Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm tại tổng công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam

Thị trường bảo hiểm Việt Nam đang ngày càng phát triển và ngày càng có vị trí cao trong nền kinh tế Quốc dân. Thị trường Bảo hiểm đang ảnh hưởng rất lớn đến các thị trường khác như thị trường vốn, đầu tư và cũng ảnh hưởng nhiều tới đời sống xã hội. Tình hình và xu hướng của thị trường bảo hiểm thế giới như trên đã cho ta thấy sự phát triển mạnh mẽ của bảo hiểm thế giới như thế nào. Tình hình phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam, đặc biệt là tình hình tái bảo hiểm còn gặp phải rất nhiều khó khăn. Tình hình hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm đã được làm rõ trong khóa luận đặc biệt tại Tổng công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam - đơn vị đi đầu trong lĩnh vực tái bảo hiểm.

pdf110 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 3380 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm tại tổng công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
trong phương thức quản lý và điều hành, với đội ngũ cán bộ nhân viên nghiệp vụ đang trong quá trình trưởng thành tích luỹ được nhiều kinh nghiệp khai thác và quản lý đồng thời được sự giúp đỡ và ủng hộ của các tổ chức tái bảo hiểm quốc tế và các công ty bảo hiểm trong nước giúp Vina Re có bước đi dài trong quá trình hội nhập. 2.2. Khó khăn 73 2.2.1 Khả năng nhận tái bảo hiểm còn hạn chế. Căn cứ vào tình hình hoạt động đã trình bày ở phần trên, ta có thể nhận thấy rằng mặc dù tổng phí giữ lại tăng qua các năm nhưng vẫn còn rất nhỏ so với tổng lượng phí nhận bảo hiểm. Xu hướng tăng hoa hồng nhận tái bảo hiểm nói chung gây ra những khó khăn nhất định cho Vina Re trong thời gian tới. Do vậy điều chỉnh mức hoa hồng như thế nào là một công việc cần phải tính toán nhằm mục đích thu hút được nhiều khách hàng song vẫn phải đảm bảo kết quả nghiệp vụ. Công tác quản lý rủi ro chưa thực sự mang lại hiệu quả, chưa chú trọng một cách đúng mức và thường xuyên. Do vậy nguy cơ tổn thất xảy ra là rất lớn. 2.2.2. Rủi ro lớn trong quá trình thu xếp tái bảo hiểm. Hiện nay, tình hình cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam rất khốc liệt và hình thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để chiếm thị phần chủ yếu là hạ phí và tăng chi phí hoa hồng trong khai thác để lôi kéo khách hàng. Chính điều này đã khiến cho khả năng thu xếp tái bảo hiểm ra thị trường nước ngoài gặp nhiều khó khăn và có thể dẫn tới rủi ro là doanh nghiệp không thu xếp được và phải gánh chịu toàn bộ tổn thất nếu xảy ra, có trường hợp sẽ vượt khả năng thanh toán của công ty. Xuất phát từ những tồn tại của nghiệp vụ bảo hiểm là tình trạng cạnh tranh hạ phí đã, đang và sẽ diễn ra theo chiều hướng xấu và phức tạp, nên sẽ gây không ít những khó khăn và trở ngại cho Vina Re trong việc thu xếp tái trong thời gian tới. 2.2.3 Hệ thống thông tin còn yếu kém. Việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng là một trong nhứng đòi hỏi cấp bách nhắm hoàn thiện các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm, mà trong đó ứng dụng công nghệ thông tin là yếu tố quan trọng. Trong môi trường cạnh tranhm ngoài việc đưa ra những sản phẩm, dịch vụ mới, các công ty bảo hiểm còn cần chú ý đến việc nâng cao sự hài lòng của khách hàng. Nói cách khác, 74 thông tin theo yêu cầu là tâm điểm của kiến trúc hướng dịch vụ. Các giải pháp thôn gtin theo yêu cầu kềt nối trực tiếp đến hầu hết các nhân tố tác động tới hoạt động của công ty bảo hiểm, bao gồm bảo hiểm tự động, quản lý dữ liệu, phản ứng và giải quyết hiểm hoạ, kiểm soát doanh nghiệp tự động, tích hợp và thay thế các hệ thống cũ, an ninh, bảo mật. Hệ thống số liệu thống kê phục vụ cho công tác tính phí nghiệp vụ bảo hiểm vẫn chưa hoàn thiện, mặc dù đây là nghiệp vụ được triển khai được khá lâu song cho đến nay biểu phí của nghiệp vụ vẫn dựa vào số liệu thống kê từ thị trường bảo hiểm cháy nước ngoài như Anh, Trung Quốc ... do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của nghiệp vụ. 2.3.4 Phụ thuộc rất lớn vào qui định tái bảo hiểm bắt buộc. Điều này rất bất lợi cho tình hình kinh doanh của VINARE khi Việt Nam thực hiên đầy đủ cam kết trong WTO. Ví dụ như trong tổng doanh thu phí nhận tái bảo hiểm nghiệp vụ cháy thì phí nhận tái bắt buộc chiếm một tỷ trọng lớn trung bình trên 50%, trong khi đó phí nhượng tái bắt buộc có xu hướng giảm đi rõ rệt từ năm 1999 trở lại đây. Có thể nói đây là một trong những tồn tại rất lớn không chỉ ở nghiệp vụ tái bảo hiểm cháy nói riêng mà còn ở trong tất các nghiệp vụ của công ty, nó thể hiện sự phụ thuộc rất lớn vào quy định về tái bảo hiểm bắt buộc do Bộ Tài Chính ban hành . 3. Nguyên nhân 3.1. Nguồn vốn còn hạn chế Hiện giờ, vốn điều lệ của VINARE là 750 tỷ đồng. Nguồn vốn này quá ít ỏi so với các tiềm lực tài chính của các công ty tái bảo hiểm nước ngoài. Đây là một trong những khó khăn lớn nhất đối với VINARE khi thị trường bảo hiểm Việt Nam hội nhập hoàn toàn với thế giới. Thử so sánh với các doanh nghiệp tái bảo hiểm khác trên thế giới, ví dụ như: QBS Ins Group tuy là TBH đứng thứ 25 thế giới nhưng đã có vốn góp của cổ đông lên tới gần 75 400 triệu USD (tức là 6.400 tỷ VNĐ), cao hơn tổng vốn của thị trường tái bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam. Với tiềm lực vốn nhỏ như vậy, tỷ lệ tái ra nước ngoài cao sẽ là điều không khó hiểu. 3.2. Nguồn nhân lực còn thiếu Tổng số lao động của Công ty tại thời điểm 31/12/2006 là 69 người, cơ cấu lao động theo trình độ được thể hiện trong bảng sau: Bảng 10 – Tình hình nguồn lao động của Vinare Trình độ ngƣời lao động Năm 2006 Tỷ lệ trong khối (%) Tỷ lệ trên toàn Công ty (%) 1. Khối kinh doanh: (Tái bảo hiểm và đầu tư) 53 100.00 76.81 - Trên đại học 8 15.09 - Đại học 41 77.36 - Cao đẳng, Trung học 4 7.55 2. Khối phục vụ khai thác diện tích cho thuê 16 100.00 23.19 - Đại học 1 6.25 - Cao đẳng, Trung học 1 6.25 Lao động phổ thông 14 87.50 Tổng lao động 69 100.00 Nguồn: www.vinare.com.vn Theo hợp đồng lao động Năm 2006 Tỷ lệ(%) Không xác định thời hạn 67 97.10 Thời hạn từ 1 – 3 năm 2 2.90 Dưới 1 năm - - Tổng lao động 69 100.00 Nguồn: www.vinare.com.vn 76 Nhận thấy, số lượng nhân viên cỏn rất hạn chế. Khi thị trường bảo hiểm Việt Nam mở cửa hoàn toàn theo cam kết WTO, nguồn nhân lực có trình độ càng trở nên khan hiếm vì sẽ có xuất hiện hiện tượng chảy máu chất xám, các nhân viên có trình độ sẽ chuyển sang các công ty của nước ngoài với mức lương và điều kiện tốt hơn. Điều này không chỉ rất nguy hiểm cho VINARE mà còn là nguy cơ, thách thức lớn đối với toàn thị trường bảo hiểm Việt Nam. 3.3. Tình hình cạnh tranh khốc liệt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Thị trường bảo hiểm Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng để phát triển. Với nhiều thuận lợi, các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trên thị trường đã không ngừng tăng trong những năm qua. Hàng loạt công ty bảo hiểm trong nước ra đời trong vài năm trở lại đây như Công ty cổ phần bảo hiểm AAA, Công ty bảo hiểm Toàn Cầu (GIC), Công ty cổ phần bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Tín. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài cũng đã được cấp giấy phép hoạt động như: AIG, Liberty, ACE. Ngoài ra, còn nhiều doanh nghiệp bảo hiểm trong và ngoài nước khác đang xếp hàng chờ cấp phép. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của thị trường vế số lượng doanh nghiệp cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm. Những hình thức cạnh tranh khônglành mạnh đã diễn ra trên thị trường bao gồm: hạ phí, mở rộng quá mức quyền lợi bảo hiểm mà không tính đến hiệu quả kinh doanh. Mặc dù tỷ lệ hoa hồng chi cho khai thác đã được Bộ tài chính qui định, song nhiều doanh nghiệp đá biến tướng hoa hồng thành nhiều dạng khác nhau để chi cho khách hàng nhằm lôi kéo dịch vụ. Chính tình trạng này đã khiến cho VINARE gặp nhiều khó khăn trong việc thu xếp tái bảo hiểm. 77 CHƢƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TÁI BẢO HIỂM CỦA VINARE I. VỊ THẾ VÀ MỤC TIÊU CỦA TỔNG CÔNG TY VINARE TRONG NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM 1. Vị thế VINARE là doanh nghiệp duy nhất trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, hoạt động chuyên trong lĩnh vực nhận và nhượng tái bảo hiểm. Thông qua hoạt động tái bảo hiểm – VINARE trở thành trung tâm điều tiết dịch vụ bảo hiểm của thị trường. Các cổ đông sáng lập của VINARE (ngoài Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước – SCIC đại diện cho phần vốn Nhà nước) là các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu của thị trường bảo hiểm Việt Nam. Họ vừa là nhà cung cấp dịch vụ tái bảo hiểm cho VINARE vừa là người nhận dịch vụ tái bảo hiểm từ VINARE. Về vốn hoạt động, trong thị trường bảo hiểm, nếu chưa kể PVI mới tiến hành bổ sung vốn hoạt động thông qua việc cổ phần hóa, VINARE là doanh nghiệp có số vốn hoạt động chỉ sau Bảo Việt và Bảo Minh [10]. Với vị thế là công ty tái bảo hiểm duy nhất của thị trường Việt Nam, thông qua hoạt động đầu tư, VINARE đã tạo ra tính liên kết chặt chẽ trong kinh doanh tái bảo hiểm mà không có doanh nghiệp nào trên thị trường có thể có được: cổ đông của VINARE là mười ba doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, ngoài ra VINARE còn có vốn góp với tư cách là cổ đông sáng lập, tham 78 gia Hội đồng quản trị của sáu công ty bảo hiểm phi nhân thọ: Samsung-Vina, PJCO, PTI, Toàn Cầu, Bảo Tín, Bảo Nông. VINARE cũng là thành viên của Hiệp hội các nhà tái bảo hiểm Châu á. 2. Mục tiêu của VINARE trong những năm tới. Đứng trước những thách thức trong quá trình hội nhập, VINARE đã xác định riêng cho mình mục tiêu chiến lược và những mục tiêu trước mắt. Cụ thể như sau: - Mục tiêu chiến lược: Xây dựng công ty tái bảo hiểm Việt Nam thành tổng công ty cổ phần đứng đầu tái bảo hiểm trong nước và khu vực .Trung tâm điều tiết dịch vụ bảo hiểm của thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhà đầu tư tài chính đa ngành, đa lĩnh vực. - Những mục tiêu đến năm 2010 của VINARE [11]. + Thực hiện tổ chức bộ máy theo mô hình công ty cổ phần với mô hình bảo đảm hiện đại, gọn nhẹ, và hiệu quả. + Tiềm năng tài chính đủ mạnh, đảm bảo khả năng thanh toán; đẩy mạnh hoạt động đầu tư tài chính. + Chuẩn hoá đội ngũ cán bộ theo phương châm “Giỏi chuyên môn tái bảo hiểm – am hiểu chuyên môn gốc –sự thành đạt của doanh nghiệp là sự thành đạt của bản thân. + Phấn đấu vào năm 2010 tổng doanh thu nhận tái đạt1721tỷ VNĐ. + Phí giữ lại trên tài sản thuần năm 2010 là 57%. + Kết dư dự phòng nghiệp vụ 500 tỷ VNĐ. + Phí giữ lại thị trường thông qua hoạt động của Vina Re giai đoạn 2004-2010 đạt 3500 tỷ VNĐ. + Tổng thu nộp ngân sách giai đoạn 2005-2010trên 330 tỷ VNĐ. + Vốn điều lệ thực góp năm 2010đạt tối thiểu 500 tỷ VNĐ. 79 + Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế bình quân năm 2010 là 1000 tỷ VNĐ. - Kế hoạch của phòng tái bảo hiểm phi hàng hải. + Tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng phí nhận tái bảo hiểm, cụ thể năm 2005 doanh thu phí nhận tái đạt 110 tỷ VNĐ. + Tăng mức giữ lại nghiệp vụ, dự kiến của phòng tái phi hàng hải trong thời gian tới sẽ nâng mức giữ lại từ 1 triệu USD lên 1,5 triệu USD cho các thịêt hại vật chất và từ 1,5triệu USD lên 2,25 triệu USD cho các thiệt hại vật chất kèm gián đoạn kinh doanh . II.GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỐI VỚI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM Trên cơ sở những thuân lợi, thách thức và những mục tiêu đặt ra, Vina Re cần phải xác đinh cho mình những bước đi thích hợp trong từng giai đoạn nhất định nhằm có thể tận dụng tối đa những cơ hội và hạn chế bớt những thách thức do khách quan đem lại. Cụ thể công ty cần tiến hành các giải pháp sau: 1. Hoàn thiện các sản phẩm bảo hiểm. Công ty cần nghiên cứu và phương án chuẩn hoá cho từng nghiệp vụ bảo hiểm đảm bảo hiệu quả, hấp dẫn, cạnh tranh, a toàn cho doanh nghiệp bảo hiểm gốc thông qua các giải pháp cụ thể sau: - Tăng tỷ lệ hoa hồng. Có thể nói một thực tế hiện nay không chỉ ở riêng nghiệp vụ tái bảo hiểm cháy mà còn ở các nghiệp vụ tái khác là tỷ lệ hoa hồng nhượng tái mà Vina Re trả cho các công ty bảo hiểm gốc trong nước khi tái dịch vụ thường thấp hơn so với các công ty tái bảo hiểm nước ngoài ít nhất là 5%, điều này là nguyên nhân chính dẫn tới việc giảm tỷ trọng phí tự nguyện nhận trong cơ cấu phí trong những năm gần đây. Như vậy, để tăng cường tính cạnh tranh 80 trong thời gian tới, đặc biệt khi thực hiên xoá bỏ quy định tái bảo hiểm bắt buộc, Vina Re cần phải đưa ra tỷ lệ hoa hồng mang tính cạnh tranh cao hơn. Mặt khác, tăng tỷ lệ hoa hồng cũng giúp công ty tạo dựng hình ảnh, uy tín, mối quan hệ lâu dài với các công ty bảo hiểm trong nước và nước ngoài. Nhưng tăng tỷ lệ hoa hồng lên bao nhiêu thì cần phải tính toán một cách kỹ lưỡng và có sự thống nhất chung của ban lãnh đạo nhằm đảm bảo kết quả kinh doanh nghiệp vụ. - Tăng