Đề tài Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng thắng thầu trong đấu thầu xây lắp quốc tế của công ty xây dựng lũng lô

Cùng với sự chuyển đổi kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN là mở cửa nền kinh tế, chấp nhận sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước cũng như trên trường quốc tế. Trong lĩnh vực XDCB cũng vậy, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng ngày càng trở nên gay gắt không chỉ giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau mà còn giữa các doanh nghiệp trong nước với các công ty nước ngoài. Khác với các ngành khác, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng lại được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức đấu thầu do chủ đầu tư tổ chức. Vì vậy, đấu thầu là một hình thức cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng Là một nước đang phát triển nhu cầu đầu tư xây dựng ở nước ta rất lớn bao gồm đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, điện lực, xây dựng công nghiệp, dân dụng với tổng mức vốn đầu tư hàng năm cho lĩnh vực này chiếm tỷ lệ không nhỏ trong GDP. Bên cạnh đó, sự tăng lên của đầu tư nước ngoài (bằng nguồn vốn của WB và ADB ) đã tạo ra nhiều cơ hội cạnh tranh hơn cho các doanh nghiệp xây dựng. Để thực hiện các dự án đầu tư XDCB một cách hiệu quả, hệ thống cần thiết phải tạo ra một môi trường cạnh tranh tốt cho các doanh nghiệp xây dựng. Trên thực tế, dấu thầu là hình thức cạnh tranh tạo ra môi trường tốt nhất. Tuy nhiên, ở nước ta hoạt động đấu thầu chỉ mới xuất hiện vào những năm gần đây và trở nên phổ biến trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế xã hội. Hiện nay, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng đã trở nên ngày càng gay gắt thông qua hình thức đấu thầu. Đấu thầu xây lắp là hình tổ chức kinh doanh có hiệu qủa nhất đối với cả chủ đầu tư cũng như đối với các doanh nghiệp tham gia đấu thầu, đồng thời đấu thầu cũng mang lại lợi ích lớn cho xã hội. Để dành thắng lợi trong đấu thầu xây lắp, đặc biệt là đấu thầu xây lắp quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải ngày càng nâng cao khả năng cạnh tranh, chứng minh sự vượt trội của mình so với các nhà thầu khác dưới con mắt của chủ đầu tư . Qua quá trình thực tập ở Công ty xây dựng Lũng Lô - Bộ Quốc phòng, tôi nhận thấy giành thắng lợi trong đấu thầu xây lắp quốc tế là một vấn đề quan trọng bậc nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Do đó, đề tài: "Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng thắng thầu trong đấu thầu xây lắp quốc tế của Công ty xây dựng Lũng Lô" được chọn để nghiên cứu. Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của Chuyên đề gồm 3 chương: Chương I: Những vấn đề lí luận chung về đấu thầu xây lắp quốc tế và sức cạnh tranh trong đấu thầu quốc tế về xây lắp. Nội dung của phần này làm rõ các vấn đề cơ bản trong đấu thầu, đồng thời xác định một số chỉ tiêu đánh giá khả năng thắng thầu của công tác đấu thầu xây dựng. Chương II: Thực trạng dự thầu và thắng thầu xây lắp quốc tế ở Công ty xây dựng Lũng Lô. Phần này phân tích và đánh giá tìm ra được điểm mạnh, điểm yếu trong sản xuất kinh doanh và việc tổ chức thực hiện công tác đấu thầu xây lắp quốc tế ở Công ty xây dựng Lũng Lô Chương III: Một số biện pháp chủ yếu nhằm tăng khả năng thắng thầu trong đấu thầu xây lắp quốc tế ở Công ty xây dựng Lũng Lô. Qua nghiên cứu lý luận ở Chương I và phân tích đánh giá thực trạng ở Chương II, phần này đề ra một số biện pháp để khắc phục một số hạn chế nhằm tăng khả năng thắng thầu của Công ty. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Nguyễn Thị Hường đã hướng dẫn tôi hoàn thành Chuyên đề này và các thầy cô Khoa QTKDQT đã cho tôi hệ thống kiến thức giúp tôi nghiên cứu Chuyên đề. Do thời gian và trình độ có hạn nên Chuyên đề khó tránh khỏi những thiếu sót. Tôi kính mong được sự góp ý kiến của các thầy cô giáo, cùng các bạn đọc để Chuyên đề được hoàn thiện hơn chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẤU THẦU XÂY LẮP QUỐC TẾ VÀ SỨC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU QUỐC TẾ VỀ XÂY LẮP I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẤU THẦU XÂY LẮP QUỐC TẾ 1. Những khái niệm cơ bản về đấu thầu 1.1. Khái niệm và thực chất của đấu thầu a. Khái niệm đấu thầu: Theo nghị định 83 /NĐ- CP ngày 1/9/1999 của Chính phủ thì “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu”. Như vậy đấu thầu là phương thức mà bên mời thầu sử dụng để tổ chức cạnh tranh giữa các nhà thầu nhằm lựa chọn một nhà thầu có khả năng thực hiện tốt nhất các yêu cầu của dự án đầu tư . Các yêu cầu đó thường là các yêu cầu về mặt kinh tế tài chính , kĩ thuật, chính trị – xã hội. Về thực chất, đấu thầu là việc ứng dụng phương thức xét hiệu quả kinh tế trong việc lựa chọn các phương án tổ chức thực hiện. Phương pháp này đòi hỏi sự so sánh các phương án tổ chức trên cùng một phương diện như (kĩ thuật hay tài chính ) hay sự hài hoà giữa các phương diện để chọn lấy một nhà thầu có đủ khả năng. Kết quả cuối cùng sẽ tìm ra được một phương án tổ chức thực hiện tốt nhất. Đấu thầu cũng là một hoạt động mua bán nhưng nó khác những vụ mua bán thông thường ở chỗ hàng hoá để mua bán là “công việc”. Ở đây, người mua là chủ đầu tư và người bán là các nhà thầu. b. Khái niêm đấu thầu xây lắp quốc tế: Đấu thầu quốc tế về xây lắp, thực chất là đấu thầu song có sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài có đủ tư cách pháp nhân. Điều kiện đấu thầu quốc tế: Cũng theo nghị định 83/ NĐ- CP, ngày 1/9/1999 của Chính phủ thì Chủ đầu tư chỉ được đấu thầu quốc tế trong các trường hợp sau: - Các gói thầu không chỉ có hoặc chỉ có một nhà thầu trong nước đáp ứng yêu cầu của dự án. - Các dự án sử dụng nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế hoặc của nước ngoài có quy định trong hiệp định phải đấu thầu quốc tế. 1.2. Các khái niệm liên quan khác Dự án: là tập hợp những đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc, mục tiêu hoặc yêu cầu nào đó. Dự án bao gồm dự án đầu tư và dự án không có tính chất đầu tư . Dự án đầu tư: là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tiến những đối tượng nhất định nhằm đạt được tăng trưởng về số lượng, cải tiến hay nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định. Chủ đầu tư: là cá nhân hay tổ chức pháp nhân được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý, sử dụng vốn đầu tư theo quy định của pháp luật. Tổng mức đầu tư: là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây dựng công trình thuộc dự án được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật. Tổng dự toán công trình bao gồm những khoản chi phí có liên quan đến khảo sát, thiết kế, xây lắp, mua sắm máy móc thiết bị, chi phí sử dụng đất đai, đền bù giải toả mặt bằng, chi phí khác và chi phí dự phòng. Vốn đầu tư được quyết toán: là toàn bộ chi phí hợp pháp được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí theo đúng hợp đồng đã ký kết và thiết kế dự toán được phê duyệt, đảm bảo đúng quy chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính - kế toán và những quy định hiện hành của nhà nước có liên quan. Bên mời thầu: là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp pháp của chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc đấu thầu. Nhà thầu: là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu. Trong trường hợp đấu thầu tuyển chọn tư vấn, nhà thầu có thể là cá nhân, nhà thầu là nhà xây dựng trong đấu thầu xây lắp, là nhà cung cấp trong đấu thầu mua sắm hàng hoá, là nhà tư vấn trong đấu thầu tuyển chọn tư vấn, là nhà đầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác đầu tư , nhà thầu trong nước là nhà thầu có tư cách pháp nhân Việt Nam và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Gói thầu: là toàn bộ dự án hoặc một phần công việc của dự án được phân chia theo tính chất kỹ thuật hoặc trình tự thực hiện dự án, có quy mô hợp lý và đảm bảo tính đồng bộ của dự án. Hồ sơ mời thầu: là toàn bộ tài liệu do bên mời thầu lập, bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu được dùng làm căn cứ để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu: là các tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Mở