồn nước ở các hệ thống sông lớn có xu hướng giảm nhanh.  Khí hậu thay đổi, khô hạn đe dọa khắp cả nước. (Ảnh minh họa) Riêng ở Việt Nam, nước biển dâng sẽ khiến 22 triệu người Việt Nam mất nhà cửa với thiệt hại lên tới 10% GDP. Lũ lụt và bão tố mạnh hơn cũng có thể làm chậm những tiến bộ trong phát triển con người ở những vùng dân cư chính yếu, kể cả Đồng bằng sông Cửu Long. 4. Những giải pháp khắc phục tình trạng biến đổi khí hậu: Từ thực trạng của biến đổi khí hậu toàn cầu đặt ra hai vấn đề lớn mà nhân loại cần phải giải quyết: Một là làm giảm tác động biến đổi khí hậu Hai là thích ứng với biến đổi khí hậu. Để làm giảm tốc độ của biến đổi khí hậu có liên quan đến nhiều lĩnh vực như nền kinh tế chúng ta phải làm. Hiện nay tất cả các nước trên thế giới đang sử dụng nguồn nhiên liệu có nguồn gốc hóa thạch như dầu lửa, than đá... Cần phải sử dụng nhiên liệu hóa thạch một cách hợp lý để giảm khí thải nhà kính. Chúng ta cần phải tiết kiệm năng lượng, sử dụng các hình thực năng lượng khác như nhiên liệu sinh học, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng nguyên tử... thay thế các nhiên liệu dùng nhiên liệu hoá thạch như than đá, dầu lửa. Có rất nhiều các biện pháp liên ngành và đòi hỏi các chính sách phù hợp với từng nước và từng địa phương với mục tiêu tối đa. Mặt khác, chúng ta phải làm sao có những biện pháp đối phó thích nghi sống cùng biến đối khí hậu và tránh thiệt hại tối đa, chính sách, truyền thông các biện pháp ứng phó. Khi chúng ta đắp đê biển chúng ta trồng rừng ngập mặn ở phía ngoài để bảo vệ. Để có thể giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu thế giới cần tăng cường các biện pháp nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính từ các nước công nghiệp và huy động sự tham gia nhiều hơn nữa của các nước đang phát triển, đề ra các biện pháp khuyến khích các nước này hạn chế mức phát thải, đồng thời đảm bảo tăng trưởng kinh tế. 4.1. Thích ứng biến đổi khí hậu trong nông nghiệp: Thích ứng phản ứng lại gồm: Quản lý sạt lở, duy trì đất màu mỡ, xây dựng đập thuỷ lợi, chương trình giáo dục mở rộng đối với việc quản lý và bảo vệ nguồn đất và nước, thay đổi việc sử dụng và áp dụng phân bón, thay đổi thời gian trồng trọt và thu hoạch, chuyển đổi loại cây trồng. Thích ứng truớc kỳ hạn gồm: nghiên cứu và phát triển các vấn đề trong nông nghiệp; quản lý đất và nước; có các biện pháp về chính sách khuyến khích trợ cấp về thuế; cơ chế thị trường, đa dạng hoá và tăng cường về lươong thực cũng như vụ mùa; phát triển vụ mùa có khả năng chịu hạn, mặn, côn trùng, sâu bọ; phát triển hệ thống cảnh báo sớm cho các sự kiện cưc đại; các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu. Trong nông nghiệp và lâm nghiệp sử dụng nhiều phân bón hữu cơ để tránh phát thải khí metan rất nhiều. Đôi khi những thay đổi tưởng như tầm thường lại có thể giúp được người dân đối phó được với tai họa tiềm tàng. Chẳng hạn tại các vùng thường xuyên ngập lụt, tổ chức CARE đã dạy cho người dân chuyển từ nuôi gà sang nuôi vịt ví dụ: phụ nữ Bangladesh chuyển từ nuôi gà sang nuôi vịt. (Trích báo cáo của CARE, tổ chức nhân đạo chống nghèo khổ lớn nhất thế giới trình bày tại hội nghị chuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh LHQ về biến đổi khí hậu sẽ họp vào tháng 12/2009). Tại những vùng khác lại cần chuyển đổi cả các giống cây trồng, từ những cây lương thực chỉ trồng trên cạn sẽ được thay thế bằng những cây trồng chịu nước hoặc ngược lại. Với các biện pháp ấy, dù khí hậu thay đổi thất thường, lụt hoặc hạn, người ta sẽ không bị mất trắng cả một vụ thu hoạch. Biến đổi khi hậu là mối đe dọa thực sự đối với sự phát triển kinh tế xã hội đang tiếp tục diễn ra ở Việt Nam. Lượng mưa ngày càng thất thường và luôn biến đổi, nhiệt độ cao hơn, tình hình thời tiết ngày càng khốc liệt hơn, như bão, hạn hán và lượng mưa lớn gây ngập lụt và mực nước biển dâng cao, tất cả chắc chắn sẽ có những tác động đáng kể đến các ngành và các vùng, và các nhóm thu nhập và nhất là an sinh của dân nghèo nông thôn. Mối đe dọa về biến đổi khí hậu bắt đầu được ghi nhận, nhưng thông tin và nhận thức vẫn còn ở mức thấp. Mặc dù Việt Nam có nhiều chính sách và chiến lược phát triển liên quan, nhưng Việt Nam chưa có chiến lược toàn diện thích ứng với biến đổi khí hậu Quốc Gia và địa phương. Xây dựng năng lực quốc gia và địa phương là rất cấp thiết để đảm bảo các biện pháp đối phó về chính sách là thích đáng và hữu hiệu. Cần phải có điều phối rất tốt giữa các Bộ Ngành và tăng cường hợp tác với các cơ quan quốc tế và các tổ chức NGO quốc tế để có thể giải quyết biến đổi khí hậu một cách có lồng ghép với các nỗ lực lâu dài và phát triển kinh tế xã hội và giảm nghèo. Hết sức quan trọng là chính những người gặp rủi ro biến đổi khí hậu nhiều nhất. Người nghèo nông thôn sống ở các tỉnh bị ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu rất hạn chế về thông tin hoặc hỗ trợ tài chính và kỹ thuật để thích ứng với thế giới của họ đang biến đổi, mặc dầu đã đạt được một số thành công tại địa phương. Kinh nghiệm trực tiếp đối mặt với những tác động của biến dổi khí hậu cần được lồng ghép với các biện pháp ứng phó trong tương lai và các giải pháp đề ra, cần được xây dựng dựa vào những thực tiễn thích ứng của địa phương nếu thích hợp. Người nghèo “gặp rủi ro” cũng cần phải trở thành những người tham gia chủ yếu trong quy hoạch và thực hiện các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu, nhất là ở những nơi các biện pháp đó đòi hỏi phải di dời hoặc từ bỏ đáng kể các phương thức sinh kế hiện có. 5. Những giải pháp cụ thể nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Chương trình trồng rừng là một trong những chương trình được ưu tiên trong "Chiến lược Quốc gia của Việt Nam về Phòng chống và Giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020" vừa được Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 172/2007/ QĐ - TTg ngày 16/11/2007. Nội dung của chương trình: Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai; đảm bảo quy hoạch phát triển, quy chuẩn xây dựng kết cấu hạ tầng phù hợp với tiêu chuẩn phòng chống và giảm nhẹ thiên tai; đảm bảo 100% cán bộ làm công tác giảm nhẹ thiên tai được tập huấn nâng cao năng lực; 70% số dân các xã, phường vùng thường xuyên bị thiên tai được phổ biến kiến thức về phòng chống thiên tai; hoàn thành việc di dời, sắp xếp và ổn định đời sống nhân dân vùng thường xuyên xảy ra thiên tai theo quy hoạch được duyệt; phối hợp chặt chẽ với lực lượng tìm kiếm cứu nạn để chủ động đối phó; đảm bảo an toàn hệ thống đê điều từ Hà Tĩnh trở ra; nâng cao khả năng, mức chống lũ của đê miền trung, Tây Nguyên và Nam Bộ, củng cố nâng cấp đê biển; đảm bảo an toàn các hồ chứa; hoàn thành 100% việc xây dựng khu neo đậu tàu thuyền; hoàn thành