Đề tài Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, sở hữu trí tuệ được xem như hàn thử biểu thể hiện mức độ phát triển của nền kinh tế quốc gia. Do đó, việc xây dựng được một hệ thống các quy định pháp luật liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung và các quy định xử lý các hành vi xâ m phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng là một việc làm hết sức quan trọng. Qua việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá, so sánh và đối chiếu các vă n bản quy phạm pháp luật khác nhau về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu, có thể thấy rằng hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam khá tương thích và phù hợp với pháp luật của các quốc gia trên thế giới và các điều ước quốc tế quan trọng có liên quan. Tuy nhiên, bên cạnh đó, pháp luật sở hữu trí tụê Việt Nam vẫn còn có nhiều hạn chế: chưa rõ ràng, vẫn còn có sự chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau.

pdf101 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 3968 | Lượt tải: 19download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm bên bị kiện tiếp tục sử dụng nhãn hiệu hàng hóa đang có tranh chấp, hay cấm chuyển dịch quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu… Chính vì vây, trong thời gian giải quyết tranh chấp, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vẫn gắn nhãn hiệu hàng hóa đó lên các sản phẩm của mình và tiếp tục đưa những hàng hóa đó vào các kênh thương mại để lưu thông, làm cho quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa tiếp tục bị xâm phạm.  Số lượng thẩm phán hiểu biết chuyên sâu về sở hữu trí tuệ nói chung còn rất hạn chế. Các vụ việc liên quan đến nhãn hiệu thường mang tính chuyên môn rất cao, đòi hỏi những người xét xử phải thực sự có trình độ tốt trong lĩnh vực này. Hiện nay, để đưa ra phán quyết, Toà án còn phụ thuộc quá nhiều vào ý kiến của cơ quan chuyên môn.  Hiện nay, tại Việt Nam vẫn chưa có các toà án SHTT chuyên trách với các thủ tục xử lý tương ứng. Có như vậy, thì việc xử lý các hành vi xâm 68 phạm quyền sở hữu trí tuệ sẽ được tập trung hơn, cũng như hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tụê đối với nhãn hiệu sẽ được nâng cao. f. Cảnh sát kinh tế Lực lượng Cảnh sát kinh tế thường xuyên tiến hành các biện pháp, phối hợp với các lực lượng, các ngành, các cấp phát hiện và điều tra các vụ việc liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung cũng như cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, thu giữ hàng hóa trị giá hàng trăm tỷ đồng. Tại Hội nghị sơ kết công tác phòng ngừa đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ năm 2008, từ năm 2002 đến năm 2008, các cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý hàng ngàn vụ việc với gần 1.500 đối tượng có hành vi vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung. Song, lực lượng Cảnh sát kinh tế vẫn vấp phải hạn chế chung, đó là trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhìn chung còn thấp. Do đó, việc phát hiện, điều tra những vụ việc trong thời gian vừa qua là một thành tích đáng ghi nhận, nhưng so với thực tiễn vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trên thị trường thì vẫn còn rất hạn chế. g. Cơ quan thanh tra khoa học và công nghệ Theo Nghị định 12/1999/NĐ-CP ngày 06/03/1999, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ ở trung ương và Thanh tra Sở khoa học và công nghệ ở cấp tỉnh là cơ quan thanh tra chuyên ngành sở hữu công nghiệp, một trong những cơ quan thực thi quyền sở hữu công nghiệp bằng biện pháp hành chính. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các biện pháp xử lý vi phạm của Thanh tra chuyên ngành chưa thực sự mạnh mẽ và kiên quyết. Mãi cho đến ngày 01/09/2006, cơ quan này mới lần đầu tiên xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN[43]. Hơn nữa, số lượng cán bộ thanh tra còn quá ít để thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành SHCN, hầu như là thanh tra chung cho các lĩnh vực khoa học công nghệ. Chính vì vậy, thực tế hoạt động thanh tra và xử lý vi phạm hành chính đối với các hành 69 vi xâm phạm quyền SHCN nói chung và quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, việc chủ động tiến hành thanh tra, phát hiện và xử lý vi phạm còn hạn chế. Thêm vào đó, trình độ chuyên môn của các cán bộ thanh tra còn thấp cũng làm cho hoạt động thanh tra kém hiệu quả. 2.2. Các cơ quan hỗ trợ thực thi Cơ quan hỗ trợ thực thi pháp luật về xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng trước tiên phải kể đến Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Trong thời gian qua, Hội SHTT Việt Nam đã đóng góp rất nhiều trong việc nâng cao nhận thức về SHTT nói chung và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng thông qua các buổi sinh hoạt của chi hội, các lớp tập huấn về SHTT. Tuy nhiên, Hội SHTT chưa thực sự chú trọng đến việc tự bảo vệ cho quyền lợi của hội viên theo quy định của pháp luật mà vẫn còn trông chờ vào cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh Hội SHTT thì vai trò của các công ty đại diện SHCN cũng góp phần đáng kể trong công tác xử lý, ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Hầu hết khiếu nại về xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra đều thông qua sự tư vấn và giải quyết của các công ty đại diện SHCN. Với sự am hiểu về pháp luật SHTT, các cơ quan này đã góp phần giúp các doanh nghiệp khiếu nại thành công. Trong thời gian qua, đáng chú ý phải kể đến các công ty đại diện SHTT Banca, công ty SHTT INVENCO, công ty Wincolaw… đã giúp rất nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thành công trong việc khiếu nại. Tuy nhiên, hệ thống tư vấn và các công ty đại diện SHCN này chưa thực sự hoạt động trên phạm vi rộng, chủ yếu chỉ tập trung tại các thành phố lớn, hơn nữa phí tư vấn cũng còn khá cao cũng là một điểm hạn chế đối với các cơ quan hỗ trợ thực thi này. 70 3. Thực trạng hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu Các chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đóng vai trò chủ chốt trong việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Song, hiện nay, phần lớn các chủ sở hữu quyền SHCN đối