thầu: là thời điểm tổ chức mở các hồ sơ dự thầu được quy định trong hồ sơ mời thầu. Xét thầu: là quá trình phân tích đánh giá các hồ sơ dự thầu để xét chọn bên trúng thầu. Giá gói thầu: là giá được xác định cho từng gói thầu trong kế hoạch đấu thầu của dự án trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán, dự toán được duyệt. Giá dự thầu: là giá do nhà thầu ghi trong hồ sơ dự thầu sau khi đã trừ phần giảm giá (nếu có) bao gồm toàn bộ các chi phí cần thiết để thực hiện gói thầu. Giá đề nghị trúng thầu: là giá do bên mời thầu đề nghị trên cơ sở giá dự thầu của nhà thầu được đề nghị trúng thầu sau khi sửa lỗi và hiệu chỉnh các sai lệch theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Giá trúng thầu: là giá được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả đầu thầu để làm căn cứ cho bên mời thầu thương thảo, hoàn thiện và ký hợp đồng với nhà thầu trúng thầu. Giá trúng thầu không lớn hơn giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu được duyệt. Giá ký hợp đồng: là giá được bên mời thầu và nhà thầu trúng thầu thoả thuận sau khi thương thảo hoàn thiện hợp đồng và phù hợp với kết quả trúng thầu. 2. Trình tự thực hiện đấu thầu xây lắp 2.1. Chuẩn bị đấu thầu Để tổ chức tốt một cuộc đấu thầu chủ đầu tư phải chuẩn bị các công việc cần thiết: - Lập kế hoạch đấu thầu về phân chia gói thầu, phương thức thực hiện hợp đồng, kế hoạch về thời gian, kế hoạch đấu thầu phải được người có thẩm quyền đầu tư phê duyệt. - Chuẩn bị nhân sự: gồm những người có thẩm quyền quyết định đầu tư của bên mời thầu (chủ đầu tư hoặc đại diện) và chỉ định tổ chuyên gia hoặc tư vấn giúp việc. - Chuẩn bị hồ sơ mời thầu: hồ sơ mời thầu bao gồm: + Thư mời thầu .hoặc thông báo mời thầu. + Mẫu đơn dự thầu. + Chỉ dẫn đối với nhà thầu. + Hồ sơ thiết kế kĩ thuật kèm theo bản tiên lượng và chỉ dẫn kỹ thuật. + Tiến độ thi công. + Các điều kiện tài chính , thương mại, tỷ giá ngoại tệ, phương thức thanh toán. + Điều kiện chung và điều kiện cụ thể của hợp đồng. + Mẫu bảo lãnh dự thầu. + Mẫu thoả thuận hợp đồng . + Mẫu bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Công việc chuẩn bị hồ sơ mời thầu là khâu chuẩn bị hết sức quan trọng đối với bên mời thầu vì nó có vai trò quyết định đối với kết quả đấu thầu và chất lượng công trình sau này. 2.2. Sơ tuyển nhà thầu (nếu có) Hình thức sơ tuyển chỉ áp dụng cho những dự án lớn, yêu cầu kỹ thuật cao nhằm chọn ra những nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu về kỹ thuật và kinh nghiệm để tiếp tục vào đấu thầu ở giai đoạn sau. 2.3. Mời thầu Bên mời thầu sử dụng hai hình thức là ra thông báo mời thầu hoặc gửi thư mời thầu cho các nhà thầu. Thông báo mời thầu: hình thức này áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi hoặc đối với các gói thầu sơ tuyển. Bên mời thầu phải tiến hành thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng tuỳ theo quy mô và tính chất của gói thầu theo quy định. Gửi thư mời thầu: hình thức này được áp dụng trong thể loại đấu thầu hạn chế. Bên mời thầu phải gửi thư mời thầu trực tiếp đến từng nhà thầu trong danh sách đã được duyệt, nội dung thư mời thầu tuỳ vào từng lĩnh vực cụ thể. 2.4. Nộp hồ sơ dự thầu Sau khi đã hoàn tất hồ sơ dự thầu, các nhà thầu phải nộp hồ sơ dự thầu cho bên mời thầu ở trong tình trạng niêm phong trước thời hạn quy định, bên mời thầu có trách nhiệm bảo quản các hồ sơ dự thầu theo hình thức bảo mật cho đến thời điểm mở thầu. Hồ sơ dự thầu phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, theo các biểu mẫu của hồ sơ mời thầu. Thông thường, hồ sơ dự thầu thường được dịch ra hai thứ tiếng, tiếng Việt và tiếng Anh. Một số dự án đặc biệt có thể phải dịch sang ba thứ tiếng, ngoài tiếng Việt, tiếng Anh còn thêm tiếng Pháp hoặc tiếng Nga hoặc tiếng Nhật. Song, sẽ có một thứ tiếng là tiếng chủ đạo, thường là tiếng Việt hoặc tiếng Anh. 2.5. Mở thầu Những hồ sơ dự thầu của các nhà thầu đáp ứng đầy đủ các điều kiện của bên mời thầu sẽ được bên mời thầu tiếp nhận và quản lý trong các điều kiện đảm bảo bí mật. Việc mở thầu sẽ được tiến hành công khai theo ngày giờ và địa điểm ghi trong hồ sơ mời thầu. Đại diện của bên mời thầu và của các nhà thầu sẽ tham gia mở thầu và kí vào biên bản mở thầu. 2.6. Đánh giá xếp hạng nhà thầu Giai đoạn này được tiến hành thông qua 3 bước: a, Đánh giá sơ bộ hồ sơ dự thầu: bên mời thầu xem xét tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu, nhằm loại bỏ các hồ sơ dự thầu không đáp ứng yêu cầu. Đối với các gói thầu đã qua sơ tuyển thì xem xét tính hợp lệ về khả năng đáp ứng năng lực tổ chức và kỹ thuật, còn đối với gói thầu không tiến hành sơ tuyển thì kiểm tra tư cách và năng lực nhà thầu. b, Đánh giá chi tiết hồ sơ dự thầu Bước 1: Đánh giá về mặt kỹ thuật để chọn danh sách ngắn Việc đánh giá tiến hành dựa trên cơ sở yêu cầu và tiêu chuẩn đánh giá được quy định trong hồ sơ mời thầu và tiêu chuẩn đánh giá chi tiết được người có thẩm quyền phê duyệt trước thời điểm mở thầu. Các nhà thầu đạt số điểm từ 70% tổng số điểm về kỹ thuật trở lên sẽ được chọn vào danh sách ngắn. Bước 2: Đánh giá về mặt tài chính , thương mại Tiến hành đánh giá tài chính , thương mại các nhà thầu thuộc danh sách ngắn trên cùng một mặt bằng tiêu chuẩn đánh giá được phê duyệt nhằm xác định giá đánh giá bao gồm các nội dung sau: - Sửa lỗi. - Hiệu chỉnh các sai lệch. - Chuyển đổi giá dự thầu sang một đồng tiền chung. - Đưa về một mặt bằng so sánh. - Xác định giá đánh giá của các hồ sơ dự thầu. c, Đánh giá tổng hợp các tiêu chuẩn và xếp hạng nhà thầu Dựa vào kết quả đánh giá chi tiết ở phần trên và căn cứ vào thang điểm đã được lập (phải được người có thẩm quyền quyết định đầu tư phê duyệt) bên mời thầu sẽ rút ra đánh giá tổng hợp và cho điểm các hồ sơ dự thầu từ đó xếp hạng thứ tự nhà thầu để có căn cứ trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư và phê duyệt nhà thầu trúng thầu.

doc60 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2231 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng thắng thầu trong đấu thầu xây lắp quốc tế của công ty xây dựng lũng lô, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ơ sở tiên lượng được bóc ra từ bản vẽ thiết kế kỹ thuật hoặc bản vẽ thi công - Dj: Là đơn giá dự thầu công tác xây lắp thứ j do nhà thầu tự lập ra theo hướng dẫn chung về lập giá xây dựng trên cơ sở điều kịên cụ thể của mình và giá cả thị trường theo mặt bằng giá được ấn định trong hồ sơ mời thầu. Ở đây, ta có: Dj=GXLj*(1+Ktrg+Krr) Trong đó: Ktrg Hệ số trượt giá Krr : Hệ số rủi ro GXLj: Giá thành xây lắp của công tác xây lắp thứ j m: Số lượng công tác xây lắp do chủ đầu tư xác định lúc mời thầu Vât liệu Nhân công Máy C.phí chung C.phí trực tiếp T.N chịu thuế tính trước VAT Trượt giá (nếu có) Các chi phí trong đơn giá dự thầu Yếu tố rủi ro (nếu có) Đơn giá dự thầuDj Sơ đồ 4: Mô hình hoá các chi phí cấu thành trong đơn giá dự thầu 2.3. Nộp thầu Sau khi Giám đốc Công ty hoặc Phó giám đốc đã ký đầy đủ vào các phần hồ sơ mời thầu yêu cầu (thường nếu Phó giám đốc ký vào hồ sơ phải có giấy uỷ quyền của Giám đốc thì chữ ký mới có hiệu lực), bộ phận làm hồ sơ dự thầu kiểm tra nếu các tài liệu đã đầy đủ thì sẽ cử một hoặc một nhóm người đem nộp hồ sơ cho chủ đầu tư trước thời hạn quy định trong hồ sơ mời thầu. Sau khi nộp hồ sơ cho chủ đầu tư, chủ đầu tư sẽ xác nhận việc giao nộp bằng một biên bản bàn giao tài liệu có chữ ký của người nhận (chủ đầu tư) và người nộp (nhà thầu). Biên bản sẽ được sao làm hai bản, mỗi bên giữ một bản. Địa chỉ nộp hồ sơ không bắt buộc là địa chỉ nơi làm việc của chủ đầu tư mà là địa chỉ chủ đầu tư quy định. Như vậy sẽ tránh tình trạng mất công vận chuyển hoặc xảy ra các rủi do trong quá trình vận chuyển hồ sơ dự thầu cho các nhà thầu ở xa. Ví dụ: Gói thầu “ Xây dựng Đê chắn sóng Dung Quất”, Công ty đã trúng thầu và đang thi công, địa chỉ của chủ đầu tư , Công ty Liên doanh Nhà máy lọc dầu Việt – Nga ở Quảng Ngãi, nhưng hồ sơ dự thầu của Công ty và các nhà thầu khác thuộc khu vực phía Bắc có thể được nộp tại chi nhánh của chủ đầu tư tại 154 Nguyễn Thái Học – Hà Nội, còn các nhà thầu khu vực miền Trung và miền Nam có thể nộp hồ sơ tại trụ sở của chủ đầu tư: 208 Đại lộ Hùng Vương- Thị xã Quảng Ngãi – Tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên, ở bất kỳ địa điểm nào, chủ đầu tư vẫn phải đảm bảo được tính bảo mật của hồ sơ. 3. Ký kết hợp đồng và tiến hành thi công theo hợp đồng sau khi trúng thầu Sau khi nhận được thông báo trúng thầu, Công ty sẽ cử một hoặc một số đại diện (gồm hoặc không gồm giám đốc) đến địa điểm quy định giữa 2 bên để thương thảo hợp đồng trong đó đề cập đến những vấn đề có trong hồ sơ dự thầu và cả những vấn đề phát sinh như: khối lượng tăng (giảm), lỗi sai số toán học trong hồ sơ, trượt giá, thay đổi nhân sự... Khi hai bên đã thống nhất các vấn đề được đưa ra thương thảo, người đứng đầu đại diện cho các bên (phía Công ty thường bắt buộc phải là Giám đốc) sẽ ký vào hợp đồng theo thời gian quy định và coi hồ sơ dự thầu là một phần của bản hợp đồng. Khi đã ký được hợp đồng xây lắp, Công ty tiến hành thành lập Ban Quản lý công trình và Đội công trình, sau đó triển khai các công tác cần thiết nhằm tiến hành thi công xây lắp ngay để đảm bảo tiến độ. Công ty luôn chú trọng tăng cường đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật giám sát thi công, đảm bảo huy động đồng bộ xe máy thi công, quản lý chặt chẽ việc cung ứng nguyên vật liệu...nhằm hạn chế những sai sót có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình, chậm tiến độ thi công, ảnh hưởng xấu đến uy tín Công ty. IV. ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THẦU XÂY LẮP QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY XD LŨNG LÔ Những ưu điểm trong cạnh tranh dự thầu xây lắp quốc tế Như đã đề cập trong Phần II, Chương I, đấu thầu XLQT có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với doanh nghiệp xây dựng nói riêng. Đấu thầu XLQT thực chất là đấu thầu xây lắp có sự tham gia của các nhà thầu nước ngoài và cạnh tranh trong đấu thầu XLQT là sự cạnh tranh bình đẳng nhưng rất gay gắt. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp xây dựng phải tự hoàn thiện mình về năng lực tài chính, thiết bị và đặc biệt là nhân sự. Doanh nghiệp luôn luôn phải tiếp thu những công nghệ kỹ thuật tiên tiến trên thế giới nhằm đáp ứng được yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Trình độ ngoại ngữ của cán bộ kỹ thuật bắt buộc phải nâng cao sẽ là nền tảng tốt cho những công việc sau này. Bên cạnh đó, giá trị công trình dự thầu thường rất lớn, nếu tính tỷ lệ Chi phí đấu thầu/Giá trị trúng thầu thì tỷ lệ đó trong đấu thầu XLQT nhỏ hơn nhiều so với tỷ lệ trong đấu thầu xây lắp trong nước, chưa kể những khoản tiền “đen” và những tiêu cực thường xảy ra trong quá trình đấu thầu xây lắp trong nước. Khi trúng thầu, các doanh nghiệp xây dựng sẽ có cơ hội làm việc, tiếp cận với công nghệ mới, phong cách làm việc mới, trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ của CBCNV được nâng cao. Hơn nữa, công tác nghiệm thu quyết toán thường nhanh chóng, tránh tình trạng ứ đọng vốn vì thủ tục thanh toán các công trình có vốn đầu tư trong nước thường rườm rà, qua nhiều khâu.... Đối với chủ đầu tư thì đấu thầu XLQT là biện pháp hiệu quả nhất để lựa chon những nhà thầu có đủ năng lực để thi công công trình. Rủi ro phải đấu thầu lại do không có nhà thầu nào đáp ứng được yêu cầu là thấp. Đấu thầu XLQT giúp chủ đầu tư giải quyết được tình trạng lệ thuộc vào nhà thầu duy nhất mà nhà thầu này, xét về hồ sơ hoặc về uy tín trong nước thì vượt trội hơn so với các nhà thầu khác nhưng vẫn chưa đáp ứng hoàn toàn được yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Nói cách khác gần như là lựa chọn bắt buộc. Đấu thầu XLQT còn là cầu nối giữa Việt Nam và các nước đối tác, xét về vĩ mô, và giữa các DNXD trong nước và các DNXD nước ngoài xét về vi mô, tạo cơ hội cải thiện mối quan hệ giữa các quốc gia, các DNXD để các DN trao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Qua đấu thầu XLQT chủ đầu tư có thể nâng cao năng lực của đội ngũ kinh tế, kỹ thuật. Trong phạm vi hẹp tại Công ty XD Lũng Lô, đấu thầu XLQT đã thể hiện rõ rệt những ưu điểm qua những công trình mà Công ty đã tham gia đấu thầu và thắng thầu. Thực tế, các công trình đấu thầu XLQT mà Công ty XD Lũng Lô có giá trị lớn hơn nhiều so với giá trị các công trình đấu thầu trong nước trong khi đó thời gian làm các thủ tục và hồ sơ dự thầu các công trình đấu thầu trong nước và đấu thầu quốc tế được coi xét về cùng một mặt bằng là tương đương nhau. Hơn nữa, tỷ lệ chi phí dự thầu / giá trị trúng thầu (CF/ Gth) các công trình trong đấu thầu XLQT lại nhỏ hơn đấu thầu XL trong nước. Sau đây là một số ví dụ điển hình: + Dự án cải tạo và nâng cấp Quốc Lộ 18, đoạn Biểu Nghi – Bãi Cháy (nguồn vốn OECF): - Thời gian làm hồ sơ dự thầu: 5 tuần - Chi phí làm hồ sơ dự thầu : 20 triệu, tỷ lệ CF/ Gth: 20/ 99.000 = 0,000202 + Dự án Đê chắn sóng Dung Quất: Thời gian : 7 tuần Chi phí : 100 triệu, tỷ lệ: 100/ 641.000 = 0,000156 + Dự án Bể chứa dầu thô và cảng xuất phẩm Dung Quất : - Thời gian : 6 tuần - Chi phí : 30 triệu, tỷ lệ 30/150.000 = 0,0002 Trong khi đó các dự án đấu thầu trong nước của Công ty có số liệu như sau: + Dự án Cảng đảo Bạch Long Vỹ: - Thời gian : 7 tuần - Chi phí : 40 triệu, tỷ lệ 40/120.000 = 0,000333 + Cảng và khu dịch vụ hậu cần nghề cá Gành Hào: - Thời gian : 5 tuần - Chi phí : 15 triệu, tỷ lệ 15/ 11.407 = 0,00132 + Dự án Âu tàu Đảo Mê: - Thời gian : 6 tuần - Chi phí : 10 triệu, tỷ lệ 10/ 10.095 = 0,000991 Các dự án đấu thầu trong nước còn lại cũng có thời gian làm hồ sơ dự thầu dao động từ 4 – 8 tuần, và tỷ lệ CF/ Gth cao hơn so với các dự án đấu thầu quốc tế khác mà Công ty đã trúng thầu. 2. Tồn tại trong cạnh tranh dự thầu XLQT của Công ty XD Lũng Lô Qua các số liệu ở phần III 1, chúng ta có thể rút ra được các tồn tại sau trong cạnh tranh dự thầu XLQT của Công ty XD Lũng Lô: Trước hết, đó là số lượng các gói thầu Công ty trúng thầu hàng năm không tăng và không đều, có phần giảm xuống. Năm 1997 Công ty trúng 2 gói, năm 1998, năm 1999, năm 2000 và năm 2001 đều trúng 1 gói. Số các gói thầu trượt thầu cũng tăng giảm không đều: năm 1997 không trượt gói nào, năm 1998 tăng lên hai gói, năm 1999 và 2000 đều trượt 1 gói, còn năm 2001 lại không trượt gói nào Thứ hai, tổng giá trị các gói thầu trúng thầu hàng năm của Công ty không đều: năm 1997, tổng giá trị các gói thầu của Công ty là 641 tỷ, năm 1998 giảm xuống 146 tỷ, năm 1999 giảm tiếp xuống còn 99 tỷ, năm 2000 tăng lên bằng năm 1997 : 641 tỷ, còn năm 2001 là năm có giá trị gói thầu trúng thầu cao nhất 4.200 tỷ. Như vậy, khả năng cạnh tranh trong đấu thầu XLQT của Công ty là không ổn định. Ngoài những gói thầu có qui mô vừa, Công ty đã trúng cả những gói thầu có quy mô rất lớn, đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao. Bên cạnh đó, có những gói thầu tuy nhỏ nhưng Công ty vẫn trượt thầu. Đó là do những nguyên nhân khách quan và cả những nguyên nhân chủ quan từ phía Công ty: do giá bỏ thầu cao, trình độ của đội ngũ kỹ thuật làm hồ sơ không đáp ứng được các yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Các nguyên nhân sẽ được đề cập chi tiết hơn ở phần tiếp sau. 3. Nguyên nhân của các tồn tại 3.1. Nguyên nhân từ phía Nhà nước Nhà nước tuy đã có những quy định, chính sách đối với đấu thầu XLQT nhưng vẫn còn có thiếu sót, sơ hở cần phải bổ sung, sửa đổi. Thủ tục hành chính đôi khi rườm rà, phức tạp nhưng đôi khi lại quá đơn giản, sơ hở. Các cơ quan được Nhà nước lựa chọn làm chủ đầu tư vẫn chưa đầu tư chiều sâu vào công việc được giao, còn tình trạng vụ lợi cá nhân, hồ sơ mời thầu được sao chép từ dự án này sang dự án khác. Dẫn đến việc lựa chọn không đúng nhà thầu có năng lực trúng thầu. Các dự án được tổ chức đấu thầu XLQT thường là các dự án có vốn vay của nước ngoài, hoặc được ký theo hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và một quốc gia khác. Do vậy, đôi khi chủ đầu tư phải bắt buộc lựa chọn một nhà thầu không hoàn toàn đủ năng lực của nước cho vay vốn hoặc nước ký hiệp định để trúng thầu. Nhà nước không cho phép một số doanh nghiệp, đặc biệt là các DNXD quân đội tham gia đấu thầu các dự án của một số nguồn vốn vay (như ODA). Điều này đã vô tình loại bỏ một số nhà thầu có năng lực tham gia. Chưa có những chính sách ưu tiên những nhà thầu trong nước trong quá trình xét thầu và thi công công trình, mặc dù sự cạnh tranh giữa các DNXD trong và ngoài nước càng ngày càng gay gắt nhưng thực tế các DNXD trong nước thường thua kém các doanh nghiệp xây dựng nước ngoài, về năng lực tài chính, thiết bị thi công và trình độ chuyên môn của cán bộ kỹ thuật. Việc xem xét tư cách các nhà thầu nước ngoài tham gia đấu thầu chưa thực hiện tốt dẫn đến thực tế nhiều dự án có những nhà thầu nước ngoài không đủ tư cách pháp nhân và năng lực thực sự tham gia đấu thầu. Trong một số dự án, nhà thầu kiểu đó được phát hiện sớm thì chủ đầu tư chỉ tốn thời gian và công sức chấm thầu. Nhưng, có dự án khi nhà thầu được lựa chọn thi công thì mọi việc mới vỡ ra rằng nhà thầu này năng lực rất yếu, không thể thi công công trình hoặc nếu có thi công thi chất lượng và tiến độ công trình sẽ rất kém. 3.2. Nguyên nhân từ phía Công ty. 3.2.1. Nguyên nhân chủ quan Trước hết do chất lượng đội ngũ lao động của Công ty chưa cao, sự phân công lao động còn bất hợp lý: thực tế, cũng như bao doanh nghiệp nhà nước hiện nay, việc tuyển chọn lao động của Công ty chủ yếu thông qua hình thức quen biết giới thiệu, thủ tục phỏng vấn chỉ mang tính hình thức. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của đội ngũ cán bộ kỹ thuật tham gia làm hồ sơ dự thầu và đội ngũ kỹ thuật trực tiếp thi công công trình (nếu trúng thầu). Như đã đề cập ở trên, quá trình làm hồ sơ dự thầu gồm nhiều giai đoạn và hồ sơ gồm có nhiều phần, các phần có sự liên kết chặt chẽ với nhau, có thể chia thành: phần các văn bản pháp lý; phần thông tin chung; phần biện pháp kỹ thuật, tiến độ thi công; phần giá và phần bản vẽ thi công. Mỗi phần do một người hoặc một nhóm người đảm nhiệm, nếu như, một phần nào đó thiếu sót, sai lệch vì lý do năng lực của thành viên tham gia thì nó sẽ ảnh hưởng xấu tới chất lượng của toàn bộ hồ sơ. Mặt khác, trình độ ngoại ngữ của các cán bộ quản lý, kỹ sư chưa cao gây nhiều khó khăn trong công việc khi tiếp xúc với ngoại ngữ hoặc làm việc với người nước ngoài. Thứ hai, do giá chào thầu chưa hợp lý: trong một số dự án Công ty tham gia đấu thầu, đôi khi do không nắm bắt được các thông tin cần thiết về đối thủ cạnh tranh và ý đồ của Chủ đầu tư, việc xác định giá bỏ thầu chưa thật hợp lý, còn cao hơn nhiều nhà thầu khác dẫn đến trượt thầu, mặc dù thang điểm cho các đề xuất kỹ thuật không thua kém. Thứ ba, do uy tín của Công ty đã từng bị ảnh hưởng gây bất lợi cho Công ty trong quá trình đấu thầu: Một số công trình, sau khi trúng thầu, công tác triển khai thi công của Công ty còn chậm còn chậm so với tiến độ công trình yêu cầu trong hồ sơ dự thầu. Có nhiều phát sinh về chất lượng công trình, xảy ra tình trạng thi công sai quy trình, quy phạm, vừa thi công xong lại phải sửa chữa hoặc làm lại...Thực chất, đó là do công tác giám sát, chỉ huy chưa tốt, chưa xây dựng được một hệ thống quản lý chất lượng công trình hợp lý ngay từ khi bắt đầu chuẩn bị nguyên vật liệu cho đến khi nghiệm thu bàn giao công trình. Điều này ảnh hưởng xấu đến uy tín của Công ty đối với các chủ đầu tư và như vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc dự thầu các dự án khác của Công ty. Vì uy tín là một yếu tố rất quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp xây dựng nào trên thị trường xây lắp và các chủ đầu tư cũng căn cứ nhiều vào uy tín của doanh nghiệp khi xét thầu. 3.2.2. Nguyên nhân khách quan Dưới đây là những nguyên nhân sau có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động đấu thầu XLQT và thực hiện thi công công trình của Công ty: Do các thủ tục hành chính ở Việt Nam hiện nay, nói chung, còn nhiều bất cập và rườm rà. Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn tới công tác tài chính của Công ty và như vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc cung cấp tài chính cho công trường, phần nào làm chậm tiết độ thi công công trình. Do yêu cầu ngày càng cao của chủ đầu tư về tiến độ thi công, chất lượng công trình và yếu tố kỹ thuật Do giá cả nguyên vật liệu trên thị trường không ổn định Do tình trạng các DNNN thiếu việc làm triền miên, công nhân thất nghiệp dẫn đến tình trạng cạnh tranh gay gắt tìm kiếm việc làm Do tình hình diễn biến thời tiết khắc nghiệt, gây ảnh hưởng thiệt hại và khó khăn cho công trường xây dựng Do đặc thù là một doanh nghiệp xây dựng quân đội, để đảm bảo bí mật quân sự, các hoạt động giao dịch với người, hay tổ chức nước ngoài bị hạn chế. Tóm lại, trong Chương II, chúng ta cơ bản hiểu về lịch sử ra đời và qúa trình phát triển của Công ty XD Lũng Lô. Cùng với các đặc điểm kinh tế, kỹ thuật chủ yếu có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thắng thầu xây lắp của Công ty, chúng ta đi sâu phân tích về thực trạng dự thầu của Công ty, biết được các bước để hoàn chỉnh việc đấu thầu một gói thầu, biết được số lượng các gói thầu Công ty đã trúng thầu cũng như trượt thầu. Qua số liệu các gói thầu Công ty đã trúng thầu, chúng ta sẽ thấy rõ ưu điểm của các gói thầu XLQT so với các gói thầu trong nước. Ngoài ra, điều quan trọng là chúng ta đã xác định được các tồn tại trong cạnh tranh dự thầu XLQT của Công ty XD Lũng Lô và nguyên nhân của các tồn tại này để có các phương hướng, biện pháp nhằm tăng khả năng thắng thầu cho Công ty. Nội dung của phương hướng và các biện pháp sẽ được đề cập ở Chương III tiếp theo. CHƯƠNG III MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG KHẢ NĂNG THẮNG THẦU TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP QUỐC TẾ Ở CÔNG TY XD LŨNG LÔ I. PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG DỰ THẦU XLQT CỦA CÔNG TY XD LŨNG LÔ Có thể khẳng định rằng, bất cứ một doanh nghiệp kinh doanh nào cũng hướng tới mục đích tối đa hoá lợi nhuận, tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho người lao động. Mục tiêu của Công ty XD Lũng Lô, trong năm 2002 và những năm tiếp theo là phải trúng thầu nhiều gói thầu đấu thầu XLQT có giá trị lớn với xác xuất trúng thầu cao, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho CBCNV của Công ty. Trước mắt, trong năm 2002, Công ty đề ra phải trúng thầu ít nhất 5 công trình XLQT với tổng giá trị lớn hơn 400 tỷ đồng; mức thu nhập bình quân của CBCNV trong Công ty tăng lên khoảng từ 1.300.0000 – 1.500.000 VNĐ/người/tháng (năm 2001 từ 1.100.000 – 1.300.000 VNĐ). Để đạt được mục tiêu đề ra, Công ty XD Lũng Lô xác định phải chọn một phương hướng thực hiện thích hợp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong dự thầu XLQT cho Công ty, đó là: Tích cực tìm kiếm điều tra về các dự án, tăng cường hợp tác liên danh liên kết 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn. Việc tìm kiếm, điều tra về các gói thầu chuẩn bị mời thầu mang lại lợi ích rất lớn cho Công ty, cho phép Công ty có thể tham gia được nhiều cuộc đấu thầu hơn. Từ đó, Công ty có thể biết được năng lực, khả năng hiện tại của mình so với các đối thủ cạnh tranh, sức mạnh và uy tín của Công ty trong tình trạng như thế nào. Bên cạnh đó, Công ty sẽ tích luỹ được một số kinh nghiệm, nhất là về lĩnh vực lập hồ sơ dự thầu có sự tham gia của các nhân tố nước ngoài và như vậy sẽ tăng khả năng thắng thầu cho Công ty, tạo thêm uy tín của Công ty trên thị trường xây dựng. Việc điều tra về các gói thầu cho phép Công ty có thể hiểu một cách sâu sắc hơn về các gói thầu chuẩn bị mở thầu, từ đó có thể: biết được người có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư, tổng vốn đầu tư, . . . để có mối quan hệ tốt đối với những người này; biết được cụ thể, chi tiết các yêu cầu của công trình, hạng mục công trình để có sự lựa chọn bố trí thích hợp các năng lực trong hồ sơ dự thầu và sau cùng là biết được số lượng, tên các nhà thầu tham gia đấu thầu để có chiến lược cạnh tranh thích hợp. Còn việc tìm các nhà thầu trong và ngoài nước liên danh, liên kết cho phép Công ty tự tin hơn trong đấu thầu bởi vì sự kết hợp giữa các đơn vị trong liên danh sẽ làm tăng năng lực về tài chính, máy móc thiết bị và nhân sự. Các thành viên sẽ học hỏi, trau dồi kỹ năng để tăng chất lượng của hồ sơ dự thầu. Hơn nữa, do công tác marketting được thực hiện tốt hơn, khả năng thắng thầu sẽ cao hơn. 2. Phương thức tiến hành 2.1. Đối với việc tìm kiếm các gói thầu Công ty phải cử người luôn luôn tích cực theo dõi các loại báo, tạp chí và các phương tiện thông tin đại chúng để tìm hiểu kế hoạch đầu tư của Nhà nước và các dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Nhiệm vụ của người này là phải theo sát các báo, tạp chí và các phương tiện thông tin đại chúng để phát hiện các dự án đầu tư quốc tế, theo sát các dự án này cho đến khi mở thầu và để phát hiện các thông báo mời dự sơ tuyển và mời thầu một cách sớm nhất để Công ty tổ chức lập hồ sơ sơ tuyển và hồ sơ dự thầu một cách hoàn chỉnh. Ngoài ra, Công ty cũng phải thiết lập mối quan hệ lâu dài, giữ uy tín tốt đối với các cơ quan Nhà nước, địa phương có thẩm quyền để khai thác nguồn thông tin về các dự án đầu tư xây dựng. 2.2. Đối với việc điều tra dự án Sau khi phát hiện các dự án, gói thầu chuẩn bị mở thầu thì Công ty cử các cán bộ, kỹ sư đi điều tra khảo sát kỹ hơn, sâu hơn để đảm bảo tính hiệu quả và khả năng thắng thầu. Đó là phải điều tra kỹ hơn về chủ đầu tư để đánh giá chính xác: thuộc các chính quyền nào, trong nước hay ngoài nước, khả năng của chủ đầu tư ra sao (vốn) và điều tra về các yếu tố liên quan đến công trình: địa điểm, điều kiện tự nhiên, yêu cầu kỹ thuật. 