Đề tài Biến động giá dầu lửa và ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam

MỤC LỤC I. Phân tích biến động giá dầu thế giới từ 1945 đến nay : A. Ta quan sát lịch sử giá dầu mỏ theo các giai đoạn: 1. Giai đoạn sau chiến tranh TG :từ 1945 tới 1971 2. Giai đoạn bất ổn của giá dầu: từ năm 1972 tới 1981 3. Giai đoạn năm 1981-1998 4. Giai đoạn 1999 tới 2003 5. Giai đoạn từ năm 2004 tới 2007 6. Giai đoạn từ năm 2007 tới nay B. Nguyên nhân biến động giá dầu: II. Thị trường xăng dầu Việt Nam 1. Giai đoạn trước năm 2000 2. Giai đoạn từ năm 2000 đến trước thời điểm Nhà nước công bố chấm dứt bù giá, vận hành giá xăng dầu theo thị trường (tháng 9/2008) 3. Giai đoạn từ cuối năm 2008 đến nay: III. Tác động đến nền kinh tế Việt Nam IV. Nhận định của nhóm V. Danh mục tài liệu tham khảo

doc22 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 3154 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Biến động giá dầu lửa và ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Khoa Kinh Tế - ĐHQG Tp.HCM Bộ môn Kinh Tế Đối Ngoại Lớp K07402A Đề tài tài chính quốc tế : BIẾN ĐỘNG GIÁ DẦU LỬA VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GVHD: T.S Lê Tuấn Lộc Nhóm thực hiện: Trần Trọng Tú K074020255 Lại Thị Thu Hằng K074020168 Lưu Quang Thông K074020237 Trần Thị Thịnh K074020251 Nguyễn Thanh Quế K074020225 Nguyễn Thị Thùy Linh K074020194 MỤC LỤC Phân tích biến động giá dầu thế giới từ 1945 đến nay : Ta quan sát lịch sử giá dầu mỏ theo các giai đoạn: Giai đoạn sau chiến tranh TG :từ 1945 tới 1971 Giai đoạn bất ổn của giá dầu: từ năm 1972 tới 1981 Giai đoạn năm 1981-1998 Giai đoạn 1999 tới 2003 Giai đoạn từ năm 2004 tới 2007 Giai đoạn từ năm 2007 tới nay Nguyên nhân biến động giá dầu: Thị trường xăng dầu Việt Nam Giai đoạn trước năm 2000 Giai đoạn từ năm 2000 đến trước thời điểm Nhà nước công bố chấm dứt bù giá, vận hành giá xăng dầu theo thị trường (tháng 9/2008) Giai đoạn từ cuối năm 2008 đến nay: Tác động đến nền kinh tế Việt Nam Nhận định của nhóm Danh mục tài liệu tham khảo Phân tích biến động giá dầu thế giới từ 1945 đến nay : Sự tăng giảm giá dầu luôn là nhân tố chính ảnh hưởng tới mọi ngành nghề hoạt động trong nền kinh tế bởi dầu mỏ và cũng là một nhân tố đầu vào quan trọng của mọi quá trình sản xuất. Xem xét lịch sử phát triển của giá dầu cho ta một bức tranh toàn cảnh về sự biến động giá dầu và hiểu nguyên nhân của những đợt tăng giá dầu mỏ. Ta quan sát lịch sử giá dầu mỏ theo các giai đoạn: Giai đoạn sau chiến tranh TG: từ 1945 tới 1971 Giai đoạn bất ổn: từ 1972 tới 1981 Giai đoạn từ 1981 tới 1998 Giai đoạn từ 1999 tới 2003 Giai đoạn từ 2003 tới 2007 Giai đoạn từ 2007 tới nay Giai đoạn sau chiến tranh TG :từ 1945 tới 1971 Trong giai đoạn này, lịch sử Thế giới chứng kiến sự ổn định của giá dầu mỏ. Nguồn cung dầu được duy trì ổn định. Sự phát triển kinh tế cũng như các ngành công nghiệp thời kỳ này không cao, vì thế sức ép cầu của dầu không đủ lớn. Từ năm 1945 tới 1957: Trong thời gian này, giá dầu gần như ổn định, nằm trong biên độ từ 2.5 USD tới 3 USD. Tính theo thời giá hiện nay (2009) thì nó nằm trong khoảng từ 20 USD tới 21 USD. Từ năm 1958 tới 1971: Nguồn cung dầu mỏ từ các nước xuất khẩu dầu ổn định giúp giá dầu vẫn duy trì ở mức 3 USD (21 USD theo giá của năm 2009). Tóm lại thời kỳ này, giá dầu không có sự biến động. Đó là nhân tố tốt giúp phát triển các ngành công nghiệp tại các nền kinh tế bị thiệt hai sau chiến tranh như: Nhật Bản và Tây Âu. Giai đoạn bất ổn của giá dầu: từ năm 1972 tới 1981: Trong giai đoạn này, ta xem xét các mốc thời gian là 1974, 1978, 1979 vì đó là các mốc thời gian chứng kiến giá dầu Thế giới có sự “chuyển mình”. Từ những năm 1972 tới 1974: Đầu những năm 1972 giá dầu vẫn giữ ở ngưỡng 3 USD/thùng. Tới năm 1974, giá dầu đã nhảy lên mức 12 USD (tức là gấp 4 lần so với giá dầu năm 1972). Nguyên nhân xuất phát từ cuộc chiến The Yom Kippur War do Israel phát động vào ngày 5/10/1973 nhằm vào 2 nước Syria và Ai Cập. Cuộc chiến này được Mỹ và một số nước Phương Tây hậu thuẫn. Nhằm đáp trả lại động thái của Mỹ, một số nước Ả Rập ngay tức khắc đặt lệnh cấm vận về dầu mỏ với quốc gia Israel. Sản lượng bị cắt giảm 5 triệu thùng/ngày, một số nước khác thì tăng sản lượng lên 1 triệu thùng/ngày. Sự hao hụt 4 triệu thùng/ngày kéo dài tới tháng 3/1974, chiếm 7% sản lượng sản lượng dầu thế giới. Sự hao hụt đó đẩy giá dầu thế giới tăng lên một ngưỡng mới. Từ năm 1975 tới năm 1978, giá dầu thế giới dao động quanh ngưỡng 12.21 USD tới 13.55 USD/thùng. Nếu ta tính cả mức lạm phát của thời kỳ này thì giá dầu có xu hướng giảm nhẹ. Từ năm 1979 tới năm 1981: Giá dầu mỏ lại tăng nhanh xuất phát từ các sự kiện bất ổn từ 2 nước Iran và Iraq. Năm 1978 tại Iran xảy ra cuộc cách mạng Hồi giáo (từ tháng 11/1978 tới tháng 6/1979) khiến sản lượng mất đi từ 2 đến 2.5 triệu thùng/ngày. Vào tháng 9/1980, Iraq tấn công Iran. Đến tháng 11/1980, tính chung sản lượng của cả 2 nước chỉ là 1 triệu thùng/ngày, bằng chưa tới 1/6 sản lượng của 2 