mức giữ lại, bổ sung và hoàn thiện các điều kiện, điều khoản ,phạm vi bảo hiểm một cách thích hợp. Đây là công việc cần thiết nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả nghiệp vụ. Như chúng ta đã biết, vốn điều lệ tăng lên là một trong những điều kiện vô cùng thuận lợi của Vina Re, do vậy tăng mức giữ lại của nghiệp vụ là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tế. Bên cạnh đó công ty cần phải xem xét lại các phương án tái cũng như phạm vi bảo hiểm, các điều khoản, điều kiện trong hợp đồng một cách thích hợp nhằm đem lại hiệu quả nghiệp vụ cao nhất. 2. Phát triển dịch vụ khách hàng và chính sách khách hàng Xây dựng chính sách khách hàng một cách hợp lý là một trong những mục tiêu chiến lược hàng đầu của Vina Re nhằm mục đích thu hút lượng dịch vụ từ phía công ty bảo hiểm gốc. Do vậy để đạt được mục tiêu trên, công ty cần thực hiện các biện pháp sau [9]: - Với tư cách là công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp duy nhất trên thị trường Việt Nam, do vậy Vina Re cần phải xác định các dịch vụ trọng điểm, phức tạp để tiến hành tư vấn cho khách hàng từ khâu xác định rủi ro, đánh giá rủi ro, phạm vi bảo hiểm, phí bảo hiểm, các điều kiện, điều khoản ...trước khi thực hiện các hợp đồng bảo hiểm. Bên cạnh đó Vina Re cần phối hợp với các doanh nghiệp bảo hiểm gốc để tham mưu, tư vấn các 81 vấn đề kỹ thuật nghiệp vụ, công tác đề phòng hạn chế tổn thất, nhằm mục đích giảm tối thiểu nguy cơ rủi ro cháy có thể xảy ra. - Phối hợp chặt chẽ với công ty bảo hiểm gốc giải quyết nhanh bồi thường mau chóng, chính xác cho các khách hàng bảo hiểm nhằm khắc phục hậu quả, ổn định kinh doanh. Có thể nói đây là khâu rất quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, bởi cũng như nghiệp vụ bảo hiểm gốc, khâu giải quyết bồi thường thể hiện được niềm tin của khách hàng đối với công ty bảo hiểm .Vậy để hỗ trợ các công ty chi trả bồi thường được nhanh chóng, Vina Re có thể tăng phí tạm giữ cho các công ty bảo hiểm gốc, nhanh chóng xem xét các thủ tục bồi thường. - Thường xuyên tổ chức hoặc phối hợp với các công ty bảo hiểm trong nước tổ chức đào tạo, đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ nghiệp vụ thông qua các hình thức: tham gia các khoá học, hội thảo trong nước và nước ngoài. Trong tương lai,Vina Re cần tập trung hơn nữa cho công tác này bởi những yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ không chỉ dừng lại trong phạm vi trong nước, mà còn tiến xa hơn trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. - Thành lập phòng tư vấn và nghiên cứu sản phẩm mới. Đây là bước đi chiến lược trong giai đoạn mới của tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam, với một bộ phận chuyên sâu, am hiểu thị trường, và có những chiến lược Marketing phù hợp trong từng giai đoạn công ty có thể khai thác được tối đa khả năng của thị trường. - Tiếp tục và nâng cao việc tổng hợp và cung cấp thông tin thị trường bảo hiểm, tái bảo hiểm trong nước và quốc tế cả về số lượng và chất lượng. Qua đó giúp cho các tổ chức bảo hiểm có một cái nhìn khái quát hơn về tình hình bảo hiểm trên thị trường từ đó có những kế hoạch phát triển phù hợp nhằm mở rộng thị phần doanh nghiệp của mình. 3. Thực hiện chính sách mở rộng thị trƣờng nhận tái bảo hiểm 82 Với mục tiêu chiến lược là xây dựng Vina Re trở thành tổng công ty cổ phần đứng đầu tái bảo hiểm trong nước và khu vực do vậy mở rộng thị trường là một giải pháp đúng đắn và cần thiết. Trong giai đoạn trớc mắt Vina Re cần làm những công việc sau: - Tìm kiếm những giải pháp chiếm lĩnh thị trường tái bảo hiểm trong nước - Chú trọng hợp tác khu vực, đặc biệt trong khu vực Đông Nam Á. - Xem xét khả năng mở văn phòng đại diện ở nước ngoài. - Nghiên cứu khảo sát thị trường quốc tế, tăng cường khả năng xâm nhập, đa dạng hoá các mối quan hệ kinh doanh bằng cách trao đổi dịch vụ với các công ty nhận tái nước ngoài trong điều kiện công ty vẫn có nguồn nhận tái bảo hiểm bắt buộc. 4. Tiếp tục tăng thêm nguồn vốn kinh doanh. Như chúng ta đã biết vốn thể hiện năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đối với các nhà tái bảo hiểm khác. Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn hoạt động, Vinare phải từng bước tăng vốn điều lệ. Vốn điều lệ của Vinare xác định cho giai đoạn đến năm 2015: 3.000 tỷ VNĐ. Thông qua phương thức phát hành cổ phiếu,Vinare đang từng bước nâng cao vốn điều lệ – tạo điều kiện thu hút lượng dịch vụ nhận tái bảo hiểm trong và ngoài nước, tăng năng lực cạnh tranh, hạn chế dịch vụ chuyển ra nước ngoài; tăng cường khả năng trao đổi dịch vụ tái bảo hiểm, hợp tác mọi mặt, tạo liên kết bền vững giữa Vinare với các tổ chức bảo hiểm trong và ngoài nước, vươn tầm hoạt động ra thị trường quốc tế và qua đố doanh thu phí nhận tái bảo hiểm của Vinare sẽ đạt 1.170 tỷ đồng vào năm 2010[11]. Việc tăng cường khả năng tài chính sẽ tạo điều kiện nâng mức giữ lại của Vinare, ước tính mức giữ lại sẽ đạt 390 tỷ đồng vào năm 2010, tăng 25%/ năm.Cho đến giai đoạn này như đã phân tích trong phần thuận lợi vốn điều lệ của Vina Re đã lên tới 334 tỷ đồng .Tuy nhiên một vấn đề đặt ra khi xây dựng đề án cổ phần hoá là việc xác định mức vốn huy động hợp lý, thích hợp trong 83 từng thời kỳ nhằm tối ưu hoá khả năng nhận dịch vụ, khả năng giữ lại và khả năng điều tiết cho thị trường trong nước, do vậy trong giai đoạn tới Vina Re cần phải tiếp tục thực hiện các biện pháp nhằm tăng mức vốn của mình, phấn đấu đến năm 2010 đạt 500 tỷ VNĐ. Các biện pháp cụ thể như sau: - Huy động vốn bằng cách liên doanh, liên kết với các ngân hàng. Mô hình này chúng ta đã thấy nhiều ở các nước phát triển, các hãng bảo hiểm thường kết hợp với các ngân hàng hay các tổ chức tín dụng lớn để kinh doanh bảo hiểm. Điều này cho phép công ty có thể tận dụng tối đa lợi thế về vốn của ngân hàng và nguồn vốn nhàn rỗi của bảo hiểm để đầu tư. - Tích luỹ dần các lợi tức trong quá trình kinh doanh, sử dụng có hiệu quả số vốn nhàn rỗi. - Thực hiện hiệu quả các hoạt động đầu tư. Cụ thể như sau: + Tiến hành mở rộng và đẩy mạnh hoạt động đầu tư tài chính trong nhiều lĩnh vực khác nhau song phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, hiệu quả. + Tiếp tục chủ động tham gia góp vốn vào các doanh nghiệp cổ phần trong và ngoài nước.Bên cạnh đó củng cố liên doanh với công ty bảo hiểm Samsung _Vina và các công ty đã tham gia góp vốn. + Thành lập phòng đầu tư với mục tiêu nghiên cứu, và tìm kiếm các lĩnh vực đầu tư mang lại hiệu quả cao. 5. Phát triển