Đề tài 1 số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của công ty Haprosimex Saigon

LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay hoạt động xuất khẩu trở nên vô cùng quan trọng trong hoạt động thương mại đối với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia khai thác được lợi thế của mình trong phân công lao động quốc tế, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đặc biệt là tạo công ăn việc làm cho người lao động. Đối với Việt Nam, hoạt động xuất khẩu thực sự có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Có đẩy mạnh xuất khẩu, mở cửa nền kinh tế Việt Nam mới có điều kiện thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và ổn định đời sống nhân dân. Từ đặc điểm nền kinh tế là một nước nông nghiệp với dân số chủ yếu tham gia vào hoạt động nông nghiệp, Việt Nam đã xác định nông sản là mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhằm tạo nguồn thu ban đầu cực kỳ cần thiết cho phát triển kinh tế đất nước. Chính vì vậy nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích sự tham gia của các Công ty trong lĩnh vực xuất khẩu hàng nông sản. Mặt hàng nông sản là một trong những mặt hàng được Công ty SX-DV&XNK Nam Hà Nội (HAPROSIMEX SAIGON) chú trọng trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của mình. Qua thực tế thực tập tốt nghiệp tại Công ty HAPROSIMEX SAIGON cho thấy Công ty đã tìm ra cho mình hướng đi đúng trong hoạt động xuất khẩu, góp phần đưa nền kinh tế đất nước phát triển. Song bên cạnh những thành công mà Công ty đã đạt được vẫn còn những hạn chế nhất định trong việc xuất khẩu mặt hàng nông sản đặc biệt là hoạt động thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng nông sản của công ty còn nhiều bất cập. Vì vậy tôi đã chọn đề tài " Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản tại Công ty HAPROSIMEX SAIGON" làm đề tài để nghiên cứu. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài: Trên cơ sở tổng kết những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu, phân tích và đánh giá tình hình xuất khẩu hàng nông sản của Công ty trong giai đoạn 1998 - 2002 để đưa ra một số kiến nghị và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng nông sản của Công ty HAPROSIMEX SAIGON. 3. Đối tượng nghiên cứu: hoạt động kinh doanh mặt hàng nông sản xuất khẩu của công ty HAPROSIMEX SAIGON 4. Phạm vi nghiên cứu: kết quả kinh doanh mặt hàng nông sản xuất khẩu của công ty giai đoạn 1998-2002 5. Kết cấu của Luận văn gồm 3 chương: Chương I: Những vấn đề lí luận cơ bản về xuất khẩu và sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu nông sản của việt Nam Chương II: Thực trạng xuất khẩu nông sản của công ty SX-DV&XNK Nam Hà Nội (HAPROSIMEX SAIGON). Chương III: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của công ty HAPROSIMEX SAIGON.

doc108 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2493 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài 1 số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của công ty Haprosimex Saigon, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
loại gạo chính, mỗi loại gạo trên lại có thể phân chia thành hai hay nhiều nhóm. Mỗi nhóm thích ứng với từng thị trường riêng. Cụ thể: Thị trường Châu Âu và quen tiêu dùng gạo ngon, hạt dài song thị trường Châu Á lại quen tiêu dùng gạo chất lượng trung bình, hạt dài. Thị trường Châu Phi quen tiêu dùng gạo hấp (luộc sơ) có chất lượng không cao song loại gạo này lại không được chấp nhận ở các thị trường còn lại. Thị trường Trung Đông quen tiêu dùng gạo thơm, thị trường Lào quen tiêu dùng gạo nếp... Như vậy, có thể thấy với một loại nông sản nó có thể được ưa thích ở thị trường này song lại không được chấp nhận ở thị trường khác, giá có thể cao ở thị trường này song lại rất thấp ở thị trường khác. Vì vậy, trong kinh doanh hàng nông sản đối với một doanh nghiệp vấn đề xác định thị trường mục tiêu, thị trường tiềm năng đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với doanh nghiệp. II.ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM VÀ CÔNG TY HAPROSIMEX SAIGON (2005-2010) 1. Định hướng xuất khẩu nông sản của Việt Nam Với tiềm năng to lớn về đất đai, khí hậu thuận lợi, nguồn nhân lực dồi dào nên triển vọng sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam trong những năm tới rất sáng sủa. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để khai thác được tiềm năng đó một cách tốt nhất để vừa giải quyết nhu cầu lương thực trong nước vừa tăng khối lượng kim ngạch xuất khẩu nông sản tạo thêm tích luỹ cho nền kinh tế quốc dân. Đảng và Nhà nước ta luôn coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, dành ưu đãi đầu tư trong và ngoài nước cho lĩnh vực sản xuất nông sản, nhất là nông sản xuất khẩu. Thấy được tầm quan trọng của việc xuất khẩu hàng nông sản nên Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chủ trương, chính sách kinh tế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản : - Nhà nước có chủ trương khuyến khích xuất khẩu hàng hoá từ nguyên liệu thô sang hàng hoá chế biến có chứa hàm lượng lao động kỹ thuật cao, có giá trị lớn đạt tiêu chuẩn quốc tế. Do vậy doanh nghiệp làm xuất nhập khẩu cần tranh thủ mọi nguồn vốn, đầu tư xây dựng cơ bản, trang thiết bị máy móc hiện đại, dây truyền công nghệ phù hợp để tạo ra những sản phẩm tốt, có giá trị cao để cạnh tranh trên thị trường quốc tế. - Đối với thị trường xuất khẩu ta chủ trương lấy thị trường EU, Braxin, Mexico, Nhật Bản, Singapo, Ấn độ, ASEAN, Trung Quốc, Mỹ làm thị trường xuất khẩu chính. Ngoài ra, các công ty cần phải không ngừng mở rộng thị trường, tiến hành hợp tác liên doanh với các công ty nước ngoài về sản xuất, chế biến hàng nông sản, để có hàng chất lượng cao, mẫu mã phong phú. Từ đó, Công ty học hỏi thêm được kinh nghiệm kinh doanh, tiếp thu được những công nghệ tiên tiến. - Nhà nước cùng các doanh nghiệp tham gia vào việc tìm kiếm thị trường nhằm nâng cao kim ngạch xuất khẩu, đồng thời Nhà nước cũng khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia vào lĩnh vực sản xuất, chế biến hàng nông sản. Các doanh nghiệp này phát triển sẽ thu hút được nhiều lao động, giải quyết việ làm đáng kể cho người lao động, góp phần cùng Nhà nước giải quyết nạn thất nghiệp. Vấn đề lúc này là phương thức huy động vốn, trên cơ sở phát huy hết khả năng của tất cả các thành phần kinh tế bằng nhiều hình thức, kết hợp với các nhà đầu tư trong và ngoài nước để xây dựng ngành nông nghiệp và chế biến thực phẩm Việt Nam có trình độ công nghiệp hiện đại ngang tầm với các nước trong khu vực, phù hợp với chủ trương kêt hợp công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước của Đảng và Nhà nước. Bảng 16: Kế hoạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam giai đoạn 2005-2010 STT Mặt hàng Năm 2005 Năm 2010 Sản lượng (Tấn) Trị giá (triệu $) Sản lượng (Tấn) Trị giá (triệu $) 1 Lạc nhân 130.000 75 180.000 100 2 Cao su 300.000 250 