Đề tài Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH sản xuất thương mại Inox Phước An

LỜI MỞ ĐẦU 1 Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 3 I. Khái niệm về tầm quan trọng của việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 3 1. Khái niệm 3 2.Tầm quan trọng của việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 3 II. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD 4 1. Các nhân tố bên trong 4 1.1. Cơ cấu tổ chức quản lý 4 1.2. Trình độ tổ chức sản xuất 4 1.3. Nguồn tài chính 5 1.4. Chính sách tiêu thụ 5 2. Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh 5 III. Các phương pháp phân tích hiệu quả SXKD của doanh nghiệp 8 1. Phương pháp so sánh 9 2. Phương pháp loại trừ 9 2.1. Phương pháp thay thế liên hoàn 10 2.2 Phương pháp số chênh lệch 12 3. Phương pháp phân tích định lượng 13 IV. Nội dung phân tich hiệu quả HĐKD của doanh nghiệp 13 1. Tài liệu phân tích 13 2. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích hiệu quả HĐKD của doanh nghiệp 14 2.1. Phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cá biệt 14 2.2. Phân tích chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh tổng hợp 20 2.2.1. Phân tích khả năng sinh lời từ doanh thu 20 2.2.2. Phân tích khả năng sinh lời từ tài sản 22 Chương II: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH SX & TM INOX PHƯỚC AN 24 I. Giới thiệu về Công ty TNHH SX & TM Inox Phước An 24 1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 24 1.1. Tên, địa chỉ của Công ty 24 1.2. Quá trình hình thành và phát triển 24 1.3. Kết quả kinh doanh và đóng góp vào ngân sách của Công ty 25 2. Chức năng, nhiệm vụ 26 2.1. Chức năng 26 2.2. Nhiệm vụ 26 3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 27 4. Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý tại Công ty 29 4.1. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh 29 4.2. Đặc điểm tổ chức quản lý 32 5. Đặc điểm tổ chức kế toán tại Công ty 34 5.1. Mô hình tổ chức kế toán của Công ty 34 5.2. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận 35 5.3. Hình thức ghi sổ kế toán tại đơn vị 36 II. Phân tích hiệu qủa HĐKD tại Công ty TNHH SX & TM Inox Phước An 37 1. Đánh giá khái quát hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH SX&TM Inox Phước An 37 1.1 Đánh giá khái quát hiệu quả HĐKD của Công ty qua bảng cân đối kế toán 37 1.2 Đánh giá khái quát hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 40 2. Phân tích hiệu quả kinh doanh cá biệt của Công ty 41 2.1 Phân tích hiệu xuất sử dụng tài sản dài hạn 41 2.2. Phân tích hiệu suất sử dụng TSNH 43 3. Phân tích hiệu quả kinh doanh tổng hợp tại Công ty 49 3.1. Phân tích khả năng sinh lời từ doanh thu 49 3.2. Phân tích khả năng sinh lời từ tài sản 50 Chương III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HĐKD TẠI CÔNG TY TNHH SX & TM INOX PHƯỚC AN 53 I. Những nhận xét đánh giá chung về hiệu quả HĐKD tại Công ty. 53 1. Những mặt mạnh mà Công ty đạt được 53 2. Một số điểm còn hạn chế tại Công ty 54 II. Các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả HĐKD tại Công ty 54 1. Biện pháp 1: Mở rộng quy mô hoạt động sản xuất 55 2. Biện pháp 2: Quản lý tài sản ngắn hạn 55 2.1. Quản lý các khoản phải thu 59 2.2. Quản lý hàng tồn kho 61 3. Biện pháp 3: Hạ giá thành sản phẩm 62 4. Biện pháp 4: Nghiên cứu mở rộng thị trường. 63 KẾT LUẬN PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

