Cáp sợi quang

LỜI NÓI ĐẦU Hiện này các hệ thống thông tin quang đó chiếm hầu hết các tuyến truyền dẫn quan trọng trên mạng lưới viễn thông quốc tế, và được coi là phương thức truyền dẫn có hiệu quả nhất trên các tuyến vượt biển và xuyên lục địa. Để đáp ứng nhu cầu truyền tải lớn do sự bùng nổ thông tin, mạng truyền dẫn đòi hỏi phải có sự phát triển mạnh về cả quy mô và trình độ công nghệ nhằm tạo ra các cấu trúc mạng hiện đại bao gồm cả các hệ thống thông tin quang. Các hệ thống thông tin quang trong thời gian tới phải đảm bảo có tốc độ cao, cự ly xa, độ tin cậy cao Trong toàn bộ hệ thống thông tin quang phần không thể thiếu được chính là Cáp Sợi Quang. Hệ thống thông tin quang có nhiều ưu điểm hơn các hệ thống khác một phần chính là nhờ môi trường truyền dẫn là cáp sợi quang. Vì vậy, em đó chọn đề tài Cáp Sợi Quang làm đồ án nghiên cứu giúp em tìm hiểu sâu hơn . Do thời gian hạn hẹp và kiến thức của bản thõn có hạn chính vì vậy đồ án của em không thể tránh được những thiếu sót. Nên em mong các thầy cô trong bộ môn và các bạn trong lớp đánh giá và đóng góp nhiều ý kiến để đề tài sâu hơn và phát triển đồ án ở mức cao hơn nữa. Trong quá trình làm bài, em đó được nhận được sự hướng dẫn chi tiết của thầy Đào Huy Du và góp ý của các bạn trong lớp. Em xin gửi lời cảm ơn đến thầy và các bạn.

doc78 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 6852 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Cáp sợi quang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
sổ suy hao. Hình 2.8: Cửa sổ suy hao (phổ suy hao) của sợi quang * Cửa sổ thứ nhất: Ở bước sóng 850nm, suy hao trung bình ở mức từ (2-3)dB/Km, được dùng cho giai đoạn đầu. * Cửa sổ thứ hai : Ở bước sóng 1300nm. Suy hao tương đối thấp khoảng từ (0,4¸0,5) dB/Km, ở bước sóng này độ tán sắc rất thấp nên được dùng rộng rãi hiện nay. * Cửa sổ thứ ba : Ở bước sóng 1550nm. Suy hao thấp nhất cho đến nay khoảng 0,2 dB/Km, với sợi quang bình thường độ tán sắc ở bước sóng 1550nm lớn so với bước sóng 1300nm. Nhưng với loại sợi có dạng phân bố chiết suất đặc biệt có thể giảm độ tán sắc ở bước sóng 1550nm. Lúc đó sử dụng cửa sổ thứ ba sẽ có lợi : Suy hao thấp và tán sắc nhỏ. Bước sóng 1550nm sẽ được sử dụng rộng rãi trong tương lai. Hấp thụ điện tử Hấp thụ vật liệu Hấp thụ do tạp chất Hình 2.9: Đặc tuyến suy hao 2.6.3.Tán sắc (Dispersion). Khi truyền dẫn các tín hiệu Digital quang, xuất hiện hiện tượng giãn xung ở đầu thu, thậm chí trong một số trường hợp các xung lân cận đè lên nhau. Khi đó không phân biệt được các xung với nhau nữa, gây nên méo tín hiệu khi tái sinh. Hiện tượng giãn xung này gọi là hiện tượng tán sắc. Đối với tín hiệu Analog thì ảnh hưởng của tán sắc làm biên độ tín hiệu ở đầu thu giảm nhỏ và có tín hiệu dịch pha. 0 tS tE t P AS E t P 0 Hình 2.10. Ảnh hưởng tán sắc lên tín hiệu digital(a) và analog(b). S chỉ tín hiệu phát, A chỉ tín hiệu thu. a: Dẫn xung, b: xụt biên độ. Hậu quả của tán sắc là làm hạn chế biên độ rộng băng truyền dẫn của sợi bởi vì để thu được chính xác các xung thì phải chờ khi xung thứ nhất kết thúc, xung thứ hai mới đến. Nếu hai xung liên tục được phát với tần số rất lớn, ở đầu thu bị giãn rộng đè lên nhau dẫn tới thu sai. Ta thử xem xét ví dụ ở hình trên coi các xung phát và thu có dạng phân bố Gauss gần đúng, xung 1 là xung phát, xung 2 là xung thu. Độ rộng xung ở giá trị biên độ 0,5 (mức 3dB) là ts,te Độ giãn xung là Xung phân bố Gauss có phân bố biên độ là : Sau khi truyền qua sợi quang. Coi gần đúng như một bộ lọc thông thấp Gauss tại mức suy hao 3 dB, độ rộng băng truyền dẫn B có quan hệ với t như sau: Khi đồng thời có nhiều hiệu ứng tán sắc tác động thì tán sắc tổng cộng là: Người ta cũng định nghĩa một đại lượng đặc trưng cho dung lượng truyền dẫn của sợi quang là tốc độ bit có thể truyền dẫn lớn nhất C bit/s Do ảnh hưởng của tán sắc, các xung ở đầu vào máy thu bị giãn rộng, nhưng hai xung kề nhau còn phân biệt được khi độ giãn xung t còn nhỏ hơn độ rộng xung phát đi từ đó có tốc độ bit là: C=1/ts=1/t=2,26.B=2.B Như vậy độ giãn xung, độ rộng băng tần truyền dẫn B và tốc độ bit C có quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau. Để truyền dẫn 2 bit/s thì về lý thuyết có độ rộng bằng khoảng 1 HZ nhưng trên thực tế cần 1,6HZ cho nên ta có thể nói rằng tốc độ bit/s lớn nhất của sợi quang bằng độ rộng băng tần truyền dẫn. Từ đó, để sợi cho phép truyền được các luồng bit tốc độ cao hay là có băng tần rộng cần phải giảm ảnh hưởng của hiện tượng tán sắc đến mức thấp nhất thông qua chọn loại sợi hoặc chọn các tham số cấu trúc tối ưu của sợi. 2.6.4. Các nguyên nhân gây ra tán sắc. 2.6.4.1.Tán sắc mode (Mode Despersion) Nguyên nhân: - Sợi truyền nhiều mode - Mỗi mode truyền có vận tốc nhóm khác nhau (mỗi mode có hằng số lan truyền khác nhau) Þ Lệch thời gian truyền gây ra tán sắc mode. Độ tán sắc của mode phụ thuộc vào dạng phân bố chiết suất của sợi đa mode thông qua số mũ g trong biểu thức hàm chiết suất. Tán sắc mode chỉ xảy ra ở sợi đa mode. Vì phạm vi có hạn nên ở đây chỉ đưa ra công thức đã tính toán về tán sắc mode : Với chiều dài sợi quang là L, chiết suất n1, n2 ; Giá sử có hai tia đi vào sợi quang, tia thứ nhất đi đoạn đường dài hơn, tia thứ hai đi đoạn đường ngắn hơn, ta có: Trong đó: t1: Thời gian truyền tia thứ nhất t2: Thời gian truyền tia thứ hai. Thời gian chênh lệch giữa hai đường truyền Dt là: với Độ trải xung do tán sắc mode dmat là: Độ tán sắc mode là : . + Đối với sợi MM – SI: Độ lệch thời gian truyền giữa tia ngắn nhất (mode bậc thấp nhất) và tia dài nhất (mode bậc cao nhất) + Đối với sợi MM – GI: - Các tia có quãng đường ngắn lan truyền với vận tốc chậm và ngược lại. - Sợi GI có một mặt cắt chiết suất tối ưu ở đó độ trễ thời gian là nhỏ nhất. - Độ lệch thời gian truyền giữa tia ngắn nhất (mode bậc thấp nhất) và tia dài nhất (mode bậc cao nhất). a ¹ aopt a = aopt 2.6.4.2.Tán sắc vật liệu . Nguyên nhân: - Chiết suất thuỷ tinh thay đổi theo bước sóng nên vận tốc truyền sóng của ánh sáng có bước sóng khác nhau cũng khác nhau - Ánh sáng truyền trong sợi quang không đơn sắc mà có độ rộng phổ xác định. - Tộc độ lan truyền của các thành phần phổ là khác nhau (do chiết suất là hàm của bớc sóng) Þ Các thành phần phổ có thời gian truyền lệch nhau gây ra tán sắc vật liệu Về mặt vật lý, tán sắc vật liệu cho biết mức độ nới rộng xung của mỗi nm bề rộng phổ nguồn quang qua mỗi km sợi quang, đơn vị của độ tán sắc do chất liệu M là ps/nm.Km. + Hệ số tán sắc: + Ta có: ps/(nm.km) + Độ dãn xung vì nguồn có độ rộng phổ lD do tán sắc vật liệu là tD = DM.lD.L + Chiết suất nhóm: + Sự phụ thuộc chiết suất vào bớc sóng hay tần số quang có thể được tính bằng phương trình Sellmeier: wi: chỉ số nhóm của vật liệu vỏ sợi Bi: cường độ dao động Hình 2.11: Chỉ số chiết suất n và chỉ số nhóm ng thay đổi ở sợi thuỷ tinh Ởbước sóng 850nm độ tán sắc vật liệu khoảng (90¸120) ps/nm.Km, ở bước sóng 1300nm độ tán sắc vật liệu bằng tán sắc ống dẫn sóng nhưng ngược dấu lên tán sắc sắc thể bằng không. Còn ở bước sóng 1550nm độ tán sắc này khoảng 20 ps/nm.Km. 2.6.4.3. Tán sắc do tác dụng của ống dẫn sóng: Nguyên nhân: - Sự phân bố năng lượng ánh sáng trong sợi quang phụ thuộc vào bước sóng. - Ánh sáng truyền trong sợi quang không đơn sắc mà có độ rộng phổ xác định. - Do hằng số lan truyền lan là hàm của a/l nên vận tốc nhóm của các thành phần phổ là khác nhau Þ Các thành phần phổ có thời gian truyền lệch nhau gây ra tán sắc ống dẫn sóng. +Hệ số tán sắc ống dẫn sóng: * dV/d l = -V/l * Độ dãn xung vì nguồn có độ rộng phổ Dl do tán sắc ống dẫn sóng là: Dt = Dw.Dl.L Hình 2.12: Tham số b và các vi phân của nó Tán sắc do ống dẫn sóng nhỏ và chỉ đáng chú ý với sợi đơn mode. 2.6.4.4..Độ tán sắc tổng cộng Độ tán sắc tổng cộng được tính theo công thức với Dchr=Dmat+Dwg Trong đó: Dchr: Độ tán sắc thể Dwg: Độ tán sắc ống dẫn sóng. - Trong sợi đơn mode, hệ số tán sắc sắc thể: D = DM + DW - Sợi đơn mode thông thờng: D = 0 tại l » 1310 nm, D = 15-18 ps/(nm.km) tại l = 1550 nm DM: Tán sắc vật liệu DW: Tán sắc ống dẫn sóng D: Tán sắc tổng DR: Tán sắc dư (nhỏ) DP: Tán sắc do mặt cắt gây ra (nhỏ) DR DP Hình 2.13: Tán sắc tổng và các tán sắc thành phần 2.6.4.5. Tán sắc bậc cao Nguyên nhân: Do D ¹ 0 trong dải bớc sóng nằm trong phổ xung quang quanh lZD. Đặc trưng bởi độ dốc tán sắc: S = dD/d l hoặc Trong đó: 2.6.4.6.Tán sắc mode phân cực Nguyên nhân: - Sợi đơn mode có hai mode phân cực trực giao - Do sợi thực tế không hoàn hảo nên mỗi mode có chỉ số mode khác nhau (birefringence) * Độ lệch chỉ số mode - Xung quang truyền trong sợi một phần năng lợng mang bởi một trạng thái phân cực (trục nhanh), phần khác mang bởi trạng thái khác (trục chậm) Þ tán sắc mode phân cực (PMD). Độ trễ thời gian: - Ở đây các chỉ số phụ x và y dùng để phân biệt 2 mode phân cực trực giao với nhau. - Đối với những sợi quang dài người ta tiến hành ghép các cặp mode nhằm làm cân bằng thời gian truyền và giảm phân cực mode (PMD) Quá trình ghép cặp mode thay đổi theo môi trờng sợi quang, độ dài ghép cặp mode biến đổi theo chiều dài sợi Þ Giá trị PMD tức thời là một biến ngẫu nhiên. - Hệ số PMD: DPMD có đơn vị ps/km1/2 - Nhiều cặp ghép mode sẽ tương ứng với một giá trị PMD hiệu dụng 2.6.4.7.Độ tán sắc của một vài loại sợi đặc biệt. Khi thay đổi tán sắc ống dẫn sóng DW dẫn tới D thay đổi => hình thành nên các sợi quang mới như: - Sợi tán sắc phẳng - Sợi dịch tán sắc - Sợi bù tán sắc a.Sợi dịch tán sắc. Vì độ suy hao ở mức sóng 1550 nm chỉ bằng phân nửa so với suy hao ở bước sóng 1300 nm nên ở tuyến cáp quang đường dài hay sử dụng bước sóng này, nhưng độ tán sắc ở bước sóng 1550 nm lại lớn. Để giải toả trở ngại này người ta làm theo hai cách: - Giảm độ rộng phổ của nguồn quang để giảm tán sắc chất liệu Dmar = Dmar.Dl. - Dịch điểm có tán sắc bằng 0 đến bước sóng 1550 nm. Để có sợi dịch tán sắc thì chất liệu và tán sắc ống dẫn sóng triệt tiêu nhau ở bước sóng 1550 nm ( hình 2-9). Hình 2.14: Tán sắc thể của các loại sợi b. Sợi san bằng tán sắc Dung lượng của sợi quang có thể được nới rộng bằng cách ghép hai hay nhiều bước sóng trên cùng một sợi quang (WDM). Cần một sợi quang có độ tán sắc nhỏ trong khoảng một bước sóng. Sợi như vậy gọi là sợi san bằng tán sắc và sự biến thiên tán sắc theo bước sóng như hình (2-9). 2.6.5.Dải thông của sợi quang Sợi quang được xem như hàm truyền đạt: P1(fm) và P2(fm) là biên độ công suất ở đầu và cuối sợi quang với tần số điều chế fm. Khi fm = hz tức là có điều chế thì hàm truyền đạt biểu diễn dạng chuẩn hoá: Đường biểu diễn của hàm truyền đạt như hình 2.15 Tần số điều chế mà tại đó biên độ của hàm truyền đạt bằng ẵ được gọi là dải thông B của sợi quang. Như vậy dải thông B là tần số điều chế mà tại đó công suất quang giảm đi 50% (hay 3dB). 1 1 0,5 0 B fm Hình 2.15: Hàm truyền đạt của sợi quang Dải thông của sợi quang tỷ lệ nghịch với độ tán sắc tổng cộng và được tính theo công thức: Để tính được dải thông chung của sợi quang ta sử dụng thông số B1 là dải thông ứng với một đơn vị độ dài (thường là 1km). Thừa số y có giá trị từ 0,5 đến 1 phụ thuộc vào chiều dài của sợi thường y = 0,6¸0,8 2.6.6. Bước sóng cắt Mỗi mode LP có một bước sóng truyền khác nhau, khi thừa số cắt Vc có: Vcn > V thì mode đó mới được truyền. Trong sợi đơn mode (chỉ có một mode là LP01) thì bước sóng cắt lc1 là bước sóng ngắn nhất mà sợi làm việc. Để tiện ta ký hiệu lc là lc1. V¥ Vùng đơn mode Vùng đa mode Mode LP01 LP12 Mode LP01 LP12 Mode LP01 , LP11 LP12 , LP21 ¥ l lC1 lC2 0 0 VC2 VC1=2.405 Sự phân chia vùng đơn mode và đa mode ở hình 2-11. Hình 2.16: Vùng đa mode và đơn mode Trên thực tế bước sóng cắt còn phụ thuộc vào chiều dài sợi và độ uốn cong của sợi quang. Sợi càng dài và độ uốn cong càng nhỏ thì lc càng nhỏ và ngược lại. 2.6.7. Đường kính trường mode (MFD:Mode Field Diameter) Khi sự phân tích suy hao của các mối nối và điều kiện phóng ánh sáng vào sợi thì sự phân bố trường là rất quan trọng. Năng lượng ánh sáng thể hiện qua năng lượng trường bức xạ F(r) không chỉ tập trung trong lõi mà một phần truyền ngoài lớp bọc. Sự phân bố trường như hình 2-12: Bán kính trường mode P là bán kính tại đó biên độ giảm đi 1/e lần (e = 2,718… nên 1/e »0,37 = 37%). Đường kính trường mode 2P phụ thuộc vào l, nếu l dài thì đường kính trường mode càng tăng. Đối với sợi SI - SM thì đường kính trường mode hơi lớn hơn đường kính lõi và tính theo công thức gần đúng sau 2.7.Cấu trúc sợi quang 2.7.1. Cấu trúc của sợi quang Thành phần chính của sợi quang gồm lõi (core) và lớp bọc (cladding). Trong viễn thông dùng loại sợi có cả hai lớp trên bằng thuỷ tinh. Lõi để dẫn ánh sáng và lớp bọc để giữ ánh sáng tập trung trong lõi nhờ sự phản xạ toàn phần giữa lõi và lớp bọc. 250mm 125mm lớp vỏ Lớp phủ lớpbọc 0,9 ( 2mm) Lõi 10 (50)mm Để bảo vệ sợi quang, tránh nhiều tác dụng do điều kiện bên ngoài sợi quang còn được bọc thêm một vài lớp nữa: Lớp phủ hay lớp vỏ thứ nhất (primary coating) Lớp vỏ thứ hai (Secondary coating) 2.7.1.1.Lớp phủ. Lớp phủ có tác dụng bảo vệ sợi quang: Chống lại sự xâm nhập của hơi nước. Tránh sự trầy sướt gây nên những vết nứt Giảm ảnh hưởng vì uốn cong Lớp phủ được bọc ngay trong quá trình kéo sợi. Chiết suất của lớp phủ lớn hơn chiết suất của lớp bọc để loại bỏ các tia sáng truyền trong lớp bọc vì khi đó sự phản xạ toàn phần không thể xảy ra phân cách giữa lớp bọc và lớp phủ. Lớp phủ có thể được nhuộm mầu hoặc có thêm vòng đánh dấu, khi hàn nối sợi hoặc ghép ánh sáng vào sợi nhất thiết phải tẩy sạch lớp phủ. Độ đồng nhất, bề dày và độ đồng tâm của lớp phủ có ảnh hưởng đến chất lượng của sợi quang. 