Đề tài Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chống bán phá giá hàng nhập khẩu: Thực trạng và giải pháp

LỜI NÓI ĐẦU Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng chung của nền kinh tế trên thế giới. Quan hệ thương mại quốc tế ngày càng phát triển và giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của các quốc gia, các khu vực Thực hiện đường lối mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta từ năm 1986, kinh tế Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu rực rỡ. Tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm liền luôn ở mức cao so với mức tăng trưởng trung bình của thế giới, sản xuất, xuất nhập khẩu phát triển mạnh Tuy nhiên, đi kèm với những thành công lớn do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại là những khó khăn phải đối mặt như các quốc gia vì lợi ích kinh tế riêng của mình sử dụng những biện pháp làm phương hại đến lợi ích kinh tế của các quốc gia khác. Việc xâm nhập thị trường của hàng hóa nước xuất khẩu trái với nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh như bán phá giá, trợ cấp Trong đó, biện pháp bán phá giá hàng hóa đang được sử dụng khá phổ biến và gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cả trước mắt và lâu dài cho nước nhập khẩu, gây ra tác động tiêu cực cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự của nước nhập khẩu, ảnh hưởng đến việc làm của người lao động Từ những tác động kể trên của việc bán phá giá hàng nhập khẩu, đòi hỏi mỗi quốc gia cần chủ động đưa ra những biện pháp đối phó kịp thời. Chuyên đề ‘’một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chống bán phá giá hàng nhập khẩu của Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công Thương’’ nhằm nghiên cứu những vấn đề về bán phá giá, Hiệp định chống bán phá giá của WTO, Pháp lệnh về chống bán phá giá hàng nhập khẩu của Việt Nam, tác động của bán phá giá đến các ngành sản xuất trong nước để đưa ra một số giải pháp nhằm đối phó với những hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu Chuyên đề sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, chọn lọc các vấn đề liên quan để đánh giá thực trạng bán phá giá trên thị trường trong nước và kinh nghiệm chống bán phá giá của một số quốc gia trên thế giới để từ đó đưa ra những giải pháp cho vấn đề chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam. Chuyên đề gồm lời mở đầu, thực trạng và giải pháp của vấn đề nghiên cứu cùng với danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung chính của chuyên đề bao gồm hai chương như sau: Chương I: Thực trạng công tác quản lý chống bán phá giá trên thị trường nội địa của Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương. Chương II: Giải pháp tăng cường công tác quản lý chống bán phá giá hàng nhập khẩu của Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU Chương I: Thực trạng công tác quản lý chống bán phá giá trên thị trường nội địa của Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương. I. Giới thiệu về Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương. 1) Lịch sử hình thành và phát triển 2) Vị trí, chức năng và nhiệm vụ của Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương 2.1) Vị trí. 2.2) Chức năng 2.3) Nhiệm vụ. 3) Cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương 3.1) Các đơn vị chuyên môn. 3.2) Các đơn vị hỗ trợ. 3.3) Các đơn vị sự nghiệp. II.Một số quy định về chống bán phá giá và thuế chống bán phá giá 1) Hiệp định chống bán phá giá của WTO 1.1) Xác định việc bán phá giá. 1.1.1) Tính biên độ phá giá 1.1.2) Cách xác định giá xuất khẩu. 1.1.3) So sánh giá thông thường và giá xuất khẩu 1.1.4) Cách so sánh. 1.2) Xác định thiệt hại. 1.3)Trình tự điều tra 1.3.1) Xác định ngành sản xuất trong nước 1.3.2) Áp dụng biện pháp tạm thời 1.3.3) Cam kết giá 1.3.4) Thuế chống bán phá giá 1.3.5) Rà soát. 2) Quy định của luật pháp Việt Nam về xác định bán phá giá. 2.1) Pháp lệnh Chống bán phá giá. 2.2) Nội dung điều tra chống bán phá giá 2.2.1) Giá thông thường. 2.2.2) Giá xuất khẩu 2.3) Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá. 2.4) Các biện pháp chống bán phá giá. 2.5) Các thời hạn trong điều tra chống bán phá giá. III.Vai trò của Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương trong quản lý chống bán phá giá. 1) Thẩm quyền của Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương trong xử lý chống bán phá giá. 2) Trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc chống bán phá giá IV.Thực trạng bán phá giá trên thị trường Việt Nam. 1) Vụ việc Coca cola 2) Vụ việc áo sơ mi Trung Quốc 3) Vụ việc thép cuộn Trung Quốc. 4) Vụ việc kính nổi. Chương II: Giải pháp tăng cường công tác quản lý chống bán phá giá hàng nhập khẩu của Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương . I) Dự báo tình hình nhập khẩu của Việt Nam đến 2020. 1) Nhập khẩu của Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới. 1.1) Giá trị nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu 1.2) Thị trường nhập khẩu hàng hóa chủ yếu của Việt Nam 2) Dự báo khả năng tăng trưởng nhập khẩu của Việt Nam đến 2020 3) Khó khăn của Việt Nam khi đối mặt với tranh chấp bán phá giá. II) Kinh nghiệm phát hiện, kiểm soát và xử lý bán phá giá của một số quốc gia trên thế giới. 1) Hoa Kỳ 2) Liên minh Châu Âu ( EU ) 3) Ấn Độ. III) Giải pháp phát hiện, kiểm soát, xử lý hành vi bán phá giá đối với hàng nhập khẩu vào Việt Nam của Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương KẾT LUẬN. PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

doc77 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2271 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chống bán phá giá hàng nhập khẩu: Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iá của nhà sản xuất trong nước, Bộ Thương mại Hoa Kỳ sẽ ra quyết định có điều tra hay không và nêu ra những lý do cụ thể cho quyết định của mình. Trường hợp đặc biệt thì thời hạn ra quyết định có điều tra chống bán phá giá hay không là 40 ngày. Sau 45 ngày hoặc 65 ngày trong trường hợp đặc biệt kể từ ngày nhận được đơn xin điều tra bán phá giá, Ủy ban Thương Mại Quốc tế sẽ có đánh giá sơ bộ về những thiệt hại xảy ra hoặc những nguy cơ có thể xảy ra với ngành sản xuất trong nước theo những thông tin thu được trong đơn. Kết quả của đánh giá sơ bộ này sẽ là quyết định có hay không tiếp tục điều tra chống bán phá giá của Ủy ban Thương Mại Quốc tế Hoa Kỳ. Sau 115 ngày kể từ khi Ủy ban Thương Mại Quốc tế có đánh giá sơ bộ, Bộ Thương Mại Hoa Kỳ cũng sẽ có đánh giá sơ bộ về có hành vi bán phá giá như đơn yêu cầu điều tra đã đưa ra hay không. Trường hợp có hành vi bán phá giá thì Bộ Thương Mại Hoa Kỳ có thể áp dụng các biện pháp tạm thời đối với hàng hóa thuộc đối tượng điều tra chống bán phá giá. Ngược lại, nếu không thấy có hành vi bán phá giá thì Bộ Thương Mại Hoa Kỳ có thể ra quyết định chấm dứt điều tra. Trên cơ sở các kết luận điều tra sơ bộ, nếu có hành vi bán phá giá thì Bộ Thương Mại Hoa Kỳ sẽ áp dụng biện pháp tạm thời