Đề tài Cộng hoà Nam Phi, giải pháp phát triển cho quan hệ kinh tế - Thương mại giữa Việt Nam và cộng hoà Nam Phi trong thời gian tới

LỜI NÓI ĐẦU Tiếp tục kế hoạch phát triển kinh tế giai đoạn 1991-2000, mở rộng đa dạng hoá thị trường vẫn là một trong những khâu then chốt của chiến lược phát triển xuất nhập khẩu cho thời kỳ 2001-2010. Trong đó, đẩy mạnh tìm kiếm các thị trường mới là quan điểm chủ đạo, xuyên xuốt. Trong khi nhiều thị trường đã trở nên bão hoà thì Châu Phi lại nổi lên như một thị trường thật sự mới mẻ và tiềm năng. Trong số 54 quốc gia tại Châu Phi, Cộng hoà Nam Phi là nước có nền kinh tế phát triển nhất, với diện tích 1.228 triệu km, dân số 43,2 mở ra nhiều tiềm năng và cơ hội cho Việt Nam, đóng một vai trò quan trọng trong hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Châu Phi nói chung. Hơn thế nữa, Nam Phi có một nền kinh tế khá mạnh, vị trí địa lý thuận lợi, cơ sở hạ tầng rất phát triển, với hệ thống cảng biển hiện đại ngang tầm với các nước phát triển khác trên thế giới. Nam Phi được coi là thị trường đầu mối hết sức quan trọng ở Châu Phi. Thông qua đó, chúng ta có thể nhập khẩu rồi tái xuất đi các thị trường khác ở Châu Phi, thậm chí sang cả các thị trường phát triển như EU, Mỹ . Tuy nhiên, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Cộng hoà Nam Phi còn ở mức độ rất khiêm tốn, thực sự chưa tương xứng với tiềm năng của hai bên. Năm 2002, xuất khẩu của Việt Nam sang Nam Phi đạt 50 triệu USD, kim ngạch này chỉ chiếm chưa đầy 0,2% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Nhập khẩu của Việt Nam từ Nam Phi lại càng thấp, chỉ đạt 5,07 triệu USD, chiếm 0,08% kim ngạch nhập khẩu của Nam Phi. Bên cạnh đó, quan hệ hợp tác giữa nước ta và Châu Phi trên các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ đang ở mức không đáng kể. Chính vì thế, để tăng cường quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Cộng hoà Nam Phi nói riêng và toàn Châu Phi nói chung, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng buôn bán hai chiều trong thời kỳ 2001-2010, cũng như mở rộng quan hệ trên các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ. Việc nghiên cứu và tìm hiểu thị trường Nam Phi, nắm bắt thực trạng mối quan hệ thương mại hiện nay giữa Việt Nam với thị trường này, từ đó đề ra những giải pháp trở nên hết sức cần thiết. Nhận thấy tầm quan trọng, tính mới mẻ và cũng đầy hấp dẫn này của vấn đề, tác giả xin phép được nghiên cứu đề tài "Cộng hoà Nam Phi, giải pháp phát triển cho quan hệ kinh tế – thương mại giữa Việt Nam và Cộng hoà Nam Phi trong thời gian tới". Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách kinh tế thương mại của Cộng hoà Nam Phi với thế giới và với Việt Nam, chính sách của Nhà nước Việt Nam trong quan hệ với Cộng hoà Nam Phi, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Nam Phi thời kỳ 1991-2001 và quan hệ hợ tác trên các lĩnh vực khác. Phạm vi nghiên cứu của đề tài được thực hiện trên 4 lĩnh vực: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ. Các kiến nghị, giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Cộng hoà Nam Phi trong thời gian tới. Bằng việc sử dụng các phương pháp biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử làm nền tảng, đồng thời kết hợp các phương pháp khác như thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, tác giả mong muốn được giới thiệu những thông tin mới mẻ, cần thiết về nước Cộng hoà Nam Phi và thị trường Nam Phi, thực trạng quan hệ giữa Việt Nam và đất nước tuy mới mẻ nhưng đầy tiềm năng này. Từ đó xây dựng cơ sở khoa học để đề ra một số kiến nghị, giải pháp góp phần phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam Cộng hoà Nam Phi nói riêng và giữa Việt Nam với Châu Phi nói chung trong giai đoạn tới. Xuất phát từ những phân tích trên, khoá luận bao gồm 3 chương sau: CHƯƠNG I : Tổng quan về nước Cộng hoà Nam Phi CHƯƠNG II: Quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam-CH Nam Phi CHƯƠNG III: Các giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Cộng hoà Nam Phi Trong khi làm luận văn này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ phía các Thầy, các Cô, cũng như các Cơ quan, gia đình, bạn bè. Em đặc biệt cảm ơn Thầy giáo Tô Trọng Nghiệp, người đã chỉ bảo rất tận tình cùng những lời động viên giúp em hoàn thành được khoá luận này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới chú Nguyễn Anh Tuấn, Vụ phó Vụ Châu Phi Tây Nam Á; anh Tạ Đức Minh, chuyên viên Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Thương mại, những người đã cung cấp cho em có được nhiều tài liệu quý giá.

doc79 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2495 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Cộng hoà Nam Phi, giải pháp phát triển cho quan hệ kinh tế - Thương mại giữa Việt Nam và cộng hoà Nam Phi trong thời gian tới, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đây thực sự là yếu tố bất lợi, cản trở hoạt động thông thương. Trong thời gian tới, nước ta cần xem xét ký kết với Cộng hoà Nam Phi các hiệp định hợp tác về hàng không, hàng hải, tìm cách rút ngắn con đường chuyên chở từ nước ta sang Nam Phi, với mục tiêu cao nhất là giảm chi phí và thời gian chuyên chở. Ngoài ra, cần tổ chức và phát huy hiệu quả các ngành dịch vụ phụ trợ trong hoạt động vận tải như tổ chức vận tải đa phương thức, giao nhận đường biển, giao nhận đường hàng không, đại lý hàng hải, dịch vụ tiếp vận (logistic) và chuyển phát nhanh, vận chuyển hàng quá cảnh. 8.2. Đầu tư : Thực tế những năm 90 cho thấy hoạt động đầu tư giữa Việt Nam và Cộng hoà Nam Phi còn rất kém phát triển. Nước ta vẫn chưa thu hút được đầu tư từ một số nước có tiềm lực kinh tế tương đối mạnh của Nam Phi. Đặc biệt là việc chú trọng đến các công ty của Cộng hoà Nam Phi, được coi là không thua kém các công ty Châu Âu về vốn, công nghệ và trình độ quản lý và cũng đang rất quan tâm đến thị trường Châu Á. Chẳng hạn, đến năm 2003 Trung Quốc đã thu hút được 300 triệu USD đầu tư từ Nam Phi, với trên tổng số hơn 70 dự án. Vì vậy công tác thu hút đầu tư vào Việt Nam từ cộng hoà Nam Phi cần phải được đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian tới, thông qua việc ký kết các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, quảng bá Luật đầu tư và cơ hội đầu tư ở Việt Nam tại nước này. Hơn nữa, nếu có thể thì nên dành cho các nhà đầu tư Nam Phi một số ưu đãi riêng về chi phí thuê đất, thuê nhân công, về miễn giảm thuế... Ngoài ra cần có định hướng để các dự án đầu tư này sản xuất hàng hoá tại Việt Nam, sau đó xuất khẩu trở lại sang Nam Phi hoặc có thể tái xuất sang các nước khác ở Châu Phi, đặc biệt là các mặt hàng nông sản, hàng tiêu dùng, máy móc thiết bị... Bên cạnh đó, cần lưu ý một điều kiện hết sức thuận lợi về chính sách khuyến khích, thu hút đầu tư của Cộng hoà Nam Phi, kèm theo những điều kiện cơ sở hạ tầng, địa lý hết sức thuận lợi. Các doanh nghiệp cần biết tận dụng khai thác đầu tư tại nước này, sau đó tiếp tục xuất khẩu sang các nước láng giềng của Nam Phi như Môzambich, Namibia, Boswana... hay các nước