2.7.1.2.Lớp vỏ. Lớp vỏ có tác dụng tăng cường sức chịu đựng của sợi quang trước các tác dụng cơ học và sự thay đổỉ nhiệt độ, cho đến nay lớp vỏ có các dạng chính sau: Dạng ống đệm lỏng (Loose buffer) Dạng đệm khít (tight buffer) Dạng băng dẹt (Ribbon) Mỗi dạng có những ưu nhược diểm khác nhau do đó được sử dụng trong từng điều kiện khác nhau. Dạng ống đệm lỏng: 1,2 ¸ 2mm sợi quang lớp phủ ốngđệm chất nhồi Sợi quang (đã bọc lớp phủ) được đặt trong một ống đệm có đường kính lớn hơn đường kích thước sợi quang. - Ống đệm lỏng thường gồm hai lớp, lớp trong có hệ số ma sát nhỏ để sợi quang di chuyển tự do khi cáp bị kéo căng hoặc co lại, lớp ngoài bảo vệ sợi quang trước ảnh hưởng của lực cơ học. Đối với cáp trong nhà thì bên trong ống đệm lỏng không cần chất nhồi nhưng với cáp ngoài trời thì phải bơm thêm chất nhồi có các tính chất sau: - Có tác dụng ngăn ẩm - Có tính nhớt không tác dụng hoá học với các thành phần khác của cáp - Dễ tẩy sạch khi cần hàn nối - Khó cháy. Cấu trúc ống đệm lỏng có nhiều ưu điểm nên được dùng trong các đường truyền dẫn cần chất lượng cao, trong điều kiện môi trường thay đổi nhiều. Dạng đệm khít: Một cách đơn giản để bảo vệ sợi quang dưới tác dụng của nhiều điều kiện bên ngoài là bọc một lớp vỏ ôm sát lớp phủ. Phương pháp này làm giảm đường kính của lớp vỏ do đó giảm kích thước và trọng lượng của cáp, song sợi quang lại chịu ảnh hưởng trực tiếp khi cáp bị kéo căng để giảm ảnh hưởng này người ta chèn thêm một lớp đệm mềm ở giữa lớp phủ và lớp vỏ. Hình thức này được gọi là cấu trúc đệm tổng hợp. Sợi quang có vỏ đệm khít và đệm tổng hợp thường được dùng làm cáp đặt trong nhà, làm dây nhảy để đấu nối các trạm đầu cuối... Sợi quang Lớp phủ Lớp đệm mềm Lớp vỏ 0,9mm Sợi quang lớp phủ lớp đệm mềm lớp vỏ 0,9mm c) Dạng băng dẹt: Cấu trúc băng dẹt cung là một dạng vỏ đệm khít nhưng bọc nhiều sợi quang thay vì một sợi. Số sợi trong băng có thể lên đến 12, bề rộng của mỗi băng tuỳ thuộc vào số sợi trong băng. Nhược điểm của cấu trúc này giống như cấu trúc đệm khít, tức là sợi quang chịu ảnh hưởng trực tiếp khi cáp bị kéo căng. băng 4 sợi băng 8 sợi 2.7.2. Yêu cầu đối với sợi quang Cũng giống như trong cáp thông tin điện, các sợi quang được chế tạo xong chưa được đem sử dụng ngay, mà được dùng để sản suất cáp. Sợi quang cần đáp ứng được các yêu cầu ngặt nghèo sau: Về cơ: bền vững, không bị đứt gãy dưới tác dụng của lực kéo, lực cắt ngang và lực uốn cong. Không bị dãn nở quá lớn do tác động của lực kéo thường xuyên. Tốc độ lão hoá chậm. Đặc tính cơ học của sợi quang được quyết định bởi vật liệu chế tạo sợi và bởi lớp vật liệu bên ngoài. Nếu do tác động của lực kéo và lực uốn cong mà sợi bị đứt thì có thể do nhiều nguyên nhân, người ta chia ra ba loại sau: Đứt do lực kéo lớn, khoảng > 40 N (Newton), nguyên nhân có thể do cấu trúc của thạc anh hoặc trên bề mặt sợi có đôi chỗ bị rạn nhỏ. Đứt do lực kéo trung bình, khoảng từ 15 đến 40 N, thường do các tạp chất nằm trong lớp vỏ sợi, gây nên các chỗ khuyết tật. Đứt do lực kéo yếu, dưới 15 N, thường do các khuyết tật trên bề mặt, do các bọt khí, do có tạp chất trong lớp bảo vệ, do phủ lớp bảo vệ kém. Khi quấn sợi để tạo thành cáp sẽ xuất hiện các lực kéo độ vài Newton, nếu sợi rơi vào trường hợp thứ 3 như trên thì rất nguy hiểm. Vì vậy, để đảm bảo bản chế tạo cáp chắc chắn, và để trong quá trình thử nghiệm cáp vẫn bền vững thì sợi phải chịu được lực kéo khoảng 4 – 5 N trong 1 giây. Nếu sợi được phủ là lớp nhựa bảo vệ Acrylat một sợi phải chịu được lực thử là 50 N. Khi đó mới có khả năng kéo được các sợi dài đến 10Km. Về đặc tính truyền dẫn ánh sáng: Vật liệu phải có tính tinh khiết, không có tạp chất. Cấu tạo vỏ và ruột đều đặn, không có chỗ khuyết tật để tránh làm tán xạ ánh sáng, sinh thêm tiêu hao phụ và méo xung tín hiệu. Đặc tính truyền dẫn ánh sáng của sợi được quyết định bởi kích thước của ruột sợi, bởi chiết suất trong ruột và vỏ sợi và bởi độ đồng đều của chiết suất, tức là phụ thuộc vào công nghệ và kỹ thuật chế tạo sợi. 2.8. Các phương pháp chế tạo sợi quang 2.8.1.Vật liệu chế tạo sợi Cấu trúc cơ bản của sợi dẫn quang nhìn chung gồm có lõi và vỏ phản xạ, toàn bộ tạo nên sợi dẫn quang dài và rất mảnh, chúng có vai trò truyền thông tin cho cự ly xa và tốc độ lớn nên phải được cấu tạo từ các vật liệu phù hợp với bản chất truyền tín hiệu của chúng. Như vậy, trong qúa trình chọn vật liệu sợi quang cần phải thoả mãn yêu cầu sau: - Vật liệu phải đảm bảo tạo được các sợi dẫn quang dài, mảnh và mềm dẻo - Vật liệu phải đảm bảo trong suốt tại các bước sóng hoạt động thông dụng, tạo cho sợi truyền tín hiệu tốt, ít bị suy hao và méo. - Các vật liệu chế tạo ra lõi và vỏ sợi phải có bản chất vật lý tương thích để tạo ra sự chênh lệch về chỉ số chiết suất giữa lõi và và khá nhỏ. Vật liệu thích ứng và dùng nhiều nhất là thuy tinh và chất dẻo trong suốt. Các sợi làm bằng chất dẻo ít được dùng hơn vì suy hao của nó thường là lớn hơn các sợi thuỷ tinh. Nó chỉ được dùng cho cự ly ngắn, tốc độ thấp, và những nơi có tác động cơ học mạnh, ít quan tâm tới chất lượng truyền dẫn, thực chất thì sợi chất dẻo đôi khi bị lạm dụng trong các trường hợp sử dụng. 2.8.2.Các phương pháp chế tạo sợi quang Có hai phương pháp chế tạo sợi quang: Phương pháp thứ nhất: là vật liệu làm ruột và làm vỏ được đưa vào lò nấu chảy rồi cho kéo chảy ra ngoài thành dạng sợi Phương pháp thứ hai: Sử dụng phôi có sẵn cũng gồm có vỏ và ruột đêm kéo nóng thành sợi. Yêu cầu nhiệt độ và tốc độ kéo rất ổn định để đảm bảo kích thước hình học và dạng của đường cong biến thiên theo yêu cầu.Phải chú ý tránh bụi bẩn và tạp chất để không làm hỏng bề mặt của sợi. Khi sợi kéo ra còn đang óng sẽ được phủ lớp bảo vệ luôn, để sau khi nguội đã có lớp bảo vệ hoàn chỉnh và đồng đều 2.8.3.Các phương pháp chế tạo phôi sợi 2.8.3.1.Phương pháp thanh ống cổ điển Phương pháp này được sủ dụng vào thời kỳ đầu thử nghiệm chế tạo sợi quang có tiêu hao bé. Sử dụng một thanh thủy tinh hoặc thanh thạch anh, dự kiến làm vật liệu ruột sợi luồn vào một ống thủy tinh có chiết suất bé hơn định để làm vỏ sợi. Đường kính ngoài của thanh phải rất khít với đường kính trong của ống, không cũn khe hở cho khụng khớ lọt vào. Phương pháp này chỉ để chế tạo sợi đa mốt SI Phương pháp này có nhược điểm là nếu trên bề mặt phân cách của vỏ và ruột phôi có khuyết tật, không đồng đều hoặc không tinh khiết thỡ khi kộo thành sợi vẫn cũn lại cỏc khuyết tật đó, gây nên tổn hao tán xạ lớn. 2.8.3.2.Phương pháp nồi nấu đôi (Double Orucible) Hỡnh 2.17. Phương phỏp nấu nồi đụi Dùng phương pháp này để chế tạo ra sợi chứ không để chế phụi. *Ưu điểm: Tránh được cỏc chỗ khuyết tật trờn lớp phõn cỏch- ruột sợi mà phương pháp thanh ống gặp phải Trờn hỡnh vẽ giới thiệu tổng quát phương pháp này. Thủy tinh làm vỏ và ruột sợi được nấu riờng thành cỏc chất lỏng rồi đưa vào nồi hai lớp riờng rẽ. Đầu ra nồi nấu đôi này có van hai lớp để kộo sợi ra. Nhờ đổ thờm thủy tinh liờn tục nờn trong quỏ trỡnh nấu và kộo liờn tục cú thể đạt được sợi rất dài. Sợi nóng được kộo qua bề phủ chất bảo vệ trước khi được cuốn thành cuộn. Dùng phương pháp này có thể chế sợi SI và sợi GI. Lũ nấu chế từ chất Platin tinh khiết để khụng gõy tạp chất. Tuy nhiờn nồi nấu cũng vẫn cú thể mang tạp chất vào thủy tinh nấu, làm cản trở việc chế tạo cỏc sợi cú suy hao bộ. Sự biến thiờn của chiết suất sợi đạt được nhờ sự khuyếch tỏn của thủy tinh núng chảy tại lớp phõn chia vỏ lừi và nhờ sự kết hợp của hai loại thủy tinh. Để chế tạo sợi đơn mốt có đường kớnh rất bộ thỡ phương pháp này chưa thực hiện được. 2.8.3.3.Phương pháp đọng hơi hóa chất Các phương pháp chế tạo sợi quang hiện đại đều cú chung một nguyờn lý cơ bản là dung phương pháp đọng hơi để chế tọa phôi, sau đó kéo thành sợi tức là chế tạo phụi sợi từ thể hơi. Yêu cầu phải đạt được tức là phụi cũng phải cú hai lớp vỏ và lừi, kớch thước tỷ lệ vỏ và lừi cũng như sự biến thiờn của chiết suất của phụi phải theo đúng giá trị như của loại sợi định chế tạo. Đây chính là một thành cụng của cụng nghệ mới. Như thế cú thể chế tạo được sợi dưới dạng thô sau đó kéo nhỏ sợi thành sợi cần cú. Nhờ cụng nghệ mới này mới cú thể chế được sợi đơn mốt SM cú tổn hao bộ vỡ sợi tạo thành từ thể khớ khụng mang lẫn tạp chất. Trong phương pháp đọng hơi hóa chất xuất hiện một số phương pháp dẫn xuất khác nhau, nhưng đếu khụng chệch khỏi nguyờn lý cơ bản này. 2.8.3.3.1.Phương pháp đọng hơi hóa chất: (chemical vapour deposition- CVD) Sơ đồ của phương pháp này cho trên hỡnh Hỡnh 2.18. Phương phỏp đọng hơi hoỏ chất Khi chế tạo để thay đổi chiết suất người ta phải sử dụng thờm chất phụ gia như GeO2, P2O5, B, F, trong đó GeO2 và P2O5 làm tăng chiết suất, cũn B, F thỡ làm giảm chiết suất cua thủy tinh thạch anh Nguyờn liệu sử dụng là một ống thạch anh thuần khiết. Cỏc chất lỏng Tetra-clorit- silic SiCl4, Tetra-clorit-Giecmani GeCl4, cỏc chất khớ O2, PCl3, BCl3 (FCl3) tựy nhà sản xuất mà cú những loại phụi sợi với thành phần và vỏ ruột như sau: a : Vỏ là thủy tinh SiO2, ruột là SiO2 + GeO2 b : Vỏ là thủy tinh Bor- Silicat SiO2 + B2O3, ruột SiO2 + GeO2 + P2O5 Ống thạch anh được quay trũn quanh trục. Quanh ống cú nguồn đốt cú thể là một bộ cộng hưởng súng cực ngắn để cú thể đạt nhiệt độ ữ C. Cỏc nguyờn liệu được đưa vào ống, ở nhiệt độ cao sẽ xảy ra phản ứng húa học. Sau cỏc phản ứng cỏc vật liệu cấu thành vỏ và ruột rơi vào thành ống theo từng lớp. Sau đó nung chảy ống để ống co lại thành một phụi đặc. 2.8.3.3.2.Phương pháp đọng hơi hóa chất nhờ Plasma (Plasma chemical vapour Deposition- PCVD) Khỏi quỏt về phương pháp này như hỡnh vẽ: Hỡnh 2.19: Phương phỏp PCVD tạo phụi Cũng là phương pháp đọng hơi hóa chất bờn trong. Cỏc nguyờn liệu ở thể hơi do một hệ thống cung cấp vào ống thủy tinh đặt trong lũ nung ở . Quỏ trỡnh phản ứng xảy ra nhờ một vựng Plasma sinh ra nhờ bộ cộng hưởng súng cực ngắn. Bộ này cú thể di chuyển dọc theo ống. Bơm để giữ ỏp lực trong ống để tạo Plasma và hỳt khớ thừa ra. Đường bao chiết suất rất chớnh xỏc nhờ tạo được hàng nghỡn lớp rất mỏng trờn thành ống sau đó ống này được nung chảy ở để tạo thành phôi đặc. 2.8.3.3.3.Phương pháp đọng hơi hóa chất bờn ngoài ( Outside Chemical Vapour Deposition- OCVD) Phương pháp này được hóng Corning Glas (Mỹ) phỏt triển. Hai phương pháp trên là phương pháp đọng hơi bên trong lũng ống thủy tinh. Trong phương pháp này ống thủy tinh được thay bằng một thanh thủy tinh. Cho cỏc vật liệu đọng hơi ở xung quanh thanh cũng theo phương pháp trên. Khi đó phủ đủ cỏc lớp yờu cầu, cho rỳt nhanh thanh thủy tinh ra cũn lại một ống phụi rỗng. Tiếp tục nung chảy ống ở để có phôi đặc. Theo phương pháp này có thể tạo ra được phụi khỏ lớn để kéo được sợi quang dài hàng chục kilomet. 2.8.3.3.4.Phương pháp đọng hơi hóa chất theo trục ( Vapour Axial Deposition- VAD) - Đây là một phương pháp rất tốt được phỏt triển ở Nhật Bản và luôn được cải tiến. Cỏc vật liệu tạo ruột và vỏ sợi được bốc hơi và ngưng tụ vào đầu của một thanh thủy tinh xoay trũn liờn tục. Khi di chuyển thanh dọc trục sẽ tạo được phôi. Điều chỉnh hàm lượng cỏc chất phụ gia để cú chiết suất để cú chiết suất yờu cầu. Sau đó kéo phôi này qua lũ nung để tạo kích thước hỡnh học đều cho phụi sợi. Ưu điểm của phương pháp này là có tốc độ đọng hơi lớn và hiệu suất sử dụng nguyờn liệu cao tới 60- 80℅. Theo phương pháp này người ta chế được sợi có độ rộng băng truyền dẫn rất lớn 2.8.4.Quỏ trỡnh kộo sợi Nguyờn lý của quỏ trỡnh kộo sợi từ phôi được mụ tả trờn hỡnh vẽ: Hỡnh 2.20. Nguyờn lý của quỏ trỡnh kộo sợi từ phụi Sợi kộo ra từ lũ nung cú đường kính ngoài đúng yêu cầu. Để có kích thước hỡnh học đều và đường bao chiết suất ổn định thỡ nhiệt độ của phụi và tốc độ kộo phải rất ổn định. Lưu ý khụng cho bụi bẩn bỏm vào trờn mặt sợi cũn núng, cú thể sinh ra cỏc chỗ gẫy nhỏ sau này. Hai lớp phủ bảo vệ bờn trong mềm và bờn ngoài cứng, là loại quang húa chất. Nguồn bức xạ cực tím giúp cho đạt được tốc độ kộo sợi rất lớn. 2.8.5. Nguyên tắc tạo ra sợi quang mới Khi phân tích các loại sợi quang ta thấy rằng sợi đơn mode có suy hao nhỏ và có băng tần lớn. Điều đó khẳng định vai trò và năng lực của nó trong mạng viễn