với nhãn hiệu chưa thực sự chú ý đến việc bảo vệ quyền lợi của mình, chưa có ý thức cao trong việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Trong khi đó, trình độ và hiểu biết về tác hại của xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với sức khỏe, lợi ích cộng đồng còn rất hạn chế. Hiện nay, rất ít doanh nghiệp có bộ phận chuyên chăm lo về SHTT, hầu như chưa có doanh nghiệp nào có chiến lược về SHTT, coi vấn đề SHTT là một bộ phận trong chiến lược phát triển của mình. Tài sản trí tuệ chưa trở thành đối tượng quản lý như quản lý tài sản thông thường. Hơn nữa, trong thời gian qua, các doanh nghiệp đã chú trọng vào việc xây dựng thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi, chất lượng hàng hóa nhưng lại chưa quan tâm đến khâu đăng kí bảo hộ nhãn hiệu của mình ở những khu vực thị trường đã và sẽ phát triển. Chẳng hạn như, hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh còn chưa nhận thức được rằng: hiệu lực bảo hộ nhãn hiệu chỉ được xác lập sau khi được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu. Do đó, ngay sau khi nộp đơn yêu cầu đăng kí nhãn hiệu, rất nhiều daonh nghiệp đã tiến hành quảng cáo, in ấn, sử dụng nhãn hiệu đó cho các hàng hóa, dịch vụ của mình, mà không lường hết được hậu quả pháp lý của hành vi đó là đơn không được chấp thuận, có thể do Cục SHTT từ chối do không đáp ứng được các tiêu chuẩn bảo hộ, hoặc do bên thứ ba phản đối với lý do xâm phạm đến quyền của họ. Đây chính là hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra rất phổ biến trong quá trình đăng kí nhãn hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam. Hậu quả là các doanh nghiệp này phải chịu các thiệt hại về vật chất cũng như uy tín của mình. Một ví dụ cụ thể cho tình trạng này đó là trường hợp một doanh nghiệp ở Việt Nam nộp 71 đơn đăng kí bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa “Kando và Hình” cho sản phẩm áo đi mưa. Sau khi nộp đơn đăng kí nhãn hiệu, chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu, chủ doanh nghiệp đã tiến hành việc quảng cáo, in ấn nhãn hiệu, sử dụng nhãn hiệu cho các sản phẩm của mình mà không biết rằng dấu hiệu đăng kí “Kando và Hình” có các biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh với nhãn hiệu “Rando và Hình” đã được cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu cho sản phẩm cùng loại trước đó. Chủ sở hữu nhãn hiệu “Rando và Hình” đã yêu cầu chủ doanh nghiệp sử dụng dấu hiệu “Kando và Hình” phải ngừng ngay việc sử dụng, loại bỏ dấu hiệu trên các sản phẩm, biển hiệu, tiêu huỷ các giấy tờ, tài liệu có gắn dấu hiệu “Kando và Hình”. Hậu quả là doanh nghiệp này phải chịu mất mát về tài sản và phải thay đổi toàn bộ kế hoạch sản xuất, kinh doanh của mình. Nhiều doanh nghiệp chưa có ý thức trong việc phát hiện và ngăn ngừa việc làm giả các sản phẩm của mình, chưa chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, kiểm soát. Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh Việt Nam khi bị xâm phạm đến quyền và lợi ích của mình vẫn còn có tâm lý ngại tiếp xúc với Tòa án, ngại đưa việc tranh chấp ra Tòa án vì sợ mang tiếng bị coi là phải ra hầu tòa, không muốn đưa vấn đề ra công khai trước công chúng, sợ ảnh hưởng đến uy tín cũng như doanh số và mức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Như vậy việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu từ phía các chủ thể cũng vẫn còn rất hạn chế. 4. Đánh giá hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam 4.1. Thành tựu Trong thời gian qua, hoạt động thực thi pháp luật về xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đã đạt được những thành công sau: 72  Bộ máy thực thi pháp luật về xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đã được hình thành từ hệ thống quản lý hành chính cho đến hệ thống tư pháp.  Hệ thống quản lý hành chính đã phản ánh được thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng được phân định cũng khá rõ ràng giữa các bộ ngành thuộc Trung ương và các tỉnh thành. 4.2. Hạn chế Bên cạnh những thành tựu đạt được trong thời gian qua, hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu của hệ thống thực thi và hỗ trợ thực thi cũng như chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp còn có những hạn chế sau:  Trình độ và chất lượng hoạt động của các cơ quan nhà nước chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, cũng như chưa đáp ứng được nhu cầu hội nhập quốc tế. Quyền SHTT nói chung cũng như quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan nhãn hiệu còn là một khái niệm mới mẻ với Việt Nam, do vậy số lượng đội ngũ cán bộ trong cơ quan thực thi còn thiếu, chất lượng còn hạn chế. Các cán bộ chuyên trách trong hệ thống thực thi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu có trình độ đào tạo cao còn hiếm.  Việc thực thi pháp luật về xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói chung chủ yếu là hệ thống hành chính. Tuy nhiên hệ thống này lại bộc lộ rất nhiều bất cập sau: Thứ nhất, thiếu sự hợp tác chặt chẽ mang tính chất ổn định giữa các chủ thể quyền SHCN đối với nhãn hiệu và các cơ quan thực thi. Các doanh nghiệp vẫn còn e ngại trong việc tiếp xúc với các cơ quan thực thi pháp luật. Thứ hai, việc phân định trách nhiệm giữa các cơ quan là không rõ ràng, có sự chồng chéo. Hiện nay, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với 73 các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong đăng kí nhãn hiệu thuộc về nhiều cơ quan khác nhau, bao gồm: Uỷ ban nhân dân các cấp, Thanh tra Khoa học và Công nghệ, Thanh tra văn hóa, Cảnh sát kinh tế, Quản lý thị trường, Hải quan. Từ đó, làm nảy sinh tình trạng chồng chéo, đùn đẩy lẫn nhau và làm cho hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trở nên rắc rối, phức tạp. Mặt khác bản thân từng cơ quan thực thi vẫn chưa thể thực hiện đầy đủ các biện pháp nhằm xử lý triệt để các hành vi canh tranh không lành mạnh này, dẫn đến người bị vi phạm không biết khiếu nại tại đâu. Chẳng hạn, khi bị xâm phạm do hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc chọn lựa giữa Toà án và Cục QLCT. Nếu doanh nghiệp gửi hồ sơ khiếu nại lên Cục QLCT thì Cục sẽ xử lý bằng cách phạt vi phạm hành