khác thuộc Châu Phi, nơi mà trình độ phát triển kinh tế chưa cao, còn thiếu thốn nhiều loại mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh và có thể thực hiện được như dệt may, chế biến nông, thuỷ sản, chế biến gỗ, công nghiệp nhựa, dược phẩm... Để thực hiện thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài nói chung và sang Nam Phi nói riêng, Nhà nước cần phải đặc biệt chú trọng quan tâm, trước hết là vào những giải pháp sau : Xây dựng hành lang pháp luật với những cơ chế, chính sách cụ thể nhằm định hướng và hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài. Không ngừng tăng cường năng lực và sự phối hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước và các đơn vị có liên quan trongviệc hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, từ các Bộ ngành trong nước, hay của nước ngoài ở Việt Nam. Phát triển đồng bộ và nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, như hỗ trợ về tài chính, về thông tin, về xúc tiến thương mại, về thủ tục hành chính, về các biện pháp bảo đảm an ninh... 8.3. Sở hữu trí tuệ : Thứ nhất, đối với trong nước, hiện nay việc xử lý những vi phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định rải rác trong Luật Hình sự, Luật Dân sự và nhiều văn bản pháp lý khác, với nhiều điều chồng chéo, chung chung gây khó khăn cho các cơ quan chức năng. Vì vậy phải sớm hình thành một bộ luật riêng về sở hữu trí tuệ. Đây là việc làm cần thiết trong việc quản lý các quyền sở hữu trí tuệ ở thị trường trong nước cũng như trong quan hệ buôn bán với Cộng hoà Nam Phi Thứ hai, hiện nay nước ta vẫn chưa ký các hiệp định hợp tác song phương về sở hữu trí tuệ với Cộng hoà Nam Phi. Quan hệ về sở hữu trí tuệ chỉ được điều chỉnh thông qua một số công ước, hiệp ước của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới mà nước ta và Cộng hoà Nam Phi tham gia. Tuy vẫn chưa phát sinh vụ việc tranh chấp nào liên quan đến sở hữu trí tuệ với Cộng hoà Nam Phi , nhưng trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển buôn bán mạnh mẽ thời gian tới, chung ta có thể dự báo việc phát sinh tranh chấp về lĩnh vực này là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy việc ký các hiệp định hợp tác về sở hữu trí tuệ với Cộng hoà Nam Phi giờ đây là hết sức cần thiết. II/ GIẢI PHÁP CẤP ĐỘ DOANH NGHIỆP: Đa số các doanh nghiệp nước ta vẫn còn nhiều hạn chế cản trở việc mở rộng hoạt động kinh doanh với thế giới bên ngoài. Theo các chuyên gia kinh tế, những hạn chế này của doanh nghiệp thể hiện ở 10 khía cạnh chủ yếu sau: Chưa nắm vững luật pháp , quy định, thông lệ.., trong buôn bán quốc tế; Thiếu thông tin thị trường; Năng lực tiếp cận thị trường còn yếu; Công nghệ sản xuất lạc hậu dẫn đến năng suất và chất lượng thấp; Ít sử dụng chất xám Chưa tập trung đầu tư cho nghiên cứu phát triển; Kiến thức và kinh nghiệm quản lý lạc hậu Hạn chế trong hoạt động đào tạo Chưa sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin viễn thông; Vẫn tồn tại tình trạng độc quyền. Những hạn chế nói trên tất nhiên cũng gây khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp nước ta khi muốn mở rộng buôn bán với thị trường Nam Phi, là nơi có tính cạnh tranh quyết liệt vì nhiều nước và khu vực trên thế giới đang rất quan tâm đến thị trường này và tranh giành ảnh hưởng. Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia... với cơ cấu mặt hàng xuất khẩu nhìn chung giống như ta nhưng đã có mặt tại Nam Phi từ trước, ít nhiều tạo được chỗ đứng vững chắc. Giá bán các sản phẩm xuất khẩu của những nước này cũng thấp hơn ta, họ lại có năng lực tài chính, công tác tiếp thị, phân phối sản phẩm tốt hơn các doanh nghiệp nước ta, nên dễ dàng đáp ứng được những yêu cầu của đối tác Nam Phi. Vì vậy, để phát triển buôn bán với khu vực thị trường này (cũng như mọi khu vực thị trường khác), ngoài những nỗ lực từ phía Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải có những bước đi riêng cho mình. ở đây, tác giả xin được đề ra những giải pháp về phía doanh nghiệp sau đây: 1. Phát triển ngành hàng xuất nhập khẩu: Như đã nêu ở chương 2, từ nay đến năm 2010, triển vọng xuất khẩu của nước ta sang Nam Phi tập trung vào hai mặt hàng khác nhau rất có tiềm năng. Tuy nhiên, thực tế buôn bán với Cộng hoà Nam Phi trong thập kỷ qua (90) cho thấy cơ cấu hàng xuất khẩu của ta chưa phong phú, tập trung quá nhiều vào một số nông sản và hàng công nghiệp nhẹ. Riêng gạo đã chiếm một tỷ trọng rất lớn (khoảng 60-70%). Tuy vậy ngay với mặt hàng gạo chúng ta cũng chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường này. Chẳng hạn khi Nam Phi nhập khẩu chủ yếu mặt hàng gạo đồ, gạo lứt thì nước ta lại chưa thể đáp ứng. Ngoài ra , con một số mặt hàng khác thì chúng ta vốn đã tạo được chỗ đứng do không thể cạnh tranh về giá cả với hàng của các nước khác, chẳng hạn hàng may mặc, thủ công mỹ nghệ. Vì vậy, để duy trì tăng trưởng xuất khẩu ổn định sang Nam Phi, doanh nghiệp nước ta phải chủ động phát triển ngành hàng xuất khẩu theo hai hướng: Thứ nhất là phải đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu, không nên có định kiến nước ở Châu Phi là một nơi đói nghèo và chỉ quan tâm đến xuất khẩu lương thực nông sản, mà cần nhận thức rõ đây là thị trường tiềm năng cho mọi loại hàng hoá, như dệt may, giày dép, sản phẩm có khí, đồ điện, điện tử, đồ gỗ, đồ nhựa, thực phẩm chế biến, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ... Thứ hai là phải nâng cao tính cạnh tranh của từng sản phẩm về giá cả, mẫu mã chất lượng. Đương nhiên để làm được điều đó, doanh nghiệp nhất thiết phải quan tâm nâng cao trình độ công nghệ và đổi mới trang thiết bị sản xuất của doanh nghiêp. Nhìn chung Nam Phi không đòi hỏi sản phẩm chất lượng quá cao nhưng phải có độ ổn định và đặc biệt là giá rẻ. Cạnh tranh về giá thành sản phẩm đang là điểm yếu của các doanh nghiệp nước ta trước các đối thủ trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc, trên thị trường này. Để làm được điều này, nhất thiết các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ sản xuất. Theo điều tra mới đây, 76% trang thiết bị sản xuất ở các doanh nghiệp nước ta thuộc thế hệ những năm 60, trong đó hơn 70% đã hết khấu hao. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng và giá thành sản phẩm. Thời gian tới, với điều kiện tài chính còn hạn hẹp, từng doanh nghiệp phải quan tâm đến những điểm sau trong quá trình đổi mới công nghệ: Xác định các khâu quan trọng trong dây chuyền sản xuất có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng và giá thành sản phẩm để hiện đại hoá Nhập các thiết bị nước ngoài nhưng phải học tập thiết kế để tự thiết kế lại và cải tiến cho phù hợp. Những chi tiết trong nước chưa đủ khả năng chế tạo thì nhập khẩu, nhưng phải nâng cao dần tỷ lệ nội địa hoá Đối với các công nghệ thiết bị có giá thành nhập khẩu quá cao, các doanh nghiệp cần hợp tác với các cơ quan nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước cùng đầu tư thiết kế và chế tạo. Các doanh nghiệp cần lưu ý rằng không phải cứ công nghệ cao, hiện đại mới là tốt. Vấn đề ở chỗ doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề của người lao động nhằm tối ưu hoá việc kết hợp các nguồn lực để đạt được hiệu quả cao, từ đó tạo điều kiện tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Bên cạnh việc đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp nước ta cần chú trọng khâu thiết kế sản phẩm, gia tăng giá trị sử dụng của sản phẩm chứ không phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ sản xuất, đặc biệt đối với các ngành hàng chúng ta đang có thế mạnh xuất khẩu sang Nam Phi như nông sản, hàng dệt may, máy móc thiết bị điện, cơ khí, giày dép, sản phẩm nhựa... Đặc biệt trong việc thiết kế mẫu mã và nâng cao giá trị sử dụng cho sản phẩm xuất khẩu sang Châu Phi, nhất thiết các doanh nghiệp phải năng động sáng tạo, nắm bắt được những yếu tố tôn giáo, văn hoá của thị trường mà mình đang hướng tới để tạo cho sản phẩm độ hấp dẫn khác biệt so với hàng hoá của thị trường mà mình hướng tới để tạo cho sản phẩm độ hấp dẫn khác biệt so với những sản phẩm cạnh tranh. Đây đang là điểm yếu của doanh nghiệp nước ta nếu so với một số đối thủ trong khu vực như Trung Quốc hay Thái Lan. Còn rất nhiều mặt hàng khác mà thị trường Nam Phi có thể cung cấp có tính cạnh tranh, chẳng hạn bông xơ, gỗ, khoáng sản, và thậm chí một số sản phẩm công nghiệp như hạt nhựa, sắt thép... Được biết một số nước Châu Âu thường nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ Nam Phi, chế biến thành các sản phẩm đồ gỗ nội thất, sau đó lại xuất ngược trở lại Nam Phi, thu lợi nhuận lớn. Chính vì vậy, đối với doanh nghiệp nước ta, việc quan tâm phát triển ngành hàng nhập khẩu từ thị trường Nam Phi cũng là điều hết sức cần thiết. Song song với việc đưa vào thị trường châu Phi những sản phẩm có tính cạnh tranh, các doanh nghiệp cần chú ý xây dựng thương hiệu sản phẩm. Đây là một giá trị đặc biệt tạo nên chỗ đứng lâu dài cho doanh nghiệp trên thị trường. Qua nghiên cứu cho thấy, người dân Nam Phi biết còn rất ít về Việt Nam và hàng hoá Việt Nam. Trong khi đó Thương hiệu khi được người tiêu dùng tín nhiệm sẽ làm cho họ yên tâm khi sử dụng, tạo thuận lợi cho việc phân phối, xâm nhập những mảng thị trường mới, thu hút đầu tư. Cần phải nói thêm là đối với doanh nghiệp, thương hiệu có thể đem đến thành công, nhưng cũng có thể thất bại. Vì vậy đầu tư cho thương hiệu có thể đem đến thành công, nhưng cũng có thể thất bại. Vì vậy, đầu tư cho thương hiệu đòi hỏi cả về tài chính lẫn trí tuệ, phải tính toán chuẩn bị kỹ lưỡng cả trong xây dựng phát triển kinh doanh bền vững, đặc biệt là ở những thị trường còn mới mẻ như thị trường Nam Phi. Đối với nhập khẩu, doanh nghiệp nước ta có thể mua về từ Nam Phi những nguyên liệu đầu vào của nhiều ngành công nghiệp đang có tốc độ tăng trưởng cao như quặng sắt, kim loại màu (cobalt, mangan, đồng, kẽm,..), các loại nguyên liệu làng nghề truyền thống (thủ công,mỹ nghệ), các loại đá quý và vàng bạc cho công nghiệp chế tác vàng bạc, đá quý... Thực tế của ngành đều cho thấy khi lâm vào tình trạng “đói” nguyên liệu từ những năm 1998-1999, thị trường Nam Phi đã tạo ra một nguồn cung nguyên liệu rất kịp thời và hiệu quả, với mặt hàng điều thô có chất lượng tốt và giá cả hợp lý. 2/ Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại Có thể nói công tác xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp nước ta tại thị trường Nam Phi chưa được quan tâm đúng mức. Mặc dù thời gian qua, một số doanh nghiệp đã tham gia tháp tùng lãnh đạo tại các chuyến thăm chính thức, hoặc tự tổ chức đi nghiên cứu thị trường, tham gia hội chợ, triển lãm quốc tế tổ chức tại Nam Phi, nhưng nhìn chung các hoạt động này còn mang tính tự phát và thời vụ, chưa phát huy hiệu quả như mong đợi. Sau đây xin đề ra một số giải pháp cụ thể cho công tác xúc tiến thương mại hoạt động được hiệu quả hơn: 2.1. Thu thập thông tin và xử lý thông tin: Không thể nói đến xúc tiến thương mại khi không giải quyết tốt khâu thông tin. Tình trạng thiếu thông tin đang là trở ngại lớn trong việc phát triển buôn bán giữa nước ta với Nam Phi. Đa số các doanh nghiệp chỉ biết đến Nam phi và Châu Phi nói chung như một thu trường rủi ro, đầy bất trắc nên thường ít chịu tìm hiểu tiềm năng, những cơ hội hợp tác kinh doanh tại thị trường này, cũng như các chính sách thương mại, các phong tục tập quán bản địa... Vì vậy, muốn mở rộng buôn bán sang Nam Phi, nhất thiết các doanh nghiệp phải nâng cao khả năng thu thập và xử lý thông tin. Nguồn thông tin lớn nhất, không gì khác hơn chính là đi thâm nhập thực địa. Từ những chuyến đi thực tế ngay tại đất nước Nam Phi, các doanh nghiệp có thể tìm ra được cơ hội kinh doanh, tìm hiểu xem người tiêu dùng sở tại cần loại hàng gì, sở thích và sức mua của họ ra sao, những mặt hàng nào thì doanh nghiệp cần của mình có thể đáp ứng... Những chuyến đi như vậy không thể mang tính “cưỡi ngựa xem hoa” mà đòi hỏi phải mất nhiều thời gian, công sức và cả tiền của thậm chí, theo kinh nghiệm của Trung Quốc, doanh nghiệp cần đến tận nơi, bằng nhiều cách khác nhau, các doanh nghiệp phải gặp cho được từ các quan chức chính phủ, các doanh nghiệp cho đến tận người dân, thậm chí xuống cả những vùng xa xôi hẻo lánh, có như vậy mới phát huy hiệu quả. Cần lưu ý rằng những chuyến đi thâm nhập thực địa không chỉ đem lại thông tin về các cơ hội xuất khẩu mà cả nhập khẩu. Một nguồn cung cấp thông tin quan trọng là từ các cơ quan quản lý Nhà nước như Bộ Thương mại bao gồm các vụ chức năng, Cục Xúc tiến thương mại, Trung tâm thông tin thương mại, các bộ, ngành liên quan, các viện nghiên cứu... Các doanh nghiệp cũng phải chủ động liên lạc với các Thương vụ, các cơ quan đại diện ở Việt Nam và Nam Phi. Ngoài ra, phải theo dõi sát thông tin từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, từ các Hiệp hội ngành hàng... đồng thời khai thác các nguồn thông tin từ nước ngoài như Đại sứ quán, Thương vụ các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức và cá nhân nước ngoài. Bởi đây là những nơi cung cấp thông tin cơ sở đến thậm chí chi tiết vô cùng quý giá, mà không tốn kém tiền của như khi doanh nghiệp tự mình tiến hành khảo sát. Bên cạnh đó, thông tin trên mạng internet cũng ngày càng quan trọng, vì thực tế đã có nhiều giao dịch phát sinh từ thông tin trên mạng. Tuy nhiên nguồn thông tin này không phải lúc nào cũng đáng tin cậy. Nhìn chung, trong giao dịch lần đầu với thị trường Nam Phi, doanh nghiệp cần tham khảo ý kiến của các đơn vị chức năng của Bộ Thương mại hoặc các Bộ, ngành liên quan, hoặc nhờ Cơ quan đại diện ngoại giao và thương mại Việt Nam ở nước sở tại hay kiêm nhiệm điều tra thông tin trực tiếp nước sở tại để gặp đối tác đồng thời kết hợp thăm dò thị trường. Theo ý kiến tác giả, chỉ cần thực hiện thành công vài hợp đồng là các doanh nghiệp có thể nắm được những thông tin cần thiết liên quan đến thị trường và mặt hàng mà doanh nghiệp đang tiến hành xuất nhập khẩu và các đối tác có thể giao dịch được. 2.2. Quảng bá sản phẩm và thương hiệu: Mặc dù đến nay đã có nhiều ấn phẩm giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam nhưng vẫn còn quá ít