thông hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, để nâng cao khả năng sử dụng sợi đơn mode thông thường người ta tiếp tục thay đổi một số tham số cấu trúc của loại sợi này. Nhờ tối ưu hoá thiết kế sợi đơn mode công nghệ quang sợi đã cho ra đời các loại sợi mới có suy hao rất nhỏ, chất lượng truyền dẫn tốt hơn, tích băng tần cự ly lớn và tuổi thọ cao sẽ đáp ứng được các hệ thống thông tin quang tiên tiến. Đối với các hệ thống thông tin quang có cự ly và dung lượng lớn thì yếu tố là các hiệu ứng phi tuyến, suy hao và tán sắc sợi. Trong truyền dẫn đơn mode, suy hao của sợi đạt giá trị nhỏ nhất ở vùng bước sóng 1550nm nhưng tán sắc có giá trị thấp nhất tại vùng 1300nm. Nếu cả hai yếu tố suy hao và tán sắc đều đạt giá trị tối ưu thì sẽ có được tuyến thông tin cự ly truyền dẫn xa và tốc độ lớn. Tán sắc trong sợi đơn mode chủ yếu là tán sắc vật liệu và tán sắc dẫn sóng. Tán sắc vật liệu thường khod thay đổi, tuy nhiên có thể thay đổi tán sắc dẫn sóng bằng cách sửa đổi mặt cắt chỉ số chiết suất phân bậc đơn giản ở lõi sợi thành mặt cắt chỉ số chiêt suất phức tạp hơn để cho ra được giá trị tán sắc mong muốn. 2.9. Hàn nối sợi quang 2.9.1. Yêu cầu kỹ thuật Trong kỹ thuật thông tin quang, các sợi quang của các loại cáp quang phải được hàn nối với nhau, hoặc các sợi quang phải được nối vào các linh kiện phát hoặc thu quang. Việc nối không tốt sẽ gây nên tổn thất tín hiệu quang tại chỗ hàn nối. Yêu cầu của hàn nối phải đạt tổn thất quang càng bé càng tốt. Nhưng vì đường kính của sợi quang rất bé, nhất là ánh sáng chỉ được lan truyền trong lõi sợi quang, do đó rất khó phối hợp. Trong thực tế các đầu sợi quang khó lòng khớp sít vào nhau nên không tránh khỏi bị suy hao. 2.9.2.Các phương pháp hàn nối sợi quang Trong phần này ta không đề cập đến việc đấu nối sợi quang với các linh kiện thu, phát quang. Khi chế tạo các linh kiện này thì các nhà chế tạo đã chế sẵn thành các Môđun với đầu sợi quang thò ra ngoài phần sợi quang của Môđun thu, phát này được nối với sợi quang bên ngoài nhờ các bộ con-nec-to tháo lắp được, giống các bộ con-nec-to trong kỹ thuật điện tử thông thường. Để hàn nối hai sợi quang với nhau người ta nghiên cứu phương pháp sau: - Dùng bộ nối tháo rời được và không tháo rời được. - Hàn nối bằng sợi keo dính và bằng hồ quang điện. Phương pháp dùng các bộ đấu nối thường đạt độ chính xác không cao, nên hay sử dụng cho các loại sợi có tốc độ truyền dẫn thấp, cự ly gần như trong nhà, trong máy bay hay tàu thuỷ…. Phương pháp hàn nối thì hai sợi dẫn quang được nối với nhau một cách chắc chắn cố định, có độ chính xác cao. Trong hướng này có hai phương pháp chính là nối bằng keo dính và hồ quang. 2.9.2.1. Phương pháp dùng keo dính Cách này thực hiện hoàn toàn bằng nhân công, không có sự giám sát, điều chỉnh nên độ chính xác không cao và chỉ có thể áp dụng để nối sợi đa mode có đương kính ruột lớn, ở đây không trình bày cụ thể và điều kiện không cho phép. Hình 2.18.Hàn sợi bằng keo dính 2.9.2.2.Phương pháp dùng hồ quang. Được thực hiện nhờ các máy hàn. Hồ quang được tạo ra nhờ các tia lửa điện phóng điện. Nguyên lý của phương pháp này như ở hình 2 -13. các bước tiến hành như sau: 1- Dùng hoá chất để tách và tẩy sạch lớp vỏ bảo vệ hai đầu sợi cầu nối. 2- Kẹp hai đầu sợi lên bộ gá (hình a). 3- Điều chỉnh cho hai sợi lại gần nhau, khoảng cách giữa chúng khoảng 10% đường kính sợi quang. Có thể cho tia hồ quang làm sạch từng đầu sợi riêng rẽ trước khi cho chũng lại gần nhau. Quá trình này được quan sát nhờ kính hiển vi hoặc kính lúp, nhờ bộ phận gương lắp gần theo có thể quan sát được cả chiều ngang và chiều đứng, để sao cho hai đầu sợi quang hoàn toàn đồng trục và đồng tâm với nhau (hình b) 4- Đóng mạch tia lửa điện, hai đầu sợi nóng chảy và sau vài giây dính chặt vào nhau. Quá trình sảy ra tự động, thời gian tính toán là phù hợp với sợi và kích thước của sợi (hình c). 5- Kiểm tra mối nối (mối nối tốt như một sợi bình thường tại chỗ nối), nếu có khuyết tật thì phải hàn lại. Một nối hàn tốt nếu nhìn thấy đềuđặn như một đoạn sợi bình thường (hình d). 6- Gia cố cơ học để bảo vệ mối nối. Một phương pháp hay dùng hiện nay là dùng một ống bọc nhựa co nóng, có đệm đoạn vật liệu gia cường (hình e). (a) (b) (c) (d) (e) Ngày nay các nhà máy hàn đã được thiết kế hiện đại, việc làm này được thực hiện hoàn toàn tự động để tăng chất lượng. Hình 2.19: Phương pháp hàn nối bằng hồ quang Việc hàn nối nhờ hoàn toàn tự động nên tiêu hao tại các mối nối rất nhỏ, với sợi đa mốt tiêu hao các mối nối trung bình là 0,038 dB, còn với sợi đơn mode thì là 0,5 dB. Trong thực tế, độ suy hao đạt khoảng 0,1 dB là chấp nhận được. 10 10 10 10 0,02 0,04 0,06 0,08 0,1 Số mối hàn(n) Suy hao (dB) 0 Hình 2.20: Đồ thị suy hao thực tế mối hàn Furukawa – SI 475 2.9.3.Bảo vệ mối nối Khi nối các sợi quang đã được tách ra, không còn các lớp bảo vệ của vỏ cáp vì vậy người ta dùng các hộp bảo vệ chỗ nối. Có nhiều loại hộp bảo vệ, có loại để trong nhà, có loại để ngoài trời, có loại chôn trực tiếp, tuỳ theo điều kiện môi trường và mục đích sử dụng ta chọn cho thích hợp. Hình 2.21. ống mang sông bảo vệ mối nối Hình2.22.Mối nối được kẹp chặt và bảo vệ Chương 3 CÁP QUANG 3.1. Tổng quan 3.1.1. Đặc điểm, yêu cầu đối với cáp quang Cũng như cáp kim loại, cáp quang cũng có các yêu cầu, đặc điểm cần phải đáp ứng. Trước hết, có lớp vỏ bao bên ngoài để bảo vệ sợi cáp quang khỏi ảnh hưởng của môi trường như côn trùng, độ ẩm hoặc các lực cơ học tác động. Cáp cần phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Không bị ảnh hưởng bởi nhiễu điện từ. - Không thấm nước, lọt nước. - Chống được các ảnh hưởng của các tác động cơ học như va chạm, lực kéo, nén, lực uấn cong… - Ổn định khi nhiệt độ thay đổi, nhất là khi ở nhiệt độ rất thấp có tác động co ngót sợi. - Ít bị bão hoà, có thời gian làm việc lâu. - Trọng lượng nhỏ và kích thước bé. 3.1.2. Khả năng của sợi và cáp quang Để đáp ứng được những yêu cầu trên thì sợi và cáp quang phải đáp ứng được những yêu cầu rất ngặt nghèo, vừa đảm bảo được bền vững cơ học, vừa đảm bảo được đặc tính truyền dẫn. Nếu xét trong một chừng mực nào đó thì cáp quang thể hiện tính ưu việt so với cáp kim loại như: Sợi quang là vật liệu cách điện nên hoàn toàn không nhạy cảm với nhiễu điện từ, do đó trong cáp không cần có lớp bao che điện từ như đối với cáp kim loại. Sợi quang là rất nhỏ, tốn ít nguyên liệu. Nếu xét trong cùng một khoảng thời gian