2.3. Đối với việc liên danh, liên kết Công ty sẽ cử cán bộ đi liên hệ với các nhà thầu trong nước hoặc ngoài nước có tư cách pháp nhân, đủ năng lực và có mong muốn tham gia đấu thầu. Nếu đã tìm được đủ đối tác liên danh phù hợp, Công ty sẽ có một cam kết cho tất cả các nhà thầu tham gia trong liên danh, trong đó nêu rõ mục đích liên danh, nhiệm vụ của từng thành viên và phần trăm công việc của từng thành viên (nếu liên danh thắng thầu). II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG KHẢ NĂNG THẮNG THẦU TRONG DỰ THẦU XLQT CỦA CÔNG TY XD LŨNG LÔ II.1. XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN QUY CHẾ TUYỂN DỤNG LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY BÌNH ĐẲNG, CÔNG BẰNG VÀ KHÁCH QUAN 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn Chất lượng của đội ngũ lao động đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành hay bại của doanh nghiệp. Đối với một doanh nghiệp xây dựng, chất lượng của đội ngũ lao động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình. Chất lượng công trình kém sẽ không đảm bảo an toàn cho người và trang thiết bị trong suốt thời gian thi công và sử dụng công trình. Xét trong phạm vi hẹp là Công ty XD Lũng Lô, khi Công ty đã xây dựng và thực hiện được một quy chế tuyển dụng lao động bình đẳng, công bằng và khách quan, tức là không còn tình trạng “ Con ông cháu cha” nữa mà tất cả người lao động muốn được vào làm việc tại Công ty đều phải qua ít nhất một vòng phòng vấn dưới sự giám sát của những đại diện Công ty. Việc chọn được những người có đức, có tài và phân công công việc cho họ một cách hợp lý, đúng với năng lực và chuyên môn sẽ tạo cơ hội cho họ phát huy khả năng cũng như tạo cho họ niềm hăng say học hỏi, tìm tòi trong công việc, tránh tình trạng người lao động bị phân công làm trái ngành nghề, không đúng năng lực tạo tâm lý chán nản. Có như vậy, Công ty sẽ có những người giỏi thực thụ trong từng lĩnh vực nói chung và trong hoạt động đấu thầu nói riêng sẽ có một đội ngũ chuyên gia sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu phức tạp của chủ đầu tư, tăng khả năng thắng thầu cho Công ty khi tham gia đấu thầu XLQT. 2. Nội dung của biện pháp Để có thể sớm hoàn chỉnh xây dựng và thực hiện quy chế tuyển dụng lao động bình đẳng và khách quan, ngay từ bây giờ Công ty phải thành lập một Ban tuyển dụng lao động. Ban này bao gồm các đại diện của các Phòng ban trong Công ty, những đại diện phải là người am hiểu chuyên môn, nếu cần thiết, Công ty phải thuê người từ ngoài tham gia phỏng vấn. Việc tuyển dụng phải được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và được chia thành từng đợt sau khi các Phòng ban và Công trường trực thuộc trình Ban Giám đốc Phòng và Tổ chức – Lao động – Tiền lương số lượng lao động cần tuyển. Quá trình tuyển dụng gồm ít nhất hai đợt: đợt 1 là vòng sơ tuyển – vòng này sẽ loại bỏ được các hồ sơ không hợp lệ như ngành nghề tốt nghiệp không đúng với công việc yêu cầu, người dự tuyển không đủ kinh nghiệm v.v...Vòng 2 sẽ là vòng thi viết hoặc phỏng vấn hoặc cả thi viết và phỏng vấn ( tuỳ theo yêu cầu từng công việc). Vòng này được tiến hành dưới sự giám sát của Ban tuyển dụng. Kết quả tuyển dụng sẽ được trình Ban Giám đốc Công ty phê duyệt và những người trúng tuyển sẽ được thử việc trong thời gian 3 tháng thông qua một hợp đồng lao động ngắn hạn. Nếu trong 3 tháng đó, người trúng tuyển không đáp ứng được công việc cấp trên giao và được đánh giá là không có khả năng phát huy, những người này sẽ Ban tuyển dụng và Ban Giám đốc xem xét chấm dứt hợp đồng. 3. Điều kiện để thực hiện biện pháp Ban Giám đốc Phòng và Tổ chức – Lao động – Tiền lương phải phổ biến rộng rãi tới từng người lao động trong Công ty về chủ trương xây dựng và thực hiện một quy chế tuyển dụng lao động bình đẳng, công bằng và khách quan. Công ty phải đưa ra những chính sách thưởng phạt hợp lý, đối với những người có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc tuyển dụng nếu cố tình làm trái, bao che cho việc tuyển người không đủ năng lực khi bị phát hiện sẽ bị kỷ luật, phạt hành chính tuỳ theo tính chất của sự việc. Ngược lại, những ai làm đúng với nguyên tắc, hoặc mạnh dạn tố cáo những bất công trong việc tuyển dụng lao động sẽ được khen thưởng. Điều này đồng nghĩa với việc lập một quỹ cho việc tuyển dụng và mọi chi phí, khen thưởng trong việc tuyển dụng sẽ được trích ra từ quỹ này. Bên cạnh đó, Công ty phải quan hệ với các cơ quan, đơn vị khác trong và ngoài nước để khi cần thiết có thể nhờ nhân sự ở đó để trực tiếp tham gia phỏng vấn. Phải định kỳ tổ chức các phiên họp nhằm điểm lại tình hình nhân sự của Công ty, xem thiếu người ở vị trí công việc nào và thừa người ở đâu, ai làm được việc, ai không... Từ đó sẽ có kế hoạch cụ thể cho việc tuyển dụng. 4. Hiệu quả của biện pháp Khi đã xây dựng và thực hiện được quy chế tuyển dụng lao động công bằng, bình đẳng và khách quan, chất lượng đội ngũ lao động của Công ty nói chung, chất lượng của bộ phận đấu thầu nói riêng sẽ cao. Như vậy, Công ty sẽ luôn tự tin, sẵn sàng tham gia đấu thầu những gói thầu có yêu cầu kỹ thuật phức tạp và mới lạ. Công tác thi công trên những công trường trực thuộc của Công ty cũng sẽ được tiến hành bài bản, đảm bảo quy trình quy phạm đáp ứng được tiến độ và chất lượng yêu cầu. Có vậy, Công ty mới tăng uy tín tạo điều kiện cho Công ty càng ngày càng trúng thầu nhiều công trình có giá trị. CBCNV và người lao động có thêm việc làm, thêm thu nhập, Công ty sẽ càng ngày càng phát triển mạnh. II.2. XÁC ĐỊNH GIÁ BỎ THẦU HỢP LÝ LINH HOẠT PHÙ HỢP VỚI CHIẾN LƯỢC CỦA CÔNG TY VÀ XU THẾ THỊ TRƯỜNG 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn Trong quá trình đấu thầu, nhà thầu nào cũng muốn thắng thầu. Để thắng thầu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: các biện pháp kĩ thuật do nhà thầu đề ra hợp lý, uy tín của nhà thầu, giá dự thầu. . . và còn rất nhiều yếu tố khác. Song giá dự thầu đóng vai trò rất quan trọng. Thường các trường hợp thắng thầu là do giá bỏ thầu thấp. Một công trình dù đạt chất lượng cao, thoả mãn được các yêu cầu về kĩ thuật, mỹ thuật, thời gian hoàn thành. . . mà giá dự thầu lại quá cao thì công trình đó không mang lại hiệu quả. Do đó, các chủ đầu tư thường kết hợp các yếu tố về chất lượng công trình và giá dự thầu để đánh giá và xét thầu. Một nhà thầu nào đó đưa ra được một mức giá thầu hợp lý nhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu của các nhà đầu tư thì có khả năng thắng thầu cao. Mặt khác giá bỏ thầu cũng liên quan đến lợi nhuận để lại của Công ty theo công thức: Gdth = D + P D: Giá thành xây lắp P: Lợi nhuận để lại. Theo cách tính này thì giá thành thường ít thay đổi. Nếu giá bỏ thầu thấp thì lợi nhuận để lại của Công ty cũng thấp. Công ty muốn kinh doanh có hiệu quả thì bắt buộc phải tính toán giá bỏ thầu hợp lý để đảm bảo vừa thắng thầu vừa có lãi khi trúng thầu. Thực tế, các gói thầu đấu thầu XLQT mà Công ty không trúng thầu chủ yếu đều do giá bỏ thầu cao hơn so với các nhà thầu cùng tham gia. Việc giá thầu cao cũng do nhiều nguyên nhân, như : do chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ mời