ấn phẩm về ngành hàng, về sản phẩm xuất khẩu có thế mạnh của nước ta, về thương hiệu Việt Nam được giới thiệu ở nước ngoài, và ở đất nước Nam Phi này lại càng ít. Vì vậy thời gian tới, thông qua các Thương vụ hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Nam Phi, các doanh nghiệp cũng cần chủ động đẩy mạnh công tác quảng bá sản phẩm và thương hiệu của mình trên thị trường sở tại nhiều hơn nữa, dưới nhiều hình thức khác nhau. Công tác này cần được tiến hành cho đối tượng cho đối tượng là cơ quan quản lý Nhà nước cũng như các doanh nghiệp Nam Phi. Gần đây, một số doanh nghiệp nước ta đã chủ động mở trang Web trên mạng Internet để quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của mình, song số lượng còn ít và chất lượng chưa cao, cần phải được tăng cường hơn nữa. Các trang Web của doanh nghiệp bán lẻ của doanh nghiệp ở mọi nơi mọi lúc. Trong khi đó, chi phí duy trì văn phòng ảo này rất thấp nếu so sánh với chi phí cho văn phòng đại diện thực sự ở ngoài. Đối với thị trường xa xôi như ở Nam Phi này thì các trang Web lại càng tiết kiệm nhiều chi phí quảng bá sản phẩm và thương hiệu cho doanh nghiệp. Cần lưu ý là đối với những sản phẩm ít nhiều đã tạo được chỗ đứng trên thị trường Nam Phi, doanh nghiệp nước ta cần sớm đăng ký thương hiệu và các nội dung có liên quan khác với cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại để tránh những rắc rối không cần thiết về sau. 2.3. Tham dự hội chợ, triển lãm Nhìn chung, các doanh nghiệp Việt Nam đều đã nhận thức được tầm quan trọng của việc tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế. Tuy nhiên thực tế thời gian qua cho thấy, do không xác định rõ mục tiêu tham gia hội chợ, triển lãm do chưa gắn mục tiêu tham gia với chính sách mặt hàng và chiến lược phát triển của doanh nghiệp hoặc do những hạn chế về mặt kinh phí nên hoạt động quảng bá sản phẩm, kiếm tìm đối tác thông qua tham gia hội chợ triển lãm quốc tế của doanh nghiệp nước ta còn nhiều bất cập, chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Đặc biệt là khi tham gia hội chợ, triển lãm ở Nam Phi, thì hiệu quả lại càng thấp. Đa số lần tổ chức triển lãm hoặc tham gia hội chợ, triển lãm, các doanh nghiệp Việt Nam chưa vượt qua được tình trạng giới thiệu “các sản phẩm truyền thống” của một số doanh nghiệp nhất định và kết thúc hội chợ, triển lãm, chỉ bán, giới thiệu được một số sản phẩm và ký được một số ít hợp đồng. Để tham gia hội chợ triển lãm ở Nam Phi đạt kết quả tốt, doanh nghiệp cần lưu ý ít nhất bốn vấn đề: Mục đích và đối tượng (cho đối tác hay người tiêu dùng, để giới thiệu và bán hàng hay giới thiệu và tìm kiếm đối tác,...); quy mô hội chợ, triển lãm định tham gia, địa điểm tham gia; kinh phí tham gia. Theo tác giả, doanh nghiệp cần nhận thức đầy đủ những yếu tố trên đây thì kết quả sẽ khác hơn. Có thể kể ra một số cuộc triển lãm quy mô quốc tế được tổ chức thường niên tại Nam Phi mà doanh nghiệp nước ta cần quan tâm, như triển lãm Saitex...Khi tham gia các triển lãm , hội chợ ở Nam Phi, doanh nghiệp có thể nhờ Thương vụ tại đó giúp đỡ về thông tin, về các thủ tục tham dự cũng như hỗ trợ các hoạt động tại chỗ. Ở những địa bàn khác, doanh nghiệp có thể nhờ Sứ quán tị chỗ hoặc kiêm nghiệm. Đối với những thị trường mới như các nước Nam Phi, việc nhờ cậy hỗ trợ từ Sứ quán và Thương vụ là rất cần thiết. 2.4. Thành lập trung tâm thương mại: Trong khi chờ đợi Bộ Thương mại mở Trung tâm thương mại ở Nam Phi, các doanh nghiệp nước ta cũng có thể tự mình mở các trung tâm thương mại, hoặc các showroom với quy mô nhỏ hơn, để giới thiệu sản phẩm và là địa điểm giao dịch. Đây là một hình thức xúc tiến thương mại còn tương đối mới đối với doanh nghiệp, nhưng lại có hiệu quả cao nếu được nghiên cứu kỹ lưỡng. Để mở trung tâm thương mại hoặc showroom ở thị trường Nam phi, trong hoàn cảnh tiềm lực tài chính, về con người cũng như trình độ kinh nghiệm của các doanh nghiệp nước ta còn chưa cao, doanh nghiệp trong nước có thể liên doanh người Việt ở nước sở tại. Tác giả kiến nghị trước mắt doanh nghiệp có thể chọn Nam Phi làm địa bàn thử nghiệm để mở trung tâm thương mại hoặc showroom, vì hơn nữa lại có Sứ quán và Thương vụ nước ta. 3/ Có chiến lược kinh doanh phù hợp Đối với thị trường Nam Phi, các doanh nghiệp cần phải kiên trì lựa chọn bài xây dựng cho mình những chiến lược kinh doanh phù hợp. Cần hết sức tránh tình trạng buôn bán theo kiểu chụp giật làm mất uy tín kinh doanh cho cả giới doanh nghiệp Việt Nam. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Nam Phi tập trung ở ba hình thức sau: 3.1. Xuất khẩu qua trung gian: Đây là con đường mà phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam đã áp dụng để thâm nhập thị trường Nam Phi. Hình thức này thích hợp với thời kỳ khai phá thị trường khi quy mô xuất khẩu của các doanh nghiệp còn nhỏ và các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta tại Nam Phi ,60% được xuất qua trung gian, chủ yếu qua các công ty Châu Âu. Những công ty này có những lợi thế như có kinh nghiệm lâu năm trong buôn bán Nam Phi, có tiềm lực tài chính mạnh , hệ thống kho bãi và phân phối hoàn chỉnh, có quan hệ chặt chẽ với các ngân hàng Châu Âu và Mỹ . Trong khi đó, các ngân hàng này lại kiểm soát hầu như các hoạt động thanh toán và tài chính ở Nam Phi. Do đó, những vụ buôn bán lớn với các đối tác ở đây nhất thiết phải có sự hỗ trợ và chia phần của một hoặc một số nhà tài phiệt Châu âu, nếu không thì khó mà thành công. Theo tác giả, các doanh nghiệp vẫn tiếp tục khai thác hình thức xuất khẩu qua trung gian sang Nam Phi trong giai đoạn từ nay đến năm 2010. Đối với các doanh nghiệp lớn có tiềm lực mạnh có thể xem xét khả năng trở thành thành viên của các công ty xuyên quốc gia của EU hoạt động tại Nam Phi. Bằng cách này các công ty có thể thâm nhập trực tiếp vào các kênh phân phối chủ đạo trên thị trường Châu Phi và Nam Phi nói riêng vì các công ty xuyên quốc gia đóng vai trò chủ chốt trong các kênh phân phối này. Các nhà nhập khẩu (các công ty thương mại) thuộc các công ty xuyên quốc gia EU thường nhập hàng từ các xí nghiệp, nhà máy thuộc tập đoàn này thì đương nhiên sản phẩm làm ra sẽ được đưa vào mạng lưới tiêu thụ. Ngoài ra, doanh nghiệp nước ta cũng có thể đưa hàng hoá sang thị trường Nam Phi dưới danh nghĩa của nhiều công ty nước ngoài có uy tín đã có mặt từ lâu trên thị trường này. Do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu nên liên doanh liên kết dưới hình thức sử dụng giấy phép, nhãn hiệu hàng hoá... có thể sẽ là biện pháp hấp dẫn để các nhà xuất khẩu Việt Nam thâm nhập được vào thị trường này. 3.2. Xuất khẩu trực tiếp : Đây cũng là một hình thức được các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng.Tuy nhiên hiện nay, hầu hết các giao dịch buôn bán giữa Việt Nam và Nam Phi lại tiến hành theo phương thức xuất khẩu gián tiếp, qua các công ty nước ngoài, chủ yếu là các công ty của Châu Âu, do đó giá thành bị nâng cao, kém sức cạnh tranh, hơn nữa không có mối quan hệ chặt chẽ giữa thương nhân hai nước, thậm chí tên tuổi doanh nghiệp, sản phẩm bị phai nhạt