nguồn nhân lực. Nhân lực là giải pháp quan trọng nhất dẫn đến sự thành công hay thất bại của bất kỳ doanh nghiệp nào. Vì vậy, chú trọng hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phải coi là nhiệm vụ trọng tâm của Vinare nói riêng cũng như các doanh nghiệp bảo hiểm hiện nay. Do đặc điểm của sản phẩm và dịch vụ bảo hiểm chủ yếu là vô hình nên chất lượng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu kinh doanh bảo hiểm là rất quan trọng. Hiện tại, tình trạng thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao tại Vinare cũng như các doanh nghiệp bảo hiểm khác là khá phổ biến, nhưng 84 mức độ quan tâm của doanh nghiệp vẫn còn chưa thoả đáng. Đặc biệt khi doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoại với ưu thế cạnh tranh vượt trội đã tạo nên hiệu ứng chuyển dịch nguồn nhân lực có chất lượng cao từ các công ty bảo hiểm trong nước sang các công ty bảo hiểm nước ngoài. Đây sẽ là khó khăn rất lớn đối với Vinare. Vì vậy, để đảm bảo nguồn nhân lực cả về số lượng cũng như chất lượng, Vinare cần phải quan tâm tới hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu mở cửa của thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm của Việt Nam, cụ thể như sau: - Coi trọng hơn nữa việc đào tạo lại nguồn nhân lực đang hoạt động quản lý và kinh doanh tái bảo hiểm thông qua các khoá học dài hạn hay ngắn hạn tuỳ theo hoạt động của công ty tại từng thời điểm. - Luôn bổ sung và cập nhật các kiến thức mới về bảo hiểm và tái bảo hiểm. - Xây dựng qui trình tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng, bãi miễn cán bộ một cách chặt chẽ. - Hợp tác chặt chẽ với các trường đại học, trung học, dạy nghề, tổ chức…có liên quan tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm trong và ngoài nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao kiến thức chuyên môn phục vụ cho công tác kinh doanh tái bảo hiểm. - Xây dựng các chính sách hỗ trợ, khuyến khích việc đào tạo các chuyên gia giỏi trong một số lĩnh vực quan trọng của hoạt động quản lý và kinh doanh tái bảo hiểm. - Xây dựng chế độ tiền lương và tiền thưởng hợp lý và gắn với hiệu quả hoạt động nhằm thu hút và duy trì nguồn nhân lực. - Phân cấp và xác định rõ ràng trách nhiệm của từng chức danh chủ chốt, từng cá nhân trong hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm. 6. Nâng cấp và hiên đại hoá hệ thống thông tin. 85 Trong thời đại bùng nổ thông tin, vai trò của công nghệ thông tin hết sức quan trọng. Trong kinh doanh bảo hiểm ngày nay không thể không nói đến vai trò quan trọng của hệ thống thông tin. Như chúng ta đã biết với sự xuất hiện của máy tính một phần lớn các giao dich bảo hiểm được thực hiện cùng với nó là công tác tính phí, công tác quản lý hợp đồng, công tác xử lý thông tin được thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác. Ngay từ khi mới thành lập, Vina Re đã trang bị hệ thống máy tính nhờ vậy khối lượng công việc được giảm đáng kể, chất lượng công việc cao. Song cho đến nay hệ thống máy tính đó đã cũ, và do chưa có chính sách cải tiến hợp lý nên đến nay hệ thống thông tin chậm được cải thiện. Trong thời gian tới, để nâng cao hơn nữa chất lượng của công việc, Công ty nên đầu tư cải tiến hệ thống thông tin, cụ thể: - Đầu tư nâng cấp hệ thống máy tính: thay thế các máy tính đã cũ bằng các máy mới có chất lượng đảm bảo. Tăng tốc độ xử lý dữ liệu của máy tính nhằm tăng hiệu quả trong việc thực hiện quá trình triển khai nghiệp vụ. - Tìm kiếm các chương trình phần mềm mới, dễ sử dụng mang lại hiệu quả xử lý công việc cao. - Xây dựng các trang Web điện tử để cập nhật các thông tin của doanh nghiệp, của thị trường tái trong nước và nước ngoài. - Xây dựng hệ thống mạng thông tin nội bộ nhằm mục đích trao đổi và quản lý. Theo qui định của Nhà nước hiện nay, đối với một số lĩnh vực như quản lý rủi ro, định phí bảo hiểm, đầu tư tài chính, phát triển tin học trong quản lý và kinh doanh bảo hiểm, Nhà nước cho phép các doanh nghiệp nhà nước được phép thuê chuyên gia nước ngoài để triển khai các vấn đề này. Nâng cấp trang thông tin điện tử để cập nhật các thông tin doanh nghiệp, thị trường trong và ngoài nước. 86 áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các khâu thống kê nghiệp vụ, thống kê và phân tích rủi ro làm dữ liệu cho việc định phí, đàm phán phương án tái bảo hiểm. Vinare cần đẩy mạnh tổ chức quản lý và quản trị doanh nghiệp trên mạng. 7. Đổi mới quản lý, quản trị doanh nghiệp - Khai thác và sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý, thực hiện giao chỉ tiêu, điều hành kiểm tra kế hoạch. - Từng bước hoàn thiện và nâng cấp hệ thống tin học nhằm tăng cường tối ưu hiệu quả điều hành công việc. Sử dụng một cách có hiệu quả nhất các phần mềm ứng dụng hiện có. - Thực hiện tốt công tác thống kê số liệu của ngành trong và ngoài nước nhằm phục vụ hiệu quả cho công việc hoạch định chiến lược hoạt động. 8. Xây dựng thƣơng hiệu VINARE Ngày nay như chúng ta đã biết xây dựng một thương hiệu luôn là nhiệm vụ sống còn của bất kỳ doanh nghiệp nào bởi một thương hiệu mạnh thể hiện uy tín, chất lượng của công ty. Do vậy trong thời gian tới với mục đích chiến lược là xây dựng một công ty cổ phần đứng đầu về tái bảo hiểm trong nước và khu vực, Vinare cần quảng bá thương hiệu của mình một cách rộng khắp không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nước ngoài thông qua các hoạt động quảng cáo trên các phương tiện đại chúng phổ biến như Internet…xây dựng hình ảnh công ty với tiềm lực tài chính vững mạnh, đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, có trách nhiệm cao[8]. 