truyền dẫn thì 1 gam thuỷ tinh làm sợi dẫn quang thay thế được vài kg đồng để làm cáp kim loại. Nguyên liệu chế tạo cáp quang là sẵn có trong tự nhiên, trong khi đó kim loại màu chế tạo cáp kim loại thì ngày càng khan hiếm. Sợi quang rất dòn và dễ gẫy. Thế nhưng nhờ lớp bảo vệ trực tiếp bao quanh sợi đã làm co sợi tránh được độ ẩm, tăng độ bền cơ học và dễ uốn dẻo. Khi chế tạo thành cáp thì cấu trúc của cáp còn vượt xa những đặc điểm này của sợi Xét về phương diện truyền sóng, nếu sợi bị uốn cong nhỏ thì năng lượng của trường lọt từ ruột ra vỏ gây ra tiêu hao phụ. Nếu sợi quang trong cáp không được bảo vệ cẩn thận thì sẽ chịu các tác động của bên ngoài, sợi bị uốn cong hoặc khi sợi cáp bị uốn cong với bán kính nhỏ, sợi cũng bị uốn theo gây suy hao phụ Bởi vậy, cáp quang phải được chế tạo một cách bền vững với các tác động cơ học và nhiệt độ của môi trường, để đảm bảo sợi vừa không bị đứt vừa không giảm sút các đặc tính truyền dẫn, trong mọi điều kiện sử dụng cáp. 3.2. Cấu trúc cáp quang Cho đến nay, cáp dẫn quang có rất nhiều cấu trúc khác nhau. Do công nghệ phát triển đã đưa ra được những mẫu cấu trúc cáp quang có đặc tính thoả mãn được nhiều yêu cầu. Để tạo được cáp dẫn quang, sợi quang trước hết phải được bọc sơ bộ bằng các lớp Polime mỏng rồi mới tạo thành cáp. Các sợi đã được bọc hoàn thiện làm thành phần chính của lõi cáp. Lõi cáp còn có thể thêm các sợi gia cường bằng nilon và các đôi giây bằng kim loại để cấp nguồn từ xa. Người ta có thể đặt các sợi dẫn cáp quang vào lõi cáp với nhiều hình thức. Chính vì vậy cáp quang có thể có dạng hình tròn hoặc dẹt, sợi dẫn quang có thể được bọc chặt hoặc bọc lỏng. Để tránh ảnh hưởng cơ học làm gãy đứt và thuận lợi khi hàn nối. Thường các sợi được đặt lỏng tự do trong lõi cáp, hoặc đặt lỏng có keo mềm độn vào. Các nước Tây Âu và Úc thường thiết kế lõi cáp có các rãnh múi khế mà trong các rãnh đó là các sợi cáp quang. Còn các nước Châu Mỹ và Nhật thì thường cho sợi nằm lỏng trong các ống ghen nhỏ ở lõi cáp. Việc cấu trúc vỏ cáp rất phong phú, phù hợp với điều kiện từng môi trường đặt cáp. 3.2.1.Cấu trúc tổng quát của cáp quang Cáp chôn - Phần vỏ: . Vỏ PE thứ nhất bọc ngoài lõi (1mm) . Lớp chống ẩm và chống gặm nhắm . Vỏ PE ngoài cùng (1,5-2 mm) - Phần lõi: . Phần tử gia cường . Các ống đệm (khối ống đệm) . Các sợi dây đồng để cấp nguồn . Các phần tử độn & chất điền đầy Vỏ PE ngoài cùng Lõi cáp Băng nhôm tráng nhựa hai mặt Vỏ PE ngoài cùng Băng thép mã kẽm Chất điền đầy Lõi cáp Cáp cống 3.2.1.1.Phần lõi Phần tử gia cường: Thành phần gia cường của cáp là các phần tử tạo cho cáp có các lực cơ học cần thiết để tạo sức căng và co, đặc biệt là bảo đảm tính ổn định nhiệt cho cáp. - Yêu cầu đối với vật liệu gia cường: + Có modul Young cao: để tăng tính chịu lực, vd: Thép + Vật liệu phải nhẹ, có độ mềm dẻo ( đây là đặc tính quan trọng trong quá trình kéo cáp trong cống), vd: sợi aramid. Các đặc tính của một số vật liệu chế tạo phần tử gia cường : Vật liệu Trọng lượng riêng Modul đàn hồi (kg/mm2) Ứng suất cong (kg/mm2) Độ dãn tại điểm cong(%) Ứng suất gãy (kg/mm2) Độ dãn khi đứt (%) Dây thép Sợi carbon G-FRP Sợi tơ 49 Sợi tơ 29 7,86 1,50 2,48 1,44 1,44 20´103 10¸2´104 9´103 13´103 6´103 40¸150 150¸200 300 300 70 0,2¸1 1¸1,5 3 2 1,2 50¸300 150¸200 300 300 300 20¸25 1,5 2,4 2 4 Sắp xếp các phần tử gia cường trong cáp sợi quang Ống đệm và khối đệm Ống đệm chặt một sợi Ống đệm lỏng một sợi Khối các băng dẹt Đặt trong lõi rãnh chữ V c. Chất độn và chất điền đầy - Trong ống đệm lỏng: . Chất điền đầy phải trung tính để không tạo ra hydro, không đóng băng và không dãn nở trong dải nhiệt độ từ -30 ¸ +70 0C. . Là chất gien có đặc tính là ở thể lỏng khi bị khuấy động và ở thể đặc khi đứng yên. - Trong lõi cáp: . Chất điền đầy có ứng suất cao, có các thành phần không ảnh hưởng đến đặc tính của phần tử khác, không làm phình vỏ PE và có hệ số dãn nở tơng đối thấp. Lớp chắn là sản phẩm dầu mỏ có tính đàn hồi, chịu nhiệt và kết dính bao bọc lõi cáp, vừa đóng vai trò chống thấm nớc, vừa gắn kết lõi và vỏ cáp thành một khối vững chắc nhng không làm giảm tính mềm mại của cáp. . Cáp trong nhà không phải điền đầy lõi cáp. Để bảo vệ các phần tử bện trong lõi cáp sử dụng băng mỏng plastic để quấn quanh lõi. . Ngoài ra đặt thêm một băng giấy rộng khoảng 6mm trên lõi cáp suốt dọc chiều dài cáp, trên đó có ghi khoảng cách theo mét. Cũng có thể ghi chiều dài theo mét ngay trên vỏ ngoài của cáp. Bện các phần tử bên trong lõi: Khi sản xuất cáp sợi quang thường sử dụng công nghệ bện các lớp của lõi cáp. Các phần tử bệ được sắp sếp tập trung trong một hoặc nhiều lớp xung quanh phần tử trung tâm. Các phần tử trong một lớp được bện xung quanh phần tử trung tâm theo kiểu lò xo hoặc kiểu đổi chiều ZS. Mối liên quan giữa bước bện S, góc bện a và chiều dài phần tử bện L: a 1 2 3 Góc bện a Bước bện S Chiều dài phần tử bện L Chu vi vòng tròn bện 2pR 3.2.1.2.Vỏ cáp Vỏ cáp sợi quang có chức năng cơ bản là bảo vệ cáp và có tính chất quyết định đến tuổi thọ của cáp. Vỏ cáp có thể được bọc đệm để bảo vệ lõi cáp khỏi bị các tác động của ứng suất cơ học và môi trường bên ngoài. Các vật liệu chế tạo vỏ cáp như: - Vỏ PE: . Vật liệu chịu nhiệt đợc tổng hợp từ ethylene. . Có mật độ thấp, dẻo, chịu lực căng tốt, màu đen - Vỏ PVC: . Polyvinyl chloride (PVC) sử dụng chủ yếu cho cáp trong nhà màu xám . PVC cũng thích hợp cho cáp ngoài trời lắp đặt những nơi đất bị nhiệm bẩn có hoá chất ăn mòn. . Vỏ PVC có khả năng chống lửa bằng cách tăng polymer halogen - Vỏ halogen tự do: . Chế tạo từ các vật liệu chứa ethylene vinylacetate (EVA) và đợc trộn thêm 50% trọng lượng aluminum trioxydhydrate (được chọn khi có yêu cầu chống lửa và không bị halogen hoá). Trong các trường hợp này PE và PVC không thích hợp. . Dới tác động của ngọn lửa có nhiệt độ cao hơn 2500C nước tách ra khỏi aluminum trioxyhydrate. Thông qua tách nước và nước bốc hơi làm cho ngọn lửa yếu dần. Nhiệt độ giảm thấp hơn và nồng độ oxy giảm do bổ sung hơi nước nên lửa bị dập tắt. Vỏ EVA cũng có các đặc tính như vỏ PE nhưng có khả năng chống cháy tốt hơn. Vỏ bọc kim loại: . Thường là các băng thép nhăn hoặc các sợi thép sếp thành vỏ bọc . Các vỏ này thường dùng cho loại cáp chôn trực tiếp để bảo vệ chống các ứng suất cơ học, gặm nhấm, chống sự phá huỷ của côn trùng và các sinh vật. 3.3.Phân loại cáp quang: Người ta phân loại cáp quang theo nhiều loại khác nhau để thuận lợi cho