500.000 500 3 Cà phê 700.000 700 750.000 850 4 Chè 78.000 100 140.000 200 5 Gạo 4.500.000 1.000 4.500.000 1.200 6 Rau quả 800 1.600 7 Hạt tiêu 50.000 220 60.000 250 8 Điều nhân 40.000 200 80.000 400 Nguồn: Chiến lược phát triển xuất khẩu nông sản của Bộ Thương Mại, năm 2002 2. Định hướng xuất khẩu nông sản của công ty Trong chiến lược phát triển công ty vẫn xem măt hàng nông sản là mặt hàng xuất khẩu chủ lực cần đẩy mạnh bên cạnh những mặt hàng xuất khẩu khác như hàng thủ công mỹ nghệ và hàng tạp phẩm. Công ty sẽ nỗ lực tăng kim ngạch xuất khẩu từng mặt hàng và tiếp tục mở rộng các mặt hàng nông sản xuất khẩu, phát triển một số mặt hàng dược liệu như hoa hoè, hồi... Công ty tiếp tục duy trì sự phát triển ổn định của nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu truyền thống như lạc, tiêu, chè... đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng nông sản khác, tăng cường các hoạt động Marketing hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu nông sản như: tuyên truyền, quảng cáo, chủ động tìm kiếm khách hàng thông qua các chuyến đưa cán bộ đi khảo sát thị trường nước ngoài và mở rộng thị trường. Bảng 17 : Kế hoạch xuất khẩu nông sản của công ty (2003-2005) Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 KN XKNS Triệu USD 10 12,5 15 Tổng KNXK Triệu USD 20 23 25 Tỷ trọng % 50 54,35 60 Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh 2002 và phương hướng phát triển từ 2003-2005 Chiến lược thị trường của công ty trong những năm tới là phải mở rộng sang các thị trường mới tiềm năng như: Mỹ, Trung Đông, Đông Âu ...trên cơ sở duy trì các bạn hàng truyền thống như Singapo, Indonexia, Malaixia, Ấn độ... Để thực hiện được chiến lược trên đòi hỏi toàn công ty cũng như từng cán bộ phải có năng lực thực sự, nhiệt tình tận tuỵ với công việc mới có thể giúp công ty đi lên đúng hướng chiến lược đề ra. Bảng 18 : Định hướng thị trường xuất khẩu nông sản năm 2003 STT Chỉ tiêu Năm 2003 Giá trị (USD) Tỷ trọng (%) 1 Châu Á 7.000.000 70 2 Châu Âu 2.000.000 20 3 Châu Phi 550.000 5,5 4 Châu Mỹ 250.000 2,5 5 Châu Úc 200.000 2 Tổng 10.000.000 100 Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh 2002 và phương hướng phát triển 2003 Kế hoạch xuất khẩu nông sản năm 2003, 2005 như trên được đặt ra trên cơ sở phân tích thực trạng xuất khẩu nông sản trong những năm gần đây, tình hình cạnh tranh trong và ngoài nước và dự báo tình hình biến động thị trường kinh doanh nông sản trong và ngoài nước. III. NHỮNG CƠ HỘI & THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA CÔNG TY HAPROSIMEX SG 1. Cơ hội đối với Công ty Trong những năm gần đây, Nhà nước đã đề ra chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu. Nhà nước đã có nhiều chính sách và biện pháp nhằm thực hiện chiến lược này như khuyến khích xuất khẩu và đầu tư sản xuất chế biến hàng xuất khẩu. Hàng hoá sẽ được xuất khẩu theo hướng tăng dần tỷ trọng hàng qua chế biến nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh của sản phẩm. Để đẩy mạnh xuất khẩu, Nhà nước đã tạo mọi điều kiện thuận lợi như: đổi mới một cách cơ bản cơ chế quản lý theo hướng mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, giảm bớt các thủ tục hành chính, giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cung cấp các khoản tiến dụng ưu đãi giành cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, thành lập các tổ chức xúc tiền thương mại, thành lập văn phòng thương mại ở một số nước và khu vực. Ngoài ra, Nhà nước cũng tiến hành thành lập các quỹ hỗ trợ xuất khẩu, quỹ khen thưởng xuất khẩu và nhiều chính sách tín dụng khác để giúp đỡ cho các doanh nghiệp. Trong số những ngành hàng đang được Nhà nước đặc biệt ưu tiên khuyến khích xuất khẩu thì ngành hàng nông sản được đánh giá là ngành hàng có tiềm năng lớn. Ngày nay, xu hướng tự do hoá - toàn cầu hoá khiến cho việc thành lập các quan hệ kinh tế giữa các quốc gia dễ dàng hơn và cũng là một yếu tố thuận lợi đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu. Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của các tổ chức ASEAN, APEC, AFTA, ký kết được Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, và sắp tới là WTO sẽ tạo ra rất nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Với chính sách ưu đãi thuế quan khi gia nhập vào AFTA hàng hoá của Việt Nam ngày càng có những thuận lợi như: dễ dàng xâm nhập vào thị trường các nước trong khu vực vì thủ tục của nó đơn giản hơn, hàng hoá không phải chịu thuế suất nên lợi nhuận sẽ tăng lên. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành hàng trong đó có hàng nông sản xuất khẩu. Nhờ những yếu tố này sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu nông sản của công ty được tiến hành thuận lợi. 2. Những khó khăn, thách thức của Công ty Những năm gần đây do Nhà nước khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho kinh doanh xuất nhập khẩu đã thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia trực tiếp xuất khẩu làm cho thị trường xuất khẩu bị cạnh tranh gay gắt không chỉ diễn ra ở thị trường xuất khẩu mà ở cả thị trường các nhà cung cấp. Cạnh tranh giữa những nhà xuẩt khẩu Việt Nam ngay trên thị trường Việt Nam đã dẫn đến sự tranh mua, tranh bán, làm giảm hiệu quả xuất khẩu. Hơn nữa, mặt hàng nông sản của công ty không những phải cạnh tranh gay gắt với nông sản của các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam mà còn phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại với sản phẩm xuất khẩu của công ty vốn có ưu thế hơn về chất lượng. Tình hình kinh doanh trong nước đã vậy, tình hình thị trường thế giới cũng có nhiều biến động đó là những biến động lớn về chính trị, kinh tế đặc biệt là sự phức tạp ở khu vực Trung Đông- nơi mà công ty có nhiều bạn hàng mới. Hơn nữa, nhu cầu nông sản xuất khẩu mấy năm gần đây sẽ tiếp tục giảm đáng kể ở các nước Châu Á, nhất là những nước nhập khẩu lớn như Inđônêxia, Philipin...