hoặc mất hoàn toàn. Chính vì thế, phương thức xuất khẩu trực tiếp này càng cần phải được nghiên cứu phát huy. Bởi vì Thị trường Nam Phi hiện nay đã có một thuận lợi là đã ký được Hiệp định thương mại giữa hai nước, đã có Thương vụ. Bên cạnh đó, Nam Phi còn có hệ thống ngân hàng tương đối phát triển và khả năng tài chính tương đối mạnh.... Để có thể xuất khẩu trực tiếp sang Nam Phi, các doanh nghiệp cần phải đầu tư ban đầu rất lớn trên cả hai phương diện vật lực và nhân lực với sự hỗ trợ của các cơ quan hữu quan trong và ngoài nước. Bản thân các doanh nghiệp khi đã có những giao dịch trực tiếp với một đối tác Nam Phi cũng cần có biện pháp duy trì mối quan hệ đó mang tính ổn định, tạo ra sự tin cậy lẫn nhau. Tuy nhiên, một đặc điểm khi xuất khẩu hàng sang thị trường Nam Phi đó là xuất khẩu không phải chỉ để đáp ứng nhu cầu thị trường sở tại, mà còn để tái xuất sang các nước thuộc Châu Phi khác, với những nhu cầu nhỏ lẻ. Để có thể đẩy mạnh xuất khẩu theo hình thức này, ngoài những hỗ trợ về phía Nhà nước, các doanh nghiệp phải chủ động có những biện pháp đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp Nam Phi, mà thực chất là các doanh nghiệp tái nhập (thực chất đây cũng là hình thức xuất khẩu gián tiếp để tranh thủ tiếp cận một thị trường lớn, tiềm năng hơn). Chính vì thế, các doanh nghiệp Việt Nam phải biết tập hợp nhau lại, liên kết với nhau, xuất khẩu theo kiểu “bách hoá”, tức là cùng một chuyến hàng có nhiều loại chủng loại hàng hoá khác nhau, như vậy mới đáp ứng được nhu cầu của không những thị trường Nam Phi mà còn phát triển ra cả các thị trường Châu Phi khác. Thực tế, các nước như Trung Quốc, Thái Lan đã đi trước và sử dụng thành công hình thức xuất khẩu này. Cũng như vậy, để đáp ứng được yêu cầu thanh toán chậm, các doanh nghiệp phải nắm vững thông tin và xây dựng được mối quan hệ tin cậy đối với đối tác ,phải biết dựa vào tư vấn của các cơ quan chức năng, đặc biệt như Sứ quán, Thương vụ. Về thanh toán, để đáp ứng được yêu cầu thanh toán chậm, các doanh nghiệp phải nắm vững thông tin và xây dựng được mối quan hệ tin cậy với đối tác Châu Phi, phải biết dựa vào sự tư vấn của các cơ quan chức năng, đặc biệt là Sứ quán và Thương vụ. Tất nhiên trong trường hợp L/C trả chậm, doanh nghiệp khi xuất hàng phải đề nghị đối tác Châu Phi mở L/C này tại một ngân hàng có uy tín của Mỹ hoặc Châu Âu. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần biết phát huy những cơ chế hỗ trợ tài chính có sẵn như vay vốn qua Quỹ hỗ trợ xuất khẩu thuộc Quỹ hỗ trợ phát triển để bán hàng trả chậm. 3.3. Đầu tư: Kể từ khi chính phủ mới của Đảng Dân tộc lên nắm quyền ở Nam Phi, đã có rất nhiều chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thực tế khối lượng FDI tại Nam Phi đã tăng lên đáng kể. Nhiều nước đã tận dụng cơ hội này để phát triển mở rộng thị trường. Malaysia là một thí dụ điển hình trong việc mạnh dạn đi sâu vào đầu tư tại Nam Phi và đã trở thành nhà đầu tư lớn thứ hai tại Nam Phi sau Mỹ. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư có tác động trực tiếp đến trao đổi thương mại. Đầu tư vào thị trường Nam Phi không chỉ nhằm mục đích tiêu thụ sản phẩm là ra trong nội địa mà bên cạnh đó xuất khẩu đi các nước khác trong khu vực hoặc các nước Châu Âu và Mỹ. Bởi vì đó cũng là một cách để chúng ta tận dụng các ưu đãi mà Nam Phi được hưởng thông qua các thoả thuận song phương hoặc đa phương, một khi chúng ta vẫn chưa gia nhập được vào tổ chức WTO Tuy nhiên, chúng ta lại chưa thấy có dự án đầu tư nào của nước ta được thực hiện tại thị trường hấp dẫn và giầu tiềm năng này. Chính vì thế, việc tìm giải pháp để các doanh nghiệp dần tiếp cận , tiến đến đầu tư vào thị trường Nam Phi là một vấn đề cần phải được quan tâm chú trọng. Đặc biệt, các doanh nghiệp phải quan tâm đến các lĩnh vực mũi nhọn và có thế mạnh của nước ta. Khi tiến hành các hoạt động đầu tư, trong trường hợp khả năng tài chính của các doanh nghiệp chưa cho phép thành lập công ty đầu tư 100% vốn của Việt Nam, doanh nghiệp có thể liên doanh với một doanh nghiệp nước thứ ba (thường là Châu Âu), hoặc một doanh nghiệp đáng tin cậy của nước sở tại, hoặc liên kết với cộng đồng người Việt ở nơi đây. 3.4. Nắm vững nghệ thuật kinh doanh: Kinh doanh ở thị trường Nam Phi đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm vững một số nghệ thuật kinh doanh mang tính đặc thù của thị trường này. Cụ thể là những điểm sau: Phải có tính kiên trì: quá trình giải quyết giấy tờ, các thủ tục hành chính quan liêu làm cho công việc kinh doanh ở Nam Phi rất mất thời gian. Các doanh nghiệp không nên nghĩ rằng có thể sang một nước, gặp gỡ đối tác giao dịch trong một tuần là có thể ký được hợp đồng. Để đi đến một giao dịch, có thể phải mất một năm hoặc lâu hơn. Phải làm quen với đặc điểm văn hoá địa phương: Nam Phi là một đất nước đa bản sắc và có những đặc điểm văn hoá riêng. Một người kinh doanh luôn phải dành thời gian để nghiên cứu nền văn hoá bản địa. Phải tỏ ra gần gũi đối tác: Khi gặp gỡ đối tác là một doanh nhân người Nam Phi, sự gần gũi cởi mở là hết sức quan trọng. Các doanh nghiệp cần chú ý không nên đi ngay vào bàn việc kinh doanh mà trước đó có thể trò chuyện với họ về thời sự, chuyện gia đình... để tạo bầu không khí gần gũi, tin cậy lẫn nhau. Phải xâm nhập sâu vào thị trường: Thị trường châu Phi, như đã nói ở trên, là một thị trường phức tạp và có tính cạnh tranh cao. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam nếu muốn thâm nhập vào đây lâu dài cần tự tìm cho mình người đại diện, doanh nghiệp có thể nhờ sự trợ giúp của cơ quan Thương vụ hoặc cơ quan đại diện ngoại giao tại Nam Phi , hoặc sự trợ giúp của một đối tác đáng tin cậy. Phải luôn linh hoạt, mềm dẻo: Thị trường Nam Phi có tính thay đổi cao và ít có tính nhất quán. Đây thực sự là khó khăn đặc thù mà doanh nghiệp nước ta phải luôn chú ý. Chẳng hạn khi đã ký được hợp đồng, ta không nên lúc nào cũng nghĩ rằng các điều khoản của hợp đồng đó sẽ được giữ nguyên trong thời hạn hiệu lực. Doanh nghiệp phải linh hoạt để làm cho việc kinh doanh phù hợp với thực tế trong từng thời điểm. 4. Tăng cường vai trò các hiệp hội ngành hàng và sự hợp tác giữa các doanh nghiệp: Ở nước ta đã xuất hiện rất nhiều hiệp hội ngành hàng, nhưng chỉ trong vài năm gần đây, khi khó khăn nảy sinh ngày càng nhiều đối với các doanh nghiệp, cùng với tác động của các cuộc chiến thương mại quốc tế, chúng ta mới nhận thức đầy đủ và sâu sắc vai trò của hiệp hội, từ việc đứng ra giải quyết kiện cáo cho doanh nghiệp dến việc điều tiết thu hoạch sản phẩm, ấn định giá thành sản phẩm, đưa ra các tiêu chuẩn về sản phẩm để bảo vệ quyền lợi cho hội viên. Do hiệp hội ngày càng có vai trò quan trọng, việc Chính phủ ban hành Nghị định về tổ chức hoạt động của hiệp hội là một chủ trương đúng đắn cần sớm được thực hiện. Trong đó cần định hình hoạt động của hiệp hội theo các nội dung chính như: xác định phương hướng phát triển sản xuất, kinh doanh ngành hàng, các nội dung liên kết sản xuất, tiêu thụ trên cơ sở tự nguyện của các hội viên; thay mặt hội viên trong các tranh tụng quốc