hệ thống tin liên lạc. Về công tác chỉ đạo: Nguyên tắc chỉ đạo phòng chống và giảm nhẹ thiên tai phải được thực hiện đồng bộ, theo giai đoạn và có trọng điểm. Quán triệt phương châm "4 tại chỗ", chủ động phòng tránh, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và hiệu quả. Đầu tư cho công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai là yếu tố quan trọng để phát triển bền vững..." Trong những năm vừa qua, hậu quả phá rừng ở một số nơi đã rất rõ, ví dụ như cùng một lượng mưa nhưng nếu phá rừng lũ quét sẽ về gây thiệt hại và ảnh hưởng đến cuộc sống nhiều hơn. Nhưng mấy năm gần gây thông qua chương trình 5 triệu ha rừng nhiều nơi đã nâng cao được rừng che phủ và phòng hộ rất tốt. Một trường hợp thấy rõ là Thừa Thiên - Huế trong đợt lũ vừa qua, lượng mưa tới 3.000 ml nhưng không bị lũ quét tàn phá. Ngày 2-12-2008, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định 158/2008/QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo đó, các nguyên tắc cơ bản của Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu là: - Ứng phó trên nguyên tắc phát triển bền vững, đảm bảo tính hệ thống, tổng hợp, ngành, vùng, bình đẳng về giới, xóa đói, giảm nghèo. - Các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu được tiến hành có trọng tâm, trọng điểm; ứng phó với những tác động cấp bách trước mắt và những tác động tiềm tàng lâu dài. Đầu tư cho ứng phó với biến đổi khí hậu là yếu tố quan trọng đảm bảo phát triển bền vững, ứng phó hôm nay sẽ giảm được thiệt hại trong tương lai. - Ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội. -Các nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu phải được thể hiện trong các chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, các địa phương, được thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật và được quán triệt trong tổ chức thực hiện. - Triển khai ứng phó với biến đổi khí hậu theo nguyên tắc “trách nhiệm chung nhưng có phân biệt” được xác định trong Công ước Khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu. Hội chữ thập đỏ Việt Nam với sự hỗ trợ của hội chữ thập đỏ Hà Lan (NRC) đã thực hiện dự án biến đổi khí hậu ở 5 tỉnh ven biển từ năm 2003 đến 2005. Dự án này đã xây dựng các tư liệu về các tác động và thích ứng biển đổi khí hậu, giúp đánh giá các khả năng dễ bị tổn thương và năng lực của 30 trong tổng số các Xã dễ bị tổn thương nhất và đồng thời nâng cao nhận thức, xây dựng năng lực của người dân địa phương. Dự án còn đào tạo các nhân viên của hội chữ thập đỏ Việt Nam và các tình nguyện viên ở các cấp khác nhau và nâng cao nhận thức cho các nhà ra quyết định. Hội chữ thập đỏ Việt Nam và hội chữ thập đỏ Hà Lan còn hỗ trợ đưa vào thực hiện dự án tái trồng rừng và thích ứng với biến đổi khí hậu ở Tỉnh Quảng Bình để ổn định các đùn cát ven biển bằng trồng cây phi lao và hổ trợ sinh kế của người nghèo. Tổ chức phát triển của Hà Lan (SNV) cùng hội chữ thập đỏ Việt Nam đang khảo sát thêm công trình khác ở Quảng Bình với nguồn tài trợ thông qua cơ chế phát triển sạch. Những nổ lực khác để thích ứng với biến đổi khí hậu gồm có diễn đàn cải thiện công tác quản lý nguồn tài nguyên nước có cân nhắc đến khả năng biến đổi thời tiết gia tăng do CPWC đăng cai và công trình xây dựng các cách thức hữu hiệu hổ trợ nông dân ở tỉnh Quảng Trị sử dụng thông tin khí hậu theo mùa (do ADPC thực hiện). Một nghiên cứu