việc nghiên cứu. 3.3.1. Phân loại theo cấu trúc: Cáp có cấu trúc cổ điển: Các sợi hoặc các nhóm sợi quang được phân bố đối xứng theo hướng xoay vòng đồng tâm, loại cấu trúc này rất phổ biến. Cáp có lõi trục có rãnh: Các sợi hoặc các nhóm sợi được đặt trên các rãnh có sẵn trên một lõi của cáp. Cáp có cấu trúc băng dẹt: Nhiều sợi quang được ghép trên cùng một băng và trong ruột cáp có nhiều băng xếp chồng lên nhau. Cáp có cấu trúc đặc biệt: Do nhu cầu, trong cáp có thể có các dây kim loại để cấp nguồn từ xa, để cảnh báo, để làm các đường nghiệp vụ… hoặc cáp đi trong nhà chỉ cần hai sợi là đủ…. b) c) a) d) e) Hình 3.1: Các ví dụ về cấu trúc cáp quang a.Cáp có cấu trúc đặc biệt c. Cáp có cấu trúc băng dẹt b. Cáp có lõi hình trục có rãnh d. Cáp sợi quang dùng trong nhà e. Cáp có dây đồng 3.3.2. Phân loại theo mục đích sử dụng - Cáp dùng để trên mạng thuê bao, nội hạt, nông thôn. - Cáp trung kế giữa các tổng đài. - Cáp đường dài. 3.3.3. Phân loại theo điều kiện lắp đặt - Cáp treo ngoài trời. - Cáp đặt trong ống nước. - Cáp chôn trực tiếp. - Cáp ngập nước và thả biển. - Cáp dùng trong nhà và cáp nhảy 3.3.3.1.Cáp treo Cấu trúc của cáp treo Thường có cấu tạo ôm sát vào thành phần gia cường kim loại hoặc phi kim loại độc lập, hoặc dưới dạng tự chịu lực. Được dùng trong môi trường băng tuyết và gió, có cự ly dài. Cáp tự chịu lực đòi hỏi phải có sức bền cao và cần phải ở dạng cấu trúc bọc lỏng để sợi có khoảng tự do lớn hơn. 3.3.3.2.Cáp đặt trong cống - Cáp đặt trong cống phải chịu được lực kéo và xoắn, có trọng lượng nhẹ để dễ lắp đặt - Có tính mềm dẻo để dễ vượt qua các chướng ngại khi kéo cáp - Chịu được ẩm và nước vì trong cống cáp và bể cáp thường hay đọng nước. Chính vì vậy mà trong cấu trúc của cáp thường có chất độn jelly và thành phần chống ẩm bằng kim loại. Trong trường hợp cáp không được độn đầy thì cần bơm hơi cho cáp. Lớp bọc thép cũng được sử dụng để chống gặm nhấm của côn trùng. Cáp kéo trong cống thường có ở tất cả các dạng cấu trúc bọc chặt, bọc lỏng, bọc lỏng bằng khe dưới dạng băng hoặc bó sợi. 3.3.3.3. Cáp chôn trực tiếp. ‚ Th ƒ „  † ‡ ˆ ‰ Cấu trúc cáp chôn trực tiếp: 1.sợi thép gai cường 5. Dây xoắn bao quanh 9. Lớp thép bện 2.Sợi quang 6. Sợi khác 10.Vỏ PE 3.Chất độn, chất điền đầy 7.Vỏ bỏ PE 4.Ống lỏng (rỗng) 8. Đai thép Các đặc điểm của cáp chôn trực tiếp tương tự như cáp đặt trong cống. Nhưng thường thì cáp chôn trực tiếp được bảo vệ tốt hơn thể hiện như: + Có vỏ bọc kim loại tốt hơn để tránh sự phá huỷ do đào bới đất hoặc các tác động khác trong đất. + Vỏ bọc thép bên ngoài gồm các sợi thép hoặc các băng thép. Cáp chôn trực tiếp cũng có đủ các cấu trúc như cáp đặt trong cống. 3.3.3.4.Cáp đặt trong nhà Đặc điểm của loại cáp này như: Thường có sợi dẫn quang là ít Kích thước bên ngoài nhỏ, mềm dẻo, cho phép uốn cong, dễ dàng thao tác và hàn nối. Cáp có đặc tính chống gặm nhấm tốt Cấu trúc thường ở dạng bọc chặt để đảm bảo cấu trúc nhỏ và chắc chắn. Vì các loại cáp trong nhà và cáp nhảy thường bám sát tường nhàvà thiết bị nên nó phải đảm bảo không dẫn lửa, không phát ra khí độc trong phòng, đảm bảo an toàn khi có sự cố. 3.3.3.5. Cáp ngập nước và thả biển a. Cáp ngập nước Cáp ngập nước được sử dụng để thả qua sông hoặc khu vực có nước ngập cạn, đầm lầy,…vì vậy nó phải đáp ứng các yêu cầu khắt khe sau: Tính chống ẩm và chống thấm nước tại các vùng có áp suất đặc biệt lớn. Có khả năng chống sự dẫn nước dọc theo cáp Có khả năng chịu được sự kéo khi lắp đặt và sửa chữa cáp Chống lại được các áp lực thống kê Cho khả năng hàn nối và sửa chữa dễ dàng Có cấu trúc tương thích với cáp đặt trên đất liền Lớp kim loại tạo cáp cần phải chú ý đến ảnh hưởng của hydro b. Cáp thả biển Cấu trúc của cáp biển Cáp thả biển có cấu trúc rất phức tạp, bản thân nó là cáp ngập nước nhưng nó có yêu cầu khắt khe hơn các loịa cáp ngập nước ở trên gấp nhiều lần như: + Chống được khả năng thâm nhập của nước biển, sự phá hoại của các động vật dưới biển, sự cọ sát của các tàu thuyền. + Có khả năng sửa chữa cáp bằng tàu + Tuổi thọ của cáp cao Cáp biển có hai loại: loại thả nông và loại thả sâu 3.4. Mã màu trong cáp Trường hợp có nhiều sợi quang hoặc nhiều nóm sợi thì cần thiết phải đánh dấu các nhóm sợi và các sợi trong nhóm hoặc các sợi trong cáp để tránh việc hàn nối nhầm. Bảng 1 và bảng 2 ví dụ ở dưới là các luật mầu của sợi trong cáp hoặc luật màu trong các ống đệm. Các sợi màu được phủ lên sợi trực tiếp và không làm ảnh hưởng đến các đặc tính của sợi. Trường hợp nếu các sợi được đặt trong ống thì lấy ống màu đỏ làm chuẩn, đếm các màu khác theo chiều kim đồng hồ. Bảng 1: mã màu sợi trong ống đệm lỏng nhiều sợi Số thứ tự sợi Màu sợi Theo DIN 47002 (Đức) Theo FOCAL Theo VINA GSC 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Xanh lam - BL Vàng – YL Xanh lục - GN Đỏ – RD Tự nhiên - NT Xanh lam có các vòng tròn đen Vàng có các vòng tròn đen Xanh lục có các vòng tròn đen Đỏ có các vòng tròn đen Tự nhiên có các vòng tròn đen Xanh lam - BL Da cam - OR Xanh lục - GN Nâu - BN Xám - GY Tự nhiên - NT Đỏ - RD Đen - BK Vàng - YL Tím - VI Hồng - LO Ngọc lam - AQ Xanh lam - BL Da cam - OR Xanh lục - GN Đỏ - RD Vàng - YL Tím - VI Nâu - BN Đen - BK Tự nhiên - NT Xám - GY Xanh nhạt - LB Hồng - LO Bảng 2: Mã màu ống đệm Số thứ tự ống Màu ống Theo FOCAL Theo VINA GSC 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Xanh lam - BL Da cam - OR Xanh lục - GN Nâu - BN Xám - GY Tự nhiên - NT Đỏ - RD Đen - BK Vàng - YL Tím - VI Hồng - LO Ngọc lam - AQ Xanh lam - BL Da cam - OR Tự nhiên - NT Nếu các sợi quang trong sợi cáp có lõi có rãnh thì chai thành các nhóm sợi, gọi là các đơn vị, thì trong ruột cáp có các sợi màu chỉ thị các đơn vị sợi quang được đặt vào khi độn chất làm đầy vào ruột cáp. 3.5. Đo thử cáp quang và đo bảo dưỡng 3.5.1.Khái quát Cũng như trong thông tin điện, trong thông tin quang luôn luôn phải đo thử. Các đại lượng cần đo thử là công suất, độ rộng băng truyền, tỷ lệ lỗi…v.v…có thể tách riêng công việc đo thử thành 2 loại công tác đo như sau: Đo thử áp dụng trong phòng thí nghiện và tại các nơi chế tao: Mục đích để tính toán, thiết kế, chế tạo cáp tối ưu. Các phép đo này thường phức tạp, chi phí lớn, thường dựa trên khuyến nghị của CCITT về tiêu chuẩn và phương pháp đo. Đo thử áp dụng trên các hệ thống đang xây lắp hoặc đang khai thác: Mục đích của nó hoàn toàn khác trong phòng thí nghiệm, đối tượng đo thử và phương pháp đo đôi