9. Thành lập quỹ đầu tƣ, quỹ tín thác và công ty quản lý vốn đầu tƣ Một trong những giải pháp lớn nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển ngành bảo hiểm đến năm 2010 là việc sử dụng tối đa, có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm. Theo đó, các giải pháp sẽ thực hiện bao gồm, cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm thành lập quỹ đầu tư, quỹ tín thác và công ty quản lý vốn đầu tư theo quy định của 87 pháp luật để tạo cầu nối giữa các nguồn vốn ngắn hạn và nhu cầu vốn dài hạn trên thị trường. Các doanh nghiệp được phép phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu và tham gia thị trường chứng khoán, đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng. Bảo hiểm, tái bảo hiểm là một tổ chức trung gian tài chính lớn của nền kinh tế, có chức năng huy động các nguồn vốn và cung ứng vốn trung, dài hạn cho đầu tư phát triển. Trên thế giới, các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm đặc biệt là các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là người cung cấp chính nguồn vốn cho các quỹ đầu tư trên thị trường vốn. Do công cụ đầu tư chủ yếu của quỹ đầu tư là chứng khoán, các quỹ đầu tư có chức năng thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán và tạo ra tính thanh khoản của thị trường này. Sự hình thành các quỹ đầu tư độc lập của các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tạo thành trung tâm thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư nhỏ thành nguồn vốn lớn, ổn định. Chính vì vậy, quỹ đầu tư được coi là chiếc cầu nối tốt nhất giữa các nguồn vốn ngắn hạn và nhu cầu vốn dài hạn trên thị trường chứng khoán. Hoạt động đầu tư của Vinare cũng có nhiều tiến bộ rõ rệt trong năm 2006 và đang từng bước phát triển mạnh mẽ. Giá trị đầu tư tính đến thời điểm 31/12/2006 là 599,36 tỷ USD. Các doanh nghiệp có đủ điều kiện về vốn, quy mô dự phòng lớn và khả năng đầu tư dài hạn sẽ được xem xét cho phép thành lập quỹ đầu tư theo các quy định của pháp luật. Để các doanh nghiệp bảo hiểm tăng mạnh tỉ trọng đầu tư vào thị trường vốn thì ngoài giải pháp chuyển dịch cơ cấu theo hướng nâng tỉ trọng các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ dài hạn, Nhà nước cũng cần phải có các chính sách đồng bộ cho việc phát triển thị trường vốn trong nước. IV. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƢỚC 88 1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm phù hợp với tiến trình hội nhập Hiện nay, hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên thị trường của Việt Nam về mặt số lượng thì khá nhiều, nhưng lại phân tán và nhiều bất cập. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm hiện giờ có thể chịu sự điều chỉnh của rất nhiều nguồn luật như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật hàng hải, Luật hàng không dân dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật doanh nghiệp…Ngoài ra, còn có rất nhiều văn bản dưới luật khác như thông tư, nghị định hướng dẫn, giải thích luật khi áp dụng, thi hành… đã gây không ít khó khăn trong quản lý và kinh doanh hoạt động bảo hiểm và tái bảo hiểm. Vì có nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh nên có sự chồng chéo. Ví dụ như: Bộ luật Dân sự Việt Nam đã có mục 11 từ Điều 571 đến Điều 584 để qui định về hợp đồng bảo hiểm, các loại hợp đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm, phí bảo hiểm trong khi tất cả những nội dung này cũng lại được đề cập lại tương tự trong Luật kinh doanh bảo hiểm . Hiện nay, dù đã có nguồn luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm tại Việt Nam (Luật kinh doanh bảo hiểm) nhưng phạm vi điều chỉnh lại không áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại hình bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh. Hay ở khoản 3 và 4 Điều 12 của chương II Luật kinh doanh bảo hiểm lại qui định: “Hợp đồng bảo hiểm hàng hải được áp dụng theo qui định của Bộ luật hàng hải”, “Những vấn đề liên quan đến hợp đồng không qui định trong chương này, được áp dụng theo qui định của Bộ luật Dân sự và các qui định khác của pháp luật có liên quan”. Sự phân tán này gây rất nhiều khó khăn cho việc tra cứu [4]. Tóm lại, muốn phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh trong quá trình mở cửa hội nhập theo chiến lược đề ra thì điều tiên quyết là phải hoàn chỉnh hệ thống pháp luật. Nhà nước cần thống nhất các 89 hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm vào một nguồn luật để tránh chồng chéo, điều chỉnh mâu thuẫn nhau trong các nguồn luật về một số nội dung liên quan tới hoạt động bảo hiểm và tái bảo hiểm, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện một số qui định trong luật, thống nhất các khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong các văn bản pháp luật… Chỉ như vậy, vai trò của hệ thống pháp lý mới được phát huy hiệu quả, có tác dụng điều hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm trên thị trường, tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm phát triển an toàn, lành mạnh và toàn diện. 2. Đẩy mạnh cải cách cơ chế quản lý. Đây là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm tại Việt Nam. Đây cũng là giải pháp vĩ mô không thể thiếu cho sự phát triển của ngành bảo hiểm nói chung và Vinare nói riêng. Trong thời gian qua, để thực hiện các cam kết theo các hiệp định song phương và đa phương đã ký kết, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực trong việc đổi mới quan điểm, cách thức quản lý đối với thị trường bảo hiểm, song vẫn còn tồn tại nhiều những hạn chế. Đó là những bất cập liên quan đến sự thống nhất cơ quan quản lý, cơ chế, chính sách quản lý hay những thủ tục hành chính trong hoạt động quản lý hoặc các hoạt động kiểm tra giám sát vẫn còn tồn tại. Chính điều này đã gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh trên thị trường, ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh và hiệu quả hoạt động kinh doanh của Vinare nói riêng và của toàn doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nói chung. Đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước cần tập trung vào các hoạt động sau: - Nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với hoạt động của thị trường bảo hiểm. Cơ quan Nhà nước phải vừa có chức năng tham mưu, hướng dẫn, chỉ đạo vừa thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm. 90 - Thay đổi cơ bản phương thức quản lý doanh nghiệp trong đó có quản lý kinh doanh như cấp phép, thẩm định hồ sơ, đăng ký sản phẩm, thay đổi vốn hay phạm vi hoạt động… - Nhanh chóng ban hành qui chế xử phạt vi phạm hành chính trong kinh doanh bảo hiểm, chỉ tiêu giám sát hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. 