đang được triển khai để tìm cách hợp lý hóa các vấn đề liên quan đến tính dễ tổn thương và thích ứng biến đổi khí hậu với phát triển kinh tế xã hội, các dự án ứng phó và giảm thiểu hạn hán và các biện pháp thích ứng với những tác động của biến đổi khí hậu đối với các hệ thống nước và lưu lượng sông trong lưu vực sông Hương (do IMH và NCAP thực hiện). Dự án lưu vực sông Hương bao gồm việc nghiên cứu các nhu cầu và sự hổ trợ khả dĩ các sinh kế cho các cộng đồng nghề cá dễ bị tổn thương, kể cả việc đa dạng hóa sinh kế thông qua các chương trình đào tạo và cung cấp tín dụng quy mô nhỏ và cải thiện các quyền và quy định đánh bắt cá và phục hồi rừng ngập mặn.(Trap 2006). Cả tổ chức Oxfam Anh lẫn chương trình hỗ trợ nhỏ không hoàn lại từ quỹ môi trường toàn cầu (GEF) của UNDP- Việt Nam hỗ trợ các sinh kế ở Ninh Thuận, một trong số các tỉnh nghèo nhất ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam. Ninh Thuận bị ảnh hưởng hạn hán nặng hơn nhiều các nơi khác và còn bị ảnh hưởng bão và lũ lụt . Các dự án nhỏ dựa vào cộng đồng đã đạt được một số thành công, như cải thiện công tác quản lý đất đai đang đối mặt với quá trình gia tăng hoang mạc hóa do hạn hán. Nhận thức về việc thích ứng biến đổi khí hậu do chính quyền địa phương đã được nâng cao và chính quyền địa phương đã phân bổ kinh phí cho một số hoạt động. Chính quyền địa phương còn xây dựng các kế hoạch khác để giảm thiểu các tác động của hạn hán bằng cách mở rộng các công trình tưới nước như xây dựng giếng sâu, giếng hở và các biện pháp thích ứng dài hạn khác như lập bản đồ các vùng dễ tổn thương trước tai biến, tập huấn cho nông dân những phương thức quản lý nước tốt hơn và nâng cao năng suất cây trồng; đưa vào áp dụng giống cao sản, lớn nhanh và chịu nhiệt độ cao; các công trình tưới nước quy mô nhỏ được mở rộng; hổ trợ tín dụng nhỏ cho các doanh nghiệp quy mô nhỏ của phụ nữ được xem như một biện pháp đa dạng hóa ngoài nông nghiệp và tập huấn về nuôi giống tôm mới chịu nhiệt độ cao. Nghiên cứu gần đây ở Ninh Thuận cho thấy các cộng đồng thực sự thích ứng với biến đổi khí hậu ra sao, ví dụ bằng cách sử dụng các giống hạt chịu hạn hơn và thay đổi thời vụ gieo trồng để xử lý các hiệu ứng của hạn hán. Các cộng đồng còn đưa vào áp dụng các phương thức chăn nuôi gia súc bằng cách thay đổi con giống và tìm kiếm các nguồn thức ăn chịu hạn (đại học KYOTO 2007). Tuy nhiên, một số cộng đồng người thiểu số nghèo (ví dụ nhóm người Chăm) bị các đợt hạn hán gần đây và lũ ảnh hưởng nghiêm trọng (như cuối năm 2005). Các giải pháp lựa chọn thích ứng với biến đổi khí hậu được định hình bằng các quyền của người dân được khai thác và sự dụng các tài nguyên và việc phân bổ không công bằng các quyền và cơ hội về tài nguyên vẫn là rào cản chủ yếu đối với việc thích ứng với biến đổi khí hậu của người nghèo. Cần phải tăng mạnh đầu tư để hỗ trợ sinh kế của họ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà họ sống phụ thuộc, nhất là khi phải đối mặt với những rủi ro của biến đổi khí hậu đang gia tăng. Tuy vậy, có những quan tâm của các quốc gia có thể làm tăng thêm áp lực đối với đất đai và nguồn nước địa phương, ví dụ các kế hoạch dài hạn phát triển điện hạt nhân, trong đó đã quy hoạch nhà máy điện hạt nhận tại tỉnh Ninh Thuận. Tính dễ tổn thương trước biến đổi khí hậu gắn liền với nghèo đói và vì vậy, biện pháp thích ứng lâu dài tốt nhất đối