- những thị trường truyền thống của công ty. Trong 2 năm 2001 và 2002, do kinh tế và thương mại thế giới lâm vào tình trạnh trì trệ, sức mua nhìn chung rất yếu, do vậy Nhà nước đã phải áp dụng biện pháp hỗ trợ tài chính trực tiếp cho một số mặt hàng để thúc đẩy xuất khẩu trong đó có mặt hàng nông sản bằng cách thưởng kim ngạch xuất khẩu để bù lỗ. Nhờ đó, công ty đã được hưởng một khoản tiền thưởng kim ngạch xuất khẩu khá lớn, bù đắp được phần nào những thiệt hại do giá một số mặt hàng nông sản giảm mạnh. Nhưng năm 2003, theo kiến nghị của Bộ Thương Mại, Nhà nước sẽ hoặc không áp dụng thưởng kim ngạch xuất khẩu hoặc nếu áp dụng thì chỉ thưởng cho mặt hàng mới vào thị trường mới và kết quả xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước để nhằm khuyến khích chứ không bù lỗ như trước. Đây chính là thách thức lớn đối với công ty, đòi hỏi công ty phải hết sức nỗ lực để tăng kim ngạch xuất khẩu, phát triển những mặt hàng mới và mở rộng được thị trường xuất khẩu thì mới được Nhà nước xét thưởng. IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA CÔNG TY HAPROSIMEX SAIGON Giải pháp đối với công ty Trong thời gian qua hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của công ty HAPROSIMEX SAI GON đã đạt được một số thành tựu đáng kể tuy nhiên cũng còn không ít tồn tại. Những tồn tại này có thể bị tác động bởi các yếu tố chủ quan xuất phát từ phía công ty mà công ty hoàn toàn có thể điều chỉnh được song cũng có thể nó bị tác động bởi một vài yếu tố khách quan. Sau đây em xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị đối với công ty HAPROSIMEX SAI GON và đối với nhà nước để góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản ở công ty . Hoàn thiện công tác nghiên cứu thị trường và dự báo thị trường Muốn xuất khẩu hàng hoá sang thị trường nước ngoài thì việc trước tiên doanh nghiệp cần làm là tìm hiểu kỹ về thị trường đó để nhận biết đặc điểm, khả năng tiêu thụ sản phẩm, mức cầu trên thị trường, thị hiếu, thói quen, tiêu dùng của dân cư. Từ đó doanh nghiệp mới có thể thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường nước ngoài bằng những mặt hàng phù hợp với nhu cầu và dung lượng thị trường. Song thực tế những năm qua công tác nghiên cứu thị trường xuất khẩu hàng nông sản ở công ty HAPROSIMEX SAIGON vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đưa ra được khuynh hướng phát triển sản phẩm mũi nhọn, chưa nắm bắt đầy đủ kịp thời những biến động diễn ra trên thị trường xuất khẩu. Trong thời gian tới, để thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản, công ty cần hoàn thiện công tác nghiên cứu thị trường trên những phương diện sau: -Trước hết bộ phận nghiên cứu và phát triển thị trường của công ty phải luôn cập nhật thông tin về tình hình cung cầu, giá cả hàng nông sản trong nước và thế giới. Thông tin có thể thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau nhưng quan trọng là phải xử lý, tổng hợp và phân tích thông tin có chọn lọc, chính xác và nhanh chóng. -Trên cơ sở những số liệu và thông tin thu thập được, công ty cần sử dụng những công cụ định lượng cụ thể như hàm hồi quy, tương quan để dự báo những xu hướng chuyển biến trên thị trường. Từ đó sẽ xác định được đâu là thị trường mục tiêu để thúc đẩy xuất khẩu. -Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức nghiên cứu thu thập thông tin thị trường nước ngoài chuyên nghiệp để có được những thông tin cập nhật từ đó đưa ra các quyết định xuất khẩu kịp thời Khi công tác nghiên cứu thị trường và dự báo thị trrường được hoàn thiện sẽ giúp cho công ty đưa ra được những quyết định về hướng đi đúng đắn đối với từng thị trường ở từng thời điểm nhất điểm. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại Trong những năm qua, mặc dù hoạt động xúc tiến thương mại của công ty HAPROSIMEX SAIGON đã được chú trọng thực hiện nhưng còn ít và chưa thường xuyên nên trong thời gian tới công ty cần đẩy mạnh hơn nữa công tác này theo hướng: -Công ty cần tích cực quảng cáo sản phẩm hàng nông sản dưới nhiều hình thức: tham gia triển lãm, hội chợ, quảng cáo qua đài báo, ấn phẩm, mạng Internet. Mặc dù công ty đã thực hiện những hoạt động này song chưa thường xuyên đều đặn. Công ty đã rất chú trọng tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế nhưng lại ít tham gia hội chợ triển lãm trong nước. Thực tế có khá nhiều khách hàng quốc tế và môi giới thương mại tới tham quan hàng hoá Việt Nam tại các triển lãm, hội chợ này. Vì vậy công ty nên chú ý quảng cáo sản phẩm ngay ở chính hội chợ trong nước để không bỏ lỡ những đơn đặt hàng lớn. Trong khi tham gia các hội chợ triển lãm, công ty cần có sẵn các Catalogue để giới thiệu cho khách hàng về sản phẩm của công ty với hình minh hoạ đẹp mắt. Công ty cũng nên có các quà tặng cho khách hàng như đồ lưu niệm để khách hàng có ấn tượng tốt với sản phẩm của công ty. -Hiện nay công ty đã có các nhà trưng bày mẫu ở Hà Nội, Sài Gòn . Công ty nên có phòng trưng bày mẫu tại các siêu thị, các trung tâm thương mại ở những thành phố lớn để quảng cáo sản phẩm. -Bên cạnh việc quảng cáo thì công ty cần có thêm những hình thức chào hàng trực tiếp và gián tiếp với khách hàng. Công ty cần chủ động chào hàng chứ không nên chờ khách hàng từ đến với sản phẩm của công ty. -Công ty nên thường xuyên tăng cường tổ chức những đoàn cán bộ đi khảo sát thị trường nước ngoài để tìm kiếm khách hàng. Thực tế trong những năm qua công ty đã tổ chức nhiều đoàn khảo sát và đã thu được kết qủa tốt -Công ty cần triệt để mở rộng mối quan hệ với các tham tán thương mại, các đại sứ quán nước ta tại nước ngoài, các tổ chức xúc tiến thương mại, Sở Thương mại Hà Nội, Bộ Thương mại. Thiết lập mối quan hệ tốt với các tổ chức này không chỉ giúp cho công ty thu thập được các thông tin về thị trường, về đối thủ cạnh tranh mà nhiều khi còn được giới thiệu các đầu mối tiêu thụ sản phẩm. Thời gian gần đây, nước ta đã đón rất nhiều tổ chức kinh tế nước ngoài, các thương nhân đến thăm và tìm kiếm cơ hội làm ăn tại Việt Nam. Công ty cần tranh thủ thu thập thông tin, tiếp xúc với các doanh nhân để chọn cho mình hướng kinh doanh thích hợp. Thực tiễn cho thấy các năm qua, qua các cuộc viếng thăm, công ty đã ký kết được những hợp đồng xuất khẩu hàng với khối lượng lớn. -Công ty cần sớm xây dựng thêm nhiều văn phòng đại diện giao dịch ở nước ngoài. Hiện tại công ty đã có văn phòng đại diện ở Nhật Bản. Trong thời gian tới công ty nên thành lập một số văn phòng đại diện ở những thị trường lớn, thị trường trọng điểm của công ty như Nga, Mỹ...để tăng cường các hoạt động quảng cáo, khuếch trương, và tuyên truyền thế mạnh của công ty thông qua báo chí, phim ảnh,...cải tiến hình thức quảng cáo sản phẩm để phù hợp với từng nước. Mặc dù chi phí cho việc này khá tốn kém nhưng nó sẽ đem lại thành công lớn trong việc thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản. Đa dạng hoá mặt hàng, mở rộng thị trường xuất khẩu bên cạnh việc duy trì những mặt hàng xuất khẩu truyền thống tại các thị trường truyền thống. Hiện nay, công ty có khoảng 10 mặt hàng nông sản xuất khẩu. Vì vậy trong thời gian tới công ty nên tiếp tục tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng truyền thống này bên cạnh việc đa dạng hoá xuất khẩu các mặt hàng khác như: cà phê, cao su, rau quả, các mặt hàng dược liệu... Các nước thuộc ASEAN là những thị trường truyền thống tiêu thụ sản phẩm công ty. Do vậy trong thời gian tới khu vực này vẫn nên được xem là thị trường trọng điểm của công ty. Ngoài ra trong sự biến động mạnh mẽ của tình hình cung cầu một số mặt hàng nông sản trên thế giới như hiện nay, để hạn chế rủi ro và tăng kim ngạch xuất khẩu thì việc đa dạng hoá mặt hàng và mở rộng thị trường xuất khẩu đối với công ty là thực sự cần thiết. Những thị trường mà công ty cần đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa trong tương lai là: thị trường EU, thị trường Nhật Bản, thị trường Mỹ, thị trường Đông Âu. Đây là những thị