tế; phổ biến tiến bộ khoa học-công nghệ, cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ xúc tiến thương mại cho các doanh nghiệp hội viên. Các hiệp hội cần có những hành động cụ thể để hỗ trợ về mặt tài chính cho doanh nghiệp thâm nhập thị trường Nam Phi, đặc biệt đối với những ngành hàng chúng ta có thế mạnh xuất khẩu tại thị trường này như gạo, hạt tiêu, chè, dệt may, giày dép, xe đạp xe máy ... Chẳng hạn, các hiệp hội có thể thành lập các quỹ hỗ trợ sản xuất, xuất khẩu hay quỹ bảo hiểm xuất khẩu của riêng hiệp hội, trong đó có những cơ chế riêng giúp đỡ cho hội viên buôn bán với thị trường Nam Phi. Nguồn vốn cho những quỹ này, ngoài một phần kinh phí do Chính phủ hỗ trợ, chủ yếu do các hội viên đóng góp, với một định mức đóng góp hàng năm theo tỷ lệ trên danh thu. Hiệp hội cũng cần đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại trên thị trường Nam Phi cho các doanh nghiệp. Thậm chí các Hiệp hội có thể nghiên cứu việc lập chi nhánh đại diện tại Nam Phi, để nắm bắt và xử lý nhanh các nhu cầu nảy sinh. Các Hiệp hội cũng phải quan tâm động viên tinh thần hợp tác giữa các hội viên. Quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không có nghĩa là chối bỏ sự hợp tác, mà các doanh nghiệp, với tư cách là những bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất, phải xem hợp tác là biện pháp quan trọng để hạn chế những mặt tiêu cực của cơ chế cạnh tranh. Thí dụ, sự kết hợp giữa doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp dân doanh nhằm khắc phục một thực tế hiện nay là doanh nghiệp Nhà nước có tiềm lực lớn, nhưng hiệu quả kinh tế nói chung kém. Doanh nghiệp dân doanh tiềm lực thấp hơn nhưng hiệu quả thường cao hơn. Ngoài ra, khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng có những thế mạnh về trình độ công nghệ, năng lực quản lý ... Chủ trương hợp tác có thể mở rộng ra thị trường thế giới, trong đó có Nam Phi, để kết hợp với các doanh nghiệp Việt kiều nhằm tranh thủ được vốn, công nghệ hiện đại và kinh nghiệm thương trường. Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp cần được đẩy mạnh trong vấn đề thông tin về các cơ hội kinh doanh, về kinh nghiệm làm ăn ở thị trường Nam Phi. Đặc biệt, để thâm nhập được vào thị trường Nam Phi trong giai đoạn đầu, các doanh nghiệp cần liên kết trong việc góp vốn mở kho ngoại quan, mở showroom, phối hợp trong đấu thầu xây dựng hoặc trong các dự án đầu tư... III/ ĐỀ XUẤT - KIẾN NGHỊ: 1. Nhà nước cần chú trọng đến phát triển thương hiệu quốc gia cũng như thương hiệu sản phẩm: Qua nghiên cứu cho thấy, người dân Nam Phi biết rất ít về Việt Nam. Họ mới chỉ thấy hình ảnh của Việt Nam qua chiến tranh, còn Việt Nam trong xây dựng kinh tế thì hầu như chưa được biết đến. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc tiêu dùng rất hạn chế các sản phẩm nhãn hiệu “Made in Vietnam” tại đất nước này, mặc dù chất lượng và giá cả tương đương, thậm chí ưu thế hơn so với các mặt hàng của một số quốc gia khác. Chính vì thế, việc quảng bá và giới thiệu hình ảnh đất nước Việt Nam đến các bạn bè thế giới là hết sức cần thiết, tạo uy tín của mình trên trường quốc tế. Điều này không chỉ được chú trọng tiến hành trong hoạt động kinh tế mà cả trong mọi mặt như văn hoá, chính trị, xã hội… 2. Xây dựng cơ quan nghiên cứu và cung cấp và hỗ trợ thông tin tại Nam Phi: Thị trường Nam Phi còn rất mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Do khó khăn về khoảng cách địa lý, chi phí tìm hiểu tốn kém, ngoài đại sứ quán và thương vụ của Việt Nam tại Nam Phi, hầu như các doanh nghiệp không còn nguồn thông tin nào. Trong khi hai cơ quan này mới đi vào hoạt động, đồng thời cũng không thể thoả mãn được nhu cầu đa dạng về thông tin của các doanh nghiệp. Chính vì vậy, trước mắt, Việt Nam cần thành lập một văn phòng đại diện, tập trung lợi ích của khu vực kinh tế tập thể và tư nhân của Việt Nam bao gồm cả việc đại diện và xúc tiến cho các doanh nghiệp mong muốn làm ăn buôn bán với Nam Phi. Cụ thể như: Phát triển các mối quan hệ địa phương ở Nam Phi để có thể dễ dàng xúc tiến và mở rộng quảng bá hàng hoá và dịch vụ cung cấp. Sử dụng độ thành thạo cần thiết đối với những mặt hàng thâm nhập vào thị trường cụ thể. Làm việc theo danh sách mua hàng của người mua hoặc đáp ứng những đơn thầu và xu thế quốc tế. Tiếp cận với bất cứ một hàng hoá nào hoặc một loạt sản phẩm hoặc tiếp cận chắc chắn những mặt hàng và có chuyên môn trong buôn bán những sản phẩm cụ thể. 3. Phát triển đầu tư một số mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam tại Nam Phi : Về mặt hàng dệt may: Đầu tư vào dệt may nhằm tái xuất sang thị trường Châu âu và Mỹ, tận dụng quy chế free quota mà Nam Phi được hưởng, đồng thời cũng tận dụng được ngay lượng tiêu thụ dồi dào trong nội địa, nơi mà hàng hoá dệt may đang ngày càng chiếm lĩnh thị trường trong tầng lớp bình dân. Dệt may chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, song chúng ta cũng có thể chủ động đầu tư sang thị trường này. Các doanh nghiệp trước mắt phải tìm hiểu các thông tin thông qua các kênh, sau đó tìm đối tác kinh doanh, tạo uy tín, danh tiếng, có chỗ đứng vững chắc trong thị trường. Chế biến lâm sản: Nam Phi có một nguồn tài nguyên nguyên liệu gỗ khá phong phú, trong khi đó vẫn phải xuất nguyên liệu nhập trở lại thành phẩm từ gỗ từ các nước Châu âu. Đầu tư vào công việc chế biến gỗ cho phép tận dụng nguồn nguyên liệu gỗ tại các nước này và phát huy khả năng kỹ thuật cũng như nguồn nhân công của nước ta. Chế biến thuỷ sản: Lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản của Nam Phi tuy đã đạt ở một trình độ khá phát triển, tuy nhiên vẫn chưa thể đủ để đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của thị trường khó tính như Châu âu, hay thậm chí nhu cầu của những tầng lớp bình dân trong nước cũng như trong khu vực. Công nghiệp nhựa: Hiện nay ngành công nghiệp nhựa của nước ta đang phát triển khá nhanh và đã cho ra đời nhiều loại sản phẩm với mẫu mã hấp dẫn, chất lượng tốt và giá cả cạnh tranh. Đây chính là một lợi thế khi đầu tư vào Nam Phi, nơi mà nhu cầu về các sản phẩm nhựa gia dụng là rất lớn. Dược phẩm: Nam Phi hàng năm đều phải nhập khẩu một khối lượng lớn dược phẩm để đáp ứng nhu cầu trong nước, chủ yếu là từ các nước Châu Âu, với giá nhập khẩu cao hơn nhiều so với sản phẩm cùng loại mà nước ta sản xuất được. Vì vậy, dược phẩm Việt Nam với ưu thế về chất lượng và giá cả có thể chinh phục được thị trường này. Qua nghiên cứu cho thấy, các mặt hàng có khả năng tiêu thụ lớn là kháng sinh, thuốc trị cảm sốt, trị các bện truyền nhiễm, vitamin... Đây là cơ hội để doanh nghiệp nước ta xúc tiến đầu tư sản xuất dược phẩm vào Nam Phi, sau đó có thể phân phối sang các nước khác trong khu vực. Theo đánh gía của của công ty Traphaco, chi phí đầu tư một dự án như vậy không cao, khoảng 4 triệu USD. Hàng điện tử - tin học: Nhu cầu về các mặt hàng điện tử-tin học ở Nam Phi tăng rất mạnh, chính vì thế đất nước này phải nhập khẩu phần lớn các mặt hàng này. Do chi phí vận tải cao nên giá thành thường đắt hơn thị trường Mỹ hay EU từ 