với người dễ bị tổn thương nhất là giảm nghèo bằng tất cả các hình thức. Các biện pháp cấp bách để tăng thu nhập và tăng cường sức dẻo dai của sinh kế là khuyến khích “dàn mỏng” rủi ro bằng cách đa dạng hóa thu nhập; tôn trọng các quyền quản lý tài sản chung; và nâng cao an ninh tập thể, ví dụ bằng tạo ra khả năng thực hiện những đánh giá về tính dễ tổn thương và năng lực địa phương và tăng cường khả năng sẵn sàng ứng phó thiên tai, bao gồm các hệ thống cảnh báo sớm và các biện pháp giảm thiểu có đê điều và trồng rừng. Khái niệm biến đổi khí hậu, các tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu và nhu cầu thích ứng vẫn chưa được hiểu đúng ở Việt Nam, trừ cộng đồng nhỏ các chuyên gia và các cán bộ phát triển, một số cơ quan quản lý nhà nước liên quan và một số địa phương (đã được thụ hưởng từ các dự án liên quan đến biến đổi khí hậu). Để cải thiện tình hình này đòi hỏi phải tăng cường công tác truyền thông và nghiên cứu toàn diện về các tác động của biến đổi khí hậu đối với nên kinh tế của Việt Nam và các mục tiêu phát triển chủ yếu, nhất là giảm nghèo. Tuy nhiên, chúng ta còn biết rất ít về những tác động tiềm tàng về mặt kinh tế và xã hội của mực nước biển dâng cao đối với các khu vực định cư và nông nghiệp chẳng hạn hoặc những biến đổi về các điều kiện khí hậu có thể dẫn đến những số lượng lớn “những người tị nạn khí hậu”. Cần phải nghiên cứu tìm ra các biện pháp và các chiến lược thích ứng dài hạn và hữu hiệu nhất để đảm bảo hạnh phúc cho con người và tiếp tục tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo. Ngày 03/06, Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) đã tổ chức hội thảo "Nâng cao vai trò cộng đồng trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững" tại Đồ Sơn, Hải Phòng. Các đại biểu tham dự đã nghe 3 báo cáo về phản biện xã hội môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu, một số điều cần biết về biến đổi khí hậu và dự thảo Khung Nghị định về sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường.Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang và sẽ làm thay đổi môi trường toàn cầu nhưng không đồng đêu ở các vùng khác nhau, trong đó Việt Nam được dự đoán là một trong những nước sẽ chịu hậu quả nặng nề nhất với khoảng 1/6 diện tích đất đai và 1/3 dân số bị ảnh hưởng. Bởi vậy, vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững rất quan trọng. Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam giới thiệu dự thảo khung Nghị định sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường. Theo đó, Nghị định này thể chế hóa các quy định về nguyên tắc đã trong Hiến pháp, Luật, đạo luật chuyên ngành, tăng cường mạnh mẽ vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường ở nước ta. Nội dung chính gồm 5 nhóm các quy định: quy định chung, quy định về thông tin môi trường cho cộng đồng, về nội dung tham gia của cộng đồng, tiếp cận tư pháp, nâng cao năng lực cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường. Cộng đồng được Nhà nước đảm bảo các quyền khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra thông qua tổ chức đại diện, được hỗ trợ cung cấp các bằng chứng theo yêu cầu khi thực hiện quyền đòi bồi thường thiệt hại. Các hành vi về gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng dân cư, tổ chức, gia đình và cá nhân thì cộng đồng có quyền tố cáo. Phản biện xã hội (PBXH) nhằm