trường có nhu cầu tiêu thụ hàng nông sản lớn, có khả năng chi trả cao nhưng yêu cầu về chất lượng, mẫu mã bao bì hàng hóa cũng cao. Vì vậy, để thâm nhập vào những thị trường này buộc công ty phải cải tiến mẫu mã bao bì và nâng cao chất lượng sản phẩm. Nâng cao hiệu qủa hoạt động thu mua nông sản xuất khẩu Do mặt hàng nông sản công ty không tự sản xuất được mà phải thu mua từ các hộ gia đình và các cơ sở sản xuất. Vì vậy, công tác thu mua là rất quan trọng. Để thúc đẩy xuất khẩu nông sản cần có một nguồn hàng nông sản ổn định vì hoạt động thu mua cần phải đảm bảo đúng thời hạn, đầy đủ, đúng chất lượng. Muốn vậy, Công ty cần phải nâng cao hiệu quả thu mua Những năm gần đây, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản ngày càng gay gắt, đã xảy ra tình trạng cơ sở sản xuất đã bán hàng mà công ty đặt cho công ty khác trả giá cao hơn. Để ngăn chặn tình trạng này, công ty cần phải thiết lập mối quan hệ làm ăn tin cậy với các cơ sở sản xuất , ký kết hợp đồng chặt chẽ, hỗ trợ một phần cho các đơn vị sản xuất về vốn, giống, phân bón... Trong khâu thu mua, Công ty phải sử dụng đội ngũ chuyên trách thu mua có kinh nghiệm, có mối quan hệ tốt đẹp với các hộ gia đình và cơ sở sản xuất, có khả năng giao tiếp tốt để có thể tạo lập được những mối quan hệ lâu dài với người sản xuất, đối phó với tình trạng tranh mua tranh bán như hiện nay. Trong quá trình thu mua, Công ty nên thực hiện việc kiểm tra chất lượng sản phẩm cẩn thận, nghiêm túc. Đồng thời đưa ra các biện pháp khuyến khích về vật chất cho cán bộ thu mua như: tiền thưởng, tiền bồi dưỡng, quy định một tỷ lệ hoa hồng mà cán bộ thu mua được hưởng nếu khối lượng mua được lớn, chất lượng đảm bảm đồng thời xử lý nghiêm túc đối với những trường hợp gian lận, tráo hàng làm giảm chất lượng và uy tín hàng xuất khẩu của công ty. Do tính chất dễ ẩm, mốc, biến chất của hàng nông sản nên có ảnh hưởng lớn đến chất lượng hàng xuất khẩu. Vì vậy công ty cần quan tâm tới khâu bảo quản hàng hoá. Công ty nên xây dựng hệ thống kho bảo quản với máy móc thiết bị bảo quản phù hợp với kỹ thuật nhằm đảm bảo chất lượng cho sản phẩm, từ đó góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu. Tăng cường đầu tư cho các cơ sở sản xuất và chế biến để nâng cao chất lượng nông sản xuất khẩu Hàng nông sản của công ty hiện phải cạnh tranh gay gắt với sản phẩm của các công ty trong nước và của các nước trong khu vực như: Thái Lan, Malaixia, ấn độ...Vì thế để có thể cạnh tranh và tồn tại được thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm là điều vô cùng cần thiết. Việc nâng cao chất lượng hàng nông sản phải được tiến hành đồng bộ ở tất cả các khâu từ sản xuất, chế biến đến bảo quản sau thu mua để hàng nông sản đạt được tiêu chuẩn quốc tế. Do đó, Công ty cần liên kết chặt chẽ với các hộ gia đình, các cơ sở chế biến nhằm thực hiện tốt khâu sản xuất. Công ty có thể hỗ trợ về vỗn, các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, máy móc phục vụ cho sản xuất, ký kết các hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho nông dân để họ có thể yên tâm ổn định sản xuất. Tiếp theo là khâu chế biến và bảo quản: hiện nay công ty chưa có cơ sở sản xuất chế biến hàng nông sản nên chất lượng phụ thuộc vào nhiều chất lượng hàng thu mua. Mà thực tế là chất lượng hàng nông sản từ các hộ gia đình, cơ sở sản xuất nhìn chung là thấp. Vì vậy để nâng cao chất lượng sản phẩm công ty cần đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến của riêng mình hoặc liên doanh với các cơ sở khác để thành lập các xí nghiệp chế biến để chủ động nguồn hàng xuất khẩu. Thực hiện tốt việc này sẽ góp phần tăng tỷ lệ sản phẩm chế biến sau, giảm tỷ lệ sản phẩm sơ chế, từ đó công ty sẽ tăng được lợi nhuận, uy tín cũng như mở rộng khả năng thâm nhập thị trường. Việc tăng cường đầu tư cho các cơ sở sản xuất và chế biến là để góp phần nâng cao chất lượng hàng nông sản, từ đó góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ công nhân viên Bất kỳ một công ty nào dù có vốn lớn, có trang thiết bị hiện đại, mà nguồn nhân lực không đảm bảo cho yêu cầu sản xuất, quản lý, kinh doanh thì công ty đó cũng không thể phát triển được bởi con người là chủ thể quyết định sự thành công hay thất bại của công ty. Với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay đòi hỏi công ty phải có những cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi, năng động sáng tạo, không chỉ thành thạo ngoại ngữ mà còn cần phải có những am hiểu nhất định về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của các nước bạn hàng. Do vậy, để tồn tại và phát triển thì buộc mỗi công ty phải chăm lo đào tạo và phát triển nguồn nhân lực một cách thường xuyên, liên tục. Sau đây là một số giải pháp để nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ công nhân viên: -Tổ chức các lớp học, khoá học đào tạo nghiệp vụ xuất nhập khẩu cho cán bộ các phòng ban, có chế độ bồi dưỡng khuyến khích cán bộ theo học. -Tạo điều kiện cho các cán bộ công ty tham gia dự các buổi hội thảo, các khoá huấn luyện ngắn ngày về nghiệp vụ ở bên ngoài hoặc mời chuyên gia đến nói chuyện với cán bộ công nhân viên. -Thường xuyên hoán đổi công tác của cán bộ giữa 2 miền Nam - Bắc để tích luỹ thêm kinh nghiệm -Đào tạo đội ngũ nhân viên kỹ thuật làm nhiệm vụ giám định hàng hóa. -Bố trí để các nhân viên trẻ, có năng lực, năng động nhưng còn thiếu kinh nghiệm trong công ty cùng làm việc với những nhân viên lớn tuổi và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn để các nhân viên trẻ học hỏi thêm kinh nghiệm. Có được đội ngũ lao động tốt là điều kiện cần đối với bất kỳ một công ty nào. Tuy nhiên để đội ngũ lao động này làm việc một cách có hiệu qủa, trung thành với công ty thì công ty cần phải có chế độ khen thưởng hợp lý, xử phạt nghiêm minh đối với những trường hợp làm tổn hại đến toàn công ty. Ngoài ra công ty cần cất nhắc những cá nhân làm việc có hiệu quả lên những vị trí cao nhằm nêu gương, tạo động lực cho những cá nhân khác. Kiến nghị với Nhà nước : Hỗ trợ có hiệu quả cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản 2.1.1. Tổ chức tốt việc thu thập thông tin, xử lý thông tin cho các doanh nghiệp Thông tin chiếm một vị trí quan trọng trong thành công hay thất bại đối với mỗi công ty. Theo KEMCHIONMAE - một chuyên gia kinh tế xuất sắc của Nhật bản thì “ Bí quyết đảm bảo sức mạnh kinh doanh của một Công ty trước hết là thông tin”. Thông tin chính xác, đầy đủ về thị trường, về đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp đó chính là tiền đề cho sự phát triển, cho khả năng chi phối thị trường và thành công. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản ở Việt Nam đều gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin, tìm kiếm thị trường xuất khẩu. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do: -Do quy mô của thị trường quốc tế lớn hơn rất nhiều so với thị trường trong nước, mặt khác thị trường nông sản thế giới lại thường xuyên biến động rất phức tạp nên đòi hỏi về thông tin thị trường phải rất nhanh và chính xác trong khi việc tiếp nhận các thông tin này ở các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất chậm, thiếu thông tin, độ chính xác lại không cao. Vì vậy, nhiều khi các doanh nghiệp bị động lúng túng trong điều hành xuất khẩu nông sản. -Các doanh nghiệp đã nỗ lực thu thập thông tin qua báo chí, phương tiện thông tin đại chúng, mạng Internet nhưng các thông tin có ích cho công tác thúc đẩy xuất khẩu còn ít. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong kinh doanh nông sản xuất khẩu, thời gian tới Nhà nước nên hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng: -Nhà nước nên tổ chức cung cấp định kỳ hàng năm, hàng quý các ấn phẩm về thị trường nông sản thế giới, xu thế diễn biến của các thị trường cho các doanh nghiệp. Trong đó có những trang giành riêng nói về thị trường hàng nông sản trên các phương diện: sức mua, nhu cầu tiêu thụ hàng nông sản ở từng quốc gia, khu vực, các mặt hàng đang được khách hàng quốc tế ưa chuộng, giá cả các mặt hàng nông sản trên thị trường xuất khẩu. -Nhà nước cần xây dựng kênh thông tin thương mại thông suốt từ các cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, BộThương Mại đến các Sở Thương Mại và các doanh nghiệp. Nếu có bất kỳ sự biến động nào trên thị trường xuất khẩu nông sản, thông tin có thể truyền trực tiếp từ một trong các tổ chức Nhà nước nói trên tới các doanh nghiệp trong thời gian ngắn nhất. Đồng thời doanh nghiệp cũng nên thường xuyên liên hệ với Bộ Thương Mại, Sở Thương Mại để thu thập những thông tin mới. -Ngoài việc cung cấp thông tin theo phương thức hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức Nhà nước có thể thực hiện thương mại hoá thông tin và áp dụng các phương thức linh hoạt khác nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể, kịp thời của các doanh nghiệp. Chẳng hạn như Bộ Thương Mại và Sở Thương Mại có thể mở các văn phòng tư vấn cho doanh nghiệp về phương thức thâm nhập thị trường xuất khẩu hàng nông sản theo từng thị trường nhất định. - Đồng thời Nhà nước cần xây dựng một trung tâm cung cấp thông tin chuyên ngành về thị trường nông sản trong và ngoài nước cho các các công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản. 2.1.2. Hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại Để giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản có thể thúc đẩy xuất khẩu thì Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại vì đây là hoạt động đem lại hiệu quả cao nhưng lại đòi hỏi chi phí lớn vì thế nên vai trò của Bộ Thương Mại và Sở Thương Mại rất quan trọng. -Bộ Thương Mại và Sở Thương Mại nên tổ chức nhiều hơn nữa các hội chợ triển lãm có chất lượng chuyên ngành về hàng nông sản tại Việt Nam và mời khách nước ngoài đến tham quan giới thiệu sản phẩm. Đây chính là cơ hội tốt để các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản tiếp xúc với khách hàng quốc tế, quảng cáo về mặt hàng "thế mạnh" của doanh nghiệp, mở ra những mối làm ăn mới. Trong thời gian diễn ra hội chợ nên có các hình thức như phỏng vẫn trực tiếp hay phát phiếu thăm dò ý kiến khách hàng quốc tế về sản phẩm của từng doanh nghiệp. -Đồng thời Bộ và Sở Thương Mại nên tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam đưa các mặt hàng nông sản đi tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế. Tại đây doanh nghiệp có thể vừa chào hàng, ký kết hợp đồng xuất khẩu, gặp gỡ nhiều khách hàng, vừa có được cái nhìn tổng quan về các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản trên thế giới từ đó thấy được điểm mạnh và điểm yếu so với họ. Nhờ đó sẽ giúp cho các doanh nghiệp trong nước thấy được cần phải nâng cao chất lượng, khắc phục những yếu kém của hàng Việt Nam so với các nước khác và học hỏi những kinh nghiệm kinh doanh của các nước có thế mạnh trong lĩnh vực này như Thái Lan, Mỹ... -Mặt khác Nhà nước cần nâng cao trách nhiệm của Bộ Thương Mai, các cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, Cục xúc tiến thương mại, trung tâm thông tin thương mại... trong công tác nghiên cứu thị trường, cung cấp thông tin và kết quả nghiên cứu thị trường cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản. Hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ra nước ngoài khảo sát, tìm kiếm thị trường và bạn hàng xuất khẩu. Cần duy trì việc tổ chức hàng năm hội nghị tham tán thương mại và tiếp xúc giữa tham tán thương mại với các doanh nghiệp. -Chi phí cho hoạt động quảng cáo và giới thiệu sản phẩm Việt Nam nói chung và sản phẩm của HAPROSIMEX nói riêng ở thị trường nước ngoài rất lớn và để xây dựng thành công thương hiệu doanh nghiệp phải bỏ ra một số tiền lớn cho công tác tiếp thị quảng cáo sản phẩm mà không phải doanh nghiệp nào cũng làm được. Vì vậy, Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp một phần chi phí này. 2.1.3. Hỗ trợ về vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Nông sản là mặt hàng mà việc sản xuất, thu mua mang tính thời vụ đậm nét với chu kỳ sản xuất tương đối dài, trong khi đó hoạt động sản xuất lại diễn ra suốt năm và được giá cao ở các kỳ giáp vụ. Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu phải có lượng vốn đủ lớn, đủ sức thu mua trong vụ thu hoạch và dự trữ xuất khẩu trong cả năm. Tuy nhiên có một thực trạng là trong khi các ngân hàng bị ứ đọng vốn nhiều nhưng các doanh nghiệp lại rất khó tiếp cận được với các nguồn vốn này vì khó đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe về tài sản thế chấp, thủ tục vay vốn còn phức tạp. Vì vậy, trong thời gian tới Nhà nước cần đưa ra những biện pháp để hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp: -Nhà nước nên hỗ trợ, ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản như: cho vay với lãi suất ưu đãi, thời hạn cho vay dài. Nếu doanh nghiệp cần vốn để thu gom hàng phục vụ cho xuất khẩu hay xây dựng cơ sở hạ tầng thì Ngân hàng Nhà nước có thể cho doanh nghiệp vay với lãi suất thấp hơn mức quy định chung cho các đối tượng khác. Điều này sẽ góp phần giảm gánh nặng trả lãi cho doanh nghiệp. -Hiện nay Nhà nước đã thành lập Quỹ tín dụng hỗ trợ xuất khẩu nhưng thủ tục để xin được vay ưu đãi Quỹ này còn rườm rà có thể mất cơ hội. Vì vậy trong thời gian tới Nhà nước nên đơn giản hoá thủ tục cho vay để phát huy được hiệu quả của Quỹ này. -Mở rộng các hình thức tín dụng thương mại cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản vay tiền mua nông sản xuất khẩu nhập vật tư ứng trước cho nông dân sản xuất để ổn định đầu vào Về phía Ngân hàng, Nhà nước cũng cần xem xét lại các quy định về tài sản thế chấp để nó giữ đúng vai trò là tạo điều kiện đảm bảo an toàn cho vay chứ không phải là căn cứ giữa ngân hàng và công ty. 2.1.4. Nhà nước cần lập qũy bảo hiểm xuất khẩu Để chiếm lĩnh được thị trường nước ngoài nhiều công ty thực hiện hình thức bán chịu hàng cho khách hoặc cho khách áp dụng