chính đối với bên vi phạm và khắc phục hậu quả do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra. Còn nếu muốn được bồi thường, doanh nghiệp bị thiệt hại phải sử dụng quyết định của Cục để khởi kiện ra Toà án dân sự. Thứ ba, vai trò của Toà án trong việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong SHCN còn rất mờ nhạt so với các cơ quan hành chính. Thủ tục xét xử các vụ vi phạm còn rườm rà, phức tạp. Đội ngũ thẩm phán, điều tra viên xét xử các vụ vi phạm còn hạn chế cả về số lượng và trình độ. 74 CHƢƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM I. Yêu cầu đối với hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế thế giới đã trở thành một xu thế khách quan trong thế giới ngày nay khi làn song toàn cầu hoá đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ. Hội nhập kinh tế quốc tế của các nền kinh tế chuyển đổi, trong đó có Việt Nam là quá trình thực hiện tự do hóa thương mại và thực hiện cải cách toàn diện theo hướng mở của thị trường. Hội nhập có nghĩa là phải chấp nhận áp lực cạnh tranh sẽ gia tăng mạnh hơn; tham gia phân công lao động quốc tế để khai thác các tiềm năng bên ngoài, kết hợp và phát huy tối đa nội lực, không ngừng nâng cao sức mạnh về kinh tế và vị thế quốc gia. Đó là quá trình đầy thử thách và cam go nhưng cũng chứa đựng nhiều cơ hội lớn đối với nền kinh tế của chúng ta nếu biêt nắm bắt và tận dụng. Nhận thức được tầm quan trọng của hội nhập kinh tế thế giới, từ Đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã đề cập đến vấn đề nay và đã bước đầu đề ra các hướng đi mới đối với nền kinh tế trong nước. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, với Nghị quyết số 07-NQ/TW về hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta tiếp tục khẳng định “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”. Nghị quyết này đã kế thừa, cụ thể hóa và triển khai các đường lối của Đảng đề ra từ trước đến nay, đồng thời đáp ứng kịp thời những đòi hỏi khách quan của tiến trình 75 hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Chính nhờ vào chủ trương đúng đắn này mà trong những năm qua, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng bị boa vây, cấm vận, cô lập, tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế nước ta trên chính trường và thương trường quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã kí kết nhiều Hiệp định thương mại song phương và đa phương quan trọng, thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế, trở thành thành viên của các tổ chức như ASEAN, ASEM, APEC, và đặc biệt là vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Gia nhập WTO đã đem lại nhiều cơ hội thuận lợi cho Việt Nam, nhưng cũng đặt ra nhiều yêu cầu đối với nước ta, đặc biệt là vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng cũng như các biện pháp chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ dẫn đến việc càng ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài tham gia sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam với rất nhiều chủng loại hàng hóa rất phong phú và đa dạng. Điều này cũng sẽ khiến cho tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, làm giả, làm nhái nhãn hiệu cũng vì thế mà càng gay gắt hơn, phổ biến hơn và tinh vi hơn. Trước thực trạng như vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và nâng cao hiệu quả của các hoạt động chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng là việc làm rất cấp bách, đòi hỏi sự chung sức từ rất nhiều phía, không chỉ trông chờ vào các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà các doanh nghiệp là chủ sở hữu nhãn hiệu và người tiêu dùng cũng cần tham gia vào công cuộc đấu tranh chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam. 76 II. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam 1. Hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu Như khoá luận đã đề cập tới tại phần trên, các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và các biện pháp, thủ tục xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, trong đó có các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu khá đầy đủ. Tuy nhiên, khi đi vào thực tiễn thì các quy định này tỏ ra còn nhiều bất cập. Chính vì vây, để hoàn thiện hệ thống pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiêp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, đáp ứng nhu cầu thực tiễn cũng như phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần phải thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: a) Cần tập trung, thống nhất các quy định pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong một văn bản quy phạm pháp luật độc lập Hiện nay, hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đang được quy định rải rác, tản mạn ở quá nhiều văn bản pháp luật có hiệu lực khác nhau. Điều này làm phát sinh nhiều kẽ hở, nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Thủ tục, trách nhiệm của bên khiếu nại cũng như các cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ là hoàn toàn khác nhau. Sự khác nhau này sẽ khiến cho các doanh nghiệp bị xâm phạm khó khăn trong việc chọn lựa cách thức khiếu nại. Đồng thời việc phân định trách nhiệm cụ thể của các cơ quan có thẩm quyền xử lý cũng không rõ ràng. Kinh nghiệm của các nước phát triển với bề dày lịch sử bảo hộ SHTT hàng trăm năm như Anh, Pháp, Nhật Bản… cũng như các nước đang phát 77 triển, công nghiệp mới mà pháp luật ra đời muộn hơn như Hàn Quốc, Trung Quốc đều xây dựng các luật độc lập cho từng đối tượng của SHTT, theo đó, luật chống cạnh tranh không lành mạnh được quy định riêng, không nằm cùng với các đối tượng SHCN khác. Chẳng hạn, Nhật Bản có Luật Chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hay Hàn Quốc có Luật chống cạnh tranh không lành mạnh và bí mật thương mại. Khi quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xây dựng trong một đạo luật riêng thì có thể quy định một cách chi tiết nhất về chống cạnh tranh không lành mạnh trong văn bản pháp lý cao, thống nhất, từ đó, tránh được tình trạng quy định rời rạc như trong các văn bản riêng lẻ tại Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời khi áp dụng có thể tách biệt với các đối