3. Tăng cƣờng hoạt động kiểm tra giám sát hoạt động của thị trƣờng bảo hiểm. Để thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam có thể phát triển toàn diện và an toàn thì các cơ quan quản lý cần tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động thị trường bảo hiểm. Hiện nay, qui mô và tốc độ phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam đang rất cao, đây cũng là thành quả của quá trình hội nhập, song bên cạnh đó cũng kéo theo rất nhiều những vấn đề phức tạp. Nếu các cơ quan quản lý không tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát hoạt động của thị trường thì sẽ không đảm bảo được định hướng phát triển thị trường. Hoạt động kiểm tra giám sát thị trườngbảo hiểm cần tập trung vào những vấn đề sau: - Kiểm tra giám sát các hoạt động soạn thảo hợp đồng bảo hiểm và định phí bảo hiểm, xoá bỏ các hoạt động bất hợp pháp của các cá nhân và các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. - Tiêu chuẩn hoá các hoạt động quản lý và tiếp thị của các công ty bảo hiểm, các đại lý bảo hiểm và môi giới bảo hiểm nhằm hạn chế hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc chi trả hoa hồng cao, giảm phí bảo hiểm hoặc mở rộng phạm vi bảo hiểm. - Đánh giá lại và tiến hành đăng ký cho các đại lý, môi giới bảo hiểm. Điều tra và loại bỏ các tổ chức và cá nhân hoạt động môi giới bất hợp pháp. - Xây dựng chỉ tiêu mang tính khách quan và công khai cho việc kiểm tra giám sát các hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên thị trường. 91 - Thống nhất cơ quan kiểm tra giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường để tránh chồng chéo. 4. Tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp bảo hiểm trong nƣớc Thị trường tái bảo hiểm phụ thuộc rất lớn vào thị trường bảo hiểm gốc, vì thế sự phát triển chung của thị trường bảo hiểm sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động của công ty chuyên tái như Vinare. Hiện tại, một số các doanh nghiệp bảo hiểm đã tiến hành cổ phần và niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. Đối với các doanh nghiệp này, Nhà nước cần phải xây dựng chương trình tăng vốn cụ thể và hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý. 92 V. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM TRONG NƢỚC 1. Thực hiện cạnh tranh lành mạnh Theo qui định hiện hành, khi ký được các hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm được phép chi từ 2,5% đến 12% hoa hồng( tuỳ loại hợp đồng) cho đại lý bảo hiểm hoặc tối đa không quá 15% cho doanh nghiệp môi giới. Những đối tượng khác như người không phải kinh doanh đại lý, môi giới bảo hiểm, khách hàng mua bảo hiểm, cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm đều không được phép nhận chi trả hoa hồng. Tuy nhiên, có một thực tế hiện nay là số lượng giao dịch bảo hiểm thông qua người hành nghề chuyên nghiệp, tức các đại lý và doanh nghiệp môi giới còn rất thấp, theo ước lượng của một số người trong cuộc, chỉ khoảng 10%. Phần giao dịch còn lại chủ yếu do doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và khách hàng trực tiếp ký hợp đồng với nhau hoặc thông qua trung gian nào đó. Có những công trình tiền bảo hiểm lên tới hàng tỉ, hàng chục tỉ đồng. Với những hợp đồng lớn như vậy, khách hàng thường không tin cậy đại lý. Vì vậy, họ trực tiếp giao dịch với chính doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Song khi giao dịch như vậy, khách hàng hoặc người trung gian vẫn đòi hỏi phải được chi hoa hồng, nếu không sẽ đi mua chỗ khác. Để giữ chân khách, doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải chiều theo ý của khách hàng. Mà làm như vậy thì phải lách luật, tức là phải làm động tác giả bằng cách hợp thức hoá qua một đại lý nào đố, thậm chí đại lý “ dỏm” để rút hoa hồng ra, rồi chi lại số tiền đó cho khách hàng. Hoa hồng dần dần trở thành vũ khí lợi hại được các doanh nghiệp sử dụng triệt để nhằm mục đích cạnh tranh. Theo hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, tiềm năng bảo hiểm phi nhân thọ hiện chỉ được khai thác khoảng 20 %( trên tang giá trị tài sản cần bảo hiểm). Cũng vì miếng bánh hấp dẫn đó mà cuộc 93 chạy đua giành thị phần giữa các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm càng lúc càng khốc liệt. Để lôi kéo khách hàng, các doanh nghiệp sẵn sàng hứa hẹn chi những khoản hoa hồng hậu hĩ. Hiện tượng này phổ biến đến mức có người trong cuộc phải kêu lên “thị trường bảo hiểm dường như đang bị nhuốm màu hoa hồng”. Ngay trong hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam đã từng xảy ra những cuộc cãi vã nảy lửa giữa các thành viên trong các cuộc họp của hiệp hội cũng vì chuyện hoa hồng. Có ý kiến cho rằng đây là một trong những lý do khiến cho liên doanh bảo hiểm Allianz ( Đức – Pháp) rút lui khỏi Việt Nam vì chính sách kinh doanh của họ không cho phép chi trả hoa hồng cho khách hàng. Và đây cũng là điều làm cho các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài gặp khó khăn bởi họ không thể cạnh tranh theo kiểu “khác người” như vậy. Được biết thị phần của bảy doanh nghiệp nước ngoài chỉ khoảng 6 – 7%. Thế nhưng, phương thức cạnh tranh để giành thị phần như trên không thể xem là lành mạnh bởi nó không những không giúp doanh nghiệp tăng chất lượng dịch vụ mà còn có thể làm hại chính doanh nghiệp vì làm trái pháp luật. Có cả chuyện doanh nghiệp cạnh tranh thông qua sự can thiệp hành chính để các doanh nghiệp khác không tiếp cận khai thác dịch vụ. Cạnh tranh đôi khi diễn ra ngay cả với hai hoặc ba chi nhánh trong cùng một doanh nghiệp. Với tình trạng cạnh tranh như hiện nay, có những sản phẩm phí bảo hiểm đã giảm tới 30% - 40%. Cộng thêm với tình hình tổn thất đang ngày càng xấu đi, trong khi chi phí khai thác tăng, lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm ngày càng đi xuống. Có doanh nghiệp doanh thu cả 1.000 tỷ VND/ năm nhưng lãi chỉ còn 1 tỷ VND. Việc làm này sẽ gây khó khăn trong việc thu xếp tái bảo hiểm ra thị trường nước ngoài và có thể dẫn tới doanh nghiệp không thu xếp tái bảo hiểm 94 được và phải gánh chịu toàn bộ tổn thất nếu xảy ra, có trường hợp vượt quá khả năng thanh toán của họ. Tóm lại, để tạo điều kiện an toàn, hiệu quả và toàn diện cho hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm thì bản thân thị trường bảo hiểm gốc phải an toàn và hiệu quả. Sự cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm của Vinare. Vì vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cần có sự thống nhất trong phương thức kinh doanh lôi kéo khách hàng, nhằm đảm bảo khả năng tăng doanh thu nhưng cũng đảm bảo tăng chất lượng dịch vụ, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả của toàn thị trường. 