Đề tài Khủng hoảng tài chính mỹ và những ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Khôi phục và đẩy mạnh xuất khẩu là giải pháp đầu tiên trong 5 nhóm giải pháp được Chính phủ Việt Nam đặt ra để ngăn chặn suy giảm kinh tế. Đây được coi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, vì xuất khẩu liên quan đến dân sinh, lao động, nông nghiệp, ; ổn định được xuất khẩu sẽ là tiền đề để có sự ổn định chung. Do đó, ngay từ cuối năm 2008, đầu năm 2009, Chính Phủ cùng với Ngân hàng Nhà nước đã có những biện pháp tích cực nhằm tháo gỡ những khó khăn của doanh nghiệp xuất khẩu, hạn chế tối đa những tác động tiêu cực do khủng hoảng gây nên. Bên cạnh gói kích cầu 1 tỷ USD trong gói 6 tỷ USD để kích cầu đầu tư, nhằm hỗ trợ chủ yếu cho các đối tượng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và một số doanh nghiệp khác duy trì sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu; chính phủ cũng đang hoàn thành đề án hỗ trợ cho nhóm 12 mặt hàng xuất khẩu được dự báo sẽ gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ trong năm 2009. Với mức hỗ trợ 40 đồng/USD cho dệt may và 20 USD cho các mặt hàng khác (thủy sản, rau quả, giày dép, túi xách, điện tử và linh kiện máy tính, hàng thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm cơ khí ),

pdf102 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 1894 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Khủng hoảng tài chính mỹ và những ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g nhập khẩu để góp phần giảm nhập siêu. Hạn chế nhập khẩu các mặt hàng trong nước đã sản xuất được và bảo đảm yêu cầu về chất lượng các mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu. Cụ thể là:  Nhóm 1 (nhóm mặt hàng cần thiết nhập khẩu) gồm máy móc, thiết bị, phụ tùng và các nguyên nhiên liệu quan trọng phục vụ sản xuất: Đây là đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu, do đó phải đảm bảo nhập khẩu đủ cho nhu cầu. Dự kiến nhóm hàng này khoảng 74,2 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 76% tăng 12% so với năm 2008.  Nhóm 2 (nhóm mặt hàng nhập khẩu cần kiểm soát) gồm các mặt hàng như giấy các loại, dầu mỡ động vật thực vật, hàng hóa khác (như sản phẩm dầu gốc, gas, đá quý, kim loại quý): Dự kiến nhóm hàng này khoảng 16,3 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 16,7%, tăng 21,6% so với năm 2008. Riêng mặt hàng xăng dầu nhập khẩu sẽ giảm cả về lượng và trị giá do nguồn cung từ nhà máy lọc dầu Dung Quất.  Nhóm 3 (nhóm mặt hàng hạn chế nhập khẩu) gồm các nguyên phụ liệu thuốc lá, hàng tiêu dùng, ôtô nguyên chiếc dưới 12 chỗ, linh kiện ôtô dưới 12 chỗ, linh kiện và phụ tùng xe gắn máy… Dự kiến nhóm hàng này khoảng 7,2 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 7,3% trên tổng kim ngạch nhập khẩu. 70 Như vậy, năm 2009, mục tiêu tổng kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 96,6 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2008, trong đó kim ngạch của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,9% và kim ngạch của các doanh nghiệp trong nước tăng 15,1%. Các mặt hàng nguyên liệu cơ bản vẫn nhập khẩu từ thị trường Châu Á do những thuận lợi về khoảng cách, phù hợp thị hiếu, giá cả (tỷ trọng ước tính khoảng 75 – 85%), tiếp theo là Châu Mỹ và EU. Ưu tiên nhập khẩu công nghệ nguồn từ những nước tiên tiến như Mỹ, Châu Âu. II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM TRONG KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ Tăng trưởng hướng về xuất khẩu vẫn luôn là mục tiêu phát triển của nước ta. Việc đề ra những biện pháp nhằm ngăn chặn sự suy giảm của xuất khẩu chính là nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu trong bối cảnh hiện nay cũng như trong thời gian tới. Nhìn ra thế giới, kinh nghiệm của các nước đang phát triển thành công với chiến lược tập trung phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu có thế mạnh cạnh tranh đều đạt được tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc. Ví dụ điển hình chính là Trung Quốc với việc duy trì đồng nội tệ yếu trong nhiều thập niên đã biến quốc gia này thành nơi sản xuất hàng rẻ nhất trên thế giới, từ một nước nhập siêu thành một cường quốc xuất khẩu, một quốc gia xuất siêu với lượng dự trữ ngoại tệ lên đến ngàn tỷ USD. Hay như Hàn Quốc để đối phó với khủng hoảng kinh tế trong thời gian qua đã phá giá đồng nội tệ đến 50% nhờ vậy hoạt động xuất khẩu vẫn được duy trì và phát triển. Hiện nay, tại Việt Nam, có một bộ phận các chuyên gia kinh tế kiến nghị phá giá VNĐ để thúc đẩy xuất khẩu. Những người theo quan điểm này cho rằng, hậu quả lớn nhất của việc định giá cao đồng nội tệ là giảm tăng trưởng xuất khẩu và kích thích nhập khẩu. Điều này cũng hạn chế sự phát triển nông nghiệp, giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế, và tăng hàng rào bảo hộ mậu dịch. Phá giá VNĐ là một trong những nhân tố cơ bản sẽ giải quyết nhiều vấn đề nan giải của nền kinh tế hiện nay. Tuy nhiên, phần đông quan điểm khác cho rằng phá giá VNĐ tại thời điểm này tuy sẽ là động lực đẩy mạnh xuất khẩu nhưng sẽ làm bất ổn kinh tế vĩ mô. Do tỷ giá VNĐ/USD là tổng hòa của nhiều mối quan hệ, không chỉ liên quan đến xuất nhập khẩu. Tỷ giá tác động khá 71 lớn đến quan hệ nợ/trả nợ, bao gồm cả doanh nghiệp và nhà nước. Nếu USD tăng giá so với VNĐ sẽ làm doanh nghiệp cũng như Nhà nước gặp rủi ro về tỷ giá, dẫn đến nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp. Ngoài ra, Việt Nam là nước nhập siêu, tăng tỷ giá sẽ tăng giá hàng hóa trong nước và làm giảm tính cạnh tranh của hàng nội địa. Quan điểm thứ hai được cho là hợp lý với tình hình Việt Nam hiện nay. 1. Một số giải pháp từ phía Nhà nước 1.1. Cơ cấu lại thị trường xuất khẩu Khi các thị trường xuất khẩu chủ lực và truyền thống Mỹ, EU, Nhật bị ảnh hưởng bởi cuộc suy thoái kinh tế, chính là lúc các doanh nghiệp Việt Nam cần có những động thái tích cực nhằm cơ cấu lại thị trường, tìm kiếm đến những thị trường tiềm năng hơn. Trung Đông, Châu Phi chính là những thị trường được nhắc đến như một giải pháp cho những khó khăn trước mắt do ảnh hưởng của kinh tế suy thoái toàn cầu. Xét về dài hạn, đây đều là những thị trường tiềm năng. Theo nhận định của Bộ Công Thương, nếu như mục tiêu tăng trưởng kinh tế của cả nước năm 2009 vào khoảng 13% thì nhóm tăng trường xuất khẩu sang Trung Đông, Châu Phi có thể ở mức 35 – 40%. Năm 2008, Chính phủ đã chọn là "năm Trung Đông" và năm 2009 được chọn làm "năm Châu Phi" để khẳng định sự chú trọng và cũng là một sự định hướng cho thị trường xuất khẩu Việt Nam trong thời gian này. Về thị trường Trung Đông: Tuy có những bất ổn về chính trị, nhưng trong những năm gần đây, kinh tế Trung Đông đã có sự bùng nổ rõ rệt. Lợi thế về dầu lửa và sự tăng cao về giá mặt hàng này trên thế giới chính là những nhân tố có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực. Năm 2008, tăng trưởng GDP toàn khu vực đạt 6,2%, xuất khẩu 1.093,6 tỷ USD (tăng 11,3% so với năm 2007), nhập khẩu 541,5 tỷ USD (tăng 13,3% so với năm 2007) [8].Với những điều kiện thuận lợi về quan hệ thương mại, nhu cầu tiêu dùng lớn, môi trường nhiều ưu đãi, Trung Đông chính là một trong những điểm đến hấp dẫn cho thị trường xuất khẩu Việt Nam.  Quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Đông 72 Khu vực thị trường Trung Đông có 15 nước với khoảng trên 250 triệu dân, nằm trên con đường huyết mạch Á – Âu và nằm ở ngã ba của ba châu lục Á – Âu – Phi nên rất thuận tiện để vận chuyển, đưa hàng hóa thâm nhập vào các khu vực thị trường lân cận. Với xu hướng toàn cầu hóa, các quốc gia Trung Đông, đặc biệt là các nước thuộc hợp đồng hợp tác vùng vịnh (GCC) bao gồm Saudi Arabia, các tiểu vương quốc Arap thống nhất (UAE), Kuwait, Oman, Bahrain, Qatar cũng đang tích cực cơ cấu lại nền kinh tế của mình. Theo đó, xu hướng cơ cấu kinh tế của GCC ngày càng được thể hiện rõ nét ở các hoạt động: tăng cường hoạt động ngoại thương, tự do hóa thương mại, tạo ra làn sóng đàm phán về hiệp định tự do thương mại (FTA) trong nội bộ khối và các quốc gia trên thế giới. Kể từ tháng 1/2008, các nước GCC đã thực hiện Khu vực thị trường chung trong toàn khối – tự do di chuyển về người và hàng hóa trong nội bộ GCC; đồng thời cũng lên kế hoạch cho đến năm 2010 đưa khối này trở thành một liên minh tiền tệ cùng sử dụng một đồng tiền chung. Bên cạnh đó, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các thị trường Trung Đông có khá nhiều thuận lợi. Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với tất cả các nước Trung Đông. Nhiều hiệp định, nghị định song phương đã được ký kết với các nước trong khu vực, nhằm tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thương mại giữa hai bên như Hiệp định thương mại, Hiệp định Hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật, Hiệp định vận tải hàng hải ...Theo Tổng cục thống kê năm 2008, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Trung Đông là 1,2 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu 700 triệu USD, tăng 17,2% so với năm 2007, và nhập khẩu 490 triệu USD. Các sản phẩm xuất khẩu chính bao gồm: gạo, cà phê, sản phẩm dệt may, máy tính và linh kiện điện tử, giày dép, chất dẻo nguyên liệu, hải sản, sợi, cao su, than đá, chè, gỗ và sản phẩm gỗ. Các sản phẩm nhập khẩu chính gồm những sản phẩm thế mạnh của khu vực này như xăng dầu, sản phẩm hóa dầu, phân bón, sắt thép, chất dẻo,... Điều đáng lưu ý trong quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Đông trong những năm gần đây chính là sự chuyển dịch tích cực của cơ cấu thị trường xuất khẩu. Trước đây, xuất khẩu Việt Nam sang Trung Đông chủ yếu phụ thuộc vào hai thị trường trọng điểm là Iraq và UAE. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu đã được mở rộng sang các thị trường khác như Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Saudi Arabia,… Cơ cấu mặt hàng cũng dần thay đổi khi lượng xuất khẩu hàng nông sản và nhiên liệu ngày 73 càng có xu hướng giảm, thay vào đó là các mặt hàng có hàm lượng chất xám và hàm lượng lao động  Nhu cầu tiêu dùng lớn, luật lệ không quá khắt khe Với số dân hơn 250 triệu người, Trung Đông hoàn toàn có thể trở thành một thị trường đầy tiềm năng nếu các doanh nghiệp Việt Nam biết chọn lựa mặt hàng xuất khẩu phù hợp nhu cầu của người dân. Cụ thể với mặt hàng thủy sản tại thị trường UAE. UAE không có lợi thế về thủy sản nên nội địa chỉ cung cấp khoảng 25% nhu cầu trong nước, 75% nhu cầu còn lại phải phụ thuộc vào các nhà nhập khẩu (trong đó có Việt Nam). Với lợi thế đã từng được ưa chuộng tại nhiều thị trường, đáp ứng được các quy định về chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm của EU, Mỹ, Nhật Bản,…;ngành thủy sản Việt Nam hoàn toàn có khả năng có một chỗ đứng vững chắc tại khu vực này. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2008, Việt Nam đã xuất khẩu sang UAE với kim ngạch 244,67 triệu USD (tăng 71% so với năm 2007); trong đó, mặt hàng thủy sản đạt kim ngạch cao nhất với 19,88 triệu USD (tăng 10,3% so với năm 2007). Ngoài ra, với đặc điểm là khu vực có cộng đồng đạo Hồi đông nhất thế giới và hầu như toàn bộ những chiếc áo thụng mà người dân theo đạo sử dụng đều là hàng nhập khẩu. Cứ trung bình một người dùng ba chiếc áo/năm, như vậy, thị trường này có khả năng tiêu thụ mỗi năm 40 triệu chiếc áo thụng. Hay với đặc điểm khí hậu quanh năm sống ở vùng cát nóng, Trung Đông có nhu cầu rất lớn về các loại nước giải khát trái cây và các loại đồ uống không cồn. Đây chính cơ hội cho chính những doanh nghiệp Việt Nam để đưa những mặt hàng thế mạnh của mình như dệt may, lương thực, thực phẩm,…cũng có thể trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực ở thị trường còn chưa được khai thác đúng mức này. Một thuận lợi nữa của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam khi Trung Đông là khu vực có độ mở rất lớn, tức là nếu doanh nghiệp xuất khẩu vào một nước thì hàng hóa có thể dễ dàng phân phối ở các nước khác trong khu vực. Chính sách ngoại thương cởi mở, không có hàng rào thuế quan, phi thuế quan hay áp đặt các tiêu chuẩn về kỹ thuật nặng nề như các thị trường khác. Mức thuế khá thấp (0 - 5%), thủ tục kiểm tra, kiểm soát hàng đơn giản là những đặc điểm khiến thị trường này trở nên hấp dẫn hơn. 74 Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội trước mắt, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần phải có sự chuẩn bị chu đáo để đối phó với những rào cản và khó khăn mà thị trường này mang lại. Trung Đông được đánh giá là khu vực không chịu tác động nhiều của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, nền kinh tế của các nước trong khu vực vẫn ở mức tăng trưởng cao năm 2008. Tuy nhiên, vấn đề phát triển quá nóng lại là nguy cơ đe dọa nền kinh tế của khu vực. Từ năm 2009, sức ép về lạm phát tăng cao, đặc biệt là với các quốc gia xuất khẩu dầu lửa. Giá dầu mỏ xuống thấp là nguyên nhân khiến cho nguồn thặng dư ngoại tệ ở các nước xuất khẩu dầu mỏ giảm đáng kể. Điều này sẽ tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Dự báo tăng trưởng GDP của Trung Đông sẽ giảm từ 6,2% trong năm 2008 xuống còn 5,9% trong năm 2009 và con số này có khả năng giảm hơn nữa nếu tình hình giá dầu vẫn tiếp diễn. Do đó, khó khăn đầu tiên của các doanh nghiệp Việt Nam là nhu cầu nhập khẩu của khu vực này sẽ bị tác động gián tiếp và suy giảm đáng kể. Ngoài ra, với những thuận lợi - như khu vực có sức tăng trưởng kinh tế nhanh (trung bình khoảng 6 -14%), chính sách thuế giống nhau, thuế ở mức thấp, hàng hóa các nước trong khu vưc lưu thông dễ dàng - Trung Đông không chỉ là thị trường tiềm năng của Việt Nam mà còn là điểm đến hấp dẫn của thế giới. Khó khăn thứ hai của doanh nghiệp xuất khẩu chính là tính cạnh tranh rất cao của hàng hóa. Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Nam không hiểu rõ những thông tin về dung lượng thị trường của từng mặt hàng, tập quán kinh doanh, pháp luật,…và những bất ổn chính trị thường xuyên ở một số khu vực cũng là những trở ngại cần giải quyết. Cụ thể như sự khác nhau về tập quán kinh doanh ngay trong các quốc gia của khu vực. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, thanh toán chủ yếu theo hình thức trả chậm (D/P), nhưng với UAE, việc thanh toán hoàn toàn theo L/C. Các doanh nghiệp Iran sử dụng Euro trong thanh toán, không sử dụng USD. Hay những khác biệt khi xuất khẩu mặt hàng gia cầm giết mổ sang Ả rập, các doanh nghiệp cũng cần phải tuân theo những quy trình chế biến rất đặc biệt tại quốc gia này. Về thị trường Châu Phi: Châu Phi nằm phía Tây Nam đại lục Á – Âu, nối Đại Tây Dương với Ấn Độ Dương, nối Châu Á với Châu Âu và Châu Mỹ. Châu Phi gồm 53 quốc gia với dân số trên 967 triệu người. Theo nhận định của IMF, đây tuy là châu lục nghèo nhất thế giới nhưng 75 hiện đang trên đà tăng trưởng mạnh. Năm 2009, dự báo nền kinh tế Châu lục này đạt 4,9% so với mức tăng bình quân 6% những năm trước. Đây là mức dự báo khả quan so với sự sụt giảm mạnh của các nền kinh tế phát triển. Ngoài ra, thị trường Châu Phi với dân số lớn, các quốc gia Châu Phi đều là những nước đang chậm phát triển nên nhu cầu nhập khẩu của Châu Phi rất lớn gần 200 tỷ USD/năm.  Quan hệ thương mại Việt Nam – Châu Phi Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao 48/53 nước Châu Phi và có quan hệ ngoại giao với 13/53 nước, mở cơ quan đại diện ngoại giao tại Ai Cập, An-giê-ri, Libi, Ang-go-la, Nam Phi, Tan-dan-ia, Maroc, Ni-giê-ria và 5 thương vụ tại Ai Cập, An-giê-ri, Nam Phi, Maroc, Ni-giê-ria. Trong đó, các hoạt động xúc tiến hợp tác kinh tế thương mại 2 chiều diễn ra thường xuyên như: Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam – Châu Phi (năm 2004), Hội Hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Châu Phi và Viện Nghiên cứu Châu Phi – Trung Đông đã được thành lập (năm 2004). Bên cạnh đó, quan hệ giữa Việt Nam và Châu Phi còn được mở rộng trên cả lĩnh vực hợp tác đầu tư, và sản xuất công nghiệp. Như Việt Nam đang tiến hàng triển khai hợp tác đầu tư khai thác dầu khí ở An-giê-ri; xúc tiến các dự án tham dò dầu khi ở Tuy-nuy-di, Ai Cập,…Một số nước Châu Phi cũng đang đẩy mạnh tự do hóa thương mại, mở rộng hợp tác với EU, Mỹ và Trung Đông. Do vậy, với một số mặt hàng như dệt may, ta có thể xúc tiến hợp tác đầu tư với Châu Phi để một mặt tận dụng được nguồn lao động dồi dào, chi phí thấp, mặt khác thúc đẩy xuất khẩu sang Mỹ, EU để hưởng miễn hạn ngạch và miễn thuế nhập khẩu. Về kim ngạch buôn bán Việt Nam – Châu Phi, năm 2008, Việt Nam đã xuất khẩu sang Châu Phi 1,33 tỷ USD và nhập khẩu 756 triệu USD, tăng 95% so với năm 2007 [3]. Mặt hàng xuất khẩu chủ đạo là linh kiện – điện tử, cơ khí, đồ nhựa, sản phẩm gỗ, xe máy, thuốc lá điếu, rau quả,…Thị trường xuất khẩu cũng phát triển theo hướng tích cực. Nếu năm 1991, hàng Việt Nam chỉ xuất sang 3 nước thì nay là 53 nước, trong đó, thị trường xuất khẩu hàng đầu là Nam Phi, Ai Cập, Angieri, Anggola,…Về nhập khẩu, các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là sắt thép, điều thô, bông, phân bón, nguyên phụ liệu thuốc lá; tuy nhiên nhìn chung các mặt hàng nhập khẩu vẫn còn hạn chế cả về kim ngạch lẫn số lượng. 76  Thị trường có nhu cầu lớn về gạo nhập khẩu Đây là thị trường có nhu cầu lớn, đặc biệt về lượng gạo nhập khẩu. Theo Oryza, trang thông tin chuyên về gạo toàn cầu, lượng gạo nhập khẩu vào Châu Phi hàng năm đã lên đến 9 triệu tấn trong tổng nhu cầu tiêu thụ là 16 tấn và con số này không ngừng tăng lên hàng năm. Cụ thể, nhu cầu tiêu thụ gạo tại riêng khu vực Tây và Trung Phi vào khoảng 4 triệu tấn/năm, tương đương 1 tỷ USD, trong đó gạo phải nhập khẩu khoảng 3 triệu tấn/năm. Tại khu vực Nam Phi không sản xuất gạo, toàn bộ lượng tiêu dùng phải nhập khẩu, khối lượng trung bình khoảng 500 – 600 ngàn tấn/năm. Mức tiêu thụ gạo tại CEMAC (Cộng đồng kinh tế và tiền tệ Châu Phi) với 35 triệu dân cũng đã tăng gấp đôi kể từ năm 2004, với tổng giá trị nhập khẩu hằng năm khoảng 180 triệu USD. Dự kiến trong năm 2009, lượng gạo tiêu thụ tại thị trường này sẽ đạt 550.000 tấn [24]. Đặc biệt các thị trường này đều có nhu cầu gạo với phẩm cấp trung bình, giá rẻ, phù hợp với giống gạo mà Việt Nam đang canh tác. Bên cạnh đó, trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang Châu Phi có thể thấy diện mặt hàng xuất khẩu còn hẹp và đơn điệu, tập trung vào một số mặt hàng như nông sản, giày dép, dệt may, máy nông nghiệp. Trong khi đó, tại Châu lục này, hàng hóa rất thiếu thốn. Thực tế là do các doanh nghiệp Việt Nam chưa khai thác hết các mặt hàng có thế mạnh của mình trên thị trường đầy tiềm năng này. Trên thực tế, Việt Nam chỉ đứng thứ năm trong số các quốc gia xuất khẩu vào khu vực này. Nguyên nhân chủ yếu do quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại giữa Việt Nam với Châu Phi hiện nay vẫn chưa tương xứng với những tiềm năng vốn có của hai bên do còn những khó khăn, thách thức cần phải vượt qua như: - Việt Nam vẫn chưa hình thành một hệ thống văn bản pháp quy đầy đủ và chi tiết để tạo lập cơ sở cho các hoạt động thương mại Châu Phi. Hệ thống chiến lược, chính sách hỗ trợ phát triển thương mại và các quan hệ hợp tác khác hầu như chưa có hoặc mới chỉ hình thành trong thời gian gần đây. Đặc biệt, chưa có một chiến lược của Chính phủ về phát triển thương mại và hợp tác với các nước Châu Phi bao hàm đầy đủ các chính sách quan trọng như chính sách thị trường, chính sách mặt hàng, hệ thống các biện pháp hỗ trợ,…Về mặt khách quan, tình hình chính trị, an ninh tại một số nước Châu Phi chưa thực sự ổn định, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ kinh doanh thương mại như hệ thống 77 ngân hàng, tài chính, bảo hiểm chưa phát triển, tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp khá cao tại một quốc gia trong khu vực,… - Gạo Việt Nam xuất khẩu sang Châu Phi phần lớn theo hình thức trung gian qua Châu Âu, do các nhà xuất khẩu này có tiềm lực tài chính mạnh mẽ, hệ thống kho bãi và phân phối hoàn chỉnh. Do đó, giá gạo Việt Nam vào thị trường Châu Phi bị đẩy lên rất cao, bình quân 800 USD/tấn, trong khi giá gạo Việt Nam nếu xuất khẩu trực tiếp chỉ trên dưới 500 USD/tấn. - Khả năng thanh toán của các doanh nghiệp Châu Phi còn nhiều hạn chế, chủ yếu là phương thức thanh toán trả chậm. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến các doanh nghiệp Việt Nam chấp nhận xuất khẩu qua trung gian vì hệ thống ngân hàng của các nước Châu Phi chưa thật sự đủ tin cậy để bảo lãnh cho nhà nhập khẩu mở L/C, mua bán trực tiếp. - Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam phải chịu sự cạnh tranh gay gắt từ phía các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc. Cụ thể, gạo của Việt Nam chỉ chiếm 14% thị trường, thấp hơn nhiều so với 36% thị trường của gạo Thái Lan; và hàng nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc luôn có giá rẻ hơn hàng Việt Nam từ 1,5 – 2 lần, rất phù hợp với sức mua của người tiêu dùng Châu Phi. Như vậy, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới, nhu cầu nhập khẩu của nhiều thị trường lớn bị suy giảm, Trung Đông và Châu Phi chính là một trong những lối mở để các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng Việt Nam cần tiếp cận, xúc tiến thương mại, để nguồn hàng trong nước được lưu thông, kim ngạch xuất khẩu duy trì được tốc độ tăng trưởng. 1.2. Thúc đẩy các hoạt động xúc tiến thƣơng mại Chính Phủ và Bộ Công thương cần nghiên cứu hoàn thiện việc ký kết các thoả thuận, cũng như các hiệp định ở cấp Chính Phủ để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thâm nhập vào các thị trường mới. Tiếp tục củng cố hoạt động của các thương vụ Việt Nam tại các nước nhằm chủ động xây dựng kế hoạch đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường sở tại; đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, tăng cường nghiên cứu thị trường, cung cấp thông tin cần thiết về thị trường, mặt hàng, rào cản thương mại và biện 78 pháp khắc phục (nếu có) cho các doanh nghiệp hai nước; nắm chắc nhu cầu của thị trường để cung cấp thông tin kịp thời và tư vấn cho doanh nghiệp cách thức thâm nhập vào các kênh phân phối hoặc cách thức để đưa hàng nhập khẩu vào thị trường một cách hiệu quả hoặc sớm cảnh báo những rủi ro cho các doanh nghiệp, nghiên cứu lập các trung tâm thương mại, lập kho ngoại quan tại các khu vực trọng điểm để tạo thuận lợi cho việc quảng bá thương hiệu và trao đổi thương mại; đa dạng hóa và mở rộng hợp tác với các thị trường này trên nhiều mặt như đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu và hợp tác kinh doanh cho các doanh nghiệp trong nước. Các thương vụ cũng cần tăng cường phối hợp với Đại sứ quán hoặc các bộ, ngành, tổ chức, hiệp hội doanh nghiệp các nước sở tại để khuyến khích tổ chức các đoàn thương mại sang Việt Nam cũng như tổ chức nhiều hội chợ ra nước ngoài ở những thị trường xuất khẩu lớn để lấy lại uy tín sản phẩm, thương hiệu Việt Nam trên thương thương trường quốc tế và mang lại các cơ hội hợp tác kinh doanh lâu dài. 1.3. Tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu Khôi phục và đẩy mạnh xuất khẩu là giải pháp đầu tiên trong 5 nhóm giải pháp được Chính phủ Việt Nam đặt ra để ngăn chặn suy giảm kinh tế. Đây được coi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, vì xuất khẩu liên quan đến dân sinh, lao động, nông nghiệp,…; ổn định được xuất khẩu sẽ là tiền đề để có sự ổn định chung. Do đó, ngay từ cuối năm 2008, đầu năm 2009, Chính Phủ cùng với Ngân hàng Nhà nước đã có những biện pháp tích cực nhằm tháo gỡ những khó khăn của doanh nghiệp xuất khẩu, hạn chế tối đa những tác động tiêu cực do khủng hoảng gây nên. Bên cạnh gói kích cầu 1 tỷ USD trong gói 6 tỷ USD để kích cầu đầu tư, nhằm hỗ trợ chủ yếu cho các đối tượng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và một số doanh nghiệp khác duy trì sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu; chính phủ cũng đang hoàn thành đề án hỗ trợ cho nhóm 12 mặt hàng xuất khẩu được dự báo sẽ gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ trong năm 2009. Với mức hỗ trợ 40 đồng/USD cho dệt may và 20 USD cho các mặt hàng khác (thủy sản, rau quả, giày dép, túi xách, điện tử và linh kiện máy tính, hàng thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm cơ khí …), dự kiến mức hỗ trợ dựa trên kim ngạch xuất khẩu là 890 tỷ đồng, trong đó, riêng mặt hàng dệt may là 420 tỷ đồng. Ngoài ra, các nghị quyết, quyết định quan trọng về việc hỗ trợ nguồn vốn, giảm, 79 hoãn hoặc lùi thuế cho các doanh nghiệp cũng được đánh giá là những giải pháp rất hiệu quả để hạn chế những hậu quả trước mắt:  Nghị quyết 30/2008/NQ-CP về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội Chính phủ xác định: trong năm 2009, cần phải tâp trung hoàn thành và triển khai thực hiện các chương trình, đề án được giao để thực hiện Chương trình hành động của Chính Phủ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Thực hiện các giải pháp tháo gõ khó khăn và hỗ trợ sản xuất nông, lâm, thủy sản, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng nội địa, ưu tiên hỗ trợ ngành hàng sản xuất, có lợi thế thay thế hàng nhập khẩu, sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước, sử dụng nhiều lao động, … Quy định các chính sách giảm hoặc giãn thuế cho các doanh nghiệp. Cụ thể, đối với các doanh nghiệp đáp ứng một trong hai điều kiện: - Có vốn điều lệ trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư hiện có hiệu lực trước ngày 01/01/2009 không quá 10 tỷ đồng. Trường hợp doanh nghiệp thành lập mới kể từ ngày 01/01/2009 thì vốn điều lệ trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu tư không quá 10 tỷ đồng. - Có số lao động sử dụng bình quân trong quý IV năm 2008 không quá 300 người, không kể lao động có hợp đồng ngắn hạn dưới 3 tháng. Trường hợp doanh nghiệp thành lập mới kể từ ngày 1/10/2008 thì số lao động được trả lương, trả công của tháng đầu tiên (đủ 30 ngày) không quá 300 người. Theo đó, các doanh nghiệp đáp ứng một trong hai điều kiện trên sẽ được hưởng các quy định về miễn hoặc giảm thuế như: giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp (TTNDN) phải nộp của quý IV năm 2008 và năm 2009 đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; giãn thời hạn