với hàng nhập khẩu là đối tượng điều tra chống bán phá giá như thu thuế tạm thời hay ký quỹ một số tiền nhất định nhằm triệt tiêu việc bán phá giá. Thời hạn áp dụng các biện pháp tạm thời không quá 4 tháng, trường hợp đặc biệt là không quá 6 tháng. Việc rà soát có tiếp tục áp thuế chống bán phá giá hay không do Bộ Thương Mại Hoa Kỳ chịu trách nhiệm sau mỗi giai đoạn 5 năm như trình tự thủ tục ban đầu. Việc rà soát sẽ cho một trong các kết luận sau: - Giữ nguyên mức thuế chống bán phá giá - Giảm mức thuế chống bán phá giá - Loại bỏ thuế chống bán phá giá Từ những vấn đề trên, có thể thấy Hoa Kỳ là quốc gia có hai cơ quan quản lý về chống bán phá giá: - Bộ Thương mại Hoa Kỳ có trách nhiệm điều tra xem hàng nhập khẩu có bị bán phá giá hay không, nếu có thì xác định biên độ phá giá; - Ủy ban Thương Mại Quốc tế có nhiệm vụ điều tra, xem xét, phân tích xem hàng nhập khẩu bị bán phá giá có phải là nguyên nhân gây thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước hay không. Vụ nhập khẩu trực thuộc Bộ Thương Mại Hoa Kỳ có nhiệm vụ: - Điều tra về chống bán phá giá, chống trợ cấp, - Đưa ra quyết định chính thức về áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp, - Đưa ra quyết định thỏa thuận đình chỉ - Rà soát để xác định mức thuế chống bán phá giá, - Thực hiện các thủ tục rà soát khi có sự thay đổi về hoàn cảnh, rà soát hoàng hôn. Ủy ban Thương Mại Quốc tế có nhiệm vụ cụ thể sau: - Điều tra thiệt hại - Tham gia điều tra trong thủ tục rà soát khi thay đổi hoàn cảnh và rà soát hoàng hôn Khi có một vụ việc về chống bán phá giá hay chống trợ cấp, Ủy ban Thương Mại Quốc tế Hoa Kỳ sẽ thành lập một nhóm chuyên trách là những đại diện từ các phòng, ban sau: + Phòng điều tra + Phòng kinh tế + Phòng kế toán + Phòng công nghiệp + Phòng luật sư trưởng. Nhóm đặc trách này có nhiệm vụ theo dõi vụ việc, gửi câu hỏi cho các bên và chuẩn bị một bản báo cáo tóm tắt thông tin để hỗ trợ cho việc phân tích cho các Ủy viên Hội đồng. Ngoài ra, mỗi Ủy viên sẽ có một chuyên viên hỗ trợ phân tích thông tin và bằng chứng để đưa ra quyết định sơ bộ. Liên minh Châu Âu (EU) Cơ quan có vai trò quan trọng nhất trong việc thi hành luật chống bán phá giá của EU là Ủy ban châu Âu. Cơ quan này có trách nhiệm nhận đơn yêu cầu điều tra chống bán phá giá, ra quyết định mở cuộc điều tra, tiến hành điều tra, áp thuế chống bán phá giá tạm thời, kiến nghị lên Hội đồng Bộ trưởng việc áp thuế chống bán phá giá chính thức. Ủy ban có quyền kiến nghị lên Hội đồng Bộ trưởng xem xét, sửa đổi Quy chế chống bán phá giá và ban hành các luật mới về thương mại. Việc thực thi luật chống bán phá giá trong Ủy ban được giao cho Tổng Vụ Thương mại gồm khoảng 100 chuyên viên tham gia các vụ điều tra chống bán phá giá và các vụ việc thương mại khác. Các nước thành viên tham gia quá trình thi hành luật về chống bán phá giá thông qua Hội đồng Tư vấn là những đại diện của mỗi nước thành viên do một quan chức trong Ủy ban làm chủ tịch. Quyết định của Ủy ban sẽ không có hiệu lực khi một nước thành viên phản đối. Các nước thành viên trong EU sẽ chịu trách nhiệm thu thuế chống bán phá giá qua cơ quan hải quan của nước mình. Tòa án có quyền giám định tính hợp pháp của việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá do Ủy ban hoặc Hội đồng đưa ra nhằm kiểm tra xem quá trình điều tra ra quyết định có đúng thủ tục hay không. Đơn do đại diện ngành sản xuất của EU nộp cho Ủy ban Châu Âu. Đại diện nộp đơn yêu cầu điều tra chống bán phá giá cũng phải thỏa mãn các yêu cầu như trong Hiệp đinh WTO như sản lượng của các nhà sản xuất nộp đơn yêu cầu điều tra phải lớn hơn các nhà sản xuất sản phẩm tương tự phản đối và chiếm trên 25% tổng sản lượng toàn ngành ở EU. Trong vòng 45 ngày từ khi nhận được đơn, Ủy ban ra quyết định có tiến hành điều tra hay không. Một cuộc điều tra chống bán phá giá của EU được tiến hành trong vong 1 năm hoặc tối đa là 15 tháng. Sau khi thông báo tiến hành điều tra, Ủy ban sẽ gửi bảng câu hỏi cho các bên liên quan và yêu cầu các nhà xuất khẩu phải trả lời trong 30 ngày. Nếu bảng hỏi không được trả lời đầy đủ và chính xác thì ủy ban sẽ ra quyết định dựa vào thông tin sẵn có. Sau khi nhận được bảng hỏi, ủy ban sẽ cử các cán bộ điều tra tại trụ sở của nhà nhập khẩu và các nhà sản xuất của EU, sau đó là các nhà xuất khẩu để xem xét các thông tin và số liệu tính toán có chính xác hay không. Trường hợp mà số nhà sản xuất, xuất khẩu là quá lớn hoặc chủng loại sản phẩm điều tra quá đa dạng thì Ủy ban sẽ giới hạn điều tra ở một số các nhà sản xuất, xuất khẩu theo phương pháp thống kê chọn mẫu. Nếu cuộc điều tra kết luận là có bán phá giá và thiệt hại và nếu thấy cần thiết thì EU có thể áp thuế chống bán phá giá tạm thời nhưng không được áp dụng sớm hơn 60 ngày và quá 9 tháng kể từ ngày bắt đầu điều tra. Có 4 hình thức đánh thuế chống bán phá giá như sau: - Theo phần trăm - Mức thuế thay đổi trên cơ sở giá tối thiểu - Kết hợp giữa thuế phần trăm và thay đổi - Thuế tuyệt đối Quyết định đánh thuế thế nào dựa vào tính chất sản phẩm. Việc áp thuế chống bán phá giá với các mức khác nhau cho các nhà xuất khẩu khác nhau nếu biên độ phá giá là khác nhau Vụ điều tra chống bán phá giá đối với khăn lanh trải giường loại cotton tháng 7/1996 của Châu Âu Bên điều tra là Cộng đồng Châu Âu (EC). Sản phẩm bị điều tra : khăn lạnh trải giường loại cotton Tháng 7/1996, Hội đồng Bông và Liên minh các nhà sản xuất dệt may Liên minh Châu Âu là những nhà sản xuất đồ may mặc và hàng tương tự của Châu Âu, chiếm phần lớn tổng sản phẩm của ngành sản xuất khăng lanh trải giường loại cotton ở Châu Âu đã nộp đơn kiện chống bán phá giá. Tháng 9/1996, Ủy ban ra thông báo trên Công báo về việc khởi xướng điều tra chống bán phá giá với khăn lanh nhập khẩu từ Ai Cập, Ấn Độ và Pakistan. Bên khởi kiện phải cung cấp đầy đủ thông tin cho Ủy ban về: Có hành vi bán phá giá của các nhà sản xuất bên ngoài liên minh Châu Âu Thiệt hại của ngành sản xuất trong liên minh Mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá với thiệt hại kể trên. Trước tiên, đơn kiện được văn phòng xử lý đơn kiện phân tích và sau đó là tham vấn nội bộ với Ủy ban Châu Âu. Nếu không có phản đối gì lớn trong quá trình tham vấn này thì đơn kiện sẽ được chuyển tới Tổng Giám đốc Tổng vụ Thương mại và sau đó là Văn phòng của Ủy viên Châu Âu. Sau khi được Văn phòng ủy viên Châu Âu phê chuẩn, đơn kiện được trình lên Ủy ban Tư vấn để xin chấp thuận chính thức của các Quốc gia thành viên. Quyết định khởi kiện sẽ được đăng trên Công báo của EU sau khi được Ủy ban Tư vấn phê chuẩn. Cộng đồng Châu ÂU sẽ thông báo khởi kiện cho cơ quan có thẩm quyền nước bị kiện 10 ngày trước khi đăng Thông báo khởi kiện và gửi bảng hỏi cho các bên liên quan yêu cầu cung cấp thông tin. Do quy mô lớn và phức tạp của vụ kiện, Ủy ban ra thông báo áp dụng kĩ thuật chọn mẫu theo điều 17 Quy định về chống bán phá giá của EC. Kết quả, Ủy ban chọn 4 công ty Ai Cập, 7 công ty Ấn Độ và 7 công ty Pakistan vào mẫu điều tra. Ủy ban cũng chọn 17 