2. Đổi mới trong cách nhìn nhận của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nƣớc Nhìn vào mô hình mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào thị trường bảo hiểm, ta có thể thấy rõ mối quan hệ và hiểu tầm quan trọng của các doanh nghiệp bảo hiểm đối với doanh nghiệp tái bảo hiểm. Người tham gia bảo hiểm Đại lý bảo hiểm Công ty môi giới bảo hiểm Công ty bảo hiểm gốc Công ty tái bảo hiểm 95 Từ buổi sơ khai, thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có duy nhất doanh nghiệp bảo hiểm Bảo Việt. Lúc bấy giờ, Bảo Việt chỉ thực hiện tái bảo hiểm ra nước ngoài. Mối quan hệ bền chặt với các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm trong mấy chục năm qua đã khiến cho các doanh nghiệp bảo hiểm khó có thể dứt bỏ, ngay cả khi trên thị trường bảo hiểm trong nước xuất hiện nhiều doanh nghiệp bảo hiểm mới. Với tâm lý sính hàng ngoại, ngay cả các doanh nghiệp ngoài Bảo Việt cũng dựa vào các mối quan hệ này để thực hiện hoạt động tái bảo hiểm. Điều này một phần lý giải tại sao cho đến nay các doanh nghiệp bảo hiểm nước ta vẫn nhượng tái ra nước ngoài với tỷ lệ cao. Vì vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước cần thiết phải thay đổi cách nhìn nhận, tạo điều kiện cho công ty tái bảo hiểm như Vinare đẩy mạnh hoạt động, tăng tỷ lệ phí giữ lại trong nước. Các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước cần có nhìn nhận về một thị trường cạnh tranh mới, đó là quá trình tự do hóa và toàn cầu hóa đang chuyển biến ngày càng rõ nét, quyết định cho mình những chiến lược thích hợp chuẩn bị cho hội nhập với thị trường thế giới. Các công ty bảo hiểm không thể giữ mãi lối điều hành kinh doanh theo kiểu truyền thống để tồn tại trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, họ bắt buộc phải tái lập lại và nỗ lực trong việc xây dựng những hướng dẫn kinh doanh để theo đuổi kịp những nhân tố thay đổi sau: Thứ nhất, Sự gia tăng cạnh tranh ngày càng lớn. Cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm theo xu hướng sẽ chủ yếu tập trung mạnh mẽ vào các yếu tố về giá và dịch vụ khách hàng, nó như là kết quả của mậu dịch tự do và tự do hóa trong ngành bảo hiểm. Những lực mới của sự cạnh tranh sẽ bị chi phối bởi sự hiện diện của những tổ chức kinh doanh bảo hiểm trên thế giới có phương pháp 96 điều hành kinh doanh tốt nhất, cũng những nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác trong nước, chỉ những nhà cung cấp nào phù hợp nhất mới tồn tại được. Thứ hai, Sự hội tụ của những sản phẩm tài chính là xu hướng tất yếu. Để đáp ứng những yêu cầu tổng hợp khác nhau của khách hàng và những thay đổi về nhu cầu và đặc điểm của họ, xu hướng bắt buộc là theo đuổi sự hội tụ những sản phẩm tài chính. Xu hướng này là hướng dẫn bắt buộc đối với những công ty cung cấp dịch vụ tài chính cá biệt, đó là các công ty không thể tự cung cấp toàn bộ các loại dịch vụ tài chính bởi riêng họ, tạo nên những đồng minh hoặc có sự hợp nhất chung trong một tổ chức, nơi mà sẵn sàng cung cấp hàng loạt những sản phẩm dịch vụ tài chính tổng hợp. Thứ ba, Nhu cầu của khách hàng thay đổi. Khách hàng đang ngày càng am tường và nhận thức rõ về những nhu cầu bảo hiểm của chính họ. Tại một thời điểm khách hàng sẽ có sự phân biệt rõ ràng hơn cho mỗi nhu cầu, và am hiểu về rủi ro tài chính họ sẽ phải đối mặt. Thị trường dành cho những nhà bảo hiểm sẽ thay đổi với những khách hàng mới và nảy sinh nhiều loại rủi ro mới cũng như việc xã hội ngay càng trở nên giàu có và nhận thức càng rõ về nhu cầu cho những đảm bảo an toàn và bảo vệ tài chính. Thứ tư, Những thay đổi nhanh chóng trong lĩnh vực công nghệ đang chuyển đổi cách thức kinh doanh với những xu hướng đang được kỳ vọng và lớn mạnh không ngừng cách thức kinh doanh. Khả năng của một công ty bảo hiểm khi tiếp cận với công nghệ mới trong mọi lĩnh vực hoạt động sẽ đảm bảo cho công ty có đủ thế mạnh cạnh tranh với các đối thủ khác. Nó cũng có nghĩa rằng nếu công ty nào bị chậm lại quá lâu với sự thay đổi không ngừng của công nghệ sẽ dẫn đến sự tụt hậu và bị loại bỏ. Để đối mặt với những thay đổi trong kinh doanh bảo hiểm, ngành bảo hiểm Việt Nam cần khẩn cấp lập kế hoạch cơ bản cho sự phát triển của mình thông qua hoàn thiện những nhiệm vụ sau: 97 * Phát triển một hạt nhân then chốt trong những công ty bảo hiểm trong nước trở thành người dẫn đầu thị trường và có tác động mạnh tới thị trường, đáp ứng hết những nhu cầu bảo hiểm của thị trường trong nước. * Quan tâm để bảo hiểm là lĩnh vực quan trọng trong sự hợp nhất của hệ thống tài chính. * Đưa ra những sản phẩm mới, sản phẩm cải tiến để tăng khả năng xâm nhập vào thị trường mới. * Phát triển những kênh phân phối sản phẩm mới như thương mại điện tử, Marketing trực tiếp... đảm bảo chi phí và tăng hiệu quả phân phối sản phẩm tới tay khách hàng. * Cải tiến việc nâng cao chất lượng dịch vụ đối với chủ hợp đồng (khách hàng) thông qua việc đáp ứng và quan tâm tới mối quan hệ cộng đồng và áp dụng những công nghệ mới nhất trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng một cách hiệu quả. Còn đối với các công ty bảo hiểm, công ty bảo hiểm trong nước ngay lập tức phải xem xét, đánh giá lại và điều chỉnh những chiến lược kinh doanh của mình. Đặt ra nhu cầu gấp cho việc quyết định những kế hoạch hành động mang tính chiến lược mà có thể bao gồm: - Hợp nhất và mua lại. Hợp nhất và mua lại giữa các công ty, tập đoàn... là khá phổ biến, khi thị trường đã trưởng thành, đảm bảo cho việc tăng sức mạnh vị trí thị trường. Nhằm đảm bảo không bị loại bỏ, các công ty bảo hiểm trong nước tự phải hướng tới cạnh tranh thông qua việc cải thiện sức mạnh tài chính, khả năng áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, năng lực cạnh tranh bằng cách tìm đến nhau để có thể hợp nhất và mua lại. Ví dụ như ở Malaysia, đứng trước những thách thức của quá trình tự do hóa, tập trung hóa và nhu cầu sử dụng những phương thức phân phối mới, ngân hàng trung ương nước này đã yêu cầu 56 công ty bảo 98 hiểm trong nước sáp nhập lại thành 10 đến 15 công ty, việc sáp nhập này sẽ đẩy mạnh quá trình tập trung hóa nâng cao tính ổn định của ngành bảo hiểm. - Chiến lược liên kết: Để tạo thế mạnh cũng như đáp ứng những đòi hỏi về sự thành thạo bước vào môi trường cạnh tranh mới trong lĩnh vực tài chính một cách hiệu quả là tạo ra sự liên kết giữa những nhà bảo hiểm với nhau hay với các ngành dịch vụ khác, mối liên kết này được ví như sự "kết hôn", nhằm khai thác sự hiệp lực lẫn nhau. Một ví dụ điển hình và phổ biến đó là Ngân hàng bảo hiểm (bảo hiểm qua ngân hàng), mối liên kết này bao trùm lên cả các hoạt động ngân hàng và bảo hiểm. Nhằm đảm bảo đồng lúc những nhu cầu về tài chính và bảo hiểm của một khách hàng được đáp ứng trong cùng một tổ chức. Thông qua liên két mà những nhà bảo hiểm sẽ có cơ hội khai thác những kênh phân phối sản phẩm mới hiệu quả hơn cách thức truyền thống. - Cải thiện năng suất và hiệu quả hoạt động. Các chuẩn mực đối với các thực tế đang diễn ra trong những mặt đặc biệt quan