nước một năm trước đó là 6.5 triệu thùng/ngày. Hệ quả tác động là sản lượng dầu thế giới sụt giảm 10% sơ với năm 1979. Trong thời kỳ này giá dầu mỏ tăng “phi mã”: gấp 2 lần (Tăng giá từ mức 14 USD (năm 1978) lên mức 35 USD/thùng  năm 1981. Như vậy cho thấy, sự bất ổn về chính trị ở khu vực Trung Đông kéo theo sự sụt giảm sản lượng dầu khai thác, nguyên nhân chính của việc tăng giá dầu Thế giới. Một thực tế cho thấy, môt khi giá dầu thiết lập một mặt bằng giá mới thì khó có thể đẩy giá dầu về mức giá trước đó. Sự tăng giá dầu thời kỳ này tác động lớn đến quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới thời kỳ này. Giai đoạn năm 1981-1998: Giai đoạn này chứng kiến những động thái tác động đến giá dầu từ tổ chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC. Ta biết rằng: Giá dầu thời gian trước đã thiết lập mặt bằng giá mới là 35 USD/thùng. Mức lợi từ nguồn thu dầu mỏ đã kéo theo sự kích thích tăng cung từ các nước bên ngoài OPEC. Từ năm 1981 tới năm 1986, các nước bên ngoài tăng thêm lượng cung 10 triệu thùng/ngày. Điều này ảnh hưởng tới cầu giảm xuống đối với lượng dầu mỏ của OPEC. Việc tăng cung dầu đặt các nước OPEC phải toan tính tới việc cắt giảm lượng cung để bình ổn giá bằng cách quy định hạn mức khai thác. Tuy nhiên, việc này gần như thất bại bởi chính một số nước trong tổ chức OPEC đã phá vỡ quy ước, tự ý tăng cung dầu mỏ. Vào tháng 8/1985, Ả Rập Xeut bất ngờ tuyên bố tăng lượng cung từ 2 triệu thùng/ngày lên mức 5 triệu thùng/ngày. Điều này góp phần đẩy giá dầu mỏ giảm dưới 15 USD/thùng. Tới tháng 12/1986, giá dầu tăng dần lên mức 18 USD/thùng. Trong 2 năm 1987 tới năm 1988, giá dầu mỏ từ ngưỡng 18 USD lại giảm xuống 15 USD. Sự giảm giá dầu lần này đã đem lại rất nhiều thuận lợi cho nền kinh tế Mỹ và thế giới. Trong năm 1988 tới 1990, cùng với sự kiện Iraq đứng đầu là Saddam đã tiến công giải phóng vùng vịnh Kuwait, giá dầu tăng mạnh. Tuy nhiên ngay sau đó, OPEC tăng sản lượng liên tục đã khiến một lần nữa giá dầu giảm giá mạnh, đạt ngưỡng 15 USD và kéo dài tới năm 1994. Chu kỳ tăng giá lại tăng lên khi nền kinh tế Mỹ và khối các nước Châu Á tăng trưởng. Nhu cầu sử dụng dầu trong các ngành công nghiệp tăng mạnh. Tuy nhiên, cùng với sự phân tích đánh giá không chuẩn của các nước OPEC và sự đánh giá chưa đúng với sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Thế giới năm 1997, OPEC đã tăng sản lượng khai thác dầu từ ngưỡng 2.5 triệu thùng/ngày lên mức 27.5 triệu thùng/ngày. Sự khủng hoảng tài chính tiền tệ lây lan nhanh sang các nền kinh tế Châu Á rồi Châu Âu khiến nhu cầu dầu sụt giảm mạnh. Cùng với đó, giá dầu thô liên tục đà giảm giá mạnh. Trước tình hình đó, tháng 4-1998 và tháng 7-1998, OPEC liên tục cắt giảm sản lượng khai thác, giá dầu mỏ giảm hết tháng 12/1998 và ở mức 12 USD/thùng. Giai đoạn 1999 tới 2003: Nhằm chặn đứng xu hướng giảm giá dầu mỏ, các nước OPEC tiếp tục tuyên bố giảm sản lượng khai thác. Tháng 4/1999, OPEC cắt giảm tiếp 1.719 triệu thùng dầu/ngày. Như vậy tính chung, OPEC đã cắt giảm hơn 3 triệu thùng dầu/ngày. Do đó đã khiến giá dầu tăng giá trở lại lên mức 25 USD/thùng. Với vấn đề Y2K và sự tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ, giá dầu đạt ngưỡng 35 USD vào tháng 10/2000. OPEC tăng sản lượng khai thác dầu mỏ thêm 3.2 triệu thùng để nhằm cản trở sự tăng giá. Ngày 1/11/2000, OPEC tuyên bố tăng 500.000 thùng/ngày đã khiến giá dầu mỏ lại có xu hướng giảm. Vào năm 2001, nền kinh tế Mỹ yếu đi và sự gia tăng sản lượng của các nước ngoài OPEC đã gây áp lực giảm giá dầu. Trước tình hình đó, OPEC một lần nữa liên tiếp cắt giảm sản lượng và tính tới ngày 1/9/2001, OPEC đã cắt giảm 3,5 triệu thùng. Nếu không có cuộc tấn công khủng bố vào ngày 11/9/2001, sự cắt giảm này của OPEC có thể đủ để làm cân bằng thậm chí là đảo ngược xu thế. Trước cuộc tấn công khủng bố giá dầu đã sụt giảm. Giá dầu giao ngay theo tiêu chuẩn của các nhà trung gian Tây Texas Mỹ đã giảm 35% vào giữa tháng 11. Trong điều kiện bình thường, sự giảm giá dầu ở mức độ đó sẽ dẫn tới một đợt cắt giảm sản lượng của OPEC nhưng với điều kiện chính trị không phù hợp, OPEC đã hoãn việc cắt giảm thêm đến tận tháng 1/2002. Sau tháng 1/2002, OPEC cắt giảm tiếp 1,5 triệu thùng/ngày và các nước ngoài OPEC cũng tham gia việc cắt giảm sản lượng trong đó có cả Nga với mức cắt giảm cam kết là 462.500 thùng/ngày. Điều này đã đem lại kết quả mong muốn của OPEC khi mà giá dầu tăng lên mức 25USD/thùng vào tháng 3/2002. Vào giữa năm 2002, các nước ngoài OPEC đã khôi phục lại mức sản lượng đã cắt giảm tuy nhiên giá vẫn tiếp tục tăng và dự trữ dầu của Mỹ đạt mức thấp nhất trong 20 năm. Vào thời điểm cuối năm, dư cung không còn là vấn đề. Cuộc đình công tại Venezuela đã khiến cho sản lượng dầu nước này giảm mạnh. Trước khi cuộc đình công diễn ra, Venezuela chưa bao giờ có thể khôi phục lại mức sản lượng trước đó và đứng ở mức thấp hơn 900.000 thùng/ngày so với mức kỷ lục 3,5 triệu thùng/ngày. OPEC tăng sản lượng thêm 2,8 triệu thùng/ngày