tượng khác. b) Cần phải đa dạng hóa các hình thức xử lý vi phạm Các hình thức xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu chỉ mới dừng lại ở xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp dân sự hay hình sự ít được áp dụng trên thực tế. Trong khi đó, chỉ có các hình thức xử phạt bằng biện pháp dân sự hay hình sự mới có thể ngăn chặn dứt điểm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu hiện nay. Hơn thế nữa, hiện nay theo quy định của Bộ luật hình sự thì chỉ có các cá nhân có hành vi vi phạm mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, trong thời gian tới cần mở rộng phạm vi đối tượng bị xử lý bằng biện pháp hình sự sang cả các pháp nhân, bởi lẽ nhóm tội về sở hữu trí tuệ nói chung chủ yếu là do tổ chức thực hiện. Ngoài ra, từ thực tiễn kinh nghiệm một số nước cho thấy, song song với việc áp dụng các biện pháp hành chính, dân sự và hình sự, cần đẩy mạnh việc áp dụng các biện pháp kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu như sau:  Thưởng tiền theo tỷ lệ % trên giá trị vi phạm cho những người có công phát hiện và thông báo cho các cơ quan chức năng về việc vi phạm liên 78 quan đến cạnh tranh không lành mạnh trong sở hữu công nghiệp nói chung cũng như liên quan đến nhãn hiệu nói riêng.  Áp dụng mức phạt tiền cao hơn gấp nhiều lần so với lợi nhuận mà doanh nghiệp vi phạm thu được từ hành vi làm giả, làm nhái nhãn hiệu.  Động viên người tiêu dùng tẩy chay các hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Các biện pháp kinh tế trên có tác động kích thích doanh nghiệp, người tiêu dùng tham gia vào công tác xử lý, ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. c) Cần phải có những quy định về xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu điều chỉnh từng lĩnh vực cạnh tranh Hiện nay, tại Việt Nam mới chỉ có một số văn bản liên quan đến hoạt động kinh doanh xe máy, đó là Quyết định 147/2002/QĐ-TTg ngày 25/10/2002 về cơ chế điều hành quản lý xuất nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp xe hai bánh gắn máy và phụ tùng, giai đoạn 2002-2005 và Quyết định 01/2003/QĐ-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành các quy định cụ thể về việc quản lý chất lượng và SHCN áp dụng cho xe máy, dộng cơ và phụ tùng xe máy được sản xuất, lắp ráp trong nước và nhập khẩu. Vẫn còn rất nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác mà cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu xảy ra rất nhiều nhưng lại chưa có các quy định điều chỉnh cụ thể. Cụ thể như cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên miền, sử dụng nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng để làm tên miền đang xảy ra ngày càng phổ biến trong thời đại ngày nay. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có quy định riêng nào điều chỉnh lĩnh vực này. 2. Kiện toàn và tăng cường năng lực của hệ thống cơ quan thực thi Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu có đầy đủ và chi tiết đến đâu mà việc thực thi, áp dụng các quy định này vào thực tiễn không hiệu quả thì 79 việc làm trên cũng trở nên vô nghĩa. Chính vì vậy, việc hoàn thiện bộ máy thực thi là một việc làm rất quan trọng nhằm giảm thiểu các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu hiện nay. Khoá luận xin đưa ra các giải pháp chung cũng như giải pháp cho từng cơ quan thực thi cụ thể. 2.1. Giải pháp chung  Phân định rõ rang nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan thực thi , khắc phục tình trạng chồng chéo về thẩm quyền giữa các cơ quan này.  Nâng cao trình độ chuyên môn của các cán bộ, nhân viên trong các cơ quan thực thi.  Tăng cường sự phối hợp hành động của các cơ quan này trong hoạt động thực thi.  Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tăng cường tổ chức bộ máy, biên chế của các cơ quan thực thi từ Trung ương đến địa phương  Củng cố và phát triển hệ thống hỗ trợ thực thi gồm các tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp và các hiệp hội bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. 2.2. Giải pháp cụ thể cho từng cơ quan thực thi  Hoàn thiện chức năng của Cục QLCT Từ trước đến nay Cục QLCT luôn đóng một vai trò quan trọng trong vệc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung cũng như cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Tuy nhiên, hoạt động thực tiễn của Cục trong vài năm trở lại đây cho thấy Cục QLCT chưa thực sự hoạt động có hiệu quả. Do vậy, khoá luận xin đưa ra một vài biện pháp chính nhằm tăng cường vai trò của Cục QLCT trong hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu như sau:  Đơn giản hóa thủ tục xử lý các vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. 80  Nâng cao công tác tuyên truyền, tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu nói riêng, để lắng nghe ý kiến của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh là chủ sở hữu nhãn hiệu, từ đó tạo mối quan hệ mật thiết với các doanh nghiệp trong công tác xử lý cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam  Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của lực lượng chuyên trách bằng cách tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn, cũng như kiến thức về SHTT nói chung và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng.  Hoàn thiện chức năng của Cục SHTT Nhìn chung, trong thời gian qua, Cục SHTT đã thực hiện chức năng của mình khá tốt. Tuy nhiên, hiện nay, số lượng các đơn đăng kí nhãn hiệu hàng hóa gửi về Cục ngày một tăng khiến Cục luôn trong tình trạng quá tải, việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong đăng kí nhãn hiệu hàng hóa cũng gặp không ít khó khăn. Do đó, để các phòng ban của Cục SHTT làm tốt công tác của mình cần phải có các biện pháp sau:  Để bảo đảm hiệu quả hoạt động của mình, Cục Sở hữu trí tuệ cần phát triển hệ thống các Chi nhánh Sở hữu trí tuệ ở các trung tâm kinh tế - thương mại, các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước là những nơi có hoạt động kinh tế - thương mại, khoa học phát triển, dễ phát sinh các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung, cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng  Nâng cao năng lực của các cán bộ, nhân viên của Cục, nhất là các cán bộ thuộc phòng thực thi và giải quyết khiếu nại và 2 phòng đăng kí nhãn hiệu bởi các nhãn hiệu hàng hóa có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh sẽ bị từ chối sau quá trình thẩm định nội dung tại các phòng đăng kí và thông 81 qua việc giải quyết khiếu nại của bên thứ ba tại phòng thực thi và giải quyết khiếu nại, nếu khiếu nại là chính đáng.  