50%-100%. Vì vậy Việt Nam nên đầu tư sản xuất hay lắp ráp tại chỗ sản phẩm điện tử tin học ở các thị trường này để thu được lợi nhuận cao. Lĩnh vực dịch vụ viễn thông: Tất nhiên những ngành hàng đầu tư trên chỉ là gợi ý, mang tính định hướng. Bản thân các doanh nghiệp cần phải chủ động tiến hành những nghiên cứu thị trường cụ thể trong lĩnh vực kinh doanh của mình, để từ đó xây dựng dự án đầu tư có tính khả thi. KẾT LUẬN Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện chủ trương đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ chính trị ngoại giao cũng như kinh tế thương mại với khắp các quốc gia và châu lục trên thế giới. Quá trình này tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống đất nước trong đầu thế kỷ 21. Bên cạnh đó, tình hình thế giới biến động với những thay đổi không theo ý muốn, thậm chí bất lợi, ví dụ như sự chiếm lĩnh thị trường Trung Đông của Mỹ khiến các nước buộc phải chủ động đổi mới, tìm kiếm khai thác những thị trường mới, hấp dẫn và hiệu quả hơn. Chính vì thế, trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam năm 2003, Chính phủ ta đã xác định thị trường Châu Phi như một thị trường mới mẻ, giầu tiềm năng, cần phải được đẩy mạnh khai thác hiệu quả đồng thời chỉ định rõ Châu Phi là một trong năm thị trường đầu mối của Việt Nam. Trong số 54 quốc gia ở Châu Phi, Cộng hoà Nam Phi nổi lên như một đầu tầu về mọi mặt, cả về kinh tế, văn hoá, chính trị,... đóng vai trò trọng yếu ở châu lục trên 800 triệu dân này. Đề tài nghiên cứu khoa học: ‘Phát triển quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Cộng hoà Nam Phi’ thực hiện trong phần khoá luận tốt nghiệp hy vọng mang đến một cái nhìn sâu hơn về đất nước Nam Phi cũng như về quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Cộng hoà Nam Phi. Trên cơ sở đó, khoá luận nghiên cứu những giải pháp phát triển cho quan hệ hai nước trong những năm tới, đồng thời có những đề xuất cụ thể. Em hy vọng khoá luận này sẽ mang lại một giá trị thực tiễn nhất định, đúng thời điểm và cần thiết. Để làm được khoá luận này, em đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong khâu thu thập thông tin, dữ liệu. Trên thực tế, đây là một đề tài rất mới mẻ, tài liệu và thông tin hiện nay về Cộng hoà Nam Phi, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại là rất ít. Em đã cố gắng tổng hợp tư liệu từ rất nhiều nguồn khác nhau như các báo cáo tổng kết của các cơ quan, cục, vụ,... và cả trong các sách, báo, tạp chí, internet... Nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô giáo, bạn bè và tất cả những người quan tâm đến đề tài này để có thể hoàn thiện thêm kết quả nghiên cứu, đem lại ý nghĩa thực tiễn cho luận văn. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 09 tháng 12 năm 2003 Sinh viên Tạ Thu Hà HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ NAM PHI   Mở đầu  Chớnh phủ Cộng hoà Xó hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chớnh phủ Cộng hoà Nam Phi (dưới đây được gọi chung là "các Bên" và riêng là "mỗi Bên"),              Quan tâm tới sự phát triển mới của quan hệ bạn bè giữa hai nước;              Khẳng định mong muốn  thiết lập các mối quan hệ qua lại nhằm hỗ trợ, bổ sung và mở rộng hợp tác giữa hai bên;              Quyết tâm củng cố, tăng cường và đa dạng hoá quan hệ thương mại giữa hai nước;              Tin tưởng rằng sự hợp tác như vậy sẽ  được thực hiện theo các chính sách phát triển của hai nước;              Mong muốn tăng cường các mối quan hệ giữa hai nước và cùng nhau đóng góp vào sự hợp tác mậu dịch quốc tế;              Thoả thuận như sau :  Điều 1:  Điều khoản chung               Các Bên sẽ áp dụng mọi biện pháp thích hợp nhằm tạo thuận lợi và xúc tiến các quan hệ thương mại và kinh tế giữa hai nước phù hợp với luật pháp của mỗi nước và tuân theo các nghĩa vụ của các thoả ước, công ước và hiệp định quốc tế mà các Bên có thể là thành viên.  Điều 2:   Đói ngộ Tối huệ quốc   (1)  Các Bên sẽ dành cho nhau chế độ đói ngộ tối huệ quốc trong mọi vấn đề liên quan tới :              (a) các loại thuế hải quan và mọi loại phí và thuế khác áp dụng với hàng hoá nhập khẩu hoặc xuất khẩu  cũng như là các phương thức thu các loại thuế hải quan, phí và thuế này;              (b) các quy định pháp lý liên quan đến thủ tục hải quan, quá cảnh, lưu kho;              (c) các loại thuế nội địa và tất cả các khoản thu khác áp dụng trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hàng nhập khẩu;              (d) các phương thức thực hiện các thanh toán  phát sinh từ việc thực hiện Hiệp định này và việc chuyển các khoản thanh toán đó;              (e) các quy định pháp lý liên quan tới việc bán, mua, vận tải,  phân phối  và sử dụng hàng hoá tại thị trường nội địa.  (2)  Đối với mọi vấn đề liên quan tới giấy phép xuất nhập khẩu được cấp theo luật pháp của  mỗi nước, mỗi Bên sẽ dành cho bên kia sự đói ngộ khụng kộm ưu đói hơn sự đói ngộ ưu đói nhất được dành cho nước thứ ba.  Điều 3:  Sản phẩm xuất xứ từ nước thứ ba               Theo điều 2, mọi lợi thế, ưu đói, ưu tiên hay miễn trừ mà một Bên dành hoặc có thể dành cho  một nước thứ ba đối với sản phẩm có xuất xứ từ  hoặc được chuyển đến lónh thổ của nước thứ ba này, sẽ được dành ngay lập tức và không điều kiện cho các sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hoặc để nhập khẩu vào lónh thổ nước Bên kia.   Điều 4:  Miễn trừ từ MFN               Các quy định tại điều 2 và 3 sẽ không bao gồm:              (a) lợi thế mà mỗi Bên đó hoặc cú thể dành cho cỏc nước láng giềng nhằm tạo thuận lợi cho biên mậu;              (b) lợi thế hoặc ưu đói do một Bên dành cho nước thứ ba phù hợp với hiệp định ưu đói thương mại nhiều bên;              (c) lợi thế hoặc ưu đói mà một Bờn đó hoặc cú thể dành cho cỏc chương trỡnh nhằm mở rộng sự hợp tỏc kinh tế - thương mại giữa các nước đang phát triển, các chương trỡnh mà một Bờn là hoặc sẽ là người tham gia;              (d) lợi thế hoặc ưu đói cú được từ  các hoạt động của một Liên minh Quan thuế hay Khu vực mậu dịch tự do mà một Bên đang tham gia hoặc có thể tham gia.  Điều 5:  Khuyến khích việc hướng dẫn các hoạt động kinh tế thương mại và trao đổi thông tin thương mại              (1) Mỗi Bên sẽ cố gắng thúc đẩy việc hướng dẫn các hoạt động kinh tế thương mại  trên lónh thổ nước mỡnh một cỏch phự hợp với cỏc luật lệ của nước mỡnh và cỏc thụng lệ chung về thương mại quốc tế  đó  được chấp nhận.              (2) Trong khuôn khổ việc thực hiện Hiệp định này, các Bên sẽ trao đổi các thông tin có thể góp phần vào  việc mở rộng các hoạt động thương mại  giữa hai nước.  Điều 6:  Tạo thuận lợi cho quá cảnh hàng hoá               Theo luật pháp nước mỡnh, mỗi Bờn sẽ cho phộp hàng hoỏ nước Bên kia được quá cảnh tự do qua lónh thổ nước mỡnh.  