vào tháng 1 và tháng 2/2003. Vào ngày 19/3/2003, khi mà sản lượng dầu của Venezuela bắt đầu được khôi phục, cuộc tấn công quân sự vào Iraq đã nổ ra. Trong khi đó, trữ lượng dầu ở Mỹ và các quốc gia OECD vẫn ở mức thấp. Với sự phát triển mạnh của kinh tế, nhu cầu dầu từ Mỹ và các nước châu Á đã tăng một cách chóng mặt. Sự giảm sản lượng ở Iraq và Venezuela được bù đắp bởi việc tăng sản lượng ở các thành viên khác tuy nhiên vẫn khiến cho mức sản lượng dầu tiềm năng có khả năng sản xuất giảm xuống. Vào giữa năm 2002, sản lượng dầu tiềm năng là 6 triệu thùng/ngày và giữa năm 2003 đã giảm xuống dưới 2 triệu thùng. Giai đoạn từ năm 2004 tới 2007: Sau trận bão 2005 và mức dự trữ dầu của các nước lớn khiến giá dầu một lần nữa có xu hướng tăng. Nhu cầu dầu thế giới tăng trên 80 triệu thùng/ngày cũng là nguyên nhân của việc tăng giá dầu. Tháng 11/2006 và tháng 2/2007, OPEC cắt giảm sản lượng dầu cũng khiến giá dầu mỏ có xu hướng leo thang.  Giai đoạn từ năm 2007 tới nay: Trong năm 2007 tới cuối năm, nền kinh tế thế giới phát triển quá nóng. Sự tăng trưởng ngành công nghiệp Mỹ, Trung Quốc và các nước Tây Âu khiến nhu cầu dầu mỏ gia tăng. Tình hình bất ổn chính trị ở các nước Trung Đông cũng là một nguyên nhân đẩy giá dầu mỏ leo thang. Sự khủng hoảng năng lượng được châm ngòi một lần nữa tại Mỹ. Giá dầu mỏ tháng 5/2007 đến tháng 7/2008 tăng chóng mặt: Giá dầu tăng từ mức 70 USD lên trên 100 USD và đạt mốc kỷ lục 147 USD/thùng vào giữa tháng 7 năm 2008. Đến nửa cuối năm 2008, nền kinh tế thế giới bị khủng hoảng nghiêm trọng. Sản xuất bị ngừng trệ, thất nghiệp tăng cao, nhu cầu sản xuất hàng hóa giảm đáng kể đẩy giá dầu tụt dốc đến mức 34USD/ thùng. Một động thái mới từ các nước OPEC là việc cân nhắc chuyển định giá dầu từ đồng USD sang một loại đồng tiền khác như EUR và gần đây nhất là việc Iran tuyên bố không định giá bằng đồng USD nữa cũng là nguyên nhân khiến giá dầu mỏ có xu hướng giảm. Đầu năm 2009, hầu hết các nước lớn như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc đã tung những gói cứu trợ lớn. Điều này tiềm ẩn lớn lạm phát có thể quay trở lại. Đồng USD có xu hướng yếu đi khiến giá dầu mỏ có xu hướng tăng trở lại trong năm 2009. Trong giai đoạn gần đây, triển vọng nhu cầu dầu tăng thêm khi nền kinh tế ấm lại một lần nữa là cú huých khiến giá dầu “rục rịch” tăng trở lại. Ngày 13/10/2009, giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 11/2009 tăng 88 cent lên 74.15 USD/thùng sau khi đã tăng 2% so với một ngày trước đó. Tại London, giá dầu thô Brent biển Bắc giao tháng 11 đã tăng 1.04 USD lên 72.4 USD/thùng. Giới phân tích thế giới dự báo giá dầu tăng trong năm 2009 là do triển vọng tăng trưởng trở lại nền kinh tế. Tổ chức OPEC cũng đưa ra dự báo nhu cầu dầu mỏ giảm chút ít trong năm 2009 nhưng sẽ bắt đầu tăng dần (tăng khoảng 700.000 thùng /ngày) lên 84.93 triệu thùng/ngày. Trước đó, Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) đã nâng mức dự đoán về nhu cầu dầu của toàn cầu năm 2009 lên thêm 200.000 thùng/ngày và của năm tới thêm 350.000 thùng/ngày, so với dự báo trước đó. Ngoài ra, một nguyên nhân khác nữa góp phần làm cho giá dầu tăng là do giá USD giảm, buộc các nhà quản lý quỹ phải tìm cách bảo vệ vốn của mình trước xu hướng giảm này bằng cách mua dầu mỏ hoặc các mặt hàng khác. Tính đến thời điểm hiện tại, có thể nhận xét giá dầu đang dao động xoay quanh mức giá 72USD/ thùng do đồng USD có dấu hiệu tăng giá trở lại so với EURO cao nhất kể từ tháng 8/2009 tới nay. Nguyên nhân biến động giá dầu: Nguồn cung dầu phụ thuộc rất lớn vào quyết định của Tổ chức OPEC nên việc điều hành của tổ chức này đóng vai trò rất quan trọng trong việc bình ổn giá trên thị trường. Giá dầu mỏ chịu tác động của quy luật cung – cầu: Trong ngắn hạn bất kỳ một sự tăng cung hay giảm cầu đều sẽ ảnh hưởng tới giá dầu mỏ trên Thế giới. Ngoài ra, sự kỳ vọng về tăng trưởng nền kinh tế, sự bất ổn chính trị trong nội bộ các nước xuất khẩu dầu cũng là nguyên nhân khiến giá dầu có sự biến động vô cùng lớn. Các nước như Iran, Irac, Venezuela… luôn là điểm nóng về chính trị và quân sự. Các nước xuất khẩu dầu mỏ luôn khuyến khích các nước tránh đầu tư vào những nền công nghiệp phụ thuộc vào năng lượng bởi nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng của giá dầu mỏ. Vì dầu mỏ là nguồn đầu vào của hầu hết các ngành nghề sản xuất chính quan trọng của các nước. Vì thế giá cả dầu mỏ sẽ có những tác động lớn. Giá dầu tăng cũng khiến nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng, lạm phát tăng và thất nghiệp gia tăng trên thế giới. Với sự trượt giá của USD, các nhà đầu tư đang đổ vốn vào thị trường hàng hóa, trong đó có dầu thô và các mặt hàng kim loại, để tìm kiếm hầm trú ẩn an toàn khỏi những tác động tiêu cực của lạm phát. Và khả năng đầu cơ đẩy giá dầu tăng trong thời gian qua là điều không tránh khỏi. Nhưng theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng JP Morgan Chase - một trong những ngân hàng tại phố Wall có tiếng nói