Cần rút ngắn thời gian từ lúc tiếp nhận đơn yêu cầu đăng kí nhãn hiệu của các doanh nghiệp cho đến lúc cấp Giấy chứng nhận đăng kí. Bởi chỉ có như vậy mới giảm thiểu được các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh xảy ra trong khoảng thời gian này.  Cần nâng cao và mở rộng dịch vụ tra cứu nhãn hiệu hàng hóa phục vụ cho hoạt động đăng kí nhãn hiệu của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh. Dịch vụ tra cứu nhãn hiệu có hiệu quả sẽ giúp loại trừ các nhãn hiệu có dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn ngay từ lúc mới tiếp nhận đơn, giảm bớt khối lượng công việc cho các cán bộ của Cục SHTT trong quá trình thẩm định.  Hoàn thiện hệ thống toà án Thực trạng công tác xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến SHCN nói chung cũng như cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng của hệ thống Toà án tại Việt Nam còn rất nhiều hạn chế so với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp. Để khắc phục được các hạn chế này, hệ thống Toà án cần thực hiện các giải pháp sau:  Đơn giản hóa thủ tục xét xử, giảm bớt thời gian xử lý của mỗi khâu trong quá trình xét xử nhằm đảm bảo được quyền và lợi ích của các doanh nghiệp khiếu kiện.  Cần đưa ra căn cứ bồi thường thiệt hại rõ ràng nhằm tránh các tranh cãi không đáng có về mức bồi thường thiệt hại của các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thời gian qua.  Cần nâng cao trình độ xét xử của các thẩm phán và bộ phận giúp việc cho thẩm phán, đặc biệt cần tổ chức các khoá học ngắn và dài hạn cho các thẩm phán tại nước ngoài nhằm tiếp thu những kinh nghiệm và vận dụng 82 vào các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.  Cần quy định cụ thể, minh bạch các biện pháp chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến SHCN nói chung cũng như liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, tránh tình trạng tranh cãi sau khi xét xử.  Cần xây dựng hệ thống Tòa án chuyên trách trong việc xử lý các vụ việc liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung cũng như cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng. Bởi vì các tranh chấp phát sinh từ lĩnh vực SHTT thường rất phức tạp, gắn liền với các yếu tố kỹ thuật chuyên sâu, việc đánh giá bản chất tranh chấp là vấn đề không đơn giản. Do đó việc xây dựng hệ thống Toà án chuyên trách cùng các thủ tục tương ứng là rất cần thiết nhằm giải quyết các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh hiệu quả hơn.  Tăng cƣờng chức năng của cơ quan quản lý thị trƣòng Để nâng cao hiệu quả công tác chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu, lực lượng quản lý thị trường cần thực hiện một số biện pháp sau:  Nâng cao năng lực trình độ, kiến thức chuyên môn.  Thống nhất quy trình kiểm tra, xử lý hàng hóa vi phạm trong toàn bộ lực lượng.  Phương pháp kiểm tra, kiểm soát phải nhạy bén, sáng tạo và phải phù hợp vói yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn, từng khu vực nhằm đạt hiệu quả cao nhất.  Cần có sự phối hợp nhịp nhàng với các cơ quan thực thi khác cũng như với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong việc xử lý vi phạm. 83  Nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan Hải quan Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ như hiện nay thì vai trò của cơ quan hải quan trung ương cũng như các chi cục hải quan cửa khẩu là rất quan trọng trong việc phát hiện và xử lý các hành vi làm hàng giả, xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu của các doanh nghiệp. Bởi lẽ, công tác đấu tranh chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nếu chỉ thực hiện trong nội địa thì rất khó có thể đạt được hiệu quả triệt để, vì hàng hóa có dấu hiệu vi phạm đã được phân phối đi khắp nơi trong nội địa. Thực tiễn trong thời gian qua cho thấy hiệu quả hoạt động của cơ quan thực thi này vẫn chưa cao. Do đó, khoá luận xin đưa ra một vài biện pháp cơ bản nhằm khắc phục các hạn chế của cơ quan Hải quan như sau:  Trước hết, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính trong quá trình giải quyết các hành vi xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa hiện nay. Cụ thể, khi chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa phát hiện ra hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp vi phạm, thì có thể bỏ qua bước gửi công văn yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, bởi trên thực tế, công việc đó của các chủ sở hữu nhãn hiệu bị vi phạm là không cần thiết. Hay khi chứng minh mình là chủ thể quyền SHTT đối với nhãn hiệu, các doanh nghiệp bị vi phạm có thể nộp chúng từ với bản sao mà không cần công chứng kèm theo bản chính, như vậy sẽ giúp giảm bớt rất nhiều phiền hà cho các bên liên quan.  Thiết lập cơ quan giám định độc lập về hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.  Ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và các biện pháp nhằm ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại biên giới. 84  Xây dựng bộ phận chuyên trách về SHTT nói chung tại cơ quan Tổng cục hải quan cũng như tại các cơ quan Hải quan địa phương với trách nhiệm và thẩm quyền cụ thể. Thêm vào đó là không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của các công chức hải quan và trang bị hệ thống trang thiết bị thông tin đầy đủ, hiện đại.  Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh một cách có hiệu quả. Bởi đây chính là điểm khởi đầu, có vai trò then chốt đối với công tác đấu tranh chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng. Cụ thể, theo ý kiến của rất nhiều doanh nghiệp hiện nay thì hồ sơ xác minh liệu hàng hóa có vi phạm quyền sở hữu công nghiệp hay không nên kèm theo ảnh mẫu của hàng hóa, bởi đôi khi qua những mô tả khác như xuất xứ, đường đi… của hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, chưa đủ cơ sở để xác định thực hư.  