trọng của nhiều hoạt động và quản lý sẽ thường xuyên được dẫn dắt điều chỉnh để áp dụng như là những tiêu chuẩn đối với các công ty bảo hiểm nhằm tăng cường thành quả của họ. Đồng thời sẽ phải có một sự chuyển đổi hệ thống, một sự thay đổi trong nhận thức để tái cấu trúc lại các quy trình hiện hữu theo đó nhằm cải thiện năng suất và hiệu quả hoạt động. - Đẩy mạnh việc phát triển kỹ thuật chuyên môn. Các doanh nghiệp bảo hiểm nên đẩy mạnh cải thiến kỹ thuật chuyên môn thông qua việc đào tạo kiến thức và kỹ năng hiệu quả cho lực lượng lao động của mình. Mỗi cá nhân phải được đào tạo những kỹ năng hỗn hợp với một khả năng hoàn thành cong việc ở mức cao nhất và luôn có quan điểm tích cực công việc, theo kịp với sự phát triển không ngừng của tiến bộ kỹ thuật. Các công ty bảo hiểm không thể thờ ơ với việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực ngay bây giờ, quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ chuyên viên cao cấp 99 luôn nhận thức được kiến thức, khoa học công nghệ là yếu tố của sự thành công. Nhìn nhận kỹ thuật chuyên môn là yếu tố cơ bản trong việc làm thỏa mãn những nhu cầu khác nhau và luôn thay đổi của khách hàng. Các công ty bảo hiểm phải coi việc theo đuổi áp dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ mới là đầu vào của hoạt động kinh doanh cũng giống như những khách hàng của công ty. - Khuyếch trương hình ảnh ra công chúng. Ngành bảo hiểm cần phải quảng bá tới công chúng về bảo hiểm và tầm quan trọng của nó trong cuộc sống của mọi người dân. Một sự gia tăng về nhận thức và am hiểu bảo hiểm của công chúng sẽ xóa bỏ nhiều sự hiểu không đúng và những mong đợi ảo tưởng về ngành bảo hiểm và mở đường cho việc phát triển thị trường lớn hơn về sau. Đồng thời nó sẽ rất quan trọng để đảm bảo cung cấp cho khách hàng những thông tin cập nhật. Nó đặt ra việc sẵn sàng làm thỏa mãn dịch vụ sau bán hàng. Các công ty bảo hiểm phải luôn tỏ ra cảm thông và nhạy bén đối với những khách hàng mà họ đang gặp các vấn đề vướng mắc khi họ đưa ra khiếu nại hoặc tìm kiếm sự bồi thường, bằng việc cung cấp những nhân viên có đủ năng lực, giỏi kỹ thuật và có đầy đủ sự cảm thông để giải quyết chia sẻ khó khăn với khách hàng. Những nỗ lực tận tâm trong phục vụ khách hàng phải được quan tâm sẽ là cách để xóa bỏ tình trạng quan liêu, cửa quyền khi giải quyết vấn đề của khách hàng, chiếm được lòng tin của khách hàng, giữ uy tín của ngành bảo hiểm nói chung và vị trí thị trường của mỗi công ty bảo hiểm nói riêng. Trong khi các công ty bảo hiểm trong nước còn yếu cả về vốn và công nghệ, họ phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh là các tổ chức bảo hiểm nước ngoài mạnh hơn về vốn và kinh nghiệm thì những chuẩn bị của ngành bảo hiểm Việt Nam là rất cần thiết để đẩy nhanh quá trình hội nhập với thị trường 100 bảo hiểm các nước trong khu vực cũng như các tổ chức thương mại quốc tế. Các công ty bảo hiểm Việt Nam cần phải củng cố đầu tư cho phát triển quy mô, công nghệ kinh doanh bảo hiểm: kỹ thuật nghiên cứu nghiệp vụ, nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp... 101 KẾT LUẬN Thị trường bảo hiểm Việt Nam đang ngày càng phát triển và ngày càng có vị trí cao trong nền kinh tế Quốc dân. Thị trường Bảo hiểm đang ảnh hưởng rất lớn đến các thị trường khác như thị trường vốn, đầu tư và cũng ảnh hưởng nhiều tới đời sống xã hội. Tình hình và xu hướng của thị trường bảo hiểm thế giới như trên đã cho ta thấy sự phát triển mạnh mẽ của bảo hiểm thế giới như thế nào. Tình hình phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam, đặc biệt là tình hình tái bảo hiểm còn gặp phải rất nhiều khó khăn. Tình hình hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm đã được làm rõ trong khóa luận đặc biệt tại Tổng công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam - đơn vị đi đầu trong lĩnh vực tái bảo hiểm. Để thực hiện vai trò điều tiết dịch vụ bảo hiểm của thị trường, Tổng công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam cần thực hiện các giải pháp tích cực nhằm thực hiện mục tiêu đề ra “ xây dựng Vinare thành công ty cổ phần đứng đầu nhận tái bảo hiểm trong nước và khu vực, trung tâm điều tiết dịch vụ bảo hiểm, trung tâm thông tin của thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhà đầu tư tài chính đa ngành, đa lĩnh vực. Trong khóa luận cũng đưa ra những giải pháp cơ bản để giúp doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm. Nếu chúng ta thực hiện tốt những vấn đề trên Tổng công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam sẽ đứng vững trên thị trường bảo hiểm Việt Nam trong tiến trình hội nhập, mới có thể lớn mạnh và vươn ra thị trường Quốc tế. Tuy nhiên, trên đây mới chỉ là những giải pháp kiến nghị chủ yếu tổng thể, còn mang nặng tính lý thuyết, chưa mang tính thực tiễn cao. Để có thể đưa những lý thuyết nàyvào thực tiễn thì cần nhiều thời gian và công sức của VINARE nói riêng và cộng đồng doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nói chung. 102 Tài liệu tham khảo I. Sách và tạp chí tham khảo 1. Triệu Hồng Cẩm, năm xuất bản 2007,Giáo trình vận tải quốc tế và bảo hiểm vận tải quốc tế, NXB Đại học kinh tế quốc dân Tp Hồ Chí Minh. 2. Dương Hữu Hạnh, năm xuất bản 2006, Giáo trình vận tải, giao nhận quốc tế và bảo hiểm hàng hải, NXB Thống kê. 3. Hồ Sỹ Sà, năm xuất bản 2005, Giáo trình bảo hiểm, NXB Đại học KTQD. 4. PGS, TS. Nguyễn Như Tiến, năm xuất bản 2006, Thị trường bảo hiểm Việt Nam – Cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập, NXB Lý luận chính trị. 5. Ths.Phạm Văn Tuyết, năm xuất bản 2007, Bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam, NXB Tư pháp. 6. Tạp chí bảo hiểm – tái bảo hiểm Việt Nam số 2 tháng 5/2007 7. Tạp chí bảo hiểm – tái bảo hiểm Việt Nam số 3 tháng 3/2007 8. Ngô Minh Cách – Phi Trọng Thảo: Marketing trong hoạt động khai thác Bảo Hiểm 2002. 9. Luật kinh doanh Bảo Hiểm và văn bản hướng dẫn thi hành CTQG 2002. 10. Trương Mộc Lâm: Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh Bảo Hiểm – Nhà xuất bản thống kê 2000. 11. Bản cáo bạch Tổng công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam, năm 2007. 103 II. Các website tham khảo 1. www.webbaohiem.net 2. www.vinare.com.vn 3. www.baoviet.com.vn 4. www.pijco.com.vn 5. www.prudential.com.vn 6. www.manulife.com.vn 7. www.baominh.com.vn 8. www.nhasachvn.com 9. www.vinanet.com.vn 10. www.baohiem.pro.vn 11. www.avi.org.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf3645_8325.pdf
Luận văn liên quan