nhất trên thị trường hàng hóa, hơn 90% biến động của thị trường dầu mỏ là do chịu ảnh hưởng từ việc cung ứng, chứ không phải do ảnh hưởng từ các hoạt động đầu cơ. Điều này đã gây nghi ngờ về chế độ giám sát thị trường chặt chẽ đối với các nhà đầu tư hàng hóa. Nguyên nhân được đưa ra ở đây là kho dự trữ dầu của các nước sụt giảm nghiêm trọng trong thời gian qua đã khiến các nhu cầu tăng đột biến đối với thị trường dầu mỏ, khiến giá dầu tăng dần. Cũng theo báo cáo này, từ năm 2006 – 2009, 96% sự biến đổi giá dầu trong mỗi tuần là do ảnh hưởng bởi sự tăng hoặc giảm đột biến của kho dầu thô, 4% còn lại có thể do đầu cơ gây ra hoặc ảnh hưởng bởi việc điều chỉnh về đầu tư. Sự tăng giá của dầu sẽ kìm hãm đà phát triển của nền kinh tế. Nếu sự gia tăng về giá là lớn thì nó sẽ khiến nền kinh tế bị suy thoái. Vì thế, xu hướng hiện thời của các nước là xây dựng các kho dự trữ dầu nhằm hạn chế bớt tác động của những cuộc khủng hoảng năng lượng. Thị trường xăng dầu Việt Nam và vai trò của Nhà nước: Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, hoạt động phân phối xăng dầu cũng đã trải qua các giai đoạn tương ứng, từ phương thức cung cấp theo định lượng, áp dụng một mức giá thống nhất do Nhà nước quy định đến mua bán theo nhu cầu, thông qua hợp đồng kinh tế. Để tiệm cận với những thay đổi đó, đặc biệt là giai đoạn bắt đầu tiếp cận thị trường, Nhà nước đã nhiều lần điều chỉnh cơ chế quản lý vĩ mô về kinh doanh xăng dầu với những chính sách phù hợp với đặc thù của mỗi giai đoạn. Khái quát thị trường xăng dầu trong 20 năm qua, kể từ khi Việt Nam đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng của thị trường xăng dầu năm 1989, quá trình chuyển đổi có thể phân chia thành 3 giai đoạn: trước năm 2000, từ năm 2000 đến cuối năm 2008 và từ cuối năm 2008 trở lại đây. Giai đoạn trước năm 2000: Giai đoạn này kéo dài trên 10 năm, với sự gia tăng của các đầu mối nhập khẩu từ một đầu mối duy nhất, tăng dần lên 5 và đến năm 1999, đã có 10 đầu mối tham gia nhập khẩu xăng dầu cho nhu cầu nội địa. Trong những năm từ 1989 đến 1992, khi không còn nguồn xăng dầu cung cấp theo Hiệp định với Liên xô (cũ), Nhà nước chuyển từ quy định "giá cứng" sang áp dụng giá chuẩn để phù hợp với việc hình thành nguồn xăng dầu nhập khẩu từ lượng ngoại tệ do doanh nghiệp đầu mối tự cân đối, mua của các doanh nghiệp xuất khẩu qua ngân hàng hoặc hình thức uỷ thác bao tiêu xăng dầu cho doanh nghiệp có ngoại tệ thu được từ xuất khẩu. Vào giai đoạn này, nguồn ngoại tệ từ dầu thô do Nhà nước bảo đảm chỉ chiếm dưới 40% tổng nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu. Doanh nghiệp đầu mối được quyền quyết định giá bán +/- 10% so với giá chuẩn để bảo đảm hoạt động kinh doanh. Từ năm 1993, để thống nhất quản lý giá bán, Nhà nước ban hành quy định giá tối đa; doanh nghiệp tự quyết định giá bán buôn và bán lẻ trong phạm vi giá tối đa. Nhà nước xác định mức độ chịu đựng của nền kinh tế để xác định giá tối đa; việc điều chỉnh giá tối đa ở giai đoạn này chỉ diễn ra khi tất cả các công cụ điều tiết đã sử dụng hết. Công cụ thuế nhập khẩu được sử dụng như một van điều tiết để giữ mặt bằng giá tối đa, không tạo ra siêu lợi nhuận và doanh nghiệp cũng không phát sinh lỗ sau một chu kỳ kinh doanh. Phụ thu là một công cụ bổ sung cho thuế nhập khẩu khi mức thuế nhập khẩu đã được điều chỉnh tăng hết khung, được đưa vào Quỹ Bình ổn giá do Nhà nước quản lý. Lệ phí giao thông thu từ năm 1994 cũng được hình thành từ nguyên tắc tận thu cho ngân sách Nhà nước khi điều kiện cho phép, là khoản thu cố định và sau này đổi tên là phí xăng dầu. Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là: nhờ quy định của Nhà nước về giá chuẩn, doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh giá bán xăng dầu nhập khẩu thuộc nguồn ngoại tệ tự huy động từ các doanh nghiệp xuất khẩu, đảm bảo quyền lợi cho họ thông qua tỷ giá phù hợp nên đã huy động được số ngoại tệ nhập khẩu gần 60% nhu cầu xăng dầu cho nền kinh tế sau khi không còn nguồn xăng dầu theo Hiệp định. Chính chủ trương không áp dụng cơ chế bù giá cho các đối tượng sử dụng xăng dầu thông qua doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là điều kiện quyết định để Việt Nam có thể tự cân đối được ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu ngay cả khi nguồn ngoại tệ tập trung của Nhà nước từ dầu thô mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn 50% so với tổng nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu lúc đó. Giai đoạn này cũng là thời kỳ giá xăng dầu thế giới ở mức đáy (dầu thô chỉ ở mức trên 10 USD/thùng), tương đối ổn định nên với cơ chế giá tối đa, Nhà nước đã đạt được mục tiêu đề ra, cụ thể là (1)/ Cân đối cung - cầu được đảm bảo vững chắc; (2)/ Các hộ sản xuất và người tiêu dùng lẻ được hưởng mức giá tương đối ổn định; biến động giá tuy chỉ theo xu hướng tăng song mức tăng đều, không gây khó khăn nhiều cho sản xuất và tiêu dùng khi chủ động hoạch định được ngân sách cho tiêu thụ xăng dầu hàng năm; (3)/ Ngân sách Nhà nước tăng thu thông qua việc tận thu thuế nhập khẩu, phụ thu, phí xăng dầu; (3)/ Doanh nghiệp có tích luỹ để đầu tư phát triển, định hình hệ thống cơ sở vật chất, từ cầu cảng, kho đầu mối, kho trung chuyển, phương tiện vận tải đến mạng lưới bán lẻ. Mặc dù vậy, cơ chế quản lý - điều hành trong giai đoạn này cũng đã bộc lộ khá rõ những nhược điểm mà nổi bật là tương quan giá bán giữa các mặt hàng không hợp lý dẫn đến tiêu dùng lãng phí, nhà đầu tư không có đủ thông tin để tính toán đúng hiệu quả đầu tư nên chỉ cần thay đổi cơ chế điều hành giá sẽ làm ảnh hưởng rất lớn sử dụng nhiên liệu, nhiều nhà sản xuất thậm chí đã phải thay đổi công nghệ do thay đổi nhiên liệu đốt (thay thế madut, dầu hoả bằng than, trấu, gas); gian lận thương mại xuất hiện do định giá thấp đối với mặt hàng chính sách (dầu hoả); Nhà nước giữ giá ổn định trong một thời gian quá dài thoát ly giá thế giới tạo sức ỳ và tâm lý phản ứng của người sử dụng về thay đổi giá mà không cần xét đến nguyên nhân và sự cần thiết phải điều chỉnh tăng giá. Ở cuối của giai đoạn này giá thế giới- nguồn-thị trường đã có dấu hiệu biến động mạnh, ở mức cao hơn; các cân đối cung cầu và ngân sách, chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát…đều có nguy cơ bị phá vỡ khi tình trạng đó kéo dài; trong khi chưa tìm được cơ chế điều hành thích hợp, vì mục tiêu ổn định để phát triển kinh tế xã hội, Nhà nước đã sử dụng biện pháp bình ổn giá, khởi đầu cho giai đoạn bù giá cho người tiêu dùng qua doanh nghiệp nhập khẩu trong gần 10 năm tiếp theo. Giai đoạn từ năm 2000 đến trước thời điểm Nhà nước công bố chấm dứt bù giá, vận hành giá xăng dầu theo thị trường (tháng 9/2008) Về cơ bản, nội dung và phương thức quản lý điều hành hoạt động kinh doanh xăng dầu vẫn chưa có sự thay đổi so với giai đoạn trước đó. Trong khi đó, từ đầu những năm 2000, biến động giá xăng dầu thế giới đã có những thay đổi căn bản; mặt bằng giá mới hình thành và liên tiếp bị phá vỡ để xác lập mặt bằng mới trong các năm tiếp theo. Do tiếp tục chính sách bù giá cho người tiêu dùng thông qua doanh nghiệp nhập khẩu khi cố gắng giữ mức giá nội địa ở mức thấp nên số tiền ngân sách bù giá ngày càng gia tăng, từ 1000 tỷ (năm 2000) lên đến 22 nghìn tỷ đồng năm 2008; loại trừ yếu tố trượt giá thì đây cũng là một tốc tộ tăng quá cao; chưa có đánh giá nào đề cập đến khía cạnh này song xét đơn thuần trên số liệu, nếu đầu tư hàng ngàn tỷ đồng này cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh doanh xăng dầu, đã có thể tạo lập một hệ thống kinh doanh xăng dầu đủ lớn và hiện đại, có khả năng cạnh tranh khi mở cửa thị trường xăng dầu trong tương lai gần. Cũng trong giai đoạn này, sau khi nổ ra cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ 2; giá xăng dầu đã dịu lại song cũng đã hình thành một mặt bằng mới; trước nguy cơ không thể cân đối ngân sách cho bù giá xăng dầu, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 187/2003/QĐ-TTg ngày 15/9/2003 về kinh doanh xăng dầu. Cho đến thời điểm này, sự đổi mới cơ chế quản lý, chủ yếu là quản lý giá theo Quyết định 187 vẫn được coi là mạnh mẽ nhất với các tư tưởng cơ bản bao gồm: - Nhà nước xác định giá định hướng; doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh tăng giá bán trong phạm vi + 10% (đối với xăng) và + 5% (đối với các mặt hàng dầu). - Hình thành 2 vùng giá bán; giá bán tại vùng xa cảng nhập khẩu, doanh nghiệp được phép cộng tới vào giá bán một phần chi phí vận tải nhưng tối đa không vượt quá 2% so với giá bán ở vùng gần cảng nhập khẩu. - Chỉ thay đổi giá định hướng khi các yếu tố cấu thành giá thay đổi lớn, Nhà nước không còn công cụ điều tiết, bảo đảm các lợi ích của người tiêu dùng - Nhà nước và doanh nghiệp. Tuy nhiên, vì những lý do khách quan, sự đột phá cơ chế điều hành giá trong QĐ 187 chưa được triển khai trên thực tế; cho đến hiện nay, Nhà nước tiếp tục điều hành và can thiệp trực tiếp vào giá bán xăng dầu, kể cả chiều tăng và giảm. Trong giai đoạn này, mặc dù chưa vận hành điều khoản về giá xong sự ra đời của QĐ 187 năm 2003 và NĐ 55 năm 2007 đã tạo ra một hệ thống phân phối rộng khắp với gần 10.000 cửa hàng xăng dầu trên cả nước, góp phần ổn định, lành mạnh hóa thị trường trước đây khá lộn xộn khi thiết lập quan hệ giữa người nhập khẩu và các đại lý, tổng đại lý khi gắn trách nhiệm, quyền lợi của doanh nghiệp đầu mối với các đại lý, tổng đại lý cũng như giúp cơ quan quản lý chức năng, người tiêu dùng cùng tham gia vào quá trình giám sát hoạt động của các đại lý, tổng đại lý trong việc chấp hành quy định kinh doanh xăng dầu. Đánh giá chung cho giai đoạn này, có thể thấy quyết tâm rất cao để đổi mới cơ chế quản lý kinh doanh xăng dầu thể hiện qua 2 văn bản pháp quy là QĐ 187 và NĐ 55 song cho đến hiện nay, văn bản đã không đi vào thực tế kinh doanh (trừ hệ thống phân phối được thiết lập nhưng việc kiểm soát tính tuân thủ hầu như chưa thực hiện được). Yếu tố ổn định giá vẫn được đặt lên hàng đầu và chính nó đã làm cho các cơ quan