hình thức mua trả chậm. Việc bán hàng theo cách này giúp công ty tiêu thụ được hàng hóa và lợi nhuận công ty thu được có thể cao hơn so với cách bán hàng trả tiền ngay. Tuy nhiên công ty cũng dễ gặp phải nhiều rủi ro, dễ bị mất vốn. Hơn nữa kinh doanh nông sản xuất khẩu lại là ngành phải chịu nhiều rủi ro cao do thời tiết thất thường, thị trường xuất khẩu nông sản còn bấp bênh thiếu ổn định. Do vậy nhà nước cần lập nên một qũy bảo hiểm xuất khẩu để khuyến khích công ty xuất khẩu hàng hóa của mình đồng thời giúp công ty bảo toàn vốn khi gặp rủi ro. Ngoài ra bản thân các doanh nghiệp cũng cần phải nhận thức được mức độ rủi ro khi xuất khẩu đặc biệt là hàng nông sản rất dễ bị hư hỏng, nên các doanh nghiệp nên chủ động mua bảo hiểm cho hàng hoá xuất khẩu của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam để hạn chế rủi ro. 2.2. Nhà nước tăng cường hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất và chế biến hàng nông sản Hoạt động sản xuất và chế biến các mặt hàng nông sản chính là khâu tạo ra hàng cho xuất khẩu. Nó có ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu và chất lượng hàng xuất khẩu. Vì vậy để nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng nông sản thì bên cạnh việc tiếp tục mở rộng diện tích gieo trồng, Nhà nước cần phải đầu tư mạnh cho phát triển sản xuất hàng nông sản theo chiều sâu, từng bước nâng cao chất lượng hàng nông sản. Trong thời gian qua, Nhà nước đã có quan tâm đến các hoạt động sản xuất và chế biến hàng nông sản nhưng chưa nhiều nên chất lượng hàng nông sản của Việt Nam nói chung và của công ty HAPROSIMEX SAIGON nói riêng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cao của những thị trường khó tính nhưng có khả năng chi trả lớn. Do vậy hiệu quả từ hoạt động xuất khẩu hàng nông sản vẫn chưa cao. Vì vậy trong thời gian tới, Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất và chế hàng nông sản để tạo ra các sản phẩm có hàm lượng giá trị cao, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu. Nhà nước nên tiến hành các biện pháp bao gồm: 2.2.1. Tạo nguồn vốn ban đầu cho nông dân Đây là việc làm hết sức cần thiết vì để mở rộng được diện tích đất gieo trồng, thay đổi cơ cấu giống cây trồng, áp dụng những tiến bộ khoa học quản lý vào sản xuất... đòi hỏi cần có những chi phí không phải là nhỏ, mà nhiều khi người nông dân không tự trang trải nổi. Thời gian qua, các chương trình trợ giúp vốn cho người dân đã được thực hiện song kết quả thu được còn hạn chế. Nguyên nhân của sự hạn chế này là do việc cho người nông dân vay vốn với lãi suất ưu đãi diễn ra dàn trải, thiếu tập trung. Điều đó dẫn tới mỗi hộ nông dân chỉ có thể vay một vài trăm ngìn đồng, không đủ cho đầu tư sản xuất. Các hội nông dân năng động muốn làm ăn lớn đã chấp nhận đi vay với lãi suất tín dụng thông thường thì lại gặp khó khăn trong vấn đề tải sản thế chấp. Trong khi đó ngân hàng lại có hiện tượng ứ đọng tiền mặt. Vì vậy, Nhà nước nên cải cách cơ chế theo hướng đơn giản hơn nữa các thủ tục cho nông dân vay vốn, thực hiện việc đưa vốn cho vay trực tiếp từng cơ sở để nông dân có thể tiếp cận với vốn một cách hiệu qủa. 2.2.2. Hỗ trợ về giống, phổ biến kiến thức cho người nông dân Hiện tại, nhiều nông dân Việt Nam chưa hiểu biết đầy đủ về các kiến thức về nông nghiệp như: Giống cây trồng nào phù hợp với loại đất nào, được trồng ở khu vực có điều kiện khí hậu nào và mức độ sử dụng các loại phân bón, thuốc trừ sâu ra sao... để cho ra các loại sản phẩm có chất lượng cao. Vì vậy, có hiện tượng nông dân gieo các loại giống cây trồng cho năng suất cao nhưng chất lượng không đảm bảo, hoặc quá lạm dụng các loại thuốc trừ sâu, phân bón phân bón hoá học. Chính vì vậy nhà nước nên hỗ trợ nông dân các loại giống tốt, cho năng suất cao, chất lượng đồng bộ. Hiện tại ngân sách của nhà nước còn hạn hẹp do vậy nhà nước không thể cung cấp miễn phí giống cho mọi nông dân. Vì vậy, nhà nước có thể sử dụng hình thức bán giống tốt cho nông dân với giá ưu đãi hoặc bán chịu hoặc nông dân, cuối vụ thu hoạch nhà nước sẽ nhận tiền... .Đồng thời nhà nước cũng cần có các chương trình phổ biến kiến thức cho nông dân. 2.2.3. Tổ chức tốt công tác thu mua nông sản cho nông dân Hoạt động thu hoạch của nông dân mang tính mùa vụ nên quá trình thu hoạch diễn ra một cách dồn dập trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên đối với nông dân khả năng về vốn có hạn, các điều kiện về kho hàng cất giữ sản phẩm hạn chế nên người nông dân phải bán nông sản ngay sau khi thu hoạch. Trong khi đấy nhà nước lại không có khả năng thu mua nông sản cho nông dân, điều này dẫn đến tình trạng nông dân bị tư thương ép phải bán hàng với giá thấp và thực sự không khuyến khích nông dân sản xuất. Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định nguồn hàng xuất khẩu của công ty. Do vậy trong thời gian tới nhà nước cần chuẩn bị kỹ lưỡng về vốn, kho chứa, mạng lưới thu mua hàng cho nông dân... để hạn chế bớt sự ép giá của tư thương đối với nông dân vào những lúc chính vụ. Có như vậy mới khuyến khích được nông dân sản xuất, cung cấp hàng ổn định và có chất lượng cao cho công ty tham gia xuất khẩu. 2.2.4. Tăng cường đầu tư tạo ra các vùng nguyên liệu tập trung Vùng nguyên liệu tập trung là một vùng mà ở đó tập trung trồng các loại cây phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai, điều kiện kinh tế, xã hội của vùng. Ví dụ: một vùng nguyên liệu trồng mía phải được đặt ở những nơi có loại đất, khí hậu phù hợp với cây mía, có cơ sở hạ tầng thuận để vận chuyển mía từ nơi thu hoạch đến các kho chưa đã và các cơ sở chế biến. Với nguồn lực hạn chế như Việt Nam hiện nay thì đây có thể là một biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng và đồng bộ hoá sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề là phải xác định được đâu là vùng ưu tiên cho từng mặt hàng. 2.2.5. Đầu tư mạnh cho phát triển công nghiệp chế biến hàng nông sản Thời gian qua mặc dù số lượng hàng nông sản xuất khẩu của ta tăng nhiều hơn trước nhưng giá trị thu được lại giảm đi, nguyên nhân chủ yếu là do một số nông sản của ta đều xuất khẩu ở dạng thô, chất lượng còn thấp nên giá nông sản xuất khẩu của Việt Nam thường thấp hơn giá quốc tế. Vì vậy, muốn tăng giá trị nông sản thì cần phải đầu tư phát triển thâm canh tăng năng suất và đặc biệt là đầu tư vào khâu công nghiệp chế biến để tăng chất lượng sản phẩm, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, đầu tư cho công tác chế biến sản phẩm đôi khi là quá sức đối với các công ty tham gia xuất khẩu mặt hàng này bởi công việc này đòi hỏi công ty phải bỏ ra một lượng vốn tương đối lớn để nhập khẩu các loại trang thiết bị, máy móc hiện đại. Chính vì vậy Nhà nước nên đầu tư phát triển các cơ sở chế biến hàng nông sản, đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và chế biến, tăng đầu tư cho công nghiệp chế biến, công nghiệp bao bì, mẫu mã để tạo ra các loại sản phẩm nông sản có giá trị hàng lượng công nghệ cao. Chẳng hạn nhà nước sẽ đầu tư lắp đặt các dây chuyền đánh bóng gạo hay dây chuyền tinh chế cà phê thành sản phẩm cuối cùng để sản phẩm xuất khẩu của của công ty có thể đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng. Bên cạnh đó Nhà nước nên khuyến khích các công ty xuất khẩu hàng nông sản đã qua chế biến thông qua các chính sách như: giảm thuế xuất khẩu, ưu tiên hạn ngạch xuất khẩu... để thúc đẩy hoạt động chế biến trong nước phát triển. 