thầu, không khảo sát vị trí công trình, các điều kiện liên quan như nguồn cung cấp nguyên vật liệu, mạng lưới giao thông kỹ càng... nên giá vật liệu, nhân công, máy và các hệ số, chi phí tỷ lệ đều được tính cao hơn so với yêu cầu thực tế. Chẳng hạn, gói thầu “ Dự án xây dựng Cảng cá Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng”, Công ty chỉ khảo sát thực địa qua loa sau đó dựa vào hồ sơ mời thầu để làm hồ sơ dự thầu, các nguồn cung cấp nguyên vật liệu đều được tính sai cả về khoảng cách và đường vận chuyển tới chân công trình, do vậy đơn giá, các hệ số và chi phí tỷ lệ đều được tăng nên so với mức chuẩn áp dụng cho công trình từ 0,5% - 5%. Nếu áp dụng mức chuẩn, giá chào thầu của Công ty sẽ là 36 tỷ, nhưng Công ty đã bỏ thầu với giá 40 tỷ và trượt thầu (giá mời thầu là 43 tỷ). Như vậy, việc tính toán giá dự thầu các công trình có vốn đầu tư nước ngoài theo cơ chế thị trường là một vấn đề rất phức tạp. Trước hết, nó phụ thuộc vào điều kiện và yêu cầu cụ thể công trình và tuỳ thuộc ở quyền quyết định của chủ đầu tư. Mặt khác, giá dự thầu còn do bản thân các tổ chức xây lắp trong nước tính toán tự quyết định trên cơ sở mức chi phí có thể chấp nhận được và không làm tổn hại đến lợi ích chung của đất nước. 2. Nội dung của biện pháp Về cơ bản, nội dung của đơn giá về cơ bản bao gồm: Chi phí vật liệu; Chi phí nhân công; Chi phí sử dụng máy; Chi phí chung;Thuế, lãi. Ngoài ra, tuỳ theo yêu cầu của từng dự án, có thể tính thêm một số chi phí khác như: Chi phí thầu chính hoặc tổng thầu, chi phí mua bảo hiểm, chi phí lán trại, hệ số trượt giá, dự phòng phí... Để đưa ra được giá thầu hợp lý, có tính cạnh tranh cao, Công ty phải điều chỉnh lại giá dự toán xây lắp sát với cách lập giá dự toán của chủ đầu tư và theo các quy định, đơn giá hiện hành tại thời điểm hiện tại, tuy nhiên, điều quan trọng là phải luôn cấp nhật những thông tin về các đối thủ cạnh tranh và ý đồ của chủ đầu tư để điều chỉnh giá (có thể giảm giá bằng thư giảm giá). Dưới đây là một số vấn đề chung, được áp dụng nhiều trong việc tính giá cho các gói thầu XLQT mà Công ty cần phải chú ý: 2.1. Chí phí vật liệu: Về định mức vật tư: Bước đầu có thể sử dụng định mức vật tư hiện hành của Việt Nam để tính giá. Tuy nhiên, đối với những công việc làm theo tiêu chuẩn nước ngoài thì phải điều chỉnh lại định mức cho phù hợp. Về giá vật tư: Đối với các vật liệu đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thì tính với giá “xuất khẩu tại chỗ “hoặc tính theo giá tương đương trong khu vực Đông Nam Á, còn đối với vật liệu nhập ngoại, tính theo giá thực nhập cộng với các chi phí vận chuyển, bảo quản, bốc xếp đến hiện trường. 2.2. Chi phí lao động Về định mức lao động: Có thể áp dụng định mức lao động hiện hành trong xây dựng để tính giá. Những công việc chưa có định mức lao động phải lập định mức mới có tham khảo định mức của các nước trong khu vực Đông Nam Á. Về tiền lương: Tiền lương công nhân được tính theo mức trung bình thấp của công nhân xây dựng trong khu vực Đông Nam Á. 2.3. Chí phí sử dụng máy Định mức năng suất máy có thể áp dụng theo các quy định hiện hành của nước ta. Đối với các loại máy đã có trong nước lấy theo bảng giá ca máy hiện hành nhân với hệ số từ 1,05 đến 1,10 do tính lại tiền lương công nhân sử dụng máy theo mức lương làm việc ở các công trình có vốn đầu tư nước ngoài và tính chuyển sang USD theo tỷ giá hối đoái tương ứng của thời điểm lập giá dự thầu. Đối với loại máy mới phải xây dựng riêng đơn giá ca máy theo phương pháp do Bộ Xây dựng quy định trên cơ sở giá thực nhập tính bằng USD. 2.4. Chi phí chung. Áp dụng mức tương tự như các công trình trong nước, cần tính thêm một số khoản khác như: chi phí mua hồ sơ dự thầu, thuê tư vấn, mua bảo lãnh dự thầu... Ngoài ra, đối với các chi phí khác gồm: chi phí thầu chính hoặc tổng thầu, chi phí mua bảo hiểm xây dựng, chi phí lán trại, hệ số trượt giá, chi phí dự phòng thì tuỳ từng công trình mà điều chỉnh cho phù hợp. 3. Điều kiện đểt thực hiện biện pháp Muốn thực hiện biện pháp này một cách có hiệu quả thì Công ty cần thực hiện một số điều kiện sau: Thứ nhất, phải trang bị công cụ, phương tiện hiện đại cho các cán bộ làm công tác lập giá để họ lập một cách chính xác, nhanh chóng, hợp pháp. Thứ hai, Công ty phải cử các cán bộ có kinh nghiệm, trình độ đi khảo sát địa bàn, chân công trình để xem xét lại các thông tin mà bên mời thầu đã cung cấp, nhất là xem lại bản vẽ kỹ thuật đã hợp lý chính xác chưa so với mặt bằng cụ thể ở công trình; xem xét lại giá cả và điều kiện cung cấp nguyên vật liệu, mạng lưới giao thông thuận lợi hay khó khăn. . . Thứ ba, các nhân viên lập giá luôn phải được cập nhật những thông tin mới nhất về giá xây dựng trong nước, ngoài nước và sự quản lý của nhà nước, các nhân viên này phải được Công ty tạo điều kiện thuận lợi nhất và họ phải tính toán một cách chính xác, trung thực với điều kiện thực tế. 4. Hiệu quả của biện pháp Giá thành xây lắp là một biện pháp khá phổ biến đối với các nhà thầu hiện nay. Để có thể giảm được giá thành xây lắp, bắt buộc các nhà thầu phải tính toán, phân tích và quyết định các lợi thế cũng như điểm yếu của mình để đưa ra được một mức giá hợp lý có khả năng thắng thầu cao. Do vậy, Công ty cần phải xem xét thật chính xác về các đối thủ cạnh tranh của mình để qua đó linh hoạt điều chỉnh giá cho phù hợp, không nên cứng nhắc và phải thận trọng ngay từ bước đầu. Hơn nữa, cần phải biết kết hợp giữa các biện pháp khác tạo nên một tổng thể hoàn chỉnh nhằm đạt mức điểm tối đa trong cuộc thầu. Tóm lại, giảm giá thành xây lắp một cách hợp lý là biện pháp hữu hiệu nhất, góp phần rất lớn tới khả năng thắng thầu của Công ty. II.3. TRIỂN KHAI THI CÔNG THEO CHỈ ĐẠO CỦA CHỦ ĐẦU TƯ NHẰM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG VÀ TIẾN ĐỘ CÔNG TRÌNH 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn Trong công cuộc mở cửa và hội nhập nền kinh tế thế giới đã tạo cho nước ta nhiều chuyển biến quan trọng về kinh tế, xã hội, chính trị . . . Qua đó chúng ta học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm tiên tiến của thế giới trong các lĩnh vực quan trọng, trong đó có lĩnh vực XDCB. Những công trình có vốn đầu tư nước ngoài hoặc vốn vay của tổ chức tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng châu Á (AB) . . . đều được thực hiện có hiệu quả và đảm bảo chất lượng, không bị phá đi sửa lại và phải bảo đảm được tuổi thọ khai thác. Những yêu cầu đặt ra của chủ đầu tư ngày một cao, đòi hỏi các nhà thầu phải thật sự quan tâm tới đảm bảo chất lượng công trình, tránh tình trạng sai hỏng về chất lượng gây hậu quả xấu và việc khắc phục, sửa chữa rất khó khăn, tốn kém. Đối với Công ty XD Lũng Lô cũng như bất kỳ một doanh nghiệp xây dựng nào khác, dường như khi ký kết được hợp đồng thì đã kết thúc việc tham gia đấu thầu, nhưng xem xét một cách tổng thể thì nó vẫn thuộc lĩnh vực của công tác đấu thầu trong cơ chế thị trường. Việc thực hiện đúng hợp đồng là đảm bảo đúng yêu cầu chất lượng và tiến độ thi công của chủ đầu tư. Điều này sẽ tăng độ tin cậy của chủ đầu tư đối với Công ty, từ đó làm tăng uy tín của Công ty trên thị trường xây dựng. Như vậy khả năng cạnh tranh của Công ty được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi để thắng thầu những công trình trong tương lai. Nội dung của biện pháp Điều hành và quản quản lý một công trường xây dựng đã là một công việc khó, đòi hỏi sự nỗ lực, công sức của nhiều người, sự liên kết, kết hợp hài hoà giữa nhiều bộ phận, nhiều tổ đội khác nhau trong và ngoài công trình, nhưng để điều hành, quản lý một công trường nhằm thực hiện theo đúng tiến độ và chất lượng yêu cầu lại là một công việc khó hơn nhiều. Để đạt được mục đích đó, ngay từ đầu Công ty phải có những kế hoạch cụ thể, thích hợp và sớm triển khai những công việc cần thiết. Thông thường, Công ty cần phải lưu ý đến các vấn đề sau: 2.1. Giai đoạn chuẩn bị thi công Giai đoạn này được bắt đầu ngay sau khi hợp đồng được ký kết. Trước hết, căn cứ vào các biện pháp kỹ thuật đề xuất trong hồ sơ dự thầu và những điều chỉnh phát sinh đã được chủ đầu tư và Công ty thương thảo trong hợp đồng, Công ty phải lập một tiến độ và kế hoạch thi công cho tổng thể công trình; lập biện pháp bảo đảm và nâng cao