quản lý Nhà nước lúng lúng khi phải điều hành đạt các mục tiêu dường như mâu thuẫn nhau ở cùng một thời điểm. Việc áp dụng một biện pháp duy nhất (biện pháp bù giá), làm cho giá nội địa thoát ly giá thế giới trong một chu kỳ quá dài với bối cảnh giá xăng dầu thế giới đã nhiều lần hình thành mặt bằng giá mới cao hơn; ngoài yếu tố cung cầu thì yếu tố địa chính trị cũng ảnh hưởng lớn đến biến động giá; biên độ dao động giá quá mạnh sau mỗi ngày… đã làm cân đối ngân sách bị phá vỡ, doanh nghiệp bị kiệt quệ nguồn lực cho phát triển; việc kìm giá và điều chỉnh sốc tác động tiêu cực đến nền kinh tế, chưa kể hiện tượng đầu cơ chờ tăng giá làm méo mó nhu cầu, chuyển khá nhiều nguồn lực cho đại lý; phần lớn người tiêu dùng không được thông tin đầy đủ về cơ chế điều hành và lợi ích mà Nhà nước đem lại cho nhân dân nên thường xuyên có phản ứng tiêu cực sau mỗi lần điều chỉnh giá (kể cả tăng và giảm), từ đó chưa tạo được sự đồng thuận trong xã hội; thẩm lậu xăng dầu qua biên giới ngày càng phức tạp, khó kiểm soát; Nhà nước thất thu ngân sách kể cả lúc giá thấp hơn và cao hơn nước lân cận do thẩm lậu xăng dầu qua biên giới. Hệ quả rất xấu của cơ chế bù giá xăng dầu kéo dài (mà người tiêu dùng vẫn hiểu là bù lỗ cho doanh nghiệp đầu mối) là việc khó chấp nhận điều chỉnh tăng giá, kể cả mức rất thấp và phản ứng mạnh trước thông tin doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu không có hiệu quả mà luôn được Nhà nước bù lỗ. Cũng cần khẳng định rằng, chỉ khi Nhà nước bảo đảm đủ cân đối ngoại tệ cho nhập khẩu xăng dầu thì mới có thể áp dụng biện pháp bù giá. Đây chính là điểm khác biệt so với giai đoạn trước, khi mà nguồn ngoại tệ từ dầu thô và các nguồn dự trữ tập trung khác của Nhà nước đã đủ lớn. Giai đoạn từ cuối năm 2008 đến nay: Có thể nói, giai đoạn này tuy rất ngắn nhưng đã bộc lộ nhiều nhất những bất cập của cơ chế điều hành giá và thuế xăng dầu. Việc tiếp tục can thiệp giá và áp dụng một cơ chế điều hành trong điều kiện giá xăng dầu thế giới biến động rất nhanh chóng theo hai xu hướng ngược nhau đã dẫn đến một nghịch lý là: trong thời kỳ giá thế giới đã giảm sâu, Nhà nước vẫn phải bỏ một số tiền bù giá tương đương, thậm chí cao hơn so với giai đoạn giá thế giới tăng đỉnh điểm; phân khúc số tiền bù giá cho từng giai đoạn trong năm 2008 có thể thấy rõ nhận định này (khoảng 12 ngàn tỷ /11 ngàn tỷ). Bắt đầu từ ngày 15/12/2009, Nghị định số 84/2009/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 84) của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu sẽ chính thức được áp dụng thay cho Nghị định 55/2007/NĐ-CP ban hành ngày 6/4/2007. Từ năm 2007, Nghị định 55 về kinh doanh xăng, dầu cũng đã xác định mục tiêu chuyển kinh doanh xăng, dầu sang cơ chế thị trường, giảm dần sự bù lỗ của Nhà nước nhưng khi đưa vào vận hành do giá thị trường thế giới biến động phức tạp, tăng giá liên tục, thời kỳ cao điểm giá dầu thô lên tới 148 USD/thùng. Trong bối cảnh như vậy, để ổn định sản xuất và đời sống, Nhà nước tiếp tục điều hành theo hướng "tiệm cận" giá thế giới mà chưa thực hiện hoàn toàn theo cơ chế thị trường. Sự điều hành này dẫn tới việc cơ quan quản lý nhà nước phải chạy theo DN để quản lý giá, còn DN thì bị động, mỗi lần muốn tăng hoặc giảm giá đều phải xin phép, còn người tiêu dùng thì bức xúc sau mỗi lần tăng giá. Ðiều đáng nói hơn do chưa chuyển hẳn sang cơ chế thị trường, Nhà nước vẫn phải bù lỗ cho DN đầu mối kinh doanh xăng, dầu. Theo số liệu công bố của Kiểm toán Nhà nước, tổng số tiền ngân sách phải bỏ ra cấp bù cho các DN đầu mối nhập khẩu năm 2008 là 22 nghìn tỷ đồng. Trong đó, cấp bù lỗ cho Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam là 10.775 tỷ đồng đối với các mặt hàng dầu và 4.000 tỷ đồng đối với mặt hàng xăng. Năm 2009, mặc dù thị trường thế giới giá tiếp tục biến động nhưng với quyết tâm chuyển kinh doanh xăng, dầu sang cơ chế thị trường, Nhà nước đã chấm dứt bù lỗ cho DN nhưng số nộp ngân sách Nhà nước của DN cũng bắt đầu tăng lên. Riêng Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam dự kiến mức nộp ngân sách Nhà nước năm 2009 là 26 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 10 nghìn tỷ đồng so với năm trước, con số này đã khẳng định kết quả của điều hành kinh doanh xăng, dầu theo cơ chế thị trường. Ðể từng bước chuyển kinh doanh xăng, dầu theo cơ chế mới, Nghị định 84 quy định rõ những điều kiện, quyền lợi, trách nhiệm của từng đối tượng trong quá trình kinh doanh xăng, dầu. Ðặc biệt là việc công khai hóa công thức tính toán hình thành giá bán lẻ xăng, dầu, công khai minh bạch để làm căn cứ giám sát quá trình tăng, giảm giá. Cũng theo quy định mới, DN sẽ được phép tự ban hành, công bố và áp dụng giá bán mà không cần đăng ký, xin phép phương án điều chỉnh giá, bỏ qua khâu kiểm tra, phê duyệt phương án như trước đây, từ đó xóa bỏ được tình trạng cơ quan quản lý "chờ" DN đăng ký giá, còn DN nhìn nhau để tăng, giảm, loại bỏ được yếu tố phi thị trường. Theo quy định mới, các DN khác nhau nhập khẩu