thời hạn nộp TTNDN trong thời gian 9 tháng đối với TTNDN phải nộp năm 2009 đối với các doanh nghiệp nói trên (70% số thuế còn lại sau khi giảm) và của các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, gia công, chế biến nông, lâm thủy sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử; tạm hoàn 90% số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong trường hợp doanh nghiệp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và hoàn tiếp 10% khi có chứng từ thanh toán; giãn thời gian ân 80 hạn nộp thuế đối với một số ngành hàng phù hợp với chu kì sản xuất và tiêu thụ sản phẩm (đóng tàu, sản xuất cơ khí,…); thực hiện chính sách về ân hạn thời gian nộp thuế nhập khẩu (275 ngày) đối với vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu,…  Quyết định 131/QĐ - TTg về hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh Quyết định quy đinh về việc thực hiện giảm lãi suất cho vay giúp giảm giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh và tạo việc làm trong điều kiện nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới. Theo đó, mức lãi suất hỗ trợ khách hàng vay là 4%/năm, thời hạn vay được hỗ trợ lãi suất tối đa là 8 tháng đối với các khoản vay theo hợp đồng tín dụng được ký kết và giải ngân trong khoảng thời gian từ ngày 1/2 đến ngày 31/2/2009.  Quyết định 291/QĐ – BTC về công bố lãi suất cho vay tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và mức chênh lệch lãi suất được tính hỗ trợ sau đầu tư (có hiệu lực ngày 5/12/2008): Quy định lãi suất cho vay tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước bằng đồng Việt Nam giảm xuống còn 6,9%/năm  Quyết định 14/2009/QĐ – TTg về quy chế bảo lãnh vay vốn theo hướng mở rộng thêm đối tượng doanh nghiệp Nhằm mở rộng phạm vi doanh nghiệp được hỗ trợ vay vốn sau nghị quyết 30/2008 NQ – CP khi chỉ hỗ trợ lãi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng hoặc sử dụng dưới 300 lao động), quyết định 14/2009 quy định, Ngân hàng phát triển Việt Nam bảo lãnh cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có vốn điều lệ tối đa là 20 tỷ đồng và sử dụng tối đa 500 lao động với mức bảo lãnh tối đa bằng 100% số nợ gốc và lãi phát sinh. Doanh nghiệp chỉ cần có dự án kinh doanh và không có lãi suất quá hạn tại các ngân hàng là được xem xét bảo lãnh vay vốn, không cần tài sản thế chấp. Các nghị quyết, quyết định hỗ trợ cho xuất khẩu của Việt Nam được đánh giá là rất hiệu quả. Do đó, trong thời gian tới nhà nước cần tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ lãi suất, điều chỉnh lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế khuyến khích các ngân hàng thương mại đẩy mạnh cho vay xuất khẩu với lãi suất ưu đãi thông qua việc giảm lãi suất tái cấp vốn, hỗ trợ lãi suất và các hình thức hỗ trợ 81 khác; không tăng thuế nhập khẩu các mặt hàng là đầu vào sản xuất nói chung và xuất khẩu nói riêng tạo điều kiện cho doanh nghiệp tận dụng cơ hội giảm giá do suy thoái tạo một mặt bằng chung với thị trường thế giới và kích thích sản xuất tiêu dùng; xem xét tạm thời không áp thuế nhập khẩu các mặt hàng nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu với các mặt hàng như nhựa, nguyên liệu thủy sản, sơ sợi,… tạo điều kiện để doanh nghiệp giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh. Cụ thể, trong thời gian tới, Bộ Công Thương đề nghị, với mặt hàng tôm, điều nguyên liệu, sơ sợi được hưởng mức thuế nhập khẩu 0% và xem xét lùi thời hạn thu thuế xuất khẩu với sản phẩm gỗ xuất khẩu được sản xuất từ gỗ nguyên liệu nhập khẩu, cuối cùng tiến tới loại bỏ loại thuế này. Bên cạnh đó, xem xét việc phát triển một gói kích cầu đầu tư mới có thời hạn 1 – 2 năm giúp doanh nghiệp có cơ hội nhập khẩu máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ, xây dựng – phát triển sản phẩm,…Gói kích cầu này sẽ là cơ hội để tái cấu trúc nền kinh tế, tạo sức bật cho doanh nghiệp do công nghệ đang có mức giá rẻ, tận dụng ngắn hạn để giải quyết vấn đề chiến lược trung – dài hạn. 1.4. Tăng cƣờng công cụ ngân hàng để hỗ trợ bổ sung nguồn vốn cho các doanh nghiệp Cùng với những biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cũng đã quyết định điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Từ ngày 1/2/2009, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam giảm từ 8,5%/năm xuống 7%/năm; lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng giảm từ 12,75%/năm xuống 10,5%/năm. Trong tháng 2/2009, các ngân hàng thương mại đã liên tục giảm lãi suất cho vay từ các ngân hàng nhằm giải ngân tối đa nguồn vốn. Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam công bố lãi suất cho vay tối đa VNĐ là 10,5%/năm. Đối với thời hạn cho vay kì hạn 3 tháng, lãi suất là 9%/năm, trên 3 tháng là từ 9% đến 10%/năm. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam cũng công bố giảm lãi suất cho vay ưu đãi VNĐ còn 8,5%/năm, lãi suất cho vay thông thường là 10%/năm. Những ngân hàng cổ phần khác như ACB, Sacombank, Techcombank, VIB cũng điều chỉnh lãi suất cho vay theo hướng giảm để phù hợp với tình hình thị trường [38]. 82 Trong thời gian tới, ngành ngân hàng cần tiếp tục tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu theo hướng bổ sung nguồn vốn và đơn giản hóa thủ tục cho vay bằng cánh bổ sung hình thức cho vay tín chấp, thế chấp bằng hàng hóa của doanh nghiệp. Bổ sung danh mục mặt hàng và lĩnh vực được vay vốn đầu tư sản xuất (như gạo, dệt may, giày dép, sản phẩm nhụa, xe đạp, cao su, nhóm hàng cơ khí, sắt thép, các sản phẩm từ gang thép, vật liệu xây dựng, túi xách, valy,…triển khai các nghiệp vụ bảo lãnh tín dụng với một số mặt hàng xuất khẩu như gạo, nông sản,… Theo đó, Chính phủ cần tiếp tục xem xét giảm lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu đối với VNĐ xuống 3%/năm so với mức 6,9% theo quyết định 291/QĐ-BTC, tương ứng với lãi suất các daonh nghiệp đang vay của ngân hàng thương mại khi được nhà nước cấp bù lãi suất 4%. Cho phép Ngân hàng Phát triển Việt Nam được chủ động quyết định mức lãi suất cho vay linh hoạt đối với từng nhóm đối tượng khách hàng trên cơ sở lãi suất sàn do Bộ tài chính quy định trong từng thời kỳ. Các bộ, ngành phối hợp xem xét điều chỉnh, bổ sung danh mục hàng cần hỗ trợ vay vốn tín dụng xuất khẩu. Mở rộng định mức vay và giãn thời hạn trả nợ vay ngân hàng cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản, công nghiệp chế biến. 1.5. Giảm nhập khẩu, hạn chế nhập siêu Tiếp tục thực hiện các giải pháp hạn chế nhập khẩu đã được triển khai trong năm 2008 như kiểm soát hàng nhập khẩu theo 3 nhóm hàng: nhóm cần nhập khẩu, nhóm cần kiểm soát và nhóm hạn chế nhập khẩu. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát chất lượng hàng nhập khẩu và sử dụng hàng rào kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu. Trong nước, phát triển sản xuất các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, có khả năng thay thế nhập khẩu; vận động và khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường sử dụng nguồn nguyên nhiên liệu trong nước. Thúc đẩy ký kết các hiệp định song phương và đa phương thiết lập các khu vực mậu dịch tự do để tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu, qua đó giảm nhập siêu. Ngoài ra, các bộ, ngành cần theo dõi sát sao nhằm có những biện pháp đề phòng tích cực trước tình hình khủng hoảng tài chính Mỹ và thế giới. Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, dự báo và phát hiện kịp thời và có biện pháp vượt qua các rào cản kỹ thuật do các nước đưa ra nhằm hạn chế hàng xuất khẩu của Việt Nam, nâng cao nghiệp vụ 83 buôn bán quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ, tăng nguồn thu ngoại tệ. Các cơ quan chức năng, các hiệp hội ngành hàng cũng cần phát huy vai trò liên kết, chủ động phối hợp hỗ trợ doanh nghiệp tháo gõ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh xuất khẩu để tăng trưởng xuất khẩu và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển. 2. Một số giải pháp với doanh nghiệp xuất nhập khẩu 2.1. Chủ động đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu Mối đe dọa trực tiếp của nền kinh tế chính là sự xuống dốc của nền kinh tế phát triển và từ đó nhu cầu tiêu dùng hàng hóa cũng giảm theo. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, kinh tế suy thoái cũng có thể làm gia tăng nhu cầu với nhóm hàng giá rẻ như một sản phẩm thay thế hiệu quả. Đây chính là cơ hội cho các nhà doanh nghiệp nước ta vì phần lớn hàng xuất khẩu của Việt Nam là hàng giá rẻ và hàng lương thực thiết yếu. Như vậy, bên cạnh việc duy trì các mặt hàng truyền thống đem lại kim ngạch cao như dệt may, thủy sản, sản phẩm gỗ, gạo, sản phẩm gỗ,…, nhiệm vụ của các doanh nghiệp chính là: tùy từng ngành hàng, nghiên cứu những thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng, từ đó tìm cách đa dạng hóa mặt hàng. Ví dụ với ngành thủy sản, tôm chân trắng giờ được ưa chuộng hơn do giá thành rẻ, hay thói quen tiêu dùng của người dân cũng đang dần thay đổi do kinh tế khó khăn, từ việc đi ăn nhà hàng chuyển sang tự nấu nướng tại nhà, dẫn đến nhu cầu về các loại rau quả, đồ uống đóng hộp, thịt đông lạnh,…tăng cao. Bên cạnh đó, sự chuyển hướng tích cực về cơ cấu thị trường sẽ giúp các doanh nghiệp tìm được hướng đi mới về mặt hàng, như ngành dệt may có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang Nhật Bản sau khi hiệp định hợp tác toàn diện song phương Việt – Nhật (EPA) giữa hai nước có hiệu lực vào vào tháng 12/2008, trong đó thuế suất nhập khẩu mặt hàng này tại thị trường này là 0% thay vì mức thuế 10% trước đó; hoặc tại Châu Phi, nhu cầu cho các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu là khá lớn nhưng doanh nghiệp của ta vẫn chưa khai thác triệt để. 2.2. Tăng cường hệ thống phân phối nhằm hạn chế tối đa hình thức xuất khẩu qua trung gian Các doanh nghiệp Việt Nam đa phần đều nhờ qua một nước thứ ba để xuất khẩu sang các thị trường Châu Âu, Châu Phi,…do những hiểu biết về pháp luật và thông tin của các doanh nghiệp nước ta về các thị trường này là khá khiêm tốn. Tuy nhiên, hình 84 thức này chỉ thích hợp với thời kỳ khai phá thị trường, khi quy mô xuất khẩu của các doanh nghiệp còn nhỏ và các mặt hàng xuất khẩu còn phân tán, dễ tạo ra thế bị động với các nhà xuất khẩu do khó nắm bắt kịp thời những thông tin về thị trường. Đây là một trong những nhược điểm của hàng xuất khẩu Việt Nam bởi lợi thế hàng hóa giá rẻ của ta không được phát huy. Điển hình với mặt hàng nông sản, 90% hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam phải mang thuơng hiệu nước ngoài dù mặt hàng này có mức tăng trưởng hàng năm đến 20% và xuất khẩu đi hơn 80 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Kết quả điều tra trên 200 doanh nghiệp nông nghiệp năm 2007 cho thấy chỉ có 36 doanh nghiệp đăng ký thương hiệu trong nước và 5 doanh nghiệp đăng ký thương hiệu nước ngoài. Mỗi năm, tính riêng với mặt hàng cà phê, ngành nông sản Việt Nam bị thiệt hại tới 100 triệu USD do không bán trực tiếp được cho những công ty chế biến cà phê mà phải qua trung gian. Hay với mặt hàng hồ tiêu đã xuất khẩu đến hơn 70 quốc gia trên thế giới, trong đó 72% xuất khẩu vào các thị trường lớn như Ấn Độ, Đức, Mỹ, Nga, Hà Lan, Malaysia, Ai Cập,... [39]. Tuy nhiên, hầu hết lượng xuất khẩu không qua trực tiếp mà phải qua các công ty trung gian của Singapore, Hà Lan, Đức,… để các công ty này tiếp tục xuất khẩu vào các thị trường nói trên dưới thương hiệu của họ. Lý do của tình trạng trên là khâu chế biến của Việt Nam vẫn yếu kém, chất lượng không đảm bảo, sản phẩm có lẫn tạp chất, độ ẩm quá mức cho phép,…Những nhà xuất khẩu trung gian có cơ hội mua hàng Việt Nam với giá rẻ, sơ chế lại và xuất khẩu thu lợi nhuận cao. Chính vì vậy, dù kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng của Việt Nam luôn đạt mức tăng trưởng cao, nhưng vẫn chưa tạo được thương hiệu trên thị trường quốc tế. Tăng cường xây dựng hệ thống phân phối, xây dựng hình ảnh thương hiệu thông qua việc quảng bá cho sản phẩm xuất khẩu chính là biện pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam để tránh được tình trạng này. Ngoài ra, việc ứng dụng thương mại điện tử trong quan hệ xuất nhập khẩu với các thị trường phát triển cũng là giải pháp hữu hiệu nhằm giảm chi phí giao dịch, từ đó giới thiệu sản phẩm và thực hiện được hợp động trực tiếp với các doanh nghiệp nhập khẩu. 85 2.3. Tìm hiểu và nắm bắt sát nhu cầu và dung lượng thị trường Dự báo và định hướng để sản xuất lượng hàng thích hợp, tránh tình trạng sản xuất ồ ạt gây ra dư thừa, không xuất khẩu được. Rà soát và phát hiện các mặt hàng có khả năng sản xuất nhưng không hoặc chưa bị hạn chế về thị trường như đồ nhựa các loại, sản phẩm cơ khí, valy, túi xách, mũ, ô dù,… 2.4. Triển khai tìm kiếm các thị trường tiềm năng mới. Sự chuẩn bị không chỉ ở chất lượng hàng hóa đảm bảo mà còn ở việc nghiên cứu kỹ lưỡng về thông tin, tập quán, luật lệ của thị trường. Các doanh nghiệp cũng nên xem xét mở chi nhánh hoặc thành lập doanh nghiệp tại các thị trường nhập khẩu để trực tiếp kinh doanh, thuê kho ngoại quan, có thể kết hợp nhập khẩu để tận dụng tối đa cước phí vận chuyển và phí thuê kho. Đồng thời, doanh nghiệp cũng nên tiếp cận với các tập đoàn lớn hoặc tiếp cận các nhà bán buôn, các tập đoàn siêu thị để gián tiếp giới thiệu mặt hàng Việt Nam đến với người tiêu dùng. 2.5. Tăng cường đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, chú trọng đổi mới công nghệ, thiết bị. Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có kim ngạch lớn, có khả năng tăng trưởng cao, có đóng góp quan trọng cho việc thực hiện kế hoạch xuất khẩu cũng như giải quyết nhiều công ăn việc làm, góp phần ổn định xã hội như các sản phẩm chế biến: dệt may, giày dép, đồ gỗ, sản phẩm nhựa, dây cáp điện,… 2.6. Rà soát lại các hợp đồng đã ký Rà soát lại các hợp đồng đã ký, nhất là các hợp đồng dài hạn, hợp đồng có kỳ hạn. Chú ý đến khả năng thanh toán của đối tác, phối hợp với các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tìm hiểu thông tin về tình trạng pháp lý và khả năng thanh toán của đối tác, nhằm giảm thiểu rủi ro. Riêng đối với thị trường Hoa Kỳ, khi các rào cản thương mại đang được thiết lập, các quy định xuất khẩu ngày càng nghiêm ngặt, hơn lúc nào hết các doanh nghiệp cần chủ động từng bước chuẩn hóa các quy trình và chế biến sản phẩm xuất khẩu theo tiêu chuẩn để đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu, đối phó với các hành vi bảo hộ thương mại tại thị trường này. Ngoài ra, những bước chuẩn bị sau là cần thiết. Một là, các doanh nghiệp 86 cần lưu giữ đầy đủ, chi tiết và khoa học các hồ sơ liên quan đến sản phẩm xuất khẩu (nguồn gốc xuất xứ sản phẩm, tên khoa học của nguồn nguyên liệu là thực vật, giá trị hàng nhập khẩu,…). Do các nhà nhập khẩu Mỹ sẽ phải thu thập những thông tin cần khai báo từ các nhà cung cấp/ xuất khẩu nên các nhà xuất khẩu sẽ phải theo dõi, lưu giữ hồ sơ về những thông tin này một cách thường xuyên. Hai là, doanh nghiệp cũng cần lưu ý các yêu cầu khai báo hàng hóa xuất khẩu của Hải quan các nước nhập khẩu, nguồn gốc xuất xứ của nguyên liệu cấu thành sản phẩm. Ba là, cần nghiên cứu kỹ các luật lệ, quy định, theo dõi sát sao tình hình khủng hoảng cũng như những động thái mới từ phía thị trường Mỹ, đồng thời tìm hiểu và rút kinh nghiệm một số trường hợp vi phạm của các nước xuất khẩu khác để đối phó với các vụ kiện có thể xảy ra. Tóm lại, để đảm bảo được các mục tiêu kinh tế trong giai đoạn 2006 – 2010 hay mục tiêu ngắn hạn đưa xuất nhập khẩu tăng trưởng 13% trong năm 2009, hơn lúc nào hết Nhà nước cần phải khẳng định được vai trò của mình, đề ra những biện pháp tích cực, chủ động để ngăn chặn những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Đây cũng là nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam được Chính phủ phê duyệt vào tháng 03/2009. 87 KẾT LUẬN Mỗi cuộc khủng hoảng đều như một bộ lọc khổng lồ, gạn đi những gì không hợp lý và chôn vùi những gì không hiệu quả. Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ cũng không phải là ngoại lệ. Một quá trình cơ cấu lại nền kinh tế toàn cầu là cần thiết cho đến thời điểm này. Đó là quá trình cơ cấu lại hệ thống tài chính tiền tệ song song với quá trình cơ cấu lại cơ chế quản lý và giám sát trong từng quốc gia nói riêng và thế giới nói chung; cơ cấu lại nền sản xuất theo hướng tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường do đi đôi với khủng hoảng kinh tế chính là khủng hoảng về năng lượng và khủng hoảng khí hậu. Đối với Việt Nam, tác động của khủng hoảng không chỉ ở tầm ngắn hạn, trung hạn mà còn là dài hạn. Tuy chưa thể dự báo được chính xác quá trình hồi phục của nền kinh tế thế giới nhưng chắc chắn thị trường hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng trở lại đi đôi với những biện pháp bảo hộ và sự cạnh tranh gay gắt hơn; giá cả hàng hóa sẽ gia tăng cùng với nguy cơ lạm phát sẽ diễn ra do các quốc gia tung ra lượng tiền cứu trợ quá lớn dẫn đến thâm hụt ngân sách nghiêm trọng. Trước tình hình đó, nhiệm vụ đặt ra trước mắt với Việt Nam chính là khôi phục và mở rộng thị trường bên ngoài đi đôi với việc đề phòng các biện pháp bảo hộ mậu dịch, nhưng không nới lỏng thị trường trong nước; tạo dựng môi trường kinh doanh thông thoáng để thu hút các nguồn vốn đầu tư cả trong lẫn ngoài nước; đề phòng lạm phát tái bùng nổ và chú trọng xử lý các vấn đề xã hội do kinh tế giảm sút gây ra, nhất là tình trạng tái nghèo. Riêng với xuất nhập khẩu, ngoài các biện pháp cụ thể đã được nêu trên, Nhà nước cũng cần có tính toán về mối tương quan giữa chính sách hướng mạnh ra xuất khẩu và chính sách coi trọng thị trường nội địa, hay nói một cách khác, kim ngạch xuất – nhập khẩu nên chiếm bao nhiêu trong GDP là hợp lý; do bài học từ khủng hoảng tài chính Mỹ đã cho thấy các nước phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu sẽ chịu tác động mạnh. Khủng hoảng là cơ hội để chúng ta chỉnh sửa những điểm yếu còn tồn tại trong nền kinh tế. Đây là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa quyết định với con đường phát 88 triển của nước ta trong thời gian dài, đặc biệt trong bối cảnh nước ta sắp bước vào thời kỳ chiến lược 10 năm nhằm một mục tiêu khác về chất; đó là đưa nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (tháng 7/2007), Ấn phẩm của Chương trình Thông tin quốc tế 2. Bộ Công Thương (năm 2000), Quyết định CT 22/2000/CT – TTg Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 – 2010 3. Bộ Công Thương (năm 2009), Quyết định số 1133/QĐ – BCT về việc ban hàng chương trình hành độngcủa Bộ Công Thương thực hiện chương trình hành động quốc gia thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Châu Phi của Chính phủ giai đoạn 2008 - 2010 4. Đại học Đà Nẵng (năm 2008), Nghiên cứu về tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 – 2007 (tuyển tập “Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ 6”) 5. Federic.S.Mishkin (năm 1995), Tiền tệ - Ngân hàng và thị trường tài chính, NXB Khoa học Kỹ thuật. 6. George Soros (năm 2008), Mô thức mới cho thị trường tài chính, NXB Tri Thức. 7. Tổng cục Thống kê (năm 2006), Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 20 năm đổi mới (1986 – 2005), NXB Thống kê Các Website tham khảo 8. Bộ Công Thương: 9. Tổng cục Thống kê: 10. Tổng cục Hải quan: 11. Cổng thông tin xuất nhập khẩu Việt Nam: nam_2009.html Cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2009 12. Thông tin thương mại Việt Nam (Bộ Công Thương): 89 a) aspx Kết quả xuất nhập khẩu tháng 12 và cả năm 2008 b) aspx Xuất khẩu năm 2008 và dự báo năm 2009 13. Trang tin xúc tiến thương mại (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn): Xuất khẩu tăng 29,5%, nhập siêu 17 tỷ đôla Mỹ 14. Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh: a) Tiếp cận thị trường Hoa Kỳ b) Các đại gia xuất khẩu – 12 mặt hàng chiếm 79% kim ngạch xuất khẩu. 15. Trung tâm thông tin và dự báo quốc gia (Bộ Kế hoạch và đầu tư): a) Kinh tế Việt Nam có vượt qua cơn bão tài chính Mỹ b) Kinh tế Nhật chính thức suy thoái 16. Hiệp hội ngân hàng Việt Nam: a) =32 Năm 2008, nhập siêu 17 tỷ đôla Mỹ b) =30 Nợ xấu chiếm 3,5% tổng dư nợ tín dụng 17. 74 Kinh tế Việt Nam – tổng quan tình hình xuất nhập khẩu năm 2008 18. PGS, TSKH Trần Nguyễn Tuyên (năm 2008) Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đánh dấu sự phá sản của học thuyết kinh tế thị trường tự do kiểu Mỹ 19. Khủng hoảng nợ dưới chuẩn: từ A đến Z 90 20. Khủng hoảng tài chính Mỹ - đi tìm nguyên nhân và hệ quả 21. Thị trường xe hơi lao đao 22. gioi-dang-thay-doi/2385957.ep Kết cấu kinh tế thế giới đang thay đổi 23. ngan-hang-nam-2008.htm 10 điểm nổi bật trên thị trường ngân hàng năm 2008 24. Cơ hội tăng xuất khẩu vào Châu Phi. 25. ThS Lê Quang Hưng (năm 2008) Bảo hiểm tiền gửi trong cuộc chiến chống khủng hoảng tài chính toàn cầu, tạp chí nghiên cứu Tài chính Kế toán số 12 tháng 12/2008 26. Sự cần thiết của gói giải pháp tài chính kích thích kinh tế ở Việt Nam 27. cac-nuoc-va-the-gioi-2009/my-tham-hut-ngan-sach-co-the-len-toi-1000-ty-usd-trong-tai- khoa-2009/16039.s_34.5.html Mỹ: thâm hụt ngân sách có thể lên tới 1000 tỷ USD trong tài khóa 2009 28. TS Vũ Quang Việt (năm 2008) Khủng hoảng tài chính Mỹ và sự phá sản của học thuyết tự do kinh doanh toàn diện kiểu mới 29. Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ tăng vọt 30. Cục phân tích thống kê Mỹ: 31. Ngân hàng thế giới: Tra cứu số liệu GDP của từng quốc gia 32. toan-cau-dang-cham-day/32/12565.star Giảm sút thương mại toàn cầu đang chạm đáy 33. Bộ Ngoại giao Việt Nam: 91 Kim ngạch thương mại Mỹ - Việt Nam năm 2008 đạt trên 15 tỷ USD 34. Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn: Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường Hoa Kỳ sẽ giảm mạnh năm 2009 35. Dự trữ ngoại hối và hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn rất an toàn 36. =3 Không nên tái cấu trúc ồ ạt thị trường bất động sản 37. 10 sự kiện nổi bật trên thị trường chứng khoán Việt Nam 2008 38. Lãi suất ngân hàng vừa giảm, vừa hỗ trợ 39. Nông sản gắn mác ngoại để xuất khẩu. 92 PHỤ LỤC Danh sách một số tổ chức tài chính lớn bị phá sản hoặc bị sát nhập trong cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ Tên Quy mô Thiệt hại Giải pháp 1 Lehman Brothers Tổng tài sản: 639 tỷ USD Tổng vốn góp cổ phần: 22490 tỷ đôla Số lượng nhân viên: 26200 người  Là một trong 4 ngân hàng đầu tư lớn nhất của Hoa Kỳ Nợ ngân hàng: 613 tỷ đôla Nợ trái phiếu: 155 tỷ đôla Cổ phiếu mất giá trên 90% vào ngày 15/09/2008 15/09/2008: nộp đơn phá sản theo chương 1 Luật Phá sản Mỹ. Đây là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ 2 Merrill Lynch Tổng tài sản: 1,02 nghìn tỷ đôla Số lượng nhân viên: 60.000 người  Xếp thứ 32 trong danh sách Global 2000 (các công ty lớn nhất thế giới) Thua lỗ quý IV/2007: 9,83 tỷ đô Thua lỗ ròng quý I/2008: 1,97 tỷ đôla Mất giá tài sản (2007): 16,7 tỷ đôla Bán cho ngân hàng Mỹ (BOA) với giá 50 tỷ đôla 3 AIG Tổng tài sản: 1,05 nghìn Cổ phiếu mất giá 60% vào 16/09/2008: 93 tỷ đôla Tổng vốn góp cổ phần: 78,09 tỷ đôla Số lượng nhân viên: 116.000 người  Xếp thứ 6 trong danh sách Global 2000 (các công ty lớn nhất thế giới) ngày 16/09/2008 Thua lỗ 6 tháng đầu năm 2008: 13,2 tỷ đôla Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cấp tín dụng 80 tỷ tương đương 79,9 % cổ phần 4 Countrywide Financial Tổng tài sản: 211 tỷ đôla  Là tập đoàn chiếm 20% tổng thế chấp của Mỹ, tương đương 3,5 GDP; là tổ chức tiết kiệm và cho vay lớn thứ 3, đồng thời là ngân hàng có tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử nước Mỹ Thua lỗ (2007): 2,5 tỷ đôla Mất giá tài sản (2007): 1 tỷ đôla 01/07/2008: Bán cho ngân hàng Mỹ với giá 4,1 tỷ đôla 5 Bear Stearns Tổng tài sản: 350,4 tỷ đôla Tổng vốn góp cổ phần: 66,7 tỷ đôla Số lượng nhân viên: 15.500 người  Là công ty chứng khoán lớn thứ 7 thế giới Thiệt hại quý IV/2007: 859 triệu đôla Mất giá tài sản (2007): 1,9 tỷ đôla 30/05/2008:Bán cho JP Morgan Chase với giá 1,1 tỷ đôla 94 6 IndyMac Tổng tài sản: 32 tỷ đô  Là tổ chức cho vay và gửi tiết kiệm lớn nhất ở Los Angeles và là tổ chức thế chấp lớn thứ 7 ở Hoa Kỳ Tiền gửi khách hàng: 19 tỷ đô Chi phí 8,9 tỷ đô cho bảo hiểm tiền gửi Chi phí 541 triệu đô cho các khoản tiền gửi vượt mức bảo hiểm 11/07/2008: Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang Mỹ FDIC tiếp quản 7 Freddie Mac Tổng tài sản: 794,4 tỷ đôla Tổng vốn góp cổ phần: 26,7 tỷ đôla Số lượng nhân viên: 5.281 người  Là công ty công lớn thứ 20 trên thế giới; và là công ty tài chính lớn thứ 2 về thế chấp tại Mỹ Thua lỗ (2007): 4,6 tỷ đôla Thua lỗ quý II/2008: 821 triệu đôla 07/09/2008: FED kí hợp đồng bỏ ra 1 tỷ đôla hỗ trợ cho Freddie Mac, đổi lại giành quyền kiểm soát các cổ phiếu ưu đãi đặc biệt của công ty này. 8 Fannie Mae Tổng tài sản: 882,5 tỷ đôla Tổng vốn góp cổ phần: 44 tỷ đôla  Là tổ chức hàng đầu trong thị trường thế chấp dưới chuẩn của Mỹ Thua lỗ (2007): 2 tỷ đôla Thua lỗ quý II/2008: 2,3 tỷ đôla 07/09/2008: cùng với Freddie Mac bị FED tiếp quản 9 New Century Tổng thu nhập (năm Cổ phiếu mất 90% giá trị Nộp đơn phá 95 Financial Corp 2006): 417 triệu đôla Giá bán trên thị trường: 1,75 tỷ đôla Số lượng ngân viên: 7.200 người  Là tập đoàn cho vay dưới chuẩn lớn nhất của Mỹ (tháng 03/2007) Giá trị thị trường giảm xuống còn 55 triệu đôla sản theo chương 11 Luật Phá sản Mỹ 10 Ameri Bank Tổng tài sản: 115 triệu đôla Tiền gửi khách hàng: 102 triệu đôla Chi phí 42 triệu đôla cho quỹ bảo hiểm tiền gửi 19/09/2008: Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên Bang Mỹ FDIC tiếp quản 11 Washington Mututal Inc Tổng tài sản: 307 tỷ đôla  Là ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ Thua lỗ 53 tỷ đôla từ tháng 6/2008 và 17 tỷ đôla trong nửa tháng tiếp theo 26/09/2008: Chính phủ tiếp quản và sau đó bán lại cho JP Morgan Chase & Co với giá 1,9 tỷ đôla 12 Wachovia Tổng tài sản: 327,9 tỷ đôla  Là ngân hàng lớn thứ 6 ở Mỹ Giá cổ phiếu của Wachovia đã sụt giảm tới 81,6%, còn 1,84 USD/ cổ phiếu Thua lỗ 9,7 tỷ đôla trong nửa đầu năm 2008 30/09/2008: bị bán lại cho Citi Group với giá 2,16 tỷ đôla Nguồn: IRIC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf4417_359.pdf
Luận văn liên quan