chất lượng công tác xây lắp; lập kế hoạch và tiến độ chi tiết cho từng hạng mục nêu rõ trình tự công việc được thực hiện; sau đó lập danh sách nhân sự cho toàn bộ công trình, số lượng tổng số là bao nhiêu, ai đảm nhiệm chức vụ và công việc gì.. Tiếp theo, Công ty phải lập kế hoạch cho việc tổ chức cung ứng máy móc thiết bị, nguyên vật liệu đúng yêu cầu của công việc. Đối với máy móc thiết bị thi công, Công ty phải dựa vào yêu cầu thực tế của công trình như khối lượng công việc, điều kiện giao thông mà có sự điều động hợp lý. Để thực hiện tốt biện pháp này thì đội xe máy thi công cần phải nắm rõ số lượng, chủng loại và tình trạng của máy móc thiết bị hiện có, so sánh với số lượng yêu cầu xem thừa thiếu ra sao, nếu thiếu phải báo cáo cấp trên xin được đi thuê và phải sớm điều động vào công trường đảm bảo an toàn, tiết kiệm thời gian và chi phí vận chuyển. Đối với nguyên vật liệu dùng cho thi công công trình, phải khảo sát và chọn các nguồn cung cấp nguyên vật liệu đảm bảo cung ứng một cách nhanh chóng nhất, nguyên vật liệu phải đúng quy cách, chủng loại, chất lượng. Trước khi các nguyên vật liệu được sử dụng, phải tổ chức kiểm tra thí nghiệm vật liệu xây dựng theo quy định. Ngoài việc huy động máy móc thiết bị, nhân sự và tập kết nguyên vật liệu, Công ty phải sớm ổn định lán trại cho CBCNV và người lao động trên công trường. Bên cạnh đó, Công ty phải quan hệ, phối hợp tốt với chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng, đảm bảo các yêu cầu đối với vệ sinh môi trường, an toàn, an ninh trong và ngoài công trường, tránh tình trạng công trình phải tạm ngừng thi công làm chậm tiến độ do không có mặt bằng thi công, do công trình có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái.. 2.2. Giai đoạn thi công Sau khi đã có đầy đủ các điều kiện cần thiết, việc triển khai thi công sẽ được bắt đầu bằng một lễ khởi công. Đây là giai đoạn tạo nên thực thể sản phẩm, sản phẩm có đạt yêu cầu của chủ đầu tư thì uy tín của Công ty mới được nâng cao. Vì vậy, nó đòi hỏi sự quản lý, điều hành linh hoạt, hợp lý từ phía lãnh đạo, sự cố gắng, tuân thủ từ phía CBCNV và người lao động. Công trường sẽ được chia thành nhiều đội, mỗi đội có một đội trưởng và sẽ phụ trách một phần việc. Đứng đầu công trường là chỉ huy trưởng công trường hoặc giám đốc điều hành, sau đó có các phó chỉ huy hoặc các phó giám đốc. Chỉ huy trưởng công trường phải là người thay mặt cho Công ty lãnh đạo công trường, là người chịu trách nhiệm trước Công ty về chất lượng và tiến độ công trình. Chỉ huy trưởng công trường và các phó chỉ huy căn cứ vào tình hình thực tế trên công trường, có những biện pháp cụ thể áp dụng cho toàn công trường và cho từng đội thi công. Nguyên vật liệu phải luôn đủ để cho các máy móc thi công và máy móc phải luôn sẵn sàng thi công khi có đủ nguyên vật liệu. Quy chế công trường phải được phổ biến và áp dụng nghiêm túc trên toàn công trường, có chế độ thưởng phạt rõ ràng. Phạt những ai cố tình vi phạm quy chế như: đi làm muộn, bỏ ra ngoài tuỳ tiện trong giờ làm việc, đánh nhau, ăn cắp vật liệu, cố ý làm sai gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công trình...tuỳ theo tính chất của sự việc mà phạt từ nhắc nhở cảnh cáo, phạt hành chính đến buộc thôi việc, thậm chí truy tố trách nhiệm hình sự. Thưởng những ai có thành tích trong công việc như làm việc luôn đúng giờ, có sáng kiến, dám tố cáo những sai phạm của người khác có ảnh hưởng đến công trình.. 2.3. Vấn đề quản lý chất lượng Bên cạnh các biện pháp nêu trên, vấn đề quản lý chất lượng (một vấn đề quan trong trước khi và trong khi thi công) cũng là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo được chất lượng và tiến độ công trình. Để thực hiện được điều đó, Công ty cần nghiên cứu kỹ thiết kế, phát hiện những sai sót bất hợp lý, và những hạng mục quan trọng cần bảo đảm chất lượng. Ngoài việc cung cấp đủ, kịp thời các máy móc, nguyên vật liệu đạt tiêu chuẩn, Công ty phải lựa chọn cán bộ kỹ thuật, công nhân đủ trình độ và kinh nghiệm đối với công việc được giao; tổ chức đầy đủ bộ phận giám sát kiểm tra kỹ thuật, phải tổ chức kiểm tra nghiệm thu công tác xây lắp theo đúng quy định của tiêu chuẩn, quy phạm thi công, đặc biệt những phần bị che lấp và quan trọng. Công ty phải phối hợp chặt chẽ với bên tư vấn, giám sát (thường là người nước ngoài).. để xử lý kịp thời những sự cố phát sinh trong quá trình thi công và thực hiện đầy đủ các văn bản về quản lý chất lượng trong quá trình thi công: sổ nhật kí công trình, biên bản thí nghiệm vật liệu xây dựng, biên bản kiểm tra, nghiệm thu hoàn công và các văn bản có liên quan khác. Bên cạnh đó, Công ty phải tham gia hội đồng nghiệm thu cơ sở. Qua đó khắc phục những điểm sai sót của công trình nhằm nâng cao hơn nữa chất lương công trình. Quá trình quản lý chất lượng công trình phải diễn ra liên tục, phát hiện và xử lý những nguyên nhân gây ra sai hỏng là chính chứ không phải xử lý hậu quả của các nguyên nhân đó gây ra (nguyên tắc " lấy phòng ngừa làm chính"). Tức là, Công ty phải thực hiện kiểm tra chất lượng theo quá trình từ khi bắt đầu chuẩn bị nguyên vật liệu cho đến khi nghiệm thu bàn giao công trình. Tóm lại, việc thực hiện những biện pháp trên sẽ giúp cho Công ty khi tiến hành xây dựng lắp đặt một công trình sẽ có thời gian hoàn thành sớm nhất nhưng chất lượng vẫn đảm bảo theo các yêu cầu của chủ đầu tư. 3. Điều kiện để thực hiện biện pháp Các cán bộ lập tiến độ thi công phải bao quát tổng thể được dự án, nắm chắc việc thi công từng hạng mục công trình và nhất là có kiến thức về phần mềm Microsoft Project. Các cán bộ ở phòng vật tư, đội xe máy thi công cũng phải được trang bị tối thiểu những kiến thức về cung cầu, giá cả, tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền ngoại tệ và đồng nội tệ dùng trong dự án, các lý thuyết dự trữ và sơ đồ bố trí công việc cho máy móc thiết bị. Công ty phải thực hiện quy chế sản xuất kinh doanh một cách nghiêm khắc triệt để. Trong công tác quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng, Công ty phải sử dụng các công cụ thống kê để tiến hành phân tích định tính và định lượng. Để đạt hiệu quả cao, Công ty nên chọn phương pháp sơ đồ nhân quả trong quản lý chất lượng toàn diện để tìm ra nguyên nhân của vấn đề chất lượng phát sinh. Sơ đồ được mô tả như sau: Sơ đồ 5: Sơ đồ nhân quả tìm nguyên nhân của vấn đề chất lượng Vật liệu Máy móc Quản lý Lao động Môi trường Công nghệ Vấn đề chất lượng 4. Hiệu quả của biện pháp Khi đã thực hiện tốt các biện pháp nêu trên, Công ty sẽ đảm bảo được tiến độ, chất lượng và các điều kiện khác của chủ đầu tư đặt ra, từ đó tạo được lòng tin, độ tin cậy cao đối với chủ đầu tư. Điều này rất thuận lợi cho Công ty khi tham gia đấu thầu những công trình trong tương lai. Hơn nữa, việc hoàn thành đúng tiến độ chất lượng công trình còn đưa lại nhiều hiệu quả kinh tế khác cho Công ty. Trước hết, Công ty sẽ rút ngắn tối đa thời gian thi công, tạo điều kiện nhanh chóng để thi công những công trình tiếp theo. Thứ hai, Công ty sẽ giảm được các chi phí về vốn và các chi phí phát sinh khác. Và cuối cùng, chất lượng công trình tốt, Công ty sẽ hạn chế được việc sữa chữa các phần công trình bị hư hại trong thời gian bảo hành và như vậy khoản tiền bảo hành công trình thấp. Tóm lại, trong Chương III này, chúng ta đã cùng đi sâu phân tích phương hướng và các biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng thắng thầu trong đấu thầu XLQT của Công ty XD Lũng Lô. Phương hướng đó là tăng cường tìm kiếm thông tin về các dự án đấu thầu để Công ty có thể tham gia đấu thầu nhiều hơn, tăng cường hợp tác liên danh liên kết để tạo thêm uy tín, năng lực cho Công ty. Còn các biện pháp ở đây bao gồm: Trước hết là việc xây dựng và thực hiện quy chế tuyển dụng lao động của Công ty bình đẳng, công bằng và khách quan, mục đích để thu nhận những người có đủ năng lực thực sự sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu công việc nói chung và đáp ứng được yêu cầu của những gói thầu đòi hỏi kỹ thuật cao. Thứ hai là việc xác định giá bỏ thầu hợp lý, linh hoạt phù hợp với chiến lược phát triển của Công ty và xu thế thị trường, như vậy Công ty mới có thể trúng thầu, tránh tình trạng trượt thầu do giá thầu bỏ cao vì giá