xăng, dầu ở các thời điểm khác nhau có thể bán ra với mức giá khác nhau, nếu tiết kiệm được chi phí thì có thể đưa ra giá cạnh tranh, đồng thời tự quyết định tăng, giảm theo khung đã quy định khi giá biến động và tự chịu trách nhiệm. Việc vận hành theo cơ chế mới ngoài việc đơn giản hóa khâu quản lý vẫn bảo đảm sự chặt chẽ, còn người tiêu dùng có thể giám sát được giá bán của DN. Tính ưu việt của cơ chế mới còn được thể hiện thông qua chấm dứt bù lỗ cho DN kinh doanh xăng, dầu, giảm chi cho ngân sách Nhà nước. Nghị định này có những quy định mới về điều kiện cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu, điều kiện sản xuất, kinh doanh phân phối xăng dầu và đặc biệt là quy định về giá bán lẻ xăng dầu sẽ được thực hiện theo cơ chế thị trường. Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị định kinh doanh xăng dầu mới là việc Nhà nước mở rộng đối tượng được quyền tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu xăng dầu. Theo đó, thay vì chỉ có 11 đầu mối kinh doanh xăng dầu trước đây và đều là các doanh nghiệp nhà nước, quy chế mới cho phép thương nhân chỉ cần là doanh nghiệp (không bắt buộc phải là doanh nghiệp nhà nước) đều được cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu xăng dầu, tuy nhiên, doanh nghiệp phải đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh như có cơ sở vật chất kinh doanh xăng dầu (cầu cảng chuyên dụng, kho tiếp nhận xăng dầu, phương tiện vận tải xăng dầu thuộc sở hữu của doanh nghiệp, đồng sở hữu hoặc thuê dài hạn). Đây sẽ là nhân tố kích thích cạnh tranh, gia tăng các thành phần kinh tế tham gia vào thị trường kinh doanh xăng dầu, từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh tốt hơn. Những quy định mới tại Nghị định 84 là bước tiến trong quản lý, bảo đảm Nhà nước điều hành quản lý giá xăng, dầu theo cơ chế thị trường. Vấn đề còn lại là để đưa chính sách vào cuộc sống, quyết tâm không quay trở lại cơ chế bao cấp đòi hỏi trong quá trình điều hành, cơ quan quản lý nhà nước cần có thái độ kiên định và kiên quyết vận hành hoàn toàn theo cơ chế thị trường, loại bỏ những yếu tố làm cản trở đến quá trình vận hành theo cơ chế mới, tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của Nhà nước. Bộ Tài chính, Bộ Công thương tổ chức kiểm tra giám sát chặt chẽ, giữ vai trò trọng tài, bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong quá trình kinh doanh, những DN đầu mối không thực hiện đúng quy định phải được xử lý kịp thời, công khai hóa thông tin về sai phạm để người tiêu dùng biết. Quá trình chuyển đổi cơ chế kinh doanh sẽ còn phải đối mặt với những diễn biến phức tạp của thị trường, đòi hỏi các cơ quan quản lý Nhà nước, DN và đặc biệt là người tiêu dùng phải thích ứng với những biến động tăng, giảm giá theo quy luật thị trường, kiên trì thực hiện đúng những quy định tại Nghị định số 84 của Chính phủ. Khái quát lại, từ khi công bố chấm dứt bù giá đến nay, doanh nghiệp vẫn không có thực quyền về xác định giá bán như các văn bản quy định; Nhà nước không có biện pháp kiểm soát các doanh nghiệp kết cấu giá bán xăng để hình thành nguồn trả nợ ngân sách, tạo ra sự mấp mô về giá bán, doanh nghiệp không bình đẳng trong cạnh tranh; các văn bản mới tiếp tục ra đời song cũng không đi vào thực tế (barem thuế nhập khẩu, quỹ bình ổn giá); cơ chế đăng ký giá kéo dài mang nặng tính xin cho (phê duyệt), các cơ quan truyền thông khai thác và đưa ra thông tin về tăng giảm giá rất sớm, không những không có tính định hướng dư luận mà tạo ra áp lực nặng nề cho cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý, nguồn lực từ doanh nghiệp đầu mối chuyển qua đại lý rất khó kiểm soát sự minh bạch và đúng đắn của các nhu cầu ở trước thời điểm tăng giá. Trầm trọng hơn là xã hội không thừa nhận hoạt động kinh doanh xăng dầu là phải có lãi (dù rất thấp) như tất cả các hoạt động kinh doanh khác, trong khi dễ dàng chấp nhận thông tin về hoạt động ngân hàng có thể lãi hàng ngàn tỷ đồng trong 6 tháng 2009 VN là một đất nước được thiên nhiên ưu đãi.Từ xưa cha ông ta cũng đã từng nói rằng VN “rừng vàng biển bạc”. Điều đó đã nói lên rằng tài nguyên thiên nhiên của chúng ta rất phong phú và đa dạng, trong đó có trữ lượng dầu mỏ vô cùng quan trọng. Nguồn thu từ dầu mỏ hằng năm đóng góp đáng kể vào ngân sách, chiếm trung bình 10% cân đối ngân sách quốc gia. Thế nhưng một nghịch lí là trong khi chúng ta xuất khẩu rất nhiều dầu thô ra nước ngoài với giá rẻ để rồi phải mua xăng dầu thành phẩm với cái giá cao hơn rất nhiều lần. Đây cũng chính là một bài toán làm đau đầu các nhà quản lí. Và nhà máy lọc dầu Dung Quất đã ra đời nhằm giúp cho người dân VN có thể được hưởng những thuận lợi đó. Nhưng mọi chuyện lại không đơn giản như thế. Cho tới nay nhiều người vẫn đang phân vân về công cụ bình ổn giá xăng dầu Dung Quất. Liệu nó có thể giúp cho người dân được mua xăng dầu Made in VN với giá thấp hơn hay Nhà nước lại phải tiếp tục bù lỗ, trợ giá… Nếu như trước năm 2000 khi mà việc sử dụng xăng dầu của tư nhân