làm cho các chủ trương, chính sách, chương trình hay dự án ngày càng hoàn thiện trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo nên sự đồng thuận nhằm phục vụ tốt hơn những vấn đề quốc kế, dân sinh. Trong bối cảnh BĐKH, việc phản biện xã hội cần chú ý là BĐKH là quá trình trường diễn nên những nhận định về tác động cụ thể tại một địa điểm cụ thể thường khó thuyết phục. Đây cũng là điểm mà các dự án, chương trình được PBXH khó chấp nhận để thay đổi. Cách tốt nhất là xem xét khả năng gây hại cho các hệ sinh thái vốn có chức năng bảo vệ ở những vùng nhạy cảm với BĐKH mà pháp luật đã quy định như rừng ngập mặn, rừng phòng hộ, không gian xanh của đô thị, vùng đất thấp ven biển... hoặc những quá trình tai biến nhãn tiền như xói lở bờ biển làm mất đất, nhiễm mặn đang gia tăng... Theo PGS.TS Vũ Đình Hòe, phản biện xã hội là lĩnh vực mới, hết sức cần thiết của xã hội dân sự vào các chủ trương, chính sách, chương trình, hoặc dự án nhằm phục vụ tốt hơn những vấn đề quốc kế dân sinh. Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam là tổ chức đầu tiên được Thủ tướng Chính phủ giao cho chức năng phản biện xã hội (2002), tập trung vào lĩnh vực Bảo vệ thiên nhiên và môi trường. Đến nay Hội đã tiến hành các phản biện xã hội đối với dự án Tam Đảo 2; bô xít Tây Nguyên và vụ việc VEDAN gây ô nhiễm nghiêm trọng trên sông Thị Vải. Cũng theo GS Vũ Đình Hòe muốn thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội, cần một đội ngũ chuyên gia giỏi, tâm huyết, thực hiện các bước thu thập dữ liệu khoa học, đặc biệt là các chứng cứ khoa học và pháp luật, thì những ý kiến phản biện mới có ích đối với vấn đề xã hội, chính quyền quan tâm. Phương pháp PBXH đòi hỏi BĐKH được xem như bối cảnh để tư duy hơn là chứng cứ để phản biện. Nguyên tắc chung của PBXH về tài nguyên, môi trường là tuân thủ luật pháp, có cơ sở khoa học, tư duy hệ thống, phù hợp văn hóa, hội thảo, xây dựng Văn kiện PBXH về tài nguyên, môi trường và truyền thông. Văn kiện PBXH chỉ nói về những vấn đề quan trọng nhất, có cơ sở khoa học chặt chẽ, tầm ảnh hưởng lớn và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ tính hợp pháp của dự án PBXH, những vấn đề môi trường trọng yếu chưa được tính đến hay tính đủ của dự án bao gồm môi trường tự nhiên, xã hội - nhân văn, trong đó chú ý sức khỏe con người, an ninh môi trường và tác động tiêu cực đến kinh tế. PBXH chỉ thành công khi có sự tham gia tích cực của xã hội dân sự. Cuối cùng, thay mặt nhóm soạn thảo, Thạc sĩ Nguyễn Hưng Thịnh trình bày dự thảo Khung Nghị định “Sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ Môi trường”. Theo đó, Nghị định được xây dựng nhằm xác định cơ sở pháp lý bảo đảm thông tin môi trường; sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động môi trường; bình đẳng pháp luật trong tiếp cận môi trường; nâng cao năng lực cộng đồng về bảo vệ môi trường. Cộng đồng sẽ được tham gia vào việc xây dựng cơ chế, chính sách pháp luật; được tuyền truyền, đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực và nhận thức; được khen thưởng khi có thành tích xuất sắc trong bảo vệ môi trường. Đồng thời được tiếp nhận định kỳ thông tin báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, địa phương, các báo cáo chuyền để về môi trường; danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trương nghiêm trọng, các khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái nghiêm trọng, khu cực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; danh sách, thông tin về các nguồn thải, các loại chất thải có nguy cơ gây hại đến sức khỏe con người và môi trường; danh mục sinh vật ngoại lai xâm lấn, sinh vật biến đổi gen; kết quả quan trắc các thành phần môi trường. Bên cạnh đó, cộng đồng được tiếp nhận các thông tin không định kỳ về các hoạt động chất thải, công nghệ xử lý, thông số tiêu chuẩn về chất thải, các giải pháp bảo vệ môi trường trong quá trình lập báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án; thông tin về các loại chất thải, khối lượng chất thải rắn, lưu lượng nước thải, kết quả quan trắc các thông số môi trường của cơ sở trong quá trình hoạt động... Một mặt quan trọng nữa là việc giáo dục ý thức cộng đồng về việc bảo vệ môi trường nhằm thích ứng biến đổi khí hậu. Đối với  mỗi cá nhân chúng ta phải có ý thức trong việc bảo vệ môi trường. Bao gồm giữ gìn môi trường, sử dụng giao thông tốt nhất như đi nhiều người một xe, dùng bóng đèn tiết kiệm, ra khỏi phòng tắt điện ngay, tắt máy tính khi không dùng. Mỗi cá nhân phải nhận thức rằng năng lượng và sự bảo vệ môi trường là hết sức quan trọng sẽ làm cho thế giới tốt hơn. C – KẾT LUẬN Phần lớn các địa phương ở nước ta, nhất là các tỉnh ven biển chưa nhận diện đầy đủ mối đe doạ của biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu chưa thực sự được tính toán và lồng ghép vào các quy hoạch phát triển của tỉnh cũng như của các ngành, các địa phương có khả năng chịu ảnh hưởng nặng nề. Những ngành nhạy cảm và có nguy cơ chịu thiệt hại nặng nề do biến đổi khí hậu như nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản mặn - lợ, du lịch biển, công nghiệp, đô thị vùng bờ chưa tính kỹ tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Những tác động tiêu cực cấp 2 như nghèo đói gia tăng, tị nạn môi trường trên diện rộng, xung đột tranh chấp tài nguyên và đất sống, xung đột sinh thái cũng chưa được nghiên cứu dự báo. Vì thế việc cần làm sớm là nghiên cứu xác định tác động của biến đổi khí hậu và điều chỉnh lại quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà, biến thách thức của biến đổi khí hậu thành cơ hội mới cho phát triển. Thiết nghĩ, để làm được tất cả mọi người đều cần chung tay góp sức. Các quốc gia, các tổ chức cần đưa ra những chương trình, biện pháp phù hợp cho từng khu vực. Mỗi cá nhân cần có ý thức thực hiện tốt việc giữ gìn vệ sinh chung, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, tham gia tích cực những chương trình vì môi trường…Thực hiện những việc trên là điều cần thiết đối với việc phòng tránh và thích ứng biến đổi khí hậu toàn cầu. D – TÀI LIỆU THAM KHẢO Lê Huy Bá –1996 - Môi trường khí hậu thay đổi mối hiểm hoạ toàn cầu – NXB TP. Hồ Chí Minh TS. Trần Trung Dũng – 9/2006 - Giáo trinh sinh thái môi trường. Lê Văn Khoa – 2001 – Khoa học môi trường – NXB Bộ Giáo Dục và Đào Tạo IPCC - Intergovernmental Panel on Climate Change. Viện Khoa học Thuỷ lợi Miền Nam (2008), Quy hoạch chống ngập cho TPHCM, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ. DANIDA (2002), Hội thảo về mô hình toán MIKE, Viện KHTL Miền Nam, Tp. HCM. Chuyên đề 2: ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ TIỀM NĂNG SỬ DỤNG ĐA DẠNG SINH HỌC Ở TÂY NGUYÊN A – MỞ ĐẦU Đặt vấn đề Sù tån t¹i cña x· héi loµi ng­êi liªn quan mËt thiÕt ®Õn c¸c nguån tµi nguyªn thiªn nhiªn, tµi nguyªn sinh vËt. Tuy nhiªn con ng­êi ®ang l¹m dông qu¸ møc viÖc khai th¸c sö dông c¸c nguån tµi nguyªn nµy vµ kÕt qu¶ lµ tµi nguyªn thiªn nhiªn, tµi nguyªn sinh vËt, m«i tr­êng bÞ suy tho¸i, g©y ra mÊt c©n b»ng sinh th¸i, ®e do¹ cuéc sèng cña c¸c loµi sinh vËt trong ®ã cã loµi ng­êi chóng ta. Søc khoÎ cña hµnh tinh phô thuéc vµo sù ®a d¹ng cña c¸c loµi sinh vËt. V× vËy viÖc b¶o tån ®a d¹ng sinh häc ®­îc coi lµ nhiÖm vô rÊt cÊp b¸ch hiÖn nay vµ còng lµ tr¸ch nhiÖm cña c¶ nh©n lo¹i. §· ®Õn lóc con ng­êi ph¶i thay ®æi vÒ suy nghÜ vµ hµnh ®éng cña m×nh ®èi víi viÖc khai th¸c sö dông tµi nguyªn thiªn nhiªn theo ph­¬ng ch©m "ph¸t triÓn bÒn v÷ng". Tây Nguyên ®­îc coi lµ mét trong nh÷ng trung t©m vÒ ®a d¹ng sinh häc cña Việt Nam còng nh­ trong khu vực Đông Nam Á và trên Thế Giới. Nh÷ng ph¸t hiÖn loµi míi cũng như phát hiện ra khu vực phân bố mới của một số động vật quý hiếm như: Sếu đầu đỏ… đã g©y chÊn ®éng thÕ giíi gÇn ®©y ®· cho thÊy r»ng thiªn nhiªn vùng Tây Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung cßn nhiÒu ®iÒu bÝ Èn ch­a ®­îc kh¸m ph¸. Tuy nhiªn Tây Nguyên còng ®ang ph¶i ®èi mÆt víi mét thùc tr¹ng rÊt ®¸ng lo ng¹i ®ã lµ sù suy tho¸i nghiªm träng vÒ m«i tr­êng vµ tµi nguyªn ®a d¹ng sinh häc, ®e do¹ cuéc sèng cña c¸c loµi sinh vËt vµ cuèi cïng lµ ¶nh h­ëng ®Õn sù ph¸t triÓn bÒn v÷ng cña vùng và của cả đất nước. ViÖc trang bÞ cho học viên, sinh viªn, học sinh…người dân nh÷ng kiÕn thøc, kÜ n¨ng vµ th¸i ®é cÇn thiÕt vÒ b¶o tån ®a d¹ng sinh häc lµ hÕt søc quan träng gãp phÇn n©ng cao ý thøc vµ tr¸ch nhiÖm cña toµn x· héi ®èi víi c«ng t¸c b¶o tån ®a d¹ng sinh häc. Xuất phát từ ý tưởng đó, bản thân là học viên cao học ngành sinh học trường Đại Học Tây Nguyên muốn góp một phần nhỏ vào mục tiêu chiến lược phát triển bền vững của đất nước. Đó cũng chính là lí do mà em chọn chuyên đề “Đa dạng sinh học và tiềm năng sử dụng đa dạng sinh học Tây Nguyên” B – NỘI DUNG 2. Cơ sở lý luận 2.1.Kh¸i niÖm vÒ ®a d¹ng sinh häc Theo ­íc tÝnh gÇn ®©y nhÊt th× cã ®Õn 12 ®Þnh nghÜa kh¸c nhau vÒ ®a d¹ng sinh häc (Gaston and Spicer, 1998). Tuy nhiªn trong sè nµy th× ®Þnh nghÜa ®­îc sö dông trong C«ng ­íc ®a d¹ng sinh häc (1992) ®­îc coi lµ "toµn diÖn vµ ®Çy ®ñ nhÊt" xÐt vÒ mÆt kh¸i niÖm. Trong thùc tÕ thuËt ng÷ ®a d¹ng sinh häc ®­îc dïng lÇn ®Çu tiªn vµo n¨m 1988 vµ sau khi C«ng ­íc §a d¹ng sinh häc ®­îc ký kÕt (5/6/1992) th× nã ®· ®­îc dïng phæ biÕn h¬n. Trong C«ng ­íc vÒ ®a d¹ng sinh häc, thuËt ng÷ ®a d¹ng sinh häc ®­îc dïng ®Ó chØ sù phong phó vµ ®a d¹ng cña giíi sinh vËt tõ mäi nguån trªn tr¸i ®Êt, nã bao gåm sù ®a d¹ng trong cïng mét loµi, gi÷a c¸c loµi vµ sù ®a d¹ng hÖ sinh th¸i (Gaston and Spicer, 1998). Nh­ vËy ®a d¹ng sinh häc lµ toµn bé c¸c d¹ng sèng trªn tr¸i ®Êt, bao gåm tÊt c¶ c¸c nguån tµi nguyªn di truyÒn, c¸c loµi, c¸c hÖ sinh th¸i vµ c¸c tæ hîp sinh th¸i. §a d¹ng sinh häc th­êng ®­îc thÓ hiÖn ë 3 cÊp ®é: ®a d¹ng trong loµi (®a d¹ng di truyÒn), gi÷a c¸c loµi (®a d¹ng loµi) vµ c¸c hÖ sinh th¸i (®a d¹ng hÖ sinh th¸i). 2.1.1. §a d¹ng di truyÒn Tõ l©u nay chóng ta ®· biÕt r»ng sù tån t¹i cña mét loµi cã ®­îc lµ nhê qu¸ tr×nh s¶n xuÊt vµ sù sao chÐp l¹i c¸c tÝnh tr¹ng vµ tÝnh chÊt cña c¬ thÓ tõ thÕ hÖ nµy sang thÕ hÖ kh¸c qua sù di truyÒn.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBiến đổi khí hậu ở việt nam hiện trạng và giải pháp.doc