khi cũng khác. Người ta phải tính toán đến việc hài hoà giữa việc đo thử và chi phí cũng như lợi ích của đo thử, đảm bảo cho các hệ thống hoạt động tin cậy àm chi phí đo thấp nhất. 3.5.2. Mục đích của đo thử Việc đo thử trên cáp quang đã xây lắp nhằm các mục đích sau: Xác định xem tổng tiêu hao truyền dẫn có thoả mãn theo thiết ké hay không Xác định xem khi lắp đặt cáp có vấn đề gì ảnh hưởng tới tiêu hao của sợi và quá trình hoạt động sau này của cáp hay không Tìm các chỗ không đồng đều như: hàn nối xấu, chỗ tiêu hao sợi lớn, chỗ đấu bộ nối (connector) Xác nhận các chỗ nối sợi và tiêu hao sợi để nhằm thiết kế các đoạn lặp trong tương lai Lập bảng số liệu chuẩn cho công tác bảo dưỡng sau này Cung cấp các thông tin phản hồi để tối ưu hoá việc thiết kế, chế tạo và lắp đặt cáp Tích luỹ kinh nghiệm để tối ưu công tác đo thử. Yêu cầu các phương pháp đo phải an toàn, hiệu quả, giá thành hạ mà vẫn thực hiện đầy đủ các mục đích đo thử như trên Một số công tác đo thử như: đo tiêu hao tuyền dẫn, đo tổn hao mối nối, đo tán xạ…..v.v. 3.5.3.Đo thử bảo dưỡng Dùng máy đo phản xạ OTDR để đo thử bảo dưỡng. Đặc tuyến suy hao của máy thể hiện trên màn ảnh hoặc in ra máy in sẽ cung cấp các thông tin về độ dài khoảng lặp, khoảng cách đến các chỗ nối, khoảng cách và thể loại của các chỗ nối không đồng đều như: chỗ có tổn hao lớn, hệ số tiêu hao lớn, hoặc chỗ phản xạ do sợi bị đứt. Hình3.2: Phương pháp xác định chỗ đứt nhờ OTDR Gọi DA là khoảng cách quang từ Ni tới chỗ đứt DB là khoảng cách quang từ Ni+1 tới chỗ đứt D là khoảng cách thực giữa hai chỗ nối Từ đó xácđịnh được khoảng cách từ các chỗ nối đến chỗ đứt sợi Khoảng cách từ Ni  tới chỗ đứt là: DNi DNi = (DA.D)/(DA+DB) Khoảng cách từ Ni+1 tới chỗ đứt là: DNi+1 DNi+1 = (DB.D)/( DB+DA) Nhờ sử dụng máy vi tính trong các thiết bị đo với các chương trình đầy đủ có thể đo thử nhiều nội dung cần thiết một cách dễ dàng. 3.6.Các biện pháp bảo vệ cáp quang Các cáp quang sau khi được chế tạo có cấu trúc phù hợp theo phương pháp rải đặt như cáp để treo, cáp chôn trực tiếp hay cáp thả dưới nước. Trong khi thi công các tuyến cáp cần có các biện pháp gia cường và bảo vệ bổ xung để tránh các thảm hoạ có thể xảy ra cho cáp. Trong các loại đường cáp thì đường cáp chôn trực tiếp bị ảnh hưởng khá nhiều, chẳng hạn như ảnh hưởng của các tác hại cơ học của các phương tiện giao thông vận tải, ảnh hưởng của các loài gặm nhấm như kiến, chuột, mối…và ảnh hưởng của sét đánh. Vì vậy, ở đây nêu một số biện pháp chống thảm hoạ cho đường cáp chôn trực tiếp. 3.6.1. Độ chôn sâu cáp Cáp được chôn trực tiếp dưới lòng đất. Tuyến cáp có thể đi qua nhiều loại địa hình khác nhau như đồi núi, đồng ruộng, hoặc các đường giao thông như đường sắt, đường bộ. Cáp cần phải có độ chôn sâu cần thiết để tránh các tác độngc ơ học trên bề mặt đất, nhất là các tác động do ảnh hưởng rung động của các phương tiện giao thông cơ giới khi tuyến cáp chạy qua đường. Các tác động cơ học dễ làm các sợi quang bị rạn, phát sinh tiêu hao phụ hoặc có thể bị gãy sợi. Hiện nay thì nhiều nước đã khuyến nghị chọn độ chôn sâu cáp là 1,1 – 1,2m, cũng có nước chôn cáp ở độ sâu 1,5m và cáp được luồn trong các ống nhựa PE hoặc PVC. Bên dưới và bên trên sợi cáp có dải các lớp cát hoặc lớp đất mịn dầy mỗi phía 10cm để giữ sợi cáp luôn thẳng, tránh được các chỗ uốn cong nhỏ, tránh được tiêu hao phụ. Bên trên sợi cáp 1cm có thể đặt băng nhựa báo hiệu hoặc lót gạch nằm ngang rãnh cáp, hoặc các tấm bê tông để tránh đào hầm vào cáp Hình3.3: Mặt cắt của cáp trực tiếp trong đất Trong trường hợp địa hình phức tạp, khó khăn, nhiều sỏi đá, không đào đủ độ sâu cần thiết thì cáp phải được đặt trong lòng ống nhựa PVC đường kính 28-34mm và cả cáp lẫn ống nhựa đặt trong lòng ống sắt đường kính 80-100mm, hoặc trong rãnh bê tông Khi cáp vượt qua đường giao thông, qua cầu, đi dọc hầm đường sắt..v.v.thì cũng phải dùng ống sắt và ống nhựa như trên. 3.6.2. Chống mối và chống chuột Cáp quang có vỏ ngoài PE là nhựa mật độ thấp nên mối, kiến, và các loài gặm nhấm có thể gặm nhấm vỏ nhựa. Một số loài mối, kiến có thể sống ở độ sâu 1m nên có thể ăn vỏ cáp. Bên trong lớp vỏ PE đều có băng thép mạ hình lượn sóng bao bọc. Mối và kiến không thể gặm nhấm băng thép mạ, tuy nhieen sau nhiều năm lớp thép này có thể bị rỉ và bị ăn mòn ở một vài chỗ nhỏ cũng không ảnh hưởng đến sợi quang bên trong cáp. Do vậy, ảnh hưởng của kiến mối là không đáng kể. Các loài chuột chỉ gặm nhấm vỏ PE nếu chúng gặp cáp trên đường đi, không gặm được lớp vỏ thép, nhưng vỏ thép trần lâu ngày sẽ bị ăn mòn. Một biện pháp bảo vệ hữu hiệu là dùng các băng thép bọc nhựa quấn xung quanh cáp trần, nếu cáp quang đi riêng lỗ cống thì có thể bịt kín đầu lỗ cống lại không cho chuột chui vào, còn đoạn cáp trần trong bể thì bọc bằng thép bọc nhựa 3.6.3. Chống ảnh hưởng của sét Ở Việt Nam thường xuyên cso sét đánh trong mùa mưa, vì trong cáp có thép quấn, do vậy nếu sét đánh vào vùng đất bên cạnh dễ làm ảnh hưởng đến cáp. Ảnh hưởng của sét vào cáp phụ htuộc rất nhiều vào yếu tố như điện trở suất của đất, cường độ của sét, tần suất sét đánh ở từng vùng, do đó cần phải xem xét tỉ mỉ các yếu tố ảnh hưởng này để tính toán tỉ mỉ. * Khả năng hư hỏng và biện pháp bảo vệ Theo các tính toán thì khả năng sét đánh vào vùng đất lân cận cáp là khá lớn, tuy nhiên trong thực tế thì khả năng hư hỏng cáp là nhỏ vì một số lý do: Sét đánh vào mùa mưa nên điện trở suất của cáp rất thấp, khả năng sét đánh vào cáp là ít Cường độ sét nói chung nhỏ hơn giá trị tính toán là 50KA, bên cạnh đó thì khả năng chịu đựng xung điện áp của vỏ PE là của cáp là rất cao, đạt giá trị 100KA Ở vùng núi cao, đất có nhiều đá, điện trở suất cao, nhưng sét có xu thế đánh vào các mô cao như mỏm núi, ngọn cây..v.v. Rõ ràng là khả năng hư hỏng của cáp liên quan trực tiếp tới điện trở suất của đất, điện trở xuất càng cao thì khả năng hư hỏng càng nhiều. Ngoài ra, ở các vùng đồng bằng đều có điện trở suất khá thấp, chỉ ở vùng núi mới có điện trở suất cao, do đó cần lưu ý khi xây dựng các tuyến cáp quang tại các vùng cụ thể Đoạn tuyến cáp quang nào chon dọc đường sắt thì không cần có biệ pháp chống sét bổ xung nữa. Tài liệu tham khảo: 1. Hệ thống thông tin quang Ts.Vũ Văn San, Nhà xuất bản Bưu điện 2. Fiber Optic Cabling - Barry Elliott and Mike Gilmore 3. Soi quang va cong nghe SDH 4. Các tài liệu khác

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCáp sợi quang.doc