chỉ chiếm 10% so với nhu cầu của cả nước và tình hình giá xăng dầu cũng không có nhiều biến động phức tạp thì không có nhiều phản ứng đối với giá xăng dầu từ phía người tiêu dùng. Thế nhưng hiện nay người tiêu dùng tư nhân đã chiếm tới 50% lượng sử dụng xăng dầu của nước ta. Và đây cũng chính là lực lượng có phản ứng mạnh mẽ đối với sự biến động của giá xăng dầu. Trong tình hình hiện nay, khi mà kinh tế thế giới có nhiều biến động và việc cạn kiệt nguồn dầu mỏ dự trữ thì việc đưa ra một cơ chế điều hành giá theo sự biến động của thị trường vẫn đang là một việc làm cấp thiết, làm sao để cho cả 3 bên Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng đều được lợi cao nhất. Tác động đến nền kinh tế Việt Nam: Giá xăng dầu tăng tác động đến hàng loạt các ngành kinh tế của đất nước. . Biểu hiện đầu tiên và trực tiếp là việc giá cước vận tải tăng. Và sau đó những loại hàng hóa khác, liên quan gián tiếp cũng bị tác động khiến xu hướng tăng giá đang ngày càng được định hình rõ hơn. Tiêu dùng cuối cùng (nhiên liệu cho giao thông, đun nấu…) Tăng mức giá chung Để có cái nhìn tổng quan hơn nhóm xin đưa ra mô hình các chuỗi ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu. Xăng dầu Tái cấu trúc lại nền kinh tế, dịch chuyển lợi thế cạnh tranh giữa các ngành, ảnh hưởng đến đời sống của nhóm dân cư,… Tăng giá các mặt hàng khác (ảnh hưởng gián tiếp, dây chuyền) Giảm méo mó trong nền kinh tế, giúp ổn định vĩ mô trong dài hạn Giảm sức ép thâm hụt ngân sách, giảm mức vay nợ hoặc thâm hụt trong tương lai Giảm sức ép lên ngân sách do cắt giảm trợ giá Tiêu dùng trung gian (nhiên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất chế biến,…) Sức ép tăng lương Một trong các phương pháp quan trọng và hữu hiệu để tính toán ảnh hưởng của sự tăng giá một mặt hang quan trọng như xăng dầu tới giá của các mặt hang khác là sử dụng mô hình I-O (Input- Output). Do các quan hệ dây chuyền trong nền kinh tế, khi một ngành hoặc một nhóm ngành tăng giá (bao gồm cả tăng lương hoặc thuế), sẽ dẫn đến sự tăng giá ở các mức độ khác nhau của các sản phẩm khác trong nền kinh tế. Sự tăng giá này đến lượt nó lại tác động đến các vòng tăng giá tiếp theo ở các hàng hóa khác, kết quả là mức giá chung của toàn bộ nền kinh tế sẽ từ từ tăng lên, cho tới khi đạt một điểm cân bằng mới thì ổn định trở lại. Phép toán cơ bản được sử dụng trong tính toán như sau : P = (I – A’) -1.(V) D P = (I - A')-1. ( V) Trong đó: P là véc tơ giá; I là ma trận đơn vị (ma trận đường chéo với các phân tử trên đường chéo là 1) A là ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp V là véc tơ giá trị gia tăng của các ngành D chỉ sự thay đổi. A’ được xác định như sau: T = A . X* A ij = Tij / Xj Trong đó A ij là phần tử của ma trận A Với X* là ma trận đường chéo với các phần tử trên đường chéo là giá trị sản xuất của các ngành : X = II + V. Trong đó, II là vecto chi phí trung gian và V là giá trị gia tăng. Đặt : T’ là ma trận chuyển vị của ma trận T, thì : T’ = A’.X* A’ ij = T’ij / Xj Với các thông tin cần thiết chúng ta có thể tính toán được mức giá tăng giảm của nền kinh tế khi có sự biến động giá cả các yếu tố đầu vào. Dựa vào cấu trúc phân tích như trên, nhóm muốn đưa ra nhận xét rằng yếu tố tăng giá xăng dầu không hẳn hoàn toàn ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu dùng như các doanh nghiệp đang gặp phải. Nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố tâm lý và cấu trúc thị trường. Yếu tố tâm lý có thể thổi phồng quá mức theo hướng quá bi quan dẫn tới sức ép tăng giá mạnh hoặc cắt giảm sản xuất. Điều này cũng ảnh hưởng mạnh mẽ lên thị trường chứng khoán. Nhận định của nhóm : Theo ý kiến của nhóm, việc cắt giảm trợ cấp xăng dầu về lâu dài có ảnh hưởng tốt cho nền kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế khi tiếp xúc trực tiếp với biến động từ thế giới. Mặc dù việc tăng giá xăng dầu một cách bất ngờ có thể là một phương pháp chống đầu cơ tích trữ cũng như những kỳ vọng không cần thiết, nhưng một bài học kinh nghiệm chính sách vẫn có thể rút ra từ việc tăng giá xăng dầu là cần có những biện pháp thông tin đồng bộ để ổn định tâm lý người tiêu dùng và ổn định sản xuất. Có thể trên thực tế, việc tăng giá xăng dầu không gây ảnh hưởng nhiều như người ta vẫn tưởng, hoặc có thể ảnh hưởng tới đời sống ít hơn so với một số biện pháp tăng giá âm thầm khác, nhưng do xăng dầu là một mặt hang thiết yếu mà đa số dân chúng, đặc biệt là cư dân ở thành thị, tiêu dùng hang ngày, nên ảnh hưởng tâm lý thường rất sâu rộng. Do đó cần có những tính toán cụ thể được công bố để thuyết phục người dân, tạo hiệu ứng trấn an tâm lý và do đó việc bình ổn giá có thể có hiệu quả cao. Danh mục tài liệu tham khảo Giáo trình Kinh tế Vi mô_ Vĩ mô (NXB ĐHQG) Giáo trình Tài chính quốc tế (NXB Thống Kê) Tạp chí khoa học ĐHQG Hà Nội, Kinh tế và kinh doanh (2009) ………

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBiến động giá dầu lửa và ảnh hưởng đến nền kinh tế việt nam.doc
Luận văn liên quan