nhà sản xuất Châu Âu và 1 nhà nhập khẩu liên quan cho cuộc điều tra. Sản phẩm bị điều tra trong vụ kiện chống bán phá giá này là khăn lanh trải giường 100% sợi cotton hoặc pha giữa sợi cotton với sợi dệt tay hoặc sợi lanh được tẩy trắng, nhuộm hoặc in. Ủy ban đã phải tiến hành xem xét khăn lanh trải giường loại cotton mà EC sản xuất và bán trên thị trường mình có phải là sản phẩm tương tự với sản phẩm đang bị điều tra chống bán phá giá của Ai Cập và Pakistan hay không. Áp dụng biện pháp tạm thời: Ngày 13/6/1997, Ủy ban ra quyết định áp thuế chống bán phá giá tạm thời đối với sản phẩm đang bị điều tra từ 3 nước trên. Biên độ phá giá tính cho Ấn Độ là từ 3,9% - 27,3%; biên độ phá giá của Ai Cập là 9,1% - 13,5%; của Pakistan là 0,2 – 8,2%. Các công ty hợp tác nhưng không được lựa chọn điều tra thì mức thuế được xác định không vượt quá biên độ phá giá bình quân gia quyền của các công ty, nhà sản xuất trong mẫu. Biên độ phá giá chung cho các công ty Ấn Độ khác là 13,6%; với các công ty Ai Cập khác là 13,0% và 6,5% cho các công ty còn lại của Pakistan. Ngày 28/11/1997, Hội đồng Châu Âu thông qua Nghị quyết áp thuế chống bán phá giá chính thức. Theo yêu cầu của một số nhà sản xuất, xuất khẩu, Ủy ban đã giảm biên độ phá giá xuống thấp hơn mức thuế tạm thời. Cụ thể như sau: biên độ phá giá chính thức cho các nhà xuất khẩu Ấn Độ 2,6% - 24,7%; với các nhà sản xuất, xuất khẩu của Ai Cập là 8,7% - 13,5%; với Pakistan là 0,1%. Sau khi có quyết định áp dụng các biện pháp chống bán phá giá của Hội đồng Châu Âu, các bên liên quan nếu không đồng ý với quyết định này có thể đưa đơn kiện lên Tòa án Châu Âu hoặc WTO để xin giải quyết vụ việc chống bán phá giá trên. Ấn Độ Từ sau năm 1991, Ấn Độ bắt đầu thực hiện mở cửa nền kinh tế và bắt đầu áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại. Trường hợp điều tra chống bán phá giá đầu tiên đối với hàng hóa nhập khẩu vào Ấn Độ được tiến hành vào năm 1992 và việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá của Ấn Độ với tần suất ngày càng tăng. Trong giai đoạn 2001 – 2003, Ấn Độ chỉ chiếm 0,7% tỷ trọng của thương mại thế giới nhưng lại chiếm tới 20% số vụ điều tra chống bán phá giá với 153 vụ từ tháng 3/1992 đến tháng 3/2002. Trong số 153 vụ điều tra chống bán phá giá đã được tiến hành, 8 vụ kết thúc mà không có biện pháp nào được áp dụng. 1 vụ chấm dứt là do không có thiệt hại với ngành sản xuất trong nước. Bảng 3.2: Số vụ điều tra chống bán phá giá do Ấn Độ tiến hành với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài giai đoạn 1992 – 2002 Năm 92/93 93/94 94/95 95/96 96/97 97/98 98/99 99/00 00/01 01/02 Số vụ điều tra 2 1 6 5 5 14 13 19 28 30 Kết luận 2 1 6 5 5 13 12 19 25 29 Chấm dứt điều tra - - - - - 1 1 1 3 2 Nguồn : Chính phủ Ấn Độ Về luật chống bán phá giá : Các quy định về chống bán phá giá của Ấn Độ được ban hành vào năm 1995 sau khi Luật về thuế hải quan được hoàn thiện. Luật này phù hợp với Hiệp định về chống bán phá giá và chống trợ cấp, đối kháng của WTO. Từ năm 1995 đến nay, luật này được sửa đổi bổ sung 3 lần. Các biện pháp chống bán phá giá của Ấn Độ do tổng cục về chống bán phá giá thuộc Bô Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ quản lý. Bộ Thương mại Ấn Độ là cơ quan đề xuất áp thuế chống bán phá giá còn Bộ Tài chính sẽ có chức năng quyết định có áp dụng mức thuế này hay không bằng cách ra thông báo. Cơ quan có thẩm quyền của Ấn Độ sẽ thông báo các đề xuất của mình liên quan đến: khởi xướng điều tra, kết luận sơ bộ, kết luận cuối cùng trên công báo của Chính phủ. Cục thông tin báo chí, Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ ban hành thông cáo báo chí có liên quan. Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ sẽ thông tin chi tiết về đề xuất của cơ quan có thẩm quyền trên website. Khi nhận được đề xuất của cơ quan có thẩm quyền, các Vụ chức năng thuộc Chính phủ sẽ thông báo về quyết định áp thuế chống bán phá giá trên Công báo của Chính phủ Ấn Độ. Theo Luật pháp của Ấn Độ, việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá có thể được kháng cáo lên tòa phúc thẩm về thuế, hải quan và quản lý vàng. Các bước điều tra chống bán phá giá của Ấn Độ như sau: + 90 – 105 ngày kể từ ngày khởi xướng điều tra, cơ quan điều tra của Ấn Độ sẽ đưa ra quyết định sơ bộ. + Áp thuế chống bán phá giá tạm thời trong vòng 4 – 6 tuần kể từ ngày ban hành kết luận sơ bộ. + Thuế tạm thời có hiệu lực trong thời gian không quá 6 tháng. Trường hợp đặc biệt có thể kéo dài 9 tháng. + Trong vòng 1 năm, cơ quan có thẩm quyền của Ấn Độ phải đưa ra kết luận cuối cùng, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài thêm nhưng không quá 6 tháng + Áp thuế chính thức : được đưa ra trong vòng 3 tháng kể từ ngày công bố kết luận cuối cùng của cơ quan chức năng. Nếu kết luận cuối cùng không đòi hỏi phải áp dụng thuế chống bán phá giá thì có thể dỡ bỏ thuế trong thời hạn 40 ngày kể từ ngày công bố kết luận cuối cùng. Theo quy định của luật chống bán phá giá của Ấn Độ được sửa đổi năm 1999, mức thuế chống bán phá giá là mức thấp hơn giữa biên độ phá giá và biên độ thiệt hại. Thuế chống bán phá giá của Ấn Độ được tính theo giá thực tế tương đương. Mức thuế nằm trong khoảng từ 3% đến trên 100%. Theo như nghiên cứu về các cơ quan quản lý chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự về của hầu hết các nước trên thế giới thì có thể thấy các cơ quan này đều là cơ quan cấp Vụ trực thuộc Bộ Thương mại hoặc Bộ Thương mại và công nghiệp. Mô hình cơ cấu, tổ chức của cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết các vấn đề liên quan đến chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thường chia thành hai cơ quan hoạt động độc lập hoặc hai bộ phận trong cùng một Bộ hoặc Ủy ban. Điều quan trọng là phải tạo được tính độc lập, minh bạch và phân quyền rõ nét khi xử lý các vụ việc về chống bán phá giá, chống trợ cấp và phòng vệ thương mại. Giải pháp tăng cường phát hiện, kiểm soát, xử lý hành vi bán phá giá đối với hàng nhập khẩu vào Việt Nam của Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương Với quá trình hội nhập và phát triển mạnh mẽ của Việt Nam trong nhiều năm qua và những mục tiêu chính sách của Đảng và Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Thời gian qua, Việt Nam đã mở rộng thương mại với các nước, các khu vực và các tổ chức kinh tế trên thế giới. Trong tương lai sẽ xuất hiện ngày càng nhiều những ngành sản xuất hàng hóa lớn mạnh, tuy nhiên hiện nay những ngành sản xuất trong nước phần lớn là những ngành còn non trẻ, đầu tư nhiều vốn và giá thành cao như sắt thép, xi măng… do đó rất dễ xảy ra hiện tượng bán phá giá hàng hóa nhập khẩu gây thiệt hại cho sản xuất trong nước. Dự đoán trong những năm tới, sẽ có nhiều hơn những hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung và bán phá giá nói riêng đòi hỏi phải có những giải pháp hạn chế đem lại sự công bằng bình đẳng cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong nước. Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực tiễn cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam gặp không ít khó khăn và thách thức trước áp lực cạnh tranh ngày một lớn của hàng hóa nước ngoài như hàng hóa Trung quốc, Hoa Kỳ, EU và nhiều quốc gia khác. Ngoài ra, theo các cam kết trong Hiệp định mậu dịch tự do Asean, Việt Nam đã loại bỏ các hàng rào phi thuế quan, giảm thuế nhập khẩu. Đến năm 2006, có 10.283 dòng thuế chiếm đến 99,43% biểu thuế nhập khẩu Asean có thuế suất từ 0% - 5%. Cũng theo cam kết với Tổ chức Thương Mại thế giới WTO, trong biểu thuế gồm 10.600 dòng thuế Việt Nam cam kết sẽ có khoảng 3.800 dòng thuế được cắt giảm với lộ trình từ 5 đến 7 năm. Những ngành hàng có mức cắt giảm thuế nhiều nhất là dệt may, cá và các sản phẩm từ cá, gỗ, giấy, máy móc thiết bị điện – điện tử. Đó sẽ là điều kiện thuận lợi để hàng hóa nước ngoài xâm nhập vào thị trường Việt Nam và với tiềm lực tài chính thì việc sử dụng các công cụ cạnh tranh về giá để chiếm lĩnh thị trường là điều rất dễ xảy ra. Để chủ động đối phó với hàng hóa nhập khẩu bán phá giá cần có những giải pháp sau: a. Tuyển chọn và đào tạo chuyên môn cho đội ngũ cán bộ của Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương - Theo quy định tại Điều 52 Luật cạnh tranh, Điều 9 Nghị định số 90/2005/NĐ – CP ngày 11/7/2005 quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Chống bán phá giá, điều tra vụ việc chống trợ cấp là những người do Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) bổ nhiệm theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh và có các tiêu chuẩn sau : + Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, khách quan, + Có trình độ cử nhân luật hoặc cử nhân kinh tế, tài chính, + Có thời gian công tác thực tế ít nhất là năm năm thuộc một trong các lĩnh vực luật, kinh tế và tài chính, + Được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ điều tra. Vấn đề điều tra chống bán phá giá tương đối phức tạp đòi hỏi điều tra viên phải có kiến thức chuyên sâu, có kinh nghiệm thực tế, khả năng phân tích kinh tế, chọn lọc số liệu… + Xây dựng chương trình đào tạo một cách toàn diện cho từng loại đối tượng gồm : nhóm các điều tra viên cạnh tranh và nhóm các điều tra viên chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. b. Phối hợp với các tổ chức quốc tế, các cơ quan chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ của nước ngoài tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn về kỹ năng chuyên môn cho điều tra viên của Việt nam. Nắm bắt và sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của tổ chức Thương mại thế giới WTO để khởi kiện và tiến hành các vụ kiện chống bán phá giá. - Tích cực và tạo điều kiện cử các cán bộ trong nước ra nước ngoài tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn và dài hạn. - Phối hợp các cơ quan đào tạo nghiệp vụ điều tra trong nước như : Bộ công an, các trường kinh tế, tài chính, luật… - Hàng năm tổ chức các lớp tập huấn, nâng cao nghiệp vụ cho các điều tra viên. - Đưa các vấn đề về chống bán phá giá… vào chương trình giảng dạy trong các trường đại học. c. Phối hợp với các doanh nghiệp, các nhà sản xuất trong nước, các Bộ ngành có liên quan như Bộ Tài chính, hải quan để tăng cường công tác quản lý, phát hiện hàng hóa bán phá giá vào thị trường trong nước. Trong từng thời kì các cơ quan quản lý nhà nước, các ngành sản xuất trong nước cần đưa ra những dự báo về các mặt hàng có xu hướng sẽ tăng mạnh về nhập khẩu vào thị trường Việt Nam để các Hiệp hội, nhà sản xuất trong nước chủ động có những biện pháp theo dõi và ứng phó kịp thời. Thành lập hệ thống cảnh báo sớm về chống bán phá giá đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu. d. Áp dụng các biện pháp công nghệ thông tin kết nối giữa các nhà sản xuất, các doanh nghiệp với Cục Quản lý cạnh tranh để tạo thuận lợi cho việc phát hiện, điều tra các hành vi bán phá giá. e. Hình thành bản kinh nghiệm về điều tra chống bán phá giá như trình tự, thủ tục, các bước thực hiện điều tra đối với các nhà sản xuất, xuất khẩu có hàng hóa bán phá giá vào thị trường Việt Nam. f. Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo về vấn đề chống bán phá giá giữa Cục Quản lý cạnh tranh với đại diện các cơ sở sản xuất, ngành hàng trong nước. g. Thành lập Cục Chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ trực thuộc Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Cục Chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ sẽ thực hiện một phần chức năng của Cục Quản lý cạnh tranh hiện nay và toàn bộ chức năng của Hội đồng xử lý các vụ việc về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. - Hoàn thiện việc xây dựng và ban hành hồ sơ yêu cầu áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, tự vệ để các doanh nghiệp, nhà sản xuất có thể thực hiện quyền yêu cầu cơ quan điều tra là Cục Quản lý cạnh tranh tiến hành điều tra các vụ việc chống bán phá giá và tự vệ. h. Hoàn thiện việc xây dựng và ban hành các bản câu hỏi điều tra chi tiết cho các bên liên quan trong quá trình điều tra chống bán phá giá. - Thúc đẩy công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về 3 pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam. i. Phối hợp với các doanh nghiệp, ngành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế có liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và tự vệ. Thành lập quỹ chống bán phá giá trong mỗi Hiệp hội, ngành sản xuất trong nước nhằm chủ động điều tra, đối phó trước những khả năng hàng hóa nhập khẩu bán phá giá trên thị trường nội địa. Cần thiết phải thành lập quỹ chống bán phá giá do chi phí điều tra, thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ việc bán phá giá là rất tốn kém. + Doanh nghiệp, nhà sản xuất trong nước cần có giải pháp chủ động phát hiện các hành vi bán phá giá trên thị trường nội địa, chẳng hạn như với các doanh nghiệp lớn có thể thành lập một đơn vị riêng kiểm soát giá, hàng hóa tương tự đơn vị mình sản xuất nhập khẩu vào Việt Nam để có thể chủ động đối phó, kịp thời phát hiện với hàng hóa tương tự nhập khẩu vào thị trường nội địa. Và khi xảy ra bán phá giá hàng hóa tương tự nhập khẩu vào Việt Nam có thể chủ động kêu gọi các nhà sản xuất liên quan và điều tra thu thập số liệu, bằng chứng…; Với các doanh nghiệp, nhà sản xuất vừa và nhỏ chiếm đa số trên thị trường hiện nay, cần có sự phối hợp với nhau để có thể phát hiện các loại hàng hóa tương tự nhập khẩu bán phá giá trên thị trường. Đề xuất thêm một chức năng của phòng kinh doanh là phát hiện và đối phó với hàng hóa tương tự bán phá giá trên thị trường. Hiện nay Việt Nam vẫn đang là nước xuất khẩu một số mặt hàng như may mặc, giày dép, dây cáp điện, máy vi tính, điện tử, linh kiện… Tuy nhiên, trong thời gian tới, đây cũng sẽ là những mặt hàng nhập khẩu có khả năng bị bán phá giá cao nhất vào thị trường Việt Nam do công nghệ sản xuất trong nước còn hạn chế và nước ta đang dần cắt bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan theo cam kết khi ra nhập Tổ chức Thương mại thế giới ( WTO ). Do đó các doanh nghiệp nhà sản xuất các mặt hàng này không được phép chủ quan và cần có phương án chủ động để đối phó khi có hiện tượng bán phá giá xảy ra. KẾT LUẬN Vấn đề chống bán phá giá hàng nhập khẩu hiện nay vẫn còn tương đối mới mẻ với các doanh nghiệp, ngành sản xuất và cơ quan quản lý Việt Nam. Tuy nhiên cùng với quá trình hội nhập và phát triển mạnh mẽ, xuất nhập khẩu tăng trưởng mạnh, vấn đề bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có thể sẽ ngày càng phổ biến vì các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài với tiềm lực tài chính hùng hậu luôn đặt chiến lược về giá lên hàng đầu nhằm loại bỏ các nhà sản xuất tại nước nhập khẩu, chiếm lĩnh thị trường. Đặc biệt, Việt Nam lại là một thị trường lớn, nhu cầu tiêu dùng đa dạng, năng lực sản xuất và công nghệ còn hạn chế, vấn đề này do đó sẽ trở lên phổ biến hơn. Việc sử dụng chiến lược bán phá giá của nước ngoài sẽ đe dọa và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của ngành sản xuất trong nước, cũng như việc làm của người lao động và lâu dài là quyền lợi của người tiêu dùng nội địa. Do đó, ngay từ bây giờ, các doanh nghiệp, tổ chức, các nhà sản xuất trong nước cần sớm nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của chống bán phá giá hàng nhập khẩu, để đưa ra những giải pháp và biện pháp đối phó, chủ động với mọi tình huống có thể sẽ xảy ra. Cơ quan quản lý nhà nước nói chung và Cục Quản lý cạnh tranh nói riêng cần tích cực hoàn thiện hệ thống luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước với nhau và giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp, nhà sản xuất trong nước nhằm kịp thời phát hiện, kiểm soát và xử lý đối với hàng hóa nhập khẩu bán phá giá trên thị trường. Chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu trên thị trường nội địa là rất phức tạp cả về lý luận và thực tiễn, do đó đề tài của em chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót và hạn chế. Qua đây, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cô giáo Hoàng Hương Giang – giảng viên hướng dẫn và chị Phạm Châu Giang – Phó Ban Hợp tác quốc tế, Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài. PHỤ LỤC Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam (số 20/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29-4-2004) Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ 10; Căn cứ Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ngày 26 tháng 12 năm 1991 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ngày 05 tháng 7 năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ngày 20 tháng 5 năm 1998;; Căn cứ vào Nghị quyết số 21/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội Khóa XI, kỳ họp thứ 4 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2004; Pháp lệnh này quy định về chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam. Chương I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Pháp lệnh này quy định về các biện pháp chống bán phá giá; thủ tục, nội dung điều tra để áp dụng và việc áp dụng các biện pháp đó đối với hàng hóa bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam. Điều 2. Giải thích từ ngữ Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Thuế chống bán phá giá là thuế nhập khẩu bổ sung được áp dụng trong trường hợp hàng hóa bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. 2. Biên độ bán phá giá là khoảng chênh lệch có thể tính được giữa giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam so với giá xuất khẩu hàng hóa đó vào Việt Nam. 3. Biên độ bán phá giá không đáng kể là biên độ bán phá giá không vượt quá 2% giá xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam. 4. Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam không đáng kể là khi khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá từ một nước không vượt quá 3% tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự nhập khẩu vào Việt Nam; b) Tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá từ nhiều nước đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a khoản này không vượt quá 7% tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự nhập khẩu vào Việt Nam. 5. Ngành sản xuất trong nước là tập hợp các nhà sản xuất trong nước hoặc đại diện của họ có khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa sản xuất chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự được sản xuất ở trong nước với điều kiện các nhà sản xuất này không nhập khẩu và không có mối quan hệ liên kết trực tiếp với tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá. 6. Hàng hóa tương tự là hàng hóa có tất cả các đặc tính giống với hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá hoặc trong trường hợp không có hàng hóa nào như vậy thì là hàng hóa có nhiều đặc tính cơ bản giống với hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá. 7. Thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước là tình trạng suy giảm đáng kể hoặc kìm hãm tăng trưởng về sản lượng, mức giá, mức tiêu thụ hàng hóa, lợi nhuận, tốc độ phát triển sản xuất, việc làm của người lao động, đầu tư và các chỉ tiêu khác của ngành sản xuất trong nước hoặc là tình trạng dẫn đến khó khăn cho việc hình thành một ngành sản xuất trong nước. 8. Đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước là khả năng trước mắt, rõ ràng và chứng minh được sẽ gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Điều 3. Xác định hàng hóa bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam 1. Hàng hóa có xuất xứ từ nước hoặc vùng lãnh thổ bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam (sau đây gọi là hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam) nếu hàng hóa đó được bán với giá thấp hơn giá thông thường theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. 2. Giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường; 3. Trong trường hợp không có hàng hóa tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc có hàng hóa tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu nhưng với khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa không đáng kể thì giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được xác định theo một trong hai cách sau đây: a) Giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu đang được bán trên thị trường một nước thứ ba trong các điều kiện thương mại thông thường; b) Giá thành hợp lý của hàng hóa cộng thêm các chi phí hợp lý khác và lợi nhuận ở mức hợp lý, xét theo từng công đoạn từ sản xuất đến lưu thông trên thị trường của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc nước thứ ba. Điều 4. Các biện pháp chống bán phá giá 1. Áp dụng thuế chống bán phá giá. 2. Cam kết về các biện pháp loại trừ chống bán phá giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá với cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp chống bán phá giá của Việt Nam hoặc với các nhà sản xuất trong nước nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp chống bán phá giá của Việt Nam đồng ý. Điều 5. Nguyên tắc áp dụng biện pháp chống bán phá giá 1. Biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng ở mức độ cần thiết, hợp lý nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. 2. Việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá chỉ được thực hiện khi đã tiến hành điều tra và phải dựa trên các kết luận điều tra quy định tại Chương II của Pháp lệnh này. 3. Biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng trực tiếp đối với hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam theo quy định của Pháp lệnh này. 4. Việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá không được gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế - xã hội trong nước. Điều 6. Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá Biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng đối với hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam khi có hai điều kiện sau đây: 1. Hàng hóa bị bán phá giá vào Việt Nam và biên độ phá giá phải được xác định cụ thể; 2. Việc bán phá giá hàng hóa quy định tại khoản 1 Điều này là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Điều 7. Trách nhiệm quản lý nhà nước về chống bán phá giá 1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam. 2. Chính phủ thành lập và quy định tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của cơ quan chống bán phá giá thuộc Bộ Thương mại gồm: a) Cơ quan điều tra chống bán phá giá (sau đây gọi là cơ quan điều tra) để tiến hành điều tra, rà soát vụ việc chống bán phá giá và trong trường hợp cần thiết kiến nghị Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời; b) Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá gồm một số thành viên thường trực và một số thành viên khác làm việc theo từng vụ việc để xem xét các kết luận của cơ quan điều tra; thảo luận và quyết định theo đa số về việc không có hoặc có bán phá giá hàng hóa vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước; kiến nghị Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá. 3. Bộ trưởng Bộ Thương mại chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc thực hiện quản lý nhà nước về chống bán phá giá, quyết định việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá và chịu trách nhiệm về quyết định này. 4. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thương mại trong việc thực hiện quản lý nhà nước về chống bán phá giá và áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Chương II. ĐIỀU TRA ĐỂ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Điều 8. Căn cứ tiến hành điều tra 1. Việc điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá được thực hiện khi có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá của tổ chức, cá nhân đại diện cho ngành sản xuất trong nước. Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá được coi là đại diện cho ngành sản xuất trong nước khi có hai điều kiện sau đây: a) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa do họ sản xuất hoặc đại diện chiếm ít nhất 25% tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự của ngành sản xuất trong nước; b) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá của hàng hóa quy định tại điểm a khoản này và của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá phải lớn hơn khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự của các nhà sản xuất trong nước phản đối yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá. 2. Bộ trưởng Bộ Thương mại có thể ra quyết định điều tra khi có bằng chứng rõ ràng về việc bán phá giá hàng hóa gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Điều 9. Hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá Hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá được gửi đến cơ quan điều tra bao gồm: 1. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá có các nội dung sau đây: a) Tên, địa chỉ và các thông tin cần thiết khác của tổ chức, cá nhân yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; b) Mô tả hàng hóa nhập khẩu là đối tượng bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá, trong đó bao gồm tên gọi của hàng hóa, các đặc tính cơ bản và mục đích sử dụng chính, mã số theo biểu thuế nhập khẩu hiện hành và mức thuế nhập khẩu đang áp dụng, xuất xứ của hàng hóa nhập khẩu c) Mô tả khối lượng, số lượng và trị giá của hàng hóa nhập khẩu quy định tại điểm b khoản này trong thời hạn mười hai tháng trước khi nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; d) Mô tả khối lượng, số lượng và trị giá của hàng hóa tương tự được sản xuất trong nước trong thời hạn mười hai tháng trước khi nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; đ) Thông tin về giá thông thường và giá xuất khẩu của hàng hóa được mô tả theo quy định tại điểm b khoản này tại thời điểm nhập khẩu vào Việt Nam trong thời hạn mười hai tháng trước khi nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; e) Biên độ phá giá của hàng hóa nhập khẩu bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; g) Thông tin, số liệu, chứng cứ về thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước do hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá gây ra hoặc đe dọa gây ra; h) Tên, địa chỉ và thông tin cần thiết khác của tổ chức, cá nhân xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam sẽ bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá; i) Yêu cầu cụ thể về việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá, thời hạn áp dụng và mức độ áp dụng. 2. Tài liệu và thông tin liên quan khác mà tổ chức, cá nhân yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá cho là cần thiết. Điều 10. Quyết định tiến hành điều tra để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá 1. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ, nếu xét thấy hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá chưa đầy đủ nội dung quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh này, cơ quan điều tra phải thông báo cho tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ để bổ sung. 2. Thời hạn bổ sung hồ sơ do cơ quan điều tra quy định nhưng không được ít hơn ba mươi ngày, kể từ ngày tổ chức, cá nhân được yêu cầu bổ sung hồ sơ nhận được thông báo. 3. Trước khi Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định điều tra, cơ quan điều tra phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá về các quy định chống bán phá giá của Việt Nam. 4. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ có đầy đủ nội dung quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh này, Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định điều tra; trường hợp đặc biệt, thời gian ra quyết định điều tra có thể được gia hạn nhưng không quá ba mươi ngày. 5. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá, cơ quan điều tra thông báo quyết định điều tra cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá, các nhà sản xuất, xuất khẩu, cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá và công bố cho các bên liên quan khác. 6. Bộ trưởng Bộ Thương mại không được ra quyết định điều tra nếu tổ chức, cá nhân yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá rút hồ sơ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 8 của Pháp lệnh này.  