Hợp tác quốc tế nhằm tiếp thu những kinh nghiệm của Hải quan các nước trong việc chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.  Nâng cao năng lực của cảnh sát kinh tế Cần đào tạo lực lượng cảnh sát kinh tế có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ về quyền SHTT nói chung và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng. Thiết lập cơ chế trao đổi thông tin hai chiều giữa lực lượng cảnh sát điểu tra tội phạm kinh tế với các doanh nghiệp và công dân nhằm phát hiện tội phạm nói chung và tội sản xuất, buôn bán hàng giả nói riêng. Ngoài ra, tại rất nhiều quốc gia trên thế giới còn thiết lập mạng lưới tình báo kinh tế nhằm phục vụ công tác điều tra các vụ việc vi phạm liên quan đến SHTT nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, kịp thời phát hiện và xử lý ngay từ đầu các hành vi cạnh tranh không lành mạnh này. Có như vậy, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong đó có hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu mới được xử lý có hiệu quả. 85  Nâng cao hiệu quả hoạt động của Thanh tra khoa học và công nghệ Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Thanh tra khoa học công nghệ, cần thiết phải tăng cường cán bộ thanh tra khoa học công nghệ cả về số lượng và chất lượng. Tổ chức các lớp huấn luyện về SHTT từ đó nâng cao kiến thức, năng lực của ban thanh tra trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến cạnh tranh khồng lành mạnh trong lĩnh vực SHCN. 3. Nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh_ chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Cho dù các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, trong đó có hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa của các cơ quan có thẩm quyền đạt hiệu quả cao đến đâu thì cũng chỉ là những biện pháp tạm thời, ngăn chặn hành vi vi phạm trong khoảng thời gian xác định. Để giảm thiểu các vụ việc cạnh tranh không lành mới sẽ phát sinh sau này và không để các vụ việc đã bị xử lý nhưng vẫn tái phạm nhiều lần thì ý thức, nhận thức của các doanh nghiệp về vấn đề này mới chính là chìa khoá giúp tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp trên thị trường hiện nay. Do vậy, để làm được điều đó, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hiện nay cần phải áp dụng các biện pháp cụ thể sau:  Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cần thiết lập bộ phận chuyên chăm lo về sở hữu trí tuệ, coi sở hữu trí tuệ như là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển của mình. Phải nhận thức được rằng tài sản trí tuệ cũng cần được quản lý chặt chẽ như các loại tài sản thông thường khác.  Một biện pháp quan trọng nhằm ngăn chặn có hiệu quả các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu từ phía doanh nghiệp đó là đẩy mạnh hoạt động nhượng quyền sản xuất các hàng hóa có gắn các nhãn hiệu có uy tín cao trên thị trường. Khi số lượng và giá cả của các hàng hóa có uy tín, chất lượng cao trên thị trưòng không đáp ứng được nhu cầu và khả 86 năng của người tiêu dùng thì các hàng hóa này rất dễ bị làm giả, làm nhái. Việc nhượng quyền sản xuất hàng hóa có gắn các nhãn hiệu có uy tín cao trên thị trường sẽ giúp người tiêu dùng có cơ hội tiếp cận với các sản phẩm do các hãng sản xuất có uy tín trên thế giới với giá cả hợp lý hơn so với sản phẩm cùng loại được sản xuất bởi chính chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp do các chi phí về nhân công, thuế, vận chuyển… được giảm đi rất nhiều. Khi đó, người tiêu dùng sẽ tránh được việc phải lựa chọn các loại hàng hóa, dịch vụ cùng loại có chất lượng thấp hoặc hàng hóa, dịch vụ cùng loại nhưng không rõ nguồn gốc. Do đó, biện pháp này sẽ góp phần ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trên thị trường.  Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cũng cần đẩy mạnh hơn nữa cải tiến công nghệ, đưa ra các mẫu mã ký hiệu có hàm lượng công nghệ cao, bảo đảm tính an toàn cho các sản phẩm của doanh nghiệp mình, để tội phạm khó có thể thực hiện các hành vi xâm pham, làm nhái nhãn hiệu hàng hóa. Đồng thời cần chú trọng nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.  Trước khi tiến hành đăng kí nhãn hiệu cho các sản phẩm của mình, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cần tìm hiểu kĩ càng, rà soát các nhãn hiệu đã được đăng kí trước đó cho các hàng hóa, dịch vụ cùng loại, nhằm tránh đăng kí các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với các nhãn hiệu đã được bảo hộ. Doanh nghiệp có thể thực hiện công việc này thông qua dịch vụ tra cứu tại Cục Sở hữu trí tuệ cũng như dựa vào sự tư vấn của các công ty tư vấn, đại diện về sở hữu công nghiệp.  Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh là chủ sở hữu của các nhãn hiệu đã được cấp Giấy chứng nhận đăng kí cũng cần phải thường xuyên tự mình hoặc thông qua các công ty đại diện sở hữu công nghiệp theo dõi thường xuyên các Công báo được xuất bản hàng tháng bởi Cục Sở hữu trí tuệ nhằm sớm phát hiện các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mình, gửi đơn khiếu nại đến Cục SHTT nhằm ngăn chặn ngay 87 từ đầu các hành vi nhái nhãn hiệu hàng hóa của các sản phẩm cùng loại. Việc làm này rất quan trọng trong việc ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt đông đăng kí nhãn hiệu tại Việt Nam.  Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nên phân tán việc kiểm soát các vi phạm bằng cách đẩy mạnh kênh phân phối hàng hóa. Việc cung cấp hàng hóa theo những kênh phân phối nhất định dẫn đến bất cứ nơi nào khách hàng dễ dàng chọn lựa và mua hàng hơn và việc cạnh tranh không lành mạnh sẽ khó có cơ hội phát triển.  Tăng cường việc phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng. Khi bị xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, các tổ chức, cá nhân phải chủ động cung cấp thông tin về hàng hóa, các chứng cứ về hành vi vi phạm cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý để các cơ quan chức năng có đủ cơ sở xử lý, sớm ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh này. Hơn nữa, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng cấn tích cực tham gia các hội thảo chuyên đề về sở hữu công nghiệp được tổ chức tại các cơ quan này để nhận được các giải đáp về các vấn đề còn thắc mắc và biết cách phòng vệ chính đáng trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.  