2.3. Đẩy mạnh cải cách hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu nông sản Thủ tục hành chính vẫn là khâu yếu nhất trong quản lý xuất khẩu của Nhà nước, nhiều khi nó là nguyên nhân cản trở hoạt động xuất khẩu, làm chậm tiến độ giao hàng, giảm uy tín và sức cạnh tranh của hàng hoá. Vì vậy trong thời gian tới Nhà nước cần phải đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng: 2.3.1.Công khai hoá và luật pháp hoá: tất cả các quy định của Nhà nước có liên quan đến công việc kinh doanh của các doanh nghiệp. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh những mảng trống cho kinh doanh xuất nhập khẩu để các doanh nghiệp không bị trở ngại trong kinh doanh. 2.3.2. Hoàn thiện cơ chế quản lý xuất khẩu: trên thực tế, công tác quản lý xuất khẩu của Nhà nước còn một số bất cập với diễn biến của hoạt động xuất khẩu, nhiều khi còn không ít thiếu sót và nhược điểm cần khắc phục và giải quyết. Nhà nước nên tập trung vào giải quyết các vấn đề sau: -Xóa bỏ cơ chế xin cho trong cấp hạn ngạch xuất khẩu nông sản đối với các nông sản quản lý bằng hạn ngạch. -Các quy định về quản lý xuất nhập khẩu hiện hành phải được bổ sung, sửa đổi phù hợp để tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu phát triển thuận lợi. Chẳng hạn như: Nghị định 15 của Chính Phủ về vận tải đường bộ gần đây hạn chế tải trọng xe dưới 18 tấn đang gây ách tắc cho vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu nên đã đội giá thành xuất khẩu lên cao làm cho lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu giảm. Quy định của Nhà nước về toàn bộ tiền hàng xuất khẩu phải qua Ngân hàng mới được hoàn thuế VAT với hàng xuất khẩu cũng đang là ách tắc vì trong thực tế có nhiều trường hợp khách hàng nước ngoài đặt cọc hoặc trả tiếp toàn bộ hoặc một phần trị giá lô hàng bằng USD tiền mặt tại Việt Nam nên gây khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu. -Hiện nay, thủ tục xuất khẩu của chúng ta vẫn còn rườm rà, phức tạp, gây lãng phí thời gian, công sức cho doanh nghiệp xuất khẩu nhiều khi tỏ ra quan liêu, cửa quyền gây khó dễ cho các doanh nghiệp. Vì vậy trong thời gian tới Nhà nước cần đơn giản hoá các thủ tục xuất khẩu nông sản. Nhà nước nên sớm có chính sách đồng bộ để giảm chi phí xuất khẩu như cải tiến thủ tục, giảm thời gian hoàn thuế VAT với hàng xuất khẩu, giảm các loại chi phí, lệ phí cảng, giảm phí giao thông. -Tiến tới xoá bỏ việc đánh thuế hàng nông sản xuất khẩu để nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam. -Hiện nay thủ tục xét duyệt đi công tác khảo sát thị trường nước ngoài rất dài. Cụ thể, công văn đề nghị Sở Thương Mại là 3-4 ngày, Sở ngoại vụ: 3 ngày. Sau khi có quyết định của UBND thành phố làm hộ chiếu từ 5-7 ngày, xin visa là 5 ngày nên tổng cộng gần một tháng. Trong tình hình cạnh tranh hiện tại doanh nghiệp phải rất khẩn trương để đảm bảo thời gian và hiệu quả kinh doanh. Vì vậy, Nhà nước nên có cơ chế mới thông thoáng hơn giúp cho doanh nghiệp rút ngắn thủ tục đi nước ngoài. -Các Công ty phải có đủ điều kiện về vốn, mạng lưới thu mua, kho tàng để mua hết hàng hoá đặc biệt là nông sản cho người sản xuất. Mặt khác, Bộ thương mại cũng cần phải giám sát chặt chẽ, phối hợp hoạt động giữa các doanh nghiệp nhằm tránh tình trạng tranh giành khách hàng bằng cách hạ giá một cách bất hợp lý, gây thiệt hại cho Công ty cũng như Nhà nước. 2.3.3. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý đồng bộ Hệ thống các văn bản pháp lý, quy định phải đảm bảo được tính đồng bộ, nhất quán và dễ hiểu trong việc khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế tham gia sản xuất hàng xuất khẩu để tạo nguồn hàng ổn định, lâu dài cho các Công ty chuyên doanh xuất nhập khẩu, tránh tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” khuyến khích xuất khẩu một mặt hàng nào đó nhưng lại không khuyến khích sản xuất mặt hàng đó. Điều này là rất cần thiết để tạo tâm lý ổn định cho doanh nghiệp để họ yên tâm sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, cần sửa đổi, bổ sung các văn bản mới cho phù hợp với tình hình thực tế để hệ thống văn bản pháp lý ngày càng hoàn chỉnh hơn. 2.3.4.Thiết lập chế độ tỷ giá hối đoái thuận lợi cho người xuất khẩu: đây là chính sách có tính chất hỗ trợ, tăng khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu nói chung. Chính sách này cần được phối hợp một cách nhịp nhàng với các chính sách khác, tuỳ theo từng thời kỳ, tạo tỷ giá hối đoái có lợi và không chênh lệch qua lớn so với giá thực tế trên thị trường. Mục đích phá giá đồng bản tệ là để tăng khả năng cạnh tranh quốc tế của đất nước và cải thiện cán cân đối ngoại. Về mặt lý thuyết, việc phá giá tiền tệ làm giảm nhập khẩu và xác lập một tỷ giá thuận lợi hơn cho tăng cường xuất khẩu. khó khăn chủ yếu ở đây là phải xác định một tỷ giá vừa đủ, nhưng cũng vừa ngắn để thu được một hiệu ứng có lợi cho ngoại thương và bảo toàn được đội ngũ bạn hàng. Thành công của biện pháp này đòi hỏi một loạt các chính sách đi kèm nhằm tạo điều kiện dể chuyển những nhân tố tăng trưởng bên trong và bên ngoài và giữ cho nền kinh tế không " suy sụp" trong điều kiện lạm phát. Từ quan điểm này, việc trọn thời điểm để phá giá tiền tệ là hết sức quan trọng. KẾT LUẬN Việt Nam đang nỗ lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để bắt kịp xu thế phát triển kinh tế của toàn cầu, vì vậy xuất khẩu là một lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Thông qua đó, các quốc gia có được nguồn ngoại tệ để trang trải cho các nhu cầu nhập khẩu của nền kinh tế, góp phần cân đối, duy trì và mở rộng tái sản xuất trong nước, tranh thủ những tiến bộ khoa học và công nghệ của thế giới, đáp ứng nhu cầu không ngừng nâng cao trình độ phát triển kinh tế, xã hội, hoà nhập với nền kinh tế thế giới. Với tầm quan trọng như vậy, ở nước ta xuất khẩu được đặt vào vị trí trung tâm, làm đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Thúc đẩy xuất khẩu đã trở thành nhiệm vụ chiến lược của quốc gia trong suốt thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là nhiệm vụ đòi hỏi sự cố gắng của Đảng, nhà nước, tất cả các Bộ, ngành và đặc biệt là sự thực hiện của các công ty hiện đang tham gia vào hoạt động xuất khẩu. Trước yêu cầu đó, công ty HAPROSIMEX SAIGON đã tìm cho mình một hướng đi đúng đắn, thúc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu trong đó có mặt hàng nông sản. Công ty luôn coi nông sản là mặt hàng xuất khẩu chiến lược trong những năm tới và tích cực tìm kiếm những biện pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng này. Nhận thức được điều này, cộng với sự quan tâm lòng mong muốn được đóng góp ý kiến vào sự phát triển chung của công ty tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp như đã trình bày. Những kiến nghị này chỉ mang tính định hướng khoa học còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn nên còn nhiều khiếm khuyết. Bởi vậy em mong nhận được sự góp ý bổ sung từ phía thầy cô và cán bộ trong công ty. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO I. GIÁO TRÌNH Giáo trình “ Kinh doanh quốc tế ”tập I, chủ biên PGS.TS Nguyễn Thị Hường, NXB Giáo dục, 2000. Giáo trình:"Kinh doanh thương mại", tác giả Bùi Xuân Lưu, NXB Giáo dục, 2000. Giáo trình “ Kinh tế học quốc tế ” tác giả GS -PTS Tô Xuân Dân, NXB Giáo dục, 1996. Giáo trình:"Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương", tác giả Vũ Hữu Tửu, NXB Giáo dục,1998 Giáo trình: "Kỹ thuật thương mại quốc tế ", tác giả Đào Thị Bích Hoà, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 1999 Giáo trình “ Marketing quốc tế ”, tác giả PTS Nguyễn Cao Văn, NXB Thống kê, 2000 Giáo trình “ Marketing quốc tế ”, tác giả Nguyễn Xuân Vinh, NXB Bưu điện, năm 2000 Giáo trình:"Nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu" tác giả Trần Văn Chu, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2000 II. SÁCH 1. Sách:"Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm rau quả", tác giả Hoàng Tuyết Minh, NXB Nông nghiệp, 2000 2. Sách: “Lương thực Việt Nam - đổi mới hướng xuất khẩu ” Tác giả : Nguyễn Trung Văn, NXB Chính trị Quốc gia, 1999 III. TẠP CHÍ 1. Tạp chí Kinh tế và dự báo. -Số 04-2000. Bài " Một số giải pháp tạo bước đột phá trong xuất khẩu nông sản ở Việt Nam". Tác giả: TS. Nguyễn Thị Hường -Số 09-2000. Bài “Nâng cao khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới”. Tác giả : Nguyễn Văn Nam . -Số 01-2001. Bài “Làm gì để nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu”. Tác giả: TS. Nguyễn Thị Hường. 2. Tạp chí kinh tế kế hoạch -Số 3-2002. Bài “Nhiệm vụ và mục tiêu xuất nhập khẩu năm 2002” -Số 4-2002. Bài “Tình hình kinh doanh xuất khẩu 3 tháng đầu năm 2002” -Số 5-2002. Bài “Việt Nam trong tiến trình gia nhập kinh thế thế giới” -Số 6-2002. Bài “Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu trong mấy tháng đầu năm 2002” 3. Tạp chí kinh tế nông thôn: số 01-2003, số 07-2003 4. Tạp chí kinh tế và phát triển -Số 37-2000. Bài " Về xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam: thực trạng và giải pháp" -Số 38-2000. Bài “10 năm xuất khẩu hàng nông sản ở Việt Nam từ 1991-2000”. Tác giả : TS Đỗ Đức Hạnh - Trần Mai Phương. -Số 46-2001. Bài "Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế". Tác giả: Lê Quốc Hội 5. Tạp chí phát triển kinh tế -Số 105-2000. Bài “ Tìm thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam” Tác giả : TS Lê Khoa . -Số 107-2000. Bài “ Một số giải pháp cho vấn đề tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp” Tác giả : Th.S Nguyễn Thị Minh Tâm . -Số 124-2002. Bài “Xuất khẩu Việt Nam năm 2001 - nhìn lại cơ cấu mặt hàng” 6. Tạp chí tài chính -Số 08-2001. Bài "Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu- một giải pháp tài chính phục vụ hoạt động xuất khẩu ở Việt Nam" -Số 09-2001. Bài "Tiếp tục mở rộng những ưu đãi về thuế để thúc đẩy xuất khẩu' Bài " Giải pháp tài chính thúc đẩy xuất khẩu" -Số 11-2001. Bài "Cấp bách kịp thời thúc đẩy hoạt động xuất khẩu" 7. Tạp chí Thương mại -Số 12-2000. Bài "Một số vấn đề đặt ra đối với xuất khẩu nông sản Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế và tự do hoá thương mại" -Số 10-2001. Bài “Thành lập các cơ quan xúc tiến thương mại Việt Nam ở nước ngoài, yêu cầu bức xúc để đẩy mạnh xuất khẩu” . -Số 28-2001. Bài "Suy nghĩ về giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng Việt Nam vào thị trường Nam Phi" -Số 37-2002. Bài “Xuất hiện nguy cơ từ việc cà phê tăng giá” -Số 6-2003. Bài “Xúc tiến thương mại với hội nhập quốc tế” -Số 07-2003. Bài " Đẩy mạnh xuất khẩu năm 2003” IV. CÁC TÀI LIỆU KHÁC Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính kế toán của công ty HAPROSIMEX SAIGON các năm 1999-2002. Mục Lục Lời cam đoan Lời cảm ơn DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH STT Tên bảng Trang Bảng 1 Sản lượng xuất khẩu một số mặt hàng nông sản của Việt Nam 31 Bảng 2 Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản của Việt Nam 32 Bảng 3 Thị trường tiêu thụ một số mặt hàng nông sản Việt Nam 33 Bảng 4 Tình hình hoạt động của công ty từ năm 1992-1998 38 Bảng 5 Tình hình hoạt động của công ty từ năm 1999-2002 41 Bảng 6 Kết quả hoạt động kinh doanh (1999-2002) 46 Bảng 7 Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh 47 Bảng 8 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của công ty 49 Bảng 9 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu theo thị trường 52 Bảng 10 Cơ cấu lao động của công ty 53 Bảng 11 Kim ngạch xuất khẩu nông sản của công ty 55 Bảng 12 Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản của công ty 56 Bảng 13 Cơ cấu& tốc độ tăng trưởng các mặt hàng nông sản của công ty 57 Bảng 14 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản theo thị trường 58 Bảng 15 Giá bình quân một số mặt hàng nông sản xuất khẩu của công ty 60 Bảng 16 Kế hoạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam (2005-2010) 74 Bảng 17 Kế hoạch xuất khẩu nông sản của công ty (2003-2005) 75 Bảng 18 Định hướng thị trường xuất khẩu nông sản năm 2003 75 Hình 1 Các bước thực hiện xuất khẩu hàng hoá 9 Hình 2 Sơ đồ bộ máy tổ chức công ty 43 Hình 3 Tốc độ tăng trưởng các mặt hàng xuất khẩu của công ty 51 TT KDHTD PHÒNG KVTT PHÒNG XNK 3 PHÒNG XNK 2 PHÒNG XNK1 XN TOÀN THẮNG XN SINH THÁI XN GỐM CHU ĐẬU XNLH CHẾ BIẾN TP HN GIÁM ĐỐC CÁC PHÓ GIÁM ĐỐC GIÚP VIỆC P. KTTC CÁC ĐƠN VỊ SXKD KHU VỰC PHÍA NAM CÁC ĐƠN VỊ SXKD KHU VỰC HÀ NỘI P. TCHC P.TỔNG HỢP PHÒNG TP PHÒNG QC PHÒNG TCMN PHÒNG NS PHÒNG NK XN SX SẮT MỸ NGHỆ TT XNK MÁY & THIẾT BỊ TT DV-DL BỐN MÙA HÌNH 2: SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY Bảng 8: Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng của công ty Đơn vị tính: 1000 USD Nhóm hàng Năm 1998 Năm1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 GT TT(%) GT TT(%) GT TT(%) GT TT(%) GT TT(%) HàngTCMN 2.346,1 42,44 3.107,6 46,67 5.274,5 52,06 5.278,8 45,89 5.657,4 37,19 Nông sản 3.120,5 56,44 3.350,8 50,31 4.097,1 40,44 5.774,7 50,20 9.245,4 60,77 HàngCN nhẹ 62,0 1,12 201,3 3,02 759,6 7,5 449,5 3,91 311,9 2,04 Tổng 5.528,6 100 6.659,7 100 10.131,2 100 11.503,0 100 15.214,7 100 Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (1998-2002) Hình 3: Tốc độ tăng trưởng các mặt hàng

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc1 số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của Công ty HAPROSIMEX SAIGON.DOC
Luận văn liên quan