Điều 11. Các bên liên quan đến quá trình điều tra Các bên liên quan đến quá trình điều tra bao gồm: 1. Tổ chức, cá nhân có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; 2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài sản xuất hoặc xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá 3. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; 4. Tổ chức, cá nhân trong nước sản xuất hàng hóa tương tự; 5. Hiệp hội ngành hàng trong nước đại diện cho đa số tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa tương tự; 6. Hiệp hội ngành hàng nước ngoài đại diện cho đa số tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; 7. Tổ chức công đoàn hoặc các tổ chức khác đại diện cho quyền lợi của người lao động trong ngành sản xuất trong nước; 8. Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; 9. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam; 10. Cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; 11. Tổ chức, cá nhân khác mà quyền và lợi ích của họ có liên quan đến quá trình điều tra. Điều 12. Nội dung điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá 1. Xác định hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá. 2. Xác định thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước trên cơ sở xem xét các nội dung sau: a) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam so với khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự được sản xuất hoặc tiêu thụ trong nước đã, đang, hoặc sẽ tăng lên đáng kể một cách tuyệt đối hoặc tương đối; b) Tác động về giá của hàng hóa nhập khẩu bị yêu cầu áp dụng biện pháp bán phá giá đến việc phải hạ giá hoặc kìm hãm khả năng tăng giá hợp lý của hàng hóa tương tự trong nước; c) Tác động xấu đến ngành sản xuất trong nước hoặc đến sự hình thành ngành sản xuất trong nước. 3. Quan hệ giữa việc bán phá giá hàng hóa vào Việt Nam với thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Điều 13. Cung cấp thông tin, tài liệu cho quá trình điều tra 1. Các bên liên quan đến quá trình điều tra quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh này có trách nhiệm cung cấp thông tin xác thực và tài liệu cần thiết theo yêu cầu của cơ quan điều tra. 2. Trường hợp thông tin, tài liệu cần thiết không được cung cấp theo đúng yêu cầu thì cơ quan điều tra quyết định dựa trên những thông tin, tài liệu sẵn có.  Điều 14. Tham vấn 1. Cơ quan điều tra tổ chức tham vấn với các bên liên quan đến quá trình điều tra quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh này để tạo điều kiện cho các bên trình bày ý kiến và cung cấp các thông tin cần thiết. 2. Các bên liên quan đến quá trình điều tra không bắt buộc phải có mặt tại các cuộc tham vấn; nếu bên nào không có mặt tại các cuộc tham vấn thì lợi ích của bên đó liên quan đến việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá vẫn được đảm bảo. 3. Việc tiến hành tham vấn không được gây cản trở đến quá trình điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá theo quy định của Pháp lệnh này. Điều 15. Bảo mật thông tin 1. Cơ quan điều tra chịu trách nhiệm giữ bí mật thông tin được cung cấp khi nhận được yêu cầu thỏa đáng của các bên liên quan đến quá trình điều tra và yêu cầu các bên này cung cấp tóm tắt những thông tin cần giữ bí mật. 2. Các bên liên quan đến quá trình điều tra được phép tiếp cận các thông tin đã cung cấp cho cơ quan điều tra, trừ thông tin cần giữ bí mật. Điều 16. Thời hạn điều tra 1. Thời hạn điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá là không quá mười hai tháng, kể từ ngày có quyết định điều tra. 2. Trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Thương mại có thể ra quyết định gia hạn điều tra nhưng không quá sáu tháng. Điều 17. Kết luận sơ bộ 1. Trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra, cơ quan điều tra công bố kết luận sơ bộ về các nội dung liên quan đến quá trình điều tra quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh này; trường hợp đặc biệt, thời hạn công bố kết luận sơ bộ có thể được gia hạn nhưng không quá sáu mươi ngày. 2. Kết luận sơ bộ và các căn cứ chính để kết luận sơ bộ phải được thông báo bằng phương thức thích hợp cho các bên liên quan đến quá trình điều tra. Điều 18. Kết luận cuối cùng 1. Khi kết thúc quá trình điều tra, cơ quan điều tra công bố kết luận cuối cùng về các nội dung liên quan đến quá trình điều tra được quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh này. 2. Kết luận cuối cùng và các căn cứ chính để kết luận cuối cùng phải được thông báo bằng phương thức thích hợp cho các bên liên quan đến quá trình điều tra. Điều 19. Chấm dứt điều tra Bộ trưởng Bộ Thương mại quyết định chấm dứt điều tra trong các trường hợp sau:1. Tổ chức, cá nhân có hồ sơ yêu cầu áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tự nguyện rút hồ sơ; 2. Kết luận sơ bộ quy định tại Điều 17 của Pháp lệnh này có ít nhất một nội dung sau đây: a) Không có bán phá giá theo quy định tại Điều 3 của Pháp lệnh này; b) Biên độ bán phá giá không đáng kể; c) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam không đáng kể; d) Không có thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Chương III. ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ  Điều 20. Áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời 1. Sau sáu mươi ngày kể từ ngày có quyết định điều tra, căn cứ vào kết luận sơ bộ, Bộ trưởng Bộ Thương mại có thể ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời. 2. Thuế suất thuế chống bán phá giá tạm thời không được vượt quá biên độ bán phá giá trong kết luận sơ bộ. 3. Thuế chống bán phá giá tạm thời có thể được bảo đảm thanh toán bằng tiền mặt đặt cọc hoặc được bảo đảm bằng các biện pháp khác theo quy định của pháp luật. 4. Thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời không được quá một trăm hai mươi ngày kể từ ngày ra quyết định áp dụng biện pháp này. 5. Khi có yêu cầu của các nhà xuất khẩu hàng hóa tương tự, Bộ trưởng Bộ Thương mại có thể gia hạn áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời nhưng không quá sáu mươi ngày. Điều 21. Áp dụng biện pháp cam kết 1. Sau khi có kết luận sơ bộ và trước khi kết thúc giai đoạn điều tra, tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc xuất khẩu hàng hóa thuộc đối tượng điều tra có thể đưa ra cam kết với Bộ Thương mại, với các nhà sản xuất trong nước về một hoặc các nội dung sau đây: a) Điều chỉnh giá bán; b) Tự nguyện hạn chế khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam. 2. Bộ trưởng Bộ Thương mại có thể chấp nhận, không chấp nhận hoặc đề nghị điều chỉnh nội dung cam kết nhưng không được ép buộc các bên phải cam kết. 3. Cơ quan điều tra công bố công khai nội dung cam kết cho các bên liên quan đến quá trình điều tra được biết. 4. Trường hợp không chấp nhận cam kết của các bên liên quan, Bộ trưởng Bộ Thương mại phải thông báo lý do không chấp nhận cam kết đó và cho tiếp tục tiến hành điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo quy định của Pháp lệnh này. 5. Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định đình chỉ điều tra chống bán phá giá và áp dụng biện pháp cam kết nếu xét thấy việc thực hiện cam kết đó không gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Các bên có cam kết phải định kỳ cung cấp cho cơ quan điều tra thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện cam kết và chứng minh tính chính xác của các thông tin đó theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Thương mại. 6. Trường hợp các bên liên quan không thực hiện đúng theo cam kết, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước, Bộ Thương mại ra quyết định tiếp tục tiến hành điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá hoặc ra quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo quy định của Pháp lệnh này. Điều 22. Áp dụng thuế chống bán phá giá 1. Trường hợp không đạt được cam kết tại Điều 21 của Pháp lệnh này, căn cứ vào kết luận cuối cùng và kiến nghị của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định áp dụng hay không áp dụng thuế chống bán phá giá. 2. Thuế suất thuế chống bán phá giá không được vượt quá biên độ bán phá giá trong kết luận cuối cùng. 3. Thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá không quá năm năm, kể từ ngày có quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá. 4. Thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá có thể được gia hạn trong trường hợp Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định rà soát việc áp dụng thuế chống phá giá theo quy định tại Chương IV của Pháp lệnh này. 5. Cơ quan điều tra thông báo bằng phương thức thích hợp quyết định áp dụng hay không áp dụng thuế chống bán phá giá cho các bên liên quan đến quá trình điều tra. Điều 23. Áp dụng thuế chống bán phá giá có hiệu lực trở về trước 1. Trường hợp kết luận cuối cùng xác định có thiệt hại đáng kể hoặc có đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước và thuế chống bán phá giá tạm thời đã được áp dụng trước khi có kết luận cuối cùng thì thuế chống bán phá giá được áp dụng có hiệu lực trở về trước. 2. Thuế chống bán phá giá được áp dụng có hiệu lực trở về trước đối với hàng hóa nhập khẩu trong thời hạn chín mươi ngày trước khi áp dụng biện pháp tạm thời nếu có hai điều kiện sau đây: a) Hàng hóa nhập khẩu đó bị bán phá giá; b) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam tăng nhanh đột biến gây ra thiệt hại khó có khả năng khắc phục cho ngành sản xuất trong nước. 3. Không truy thu khoản chênh lệch về thuế khi áp dụng mức thuế chống bán phá giá tạm thời quy định tại Điều 20 của Pháp lệnh này. 4. Hoàn lại khoản chênh lệnh về thuế khi áp dụng mức thuế chống bán phá giá trong kết luận cuối cùng thấp hơn mức thuế chống bán phá giá tạm thời quy định tại Điều 20 Pháp lệnh này. 5. Trường hợp Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định không áp dụng thuế chống bán phá giá thì thuế chống bán phá giá tạm thời đã được thu hoặc các khoản đảm bảo thanh toán thuế chống bán phá giá tạm thời quy định tại Điều 20 của Pháp lệnh này sẽ được hoàn lại. Chương IV. RÀ SOÁT VIỆC ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Điều 24. Rà soát việc áp dụng thuế chống bán phá giá 1. Sau một năm, kể từ ngày có quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá, Bộ trưởng Bộ Thương mại có quyết định rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá khi có đề nghị của một hoặc nhiều bên có liên quan quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh này và trên cơ sở xem xét các bằng chứng do bên đề nghị cung cấp. 2. Một năm trước ngày thời hạn quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá hết hiệu lực, Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá. 3. Cơ quan điều tra tiến hành rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo quy định tại các điều 9, 10, 11, 12, 13, 14 và 15 của Pháp lệnh này. 4. Việc tiến hành các thủ tục liên quan đến quá trình rà soát không được gây cản trở việc đang áp dụng biện pháp chống bán phá giá. 5. Thời hạn rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là không quá mười hai tháng, kể từ ngày có quyết định rà soát. Điều 25. Quyết định về kết quả rà soát việc áp dụng thuế chống bán phá giá Khi kết thúc rà soát việc áp dụng thuế chống bán phá giá, Bộ trưởng Bộ Thương mại ra một trong các quyết định sau: 1. Tiếp tục áp dụng hoặc gia hạn áp dụng biện pháp chống bán phá giá; 2. Điều chỉnh mức thuế chống bán phá giá tương ứng với kết quả rà soát; 3. Chấm dứt việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Chương V. KHIẾU NẠI VÀ XỬ LÝ VI PHẠM Điều 26. Khiếu nại, khởi kiện 1. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định về áp dụng thuế chống bán phá giá, nếu các bên liên quan đến quá trình điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá không đồng ý với quyết định của Bộ trưởng Bộ Thương mại thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Thương mại. 2. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Bộ trưởng Bộ Thương mại có trách nhiệm giải quyết khiếu nại; trường hợp đặc biệt, thời hạn giải quyết khiếu nại được gia hạn nhưng không quá sáu mươi ngày và phải thông báo bằng phương thức thích hợp cho tổ chức, cá nhân có khiếu nại. 3. Trường hợp quá thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà Bộ trưởng Bộ Thương mại chưa ra quyết định giải quyết khiếu nại hoặc tổ chức, cá nhân khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Thương mại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật Việt Nam. Điều 27. Giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm. Việc giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về chống bán phá giá hàng hóa vào Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam; trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì thực hiện theo điều ước quốc tế đó. Chương VI. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 28. Hiệu lực thi hành Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2004.  Điều 29. Hướng dẫn thi hành Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này. TÀI LIỆU THAM KHẢO Hỏi đáp về pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam Các văn bản pháp luật về bảo đảm thương mại công bằng trong thương mại quốc tế Hỏi đáp về pháp luật chống trợ cấp của Việt Nam và WTO Hỏi đáp về pháp luật tự vệ của Việt Nam và WTO Tổng quan về luật cạnh tranh Đề tài ‘’cơ sở khoa học áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế’’ năm 2002 của th.s Nguyễn Thanh Hưng. Website Website Tổng cục Thống kê: Website Bộ Công Thương: Website Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương: Website Bộ Kế hoạch & Đầu tư: Báo điện tử: 13) Tạp chí, tài liệu, chuyên đề luận văn tốt nghiệp các khóa.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docnguyen_duc_phuong_chuyen_de_cuoi_khoa_1907.doc