Điều 7:  Tạo thuận lợi và tham dự các hội chợ thương mại               1) Trong khuôn khổ Hiệp định này và theo luật pháp liên quan của mỗi nước, mỗi Bên sẽ khuyến khích các doanh nghiệp  và công ty của Bên kia tổ chức các hội chợ và triển lóm thương mại tại nước mỡnh và sẽ tớch cực tạo thuận lợi  cho việc tiến hành cỏc hội chợ triển lóm này.              2) Theo luật pháp nước mỡnh, mỗi Bên sẽ cho phép nhập khẩu miễn thuế hải quan và các loại phí khác đối với :              (a) hàng hoỏ dựng cho cỏc hội chợ, triển lóm, trỡnh diễn, hội thảo, hay hội nghị của Bờn kia và khụng cú mục đích để bán:  (i) các hàng hoá để trưng bày, triển lóm hay trỡnh diễn tại hội chợ, triển lóm;   (ii) cỏc hàng hoỏ cần thiết cho việc trỡnh diễn mỏy múc nước ngoài hoặc các thiết bị  để trưng bày hay triển lóm;  (iii) các vật tư giới thiệu, trỡnh diễn và quảng cỏo ( bao gồm ỏp phớch, sỏch,  tờ rời quảng cỏo, thiết bị âm thanh , phim và đèn chiếu ) và các thiết bị để sử dụng các loại vật tư này;                     (iv) thiết bị bao gồm dụng cụ thuyết trỡnh và thiết bị thu thanh; và   (v) vật tư xây dựng, trang trí và đồ điện dùng cho các gian hàng tạm thời hoặc để trưng bày, hoặc để triển lóm cỏc loại hàng hoỏ tại tiểu mục (i);               (b)  hàng hoá đó xuất khẩu được gửi lại để sửa chữa, với điều kiện các hàng hoá này sẽ phải được tái xuất sau khi sửa chữa xong.              3) Hàng hoá và thiết bị nêu ở điểm 2 sẽ không được bán ở nước mà nó được nhập vào và sẽ phải tái xuất khẩu khỏi nước đó trừ phi được cơ quan có thẩm quyền  của nước đó cho phép và đó thanh toỏn đầy đủ các loại thuế hải quan và phí theo đúng luật lệ và quy định hiện hành ở nước đó.  Điều 8:  Thoả ước thanh toán               Mọi việc thanh toán cho hàng hoá và dịch vụ  phát sinh từ việc thực hiện Hiệp định này sẽ được thực hiện bằng các đồng tiền tự do chuyển đổi phù hợp với luật pháp của mỗi nước. Điều 9:  Các biện pháp bảo vệ               Với yêu  cầu  các biện pháp này không được áp dụng một cách tuỳ tiện hoặc phân biệt đối xử, các quy định của Hiệp định này sẽ không giới hạn các quyền của mỗi Bên thông qua hay thực  hiện các biện pháp :              (a) vỡ lý do sức khoẻ cụng cộng, đạo đức, trật tự hay an ninh;              (b) để bảo vệ thực vật và động vật chống lại các loại bệnh và sâu bọ phá hoại;              (c) để bảo vệ khả năng tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán; hay               (d) bảo vệ các tài sản quốc gia hoặc các giá trị nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ.  Điều 10:  Thành lập Uỷ ban Thương mại Hỗn hợp               (1) Nhằm tạo thuận lợi cho việc thực hiện có hiệu quả Hiệp định này, mở rộng các quan hệ kinh tế và thương mại giữa hai nước và  kiểm điểm việc triển khai Hiệp định, các Bên sẽ thành lập một uỷ ban liên chính phủ, dưới đây gọi là Uỷ ban Hỗn hợp.              (2) Uỷ ban Hỗn hợp sẽ gồm một Bên là các đại diện của Cộng hoà Xó hội Chủ nghĩa Việt Nam và một Bờn là cỏc đại diện của Cộng hoà Nam Phi.                (3) Uỷ ban Hỗn hợp sẽ hoạt động theo sự nhất trí chung.              (4) Uỷ ban Hỗn hợp sẽ nhóm họp theo yêu cầu và theo sự thỏa thuận của các Bên, nơi tiến hành cuộc họp sẽ lần lượt do các Bên chỉ định.  Điều 11:  Giải quyết tranh chấp               (1) Mọi tranh chấp đối với việc giải thích và thực hiện Hiệp định này sẽ được giải quyết thông qua  thảo luận tại Uỷ ban Hỗn hợp.              (2) Mỗi Bên có thể nêu ra tại Uỷ ban Hỗn hợp các vấn đề ngay cả  khi thấy rằng các vấn đề  đó không thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này.              (3) Các Bên sẽ cung cấp cho Uỷ ban Hỗn hợp mọi thông tin có liên quan được yêu cầu để xem xét một cách toàn diện mọi tranh chấp nhằm tỡm ra giải phỏp cú thể chấp nhận được đối với cả hai Bên.  Điều 12:  Kết thúc các hợp đồng               Những quy định của Hiệp định này sẽ được tiếp tục áp dụng đối với các hợp đồng ký kết trong thời hạn hiệu lực của Hiệp định mà chưa thực hiện xong vào ngày Hiệp định hết hạn cho đến khi các hợp đồng đó được hoàn thành.  Điều 13:  Cơ quan có thẩm quyền               Các cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm đối với việc áp dụng Hiệp định này và các vấn đề có liên quan khác :              (1) phớa Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam là Bộ Thương mại, và              (2) phía Cộng hoà Nam Phi là Bộ Thương mại và Công nghiệp.   Điều 14:  Sửa đổi và Hiệu lực của Hiệp định               (1) Hiệp định này có thể được sửa đổi vào bất kỳ thời điểm nào với sự thoả thuận bằng văn bản của các Bên, trao đổi qua con đường ngoại giao.              (2) Việc sửa đổi hay chấm dứt Hiệp định này sẽ không được ảnh hưởng  hoặc, trong mọi trường hợp, không được gây tổn hại tới các quyền hoặc  nghĩa vụ phát sinh từ việc thực thi Hiệp định trước ngày  sửa đổi  hay chấm dứt có hiệu lực.              (3) Hiệp định này sẽ có hiệu lực vào ngày các Bên thông báo bằng văn bản qua đường ngoại giao cho nhau biết các yêu cầu cần thiết về pháp lý của mỗi bờn cho việc thực hiện Hiệp định đó hoàn tất. Ngày cú hiệu lực sẽ là ngày của thụng bỏo cuối cựng.  (4) Hiệp định sẽ có hiệu lực trong thời hạn là ba năm và sau đó sẽ tự động được gia hạn cho một thời hạn tương tự trừ phi, trong thời gian tối thiểu là ba tháng trước khi hết hạn hiệu lực, một Bên trao cho bên kia thông báo bằng văn bản ý định chấm dứt Hiệp định của mỡnh.  Để làm bằng, những người được uỷ quyền hợp thức của Chính phủ mỗi bên đó ký tờn và đóng dấu Hiệp định này thành hai bản bằng tiếng Anh và tiếng Việt, cả hai bản có giá trị như nhau, nhưng trong trường hợp có mâu thuẫn không thể thoả thuận được giữa hai bản thỡ bản tiếng Anh sẽ cú giỏ trị quyết định.                                        Làm tại  Pretoria  ngày 25 tháng 4 năm 2000. Thay mặt Chính phủ               Thay mặt Chính phủ Cộng hoà Xó hội Chủ nghĩa Việt Nam                Cộng hoà Nam Phi Đỗ Như Đính Thứ trưởng Bộ Thương mại Lindiwe Hendricks Thứ trưởng Bộ Công Thương TÀI LIỆU THAM KHẢO : Một số vấn đề về định hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu 2003 - Báo cáo chuyên đề - Bộ Thương mại. Định hướng phát triển xuất khẩu giai đoạn 2001-2010 - Bộ Thương mại. Giải quyết khó khăn và thách thức đối với ngoại thương Việt Nam trong hội nhập quốc tế- Viện nghiên cứu thương mại - Bộ Thương mại. Thúc đẩy phát triển mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Châu Phi - Vụ Châu Phi Tây Nam Á - Bộ Thương mại. Cộng hoà Nam Phi, một thị trường tiềm năng đối với hàng hoá Việt Nam - Báo cáo Thương vụ Việt Nam tại Nam Phi. South Africa year book 2001/2002 - Leanne Feris - 2002 - NXB Editor Delien Burger Doing Business in South Africa - Tác giả: Jonathan Reuvid và Ian Priestner - NXB Fouth Edition - 2001 Các bài báo: Để hàng Việt Nam rộng đường vào Châu Phi - Tác giả: Bảo Thạch - Báo Nhân dân Quan hệ hợp tác Việt Nam - Cộng hoà Nam Phi - Tác giả: Anh Dũng - Báo Nhân dân Để gạo Việt Nam tiếp tục đến lục địa đen -Tác giả: Trần Thế Anh - Thời báo kinh tế Sài gòn. Và các bài báo khác trên các trang web: www.vneconomy.vn; www.vnn.vn; www.vnexpress.net; www.vneconomy.com.vn www.thuongviet.com ...

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCộng hoà nam phi, giải pháp phát triển cho quan hệ kinh tế - thương mại giữa việt nam và cộng hoà nam phi trong thời gian tới.doc
Luận văn liên quan