Tăng cường mối quan hệ mật thiết với người tiêu dùng. Trong kinh doanh, người tiêu dùng đóng góp một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Trong công tác đấu tranh chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu cũng vậy, để có được các thông tin nhanh nhất, chính xác nhất về các sản phẩm vi phạm trên thị trường, doanh nghiệp cần có sự hợp tác, hỗ trợ từ phía người tiêu dùng, bởi người tiêu dùng là người trực tiếp sử dụng sản phẩm nên họ hiểu rõ hơn ai hết về chất lượng của sản phẩm. Cách tốt nhất để có được thông tin phản hồi từ phía người tiêu dùng đó là thành lập các đường dây nóng về chống hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu. Thông tin về đường dây nóng phải được thể hiện rõ trên bao bì sản phẩm. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể tổ chức các buổi hội nghị 88 khách hàng nhằm giải đáp các thắc mắc của người tiêu dùng về các sản phẩm của mình, để họ có thể nhận biết được đâu là sản phẩm thật của công ty, đâu là sản phẩm bị nhái do hành vi cạnh tranh không lành mạnh.  Liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp trong công tác chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng. Để chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngày càng tinh vi hơn hiện nay, thì việc phối hợp với các cơ quan chức năng hay người tiêu dùng là chưa đủ mà các doanh nghiệp cần hợp tác chặt chẽ với nhau thông qua các diễn đàn doanh nghiệp, các hiệp hội các nhà sản xuất trong cùng ngành. Các diễn đàn, hiệp hội này sẽ có đủ sức mạnh kinh tế để chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có ảnh hưởng đến các thành viên trong hiệp hội cũng như tạo tiếng nói đủ trọng lượng để khiếu kiện lên các cơ quan có thẩm quyền và phối hợp hoạt động một cách có hiệu quả với các cơ quan này. 4. Các giải pháp khác a. Công khai và bài trừ một cách rộng rãi đối với hàng hóa có hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu Điều quan trọng nhất đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đó là làm sao để tối đa hóa lợi nhuận, hay nói khác đi là làm sao để tối đa hóa số lượng hàng hóa bán ra cho người tiêu dùng. Do vậy, việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan sở hữu công nghiệp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng của các doanh nghiệp vi phạm cần được công khai rộng rãi thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Điều này, sẽ giúp người tiêu dùng loại trừ các hàng giả, hàng nhái ra khỏi sự lựa chọn của mình và làm giảm doanh số hàng bán ra của các doanh nghiệp, làm giảm sút uy tín của doanh nghiệp. Cách làm này sẽ có tác động rất mạnh đối với các chủ thể có ý định sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu 89 công nghiệp nói chung, qua đó góp phần làm giảm tình trạng sản xuất, buôn bán loại hàng này. b. Xã hội hoá hoạt động chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp nói chung cũng như liên quan tới nhãn hiệu nói riêng Kinh nghiệm của các nước, đặc biệt là các quốc gia phát triển cho thấy, vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp là rất lớn trong việc ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung, trong đó có hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu. Xã hội hóa hoạt động này tạo ra một cơ chế xử lý chủ động thay vì một cơ chế bị động thông qua các cơ quan quản lý nhà nước cũng như Tòa án. Ngoài ra, cơ chế này còn giúp phòng ngừa từ xa và hạn chế các hành vi xâm phạm có thể xảy ra. Vì vậy, trong thời gian tới Việt Nam cần tích cực triển khai và đẩy mạnh việc xã hội hóa hoạt động xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu thông qua các hiệp hội quản lý tập thể, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhằm tạo ra một cơ chế xử lý chủ động. c. Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Việc mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế và các nước trong lĩnh vực SHTT có thể giúp Việt Nam tranh thủ sự giúp đỡ về kỹ thuật, tổ chức và kinh nghiệm, nhằm nâng cao năng lực thự thi quyền SHTT nói chung và xử lý, ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng. Do đó, nhiệm vụ cấp thiết hiện nay đối với Việt Nam là nhanh chóng đàm phán và ký kết các hiệp định song phương và đa phương liên quan đến SHCN nói chung và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng. 90 KẾT LUẬN Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, sở hữu trí tuệ được xem như hàn thử biểu thể hiện mức độ phát triển của nền kinh tế quốc gia. Do đó, việc xây dựng được một hệ thống các quy định pháp luật liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung và các quy định xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng là một việc làm hết sức quan trọng. Qua việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá, so sánh và đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu, có thể thấy rằng hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam khá tương thích và phù hợp với pháp luật của các quốc gia trên thế giới và các điều ước quốc tế quan trọng có liên quan. Tuy nhiên, bên cạnh đó, pháp luật sở hữu trí tụê Việt Nam vẫn còn có nhiều hạn chế: chưa rõ ràng, vẫn còn có sự chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Bên cạnh hệ thống luật pháp về sở hữu trí tuệ thì hệ thống các cơ quan thực thi cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xử lý và ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng. Trong thời gian qua, mặc dù các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm đã mở rộng công tác đấu tranh chống cạnh tranh không lành mạnh nhưng có thể nhận thấy rằng các hoạt động này chưa thực sự hiệu quả, các biện pháp xử lý chưa thực sự có tác dụng răn đe đối với các đối tượng vi phạm. Do đó, để theo kịp với những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thị trường đặc biệt là yêu cầu hội nhập nền kinh tế thế giới, vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng để phù hợp, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế trở nên thực sự cấp bách. Bên cạnh hoàn thiện hệ thống luật pháp về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến 91 sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu nói riêng, thì việc tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống thực thi pháp luật cũng cần được chú trọng. Để làm được điều này, cần có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các cơ quan thực thi khác nhau, cùng với sự hợp tác tích cực từ phía các doanh nghiệp và người tiêu dùng tại Việt Nam. Với thời gian và phạm vi nghiên cứu còn hạn chế nên khóa luận còn nhiều hạn chế và chưa thể đi sâu vào phân tích các vấn đề một cách sắc nét. Do vậy, khoá luận hi vọng sẽ nhận được những đóng góp quý báu của các thầy cô trong trường cũng như của bạn đọc. Trong thời gian thực hiện đề tài, em đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện rất nhiều từ phía nhà trường, cô giáo hướng dẫn khóa luận. Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy cô trong nhà trường và đặc biệt là cô giáo, ThS Lê Thị Thu hà đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo để em có thể hoàn thành khóa luận này. 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT [1]. Lê Anh Tuấn (2005), “Một số quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10/2005. [2]. Phạm Văn Lợi, Lê Thị Hoàng Oanh, Nguyễn Văn Cương, Hoàng Thế Anh, Vũ Thị Hiệp (9/2005), “Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam: những vấn đề lí luận và thực tiễn”, Bộ Thương mại, Hà nội. [3]. Nguyễn Thị Thu Hà (2004), “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại các nước phát triển_ những kinh nghiệm và khả năng ứng dụng ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Hà Nội. [4]. Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Th.S Nguyễn Ngọc Sơn (2006), “Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội. [5]. TS Phùng Trung Tập (2004), “Các yếu tố của quyền Sở hữu trí tuệ”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội. [6]. JPO (2002), “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa_ Cẩm nang dành cho doanh nhân”, Hà Nội, tr15 [7]. Cục Sở hữu công nghiệp (1998), “Chiến lược phát triển và hoạt động sở hữu công nghiệp tại Việt Nam đến năm 2010”, Hà Nội [8]. Mark Davision (1996), “Sở hữu trí tuệ quốc tế (bao gồm Hiệp định TRIPS - WTO)”, Hội thảo về Sở hữu trí tuệ tại Hà Nội. [9]. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO (2005) Pub. No 888 ISBN 92-805- 1432-6, “Cẩm nang sở hữu trí tuệ: chính sách, pháp luật và áp dụng”. [10]. Shahid Alikhan, “Lợi ích kinh tế - xã hội của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ ở các nước đang phát triển”, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO. 93 [11]. KS. Lê Văn Kiều, PGS.TS. Đoàn Năng (2007), “215 câu hỏi – đáp pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp”, Chương trình hợp tác đặc biệt Việt Nam -Thụy Sĩ về sở hữu trí tuệ, Hà Nội. [12]. Bộ Kế hoạch và đầu tư, Trung tâm thông tin kinh tế-xã hội quốc gia (2005), “Doanh nghiệp Việt Nam với vấn đề thương hiệu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Nhà xuất bản Thống kê. [13]. Kamil Idris (2005), “Sở hữu trí tuệ, một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế”, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO. [14]. Kỷ yếu Hội thảo về thực trạng cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam do Cục Quản lý cạnh tranh tổ chức tại Hà Nội vào ngày 16/08/2007. CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH QUY ĐỊNH CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU [15]. Bộ Luật dân sự 2005. [16]. Luật Sở hữu trí tuệ 2005, 29/11/2005. [17]. Luật Cạnh tranh 2004, 03/12/2004. [18]. Bộ Luật hình sự 1999, 21/12/1999. [19]. Luật Hải quan 2001, 29/06/2001. [20]. Luật mẫu về nhãn hiệu, tên thương mại và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cho các nước đang phát triển, WIPO. [21]. Công ước Paris 1883 về bảo hộ SHCN. [22]. Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa kỳ. [23]. Hiệp định TRIPS. [24]. Nghị định 54/2000/NĐ-CP về Bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN, 03/10/2000. 94 [25]. Nghị định số 120/2005/NĐ-CP Quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, 30/09/2005. [26]. Nghị định số 106/2006/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp, 22/09/2006. [27]. Nghị định 105/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tụê và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. [28]. Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, 22/09/2006. [29]. Nghị định số 05/2006/NĐ-CP về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh, 09/01/2006. [30]. Nghị định số 06/2006/NĐ-CP về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh, 09/01/2006. [31]. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, 15/09/2005. TIẾNG ANH [32]. Introduction to Intellectual property (1997)_ Theory and practice, Klwer Law International Ltd, WIPO. TÀI LIỆU TRÊN INTERNET [33]. Cục Sở hữu trí tụê Việt Nam, [34]. Cục Quản lý cạnh tranh Việt Nam, 95 [35]. Lanham Act – US code 15, (1946-1998), Art. 1127, [36]. Intellectual Property Code of France (1992-1996), Art. L711-1, [37]. Trademark Law of PRC (1998-2001). Art 3, [38]. Intellectual property and Private International Law (1998), [39]. “Công ty may Việt Tiến nâng cao hoạt động sở hữu trí tuệ”, 09/04/2009, &id=1265 [40]. “Chống cạnh tranh không lành mạnh còn nhẹ tay”, 21/08/2007, lanh-manh-con-nhe-tay.11472.html. [41]. “Vai trò và hoạt động của Quản lý thị trường trong công tác thực thi quyền quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam”, 08/01/2006, [42]. “Công tác kiểm tra kiểm soát thị trường năm 2008”, 13/04/2009, 3. [43]. “Lần đầu tiên xử lý hành chính hành vi cạnh tranh không lành mạnh”, 11/11/2006, [ 44]. “Phân biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ”, 09/12/2008, [45]. “Luật Cạnh tranh, băn khoăn chuyện thực hiện”, 02/08/2005, 96 [46]. “Cạnh tranh không lành mạnh trên thương trường: SOS!”, 15/10/2007, 13236. [47]. “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ: Phải thực hiện từ biên giới”, 26/04/2009,

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf4764_5013.pdf
Luận văn liên quan