thầu luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự thắng hay thua trong đấu thầu. Cuối cùng là Công ty phải triển khai thi công theo chỉ đạo của chủ đầu tư nhằm đảm bảo chất lượng và tiến độ công trình. Thực tế, uy tín của bất kỳ DNXD khi tham gia đấu thầu nào cũng là nhân tố quan trọng làm căn cứ cho chủ đầu tư xét thầu. Uy tín của Công ty XD Lũng Lô đã từng bị ảnh hưởng không tốt do một số công trình Công ty thi công chậm tiến độ và không đảm bảo chất lượng. Điều này đã gây bất lợi cho Công ty khi tham gia đấu thầu một số gói thầu khác. Vì vậy, nếu có đảm bảo được chất lượng và tiến độ công trình theo yêu cầu của chủ đầu tư, Công ty mới đảm bảo và tăng uy tín của mình trên thị trường xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu thầu các công trình về sau. KẾT LUẬN Ở nước ta, hiện nay, hoạt động đấu thầu quốc tế được áp dụng rộng rãi ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau đặc biệt là đấu thầu quốc tế trong XDCB. Đấu thầu xây lắp quốc tế là một hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp xây dựng. Mặc dù, Nhà nước, Bộ Xây dựng và các cơ quan chức năng vẫn luôn chú trọng sửa đổi các quy chế đấu thầu, quy chế quản lý đầu tư và xây dựng cho phù hợp với tình hình của đất nước, song thực trạng đấu thầu xây lắp quốc tế hiện nay còn có nhiều vấn đề nan giải, ảnh hưởng đến sự thu hút các nhà thầu nước ngoài có đủ năng lực tham gia vào quá trình CNH – HĐH tại Việt Nam. Thiết nghĩ, để hoàn thiện công tác đấu thầu ở Việt Nam , Nhà nước, Bộ Xây dựng và các cơ quan chức năng nên có những biện pháp, chính sách thích hợp hơn, ví dụ: - Các thủ tục hành chính đặc biệt đối với nhà thầu nước ngoài nên đơn giản, không rườm rà song vẫn phải đảm bảo tính chính xác, hợp pháp. - Giảm bớt một số loại thuế đối với các doanh nghiệp nước ngoài khi hoạt động tại Việt Nam như thuế nhập khẩu, thuế chuyển tiền ra nước ngoài, thuế thu nhập cá nhân... - Có những chính sách ưu đãi đối với DA ĐTQT như thời gian thẩm định ngắn đi, việc cấp các giấy phép liên quan nên thông thoáng hơn... Qua quá trình thực tập ở Công ty xây dựng Lũng Lô, tôi đã đi sâu tìm hiểu thực trạng công tác đấu thầu xây lắp quốc tế của Công ty. Với Đề tài "Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng thắng thầu trong đấu thầu xây lắp quốc tế của Công ty xây dựng Lũng Lô", tôi đã trình bày, phân tích và đánh giá những vấn đề chung và thực trạng của hoạt động đấu thầu xây lắp quốc tế, các thành tựu cũng như hạn chế ở Công ty. Từ việc phân tích này, qua thời gian học tập ở trường và sự tìm hiểu thực tế, tôi xin đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao khả năng thắng thầu của Công ty. Mặc dù đã cố gắng, nhưng với kiến thức có hạn nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, có những ý kiến, lý luận chưa sát với thực tế bên ngoài. Vì thế, tôi mong nhận được nhận nhiều ý kiến đóng góp bổ sung để Đề tài được hoàn thiện hơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO Định mức xây dựng cơ bản- NXB Xây dựng 1998. Nghị định số 52/1999/NĐ- CP về Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng. Nghị định 88/1999/NĐ- CP về Quy chế đấu thầu. PGS PTS Bùi Văn Yêm - Phương pháp định giá sản phẩm xây dựng - NXB Xây dựng 1997 : Trang 6, 40, 119. Hệ thống các quy định pháp luật về XDCB - NXB Chính trị quốc gia 1995: Trang 14-23, 104 – 107, 602 – 606. Một số văn bản hướng dẫn thực hiện quy chế quản lý dầu tư và xây dựng – NXB Xây dựng 2000: Trang 10 11, 12, 13, 189, 192 Các văn bản pháp quy mới về quản lý dầu tư và xây dựng - NXB Xây dựng 1997: Trang 88 –100, 110 –116. Hệ thống các văn bản pháp quy về quy hoạch xây dựng nhà ở và đất đai - NXB Thống kê: Trang 399-407. Tuyển tập tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam, Tập VII – Quản lý chất lượng thi công và nghiệm thu– NXB Xây dựng 1997: Trang 196, 197. GVC .TS Nguyễn Thị Hường – Quản trị dự án có vốn đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ– NXB Thống kê 2000: Trang 11, 83-90. Các hướng dẫn về mua sắm của chính phủ- Hướng dẫn No.1- Viện Nghiên cứu Thương mại 1996: Trang 28 – 30. PHỤ LỤC I Bảng 1 : Danh mục các công trình đấu thầu xây lắp trong nước có giá trị từ 10 tỷ đồng trở lên được Công ty thực hiện trong vòng 10 năm qua Đ/V : 1.000.000 VND TÊN VÀ TÍNH CHẤT CÔNG TRÌNH TỔNG GIÁ TRỊ GIÁ TRỊ NHÀ THẦU THỜIHẠN HỢP ĐỒNG TÊN CƠ QUAN KÝ HỢP ĐỒNG TÊN NƯỚC THỰC HIỆN KHỞI CÔNG HOÀN THÀNH 1 2 3 4 5 6 7 Cảng đảo Bạch Long Vỹ 120.000 120.000 3/1994 12/1998 UBND T.P Hải Phòng Việt nam Cảng và khu dịch vụ hậu cần nghề cá Gành Hào 11.407 11.407 7/1999 11/2000 Sở thuỷ sản Bạc Liêu Việt nam Âu tàu Đảo Mê 10.095 10.095 4/1999 10/2000 BCH Quân sự Tỉnh Thanh Hoá Việt nam Cảng Ninh Chữ - Ninh Thuận 17.350 17.350 7/1999 5/2001 BQLDA Ngành Thuỷ sản Ninh Thuận Việt nam Công trình HM 97 18.000 18.000 9/1997 11/1998 UBND Tỉnh Quảng Ninh Việt nam Hệ thống GT và CSHT Sóc Sơn 12.000 12.000 1/1997 12/1997 UBND Huyện Sóc Sơn Việt nam Hệ thống cấp, thoát nước và CSHT Nhà máy đóng tàu Huyndai-Vinashin 10.500 10.500 12/1996 2/1998 Tổng công ty Huyndai Việt nam Mở mỏ đá cho Nhà máy xi măng Chifon Hải Phòng. 26.180 26.180 8/1995 10/1996 Tổng công ty xi măng Việt Nam Việt nam Đường Hồ Chí Minh. 99.400 99.400 6/2000 11/2002 Bộ GTVT Việt nam Đường cơ động quân sự phía Đông Đèo Hải Vân. 16.652 16.652 10/1999 5/2001 Bộ Quốc phòng Việt nam Mở mỏ đá cho Nhà máy xi măng Lạng Sơn. 12.000 12.000 4/1995 2/1996 Tổng công ty xi măng VN Việt nam XD Nhà kho sân bay Tân Sơn Nhất 23.000 23.000 4/1995 8/1996 Bộ Quốc phòng Việt nam Mở mỏ đá Công ty SX bê tông Bình Thuận 11.000 11.000 8/1996 3/1997 Công ty Bình Thuận Việt nam Hệ thống cấp nước Khu chế xuất Tân Thuận . 25.000 25.000 10/1995 6/1996 BQL Khu chế xuất Tân Thuận Việt nam Hệ thống cấp nước T.P Vũng Tàu 37.000 37.000 8/1996 6/1997 UBND T.P Vũng Tàu Việt nam Đường Huế 12.000 12.000 10/1997 4/1998 UBND T.P Huế Việt nam Đường Tỉnh Sóc Trăng 19.000 19.000 1/1998 10/1998 Bộ Quốc phòng Việt nam Đường Tỉnh Quảng Ninh 18.000 18.000 10/1997 6/1998 UBND Tỉnh Quảng Ninh Việt nam Nạo vét sông Bằng Giang 12.000 12.000 5/1995 6/1996 UBND Tỉnh Cao Bằng Việt nam Quốc lộ 1A – Tỉnh Quảng Ngãi 13.559 13.559 4/1996 6/1998 PMU1 Việt nam Đường Tỉnh Sơn La 19.004 19.004 12/1995 8/1996 UBND Tỉnh Sơn La Việt nam Đường Hiền Hào- Đảo Cát Bà 18.500 18.500 11/1997 12/1998 Bộ NN & PTNN Việt nam (Nguồn: Tài liệu lưu Phòng Dự án – Kinh tế - Đối ngoại và Phòng Kế Hoạch) PHỤ LỤC I Bảng 2: Các công trình ĐTQT Công ty đã trúng thầu, đã và đang thi công trong vòng 5 năm qua. Đơn vị tính:1.000.000VNĐ Tên công trình Tổng giá trị Giá trị C.ty thực hiện Thời hạn hợp đồng Chủ đầu tư Khởi công Hoàn thành Dự án cải tạo và nâng cấp Quốc lộ 18, đoạn Biểu Nghi – Bãi Cháy 99.000 99.000 10/1999 12/2000 PMU 18 Dự án xây dựng đường và hầm Nhà máy Thuỷ điện Hàm Thuận - Đa Mi. 385.000 385.000 4/1997 12/1999 Tổng Công ty điện lực VN Dự án xây dựng Đường hầm đèo Hải Vân. 256.000 256.000 10/1997 6/1999 PMU1 Dự án xây dựng Đê chắn sóng - Dung Quất. 641.000 641.000 3/2001 8/2003 Công ty LD NMLD Việt – Nga. Dự án xây dựng Khu Bể chứa dầu thô - Dung Quất. 4.200.000 150.000 9/2001 3/2004 Công ty LD NMLD V-N Dự án khai thác mỏ than Núi Béo – Quảng Ninh. 146.000 146.000 8/1998 10/1999 Tổng công ty than VN (Nguồn: Tài liệu lưu Phòng Dự án – Kinh tế - Đối ngoại và Phòng Kế Hoạch) PHỤ LỤC II Các gói thầu đấu thầu XLQT Công ty không trúng thầu trong vòng 5 năm qua Đơn vị tính:1.000.000 VNĐ Tên gói thầu Giá trị mời thầu Giá Công ty bỏ thầu Nguồn vốn Chủ đầu tư Ghi chú Dự án mở mỏ đá Trại Sơn A – Hải Phòng 110.000 100.000 ODA Tổng C.ty xi măng VN Dự án xây dựng Cảng cá Trần Đề – Sóc Trăng 43.000 40.000 ADB PMU 18 Liên danh với Công ty vận tải dầu khí Dự án cải tạo và nâng cấp đường Xuyên á, Hồ Chí Minh – Phnome pen 285.000 250.000 ADB Mỹ Thuận PMU Liên danh với Tập đoàn XD LG–Hàn Quốc Dự án xây dựng đường hầm phía Đông đèo Hải Vân. 435.000 400.000 ODA PMU1 (Nguồn: Tài liệu lưu Phòng Dự án – Kinh tế - Đối ngoại và Phòng Kế Hoạch)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMột số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng thắng thầu trong đấu thầu xây lắp quốc tế của công ty xây dựng lũng lô.doc
Luận văn liên quan