doc64 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 11134 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH sản xuất thương mại Inox Phước An, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hành lắp thành phẩm, tổng hợp thành phẩm thô bàn giao. Đánh bóng, vệ sinh: + Đánh bóng : Bộ phận đánh bóng có trách nhiệm kiểm tra chủng loại sản phẩm cần thực hiện, dùng thiết bị làm sạch bề mặt hàn thô các sản phẩm, chọn thiết bị phù hợp với sản phẩm,cân chỉnh Ampe. + Vệ sinh: Bộ phận thực hiện có trách nhiệm kiểm tra chủng loại sản phẩm cần vệ sinh, kiểm tra dung dịch, bể nước phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn PA, tùy theo chủng loại và bề mặt kỹ thuật trên sản phẩm để áp dụng vệ sinh. Lắp phụ kiện thành phẩm: Bộ phận thực hiện kiểm tra số lượng, chủng loại sản phẩm để chọn phụ kiện phù hợp như: nút, nêm, gắn nhãn hiệu, các đầu bịt trang trí…tiến hành lắp ráp đúng quy cách, chủng loại chính xác, thẩm mĩ, tổng hợp số lượng giao lại cho bộ phân KCS. Kiểm tra chất lượng sản phẩm(KCS): Người thực hiện ở bộ phận này chịu trách nhiệm kiểm tra về kỹ thuật, mỹ thuật tổng thể và chi tiết thật chính xác trên từng sản phẩm… Đóng gói bao bì: Bộ phân này chịu trách nhiệm phân loại sản phẩm kiểm tra số lượng, rồi tiến hành đóng gói theo tiêu chuẩn mẫu mã, tổng hợp và bàn giao tới bộ phận nhập kho. Nhập kho: Thủ kho kiểm tra, phân loại số lượng theo từng loại riêng biệt để thuận tiện khi xuất kho (theo quy trình nhập xuất hàng kho). Quy trình sản xuất kính: Cắt kính: Là tiến hành cắt kính nguyên vật liệu. Rửa kính: Làm sạch kinh đã cắt. Mài kính: Mài các cạnh của kính sau khi đã rửa sạch Dán kính: Là dán hai tấm kính với nhau tuỳ theo khách hàng yêu cầu. Olay kính: Là ép hai tấm kính được dán lại. Cường lực kính: Là nâng độ đàn hồi cho kính. Đặc điểm tổ chức quản lý. Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty TNHH SX & TM Inox Phước An đang thực hiện loại hình quản lý theo kiểu trực tuyến - chức năng, được mô tả tổng quát qua sơ đồ sau: TỔNG GIÁM ĐỐC P. TỔNG GIÁM ĐỐC Kế toán sản xuất GĐ NHÀ MÁY GĐ SIÊU THỊ QUẢNG NGÃI PHÒNG KINH DOANH PHÒNG HC- KT Bộ phận thiết kế Bộ phận KCS Bộ phận kỹ thuật Công nhân NV giao dịch Marketinh Chăm sóc khách hàng Kế toán công ty Nhân viên tư vấn KD Nhân viên chiến lược Kế toán đại lý, chi nhánh Hành chính Văn thư Sơ đồ 2.2. Sơ đồ tổ chức quản lý Chú thích: Quan hệ trực tuyến Quan hệ chức năng Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận: Tổng giám đốc: Điều hành tổng thể của Công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của Công ty mình. Phó tổng giám đốc: Trợ giúp Tổng giám đốc, điều hành trực tiếp các phòng ban trong Công ty. Điều hành tất cả các bộ phận trong Công ty, chịu trách nhiệm báo cáo lên Tổng giám đốc. Phòng kinh doanh: Là phòng lên kế hoạch, chiến lược kinh doanh trong tháng, quý, trực tiếp giao dịch với khách hàng, với các đại lý, chi nhánh, khai thác các đơn đặt hàng của khách hàng. Phòng kỹ thuật: Là phòng ban phụ trách kỹ thuật của Công ty. Mọi sản phẩm của khách hàng yêu cầu đều phải thông qua bộ phận kỹ thuật xử lý, sau đó mới sản xuất cho đúng quy cách. Bộ phận kỹ thuật chịu trách nhiệm báo cáo định kỳ lên phó tổng giám đốc. Phòng hành chính kế toán: Thực hiện công tác về hành chính nhân sự, tài chính của Công ty. Giải quyết giấy tờ, công văn, hóa đơn tài chính, quản lý công nợ, quyết toán. Xưởng sản xuất: Là nơi chế tạo sản phẩm để cung cấp cho thị trường. Trực tiếp sản xuất ra sản phẩm theo đơn đặt hàng của khách, sản xuất ra sản phẩm để nhập kho…đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng, chịu trách nhiệm về sản phẩm lỗi, sản phẩm không phù hợp. Bộ phận chăm sóc khách hàng: Là bộ phận xây dựng và kiểm soát được tình trạng các phản hồi từ các khách hàng, đại lý và chi nhánh trực thuộc. Thống kê dữ liệu liên quan đến hàng hóa cấp thiếu, sai hoặc hàng lỗi và phải có lý do chính đáng liên quan đến lỗi của hàng hóa được cấp. 5. Đặc điểm tổ chức kế toán tại doanh nghiệp. 5.1. Mô hình tổ chức kế toán tại doanh nghiệp. Xuất phát từ đặc điểm, quy trình sản xuất, yêu cầu quản lý, địa bàn hoạt động của Công ty, đồng thời tạo điều kiện tốt cho quá trình ghi chép được đúng đắn, kịp thời cũng như công tác phụ trách tài chính kế toán thuận tiện, Công ty đã và đang tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình tập trung. Sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty như sau : Sơ đồ 2.3. Sơ đồ bộ máy kế toán Kế toán thanh toán Kế toán sản xuất Kế toán công nợ Thủ quỹ Kế toán tiền lương, tiền mặt Kế toán trưởng Chú thích: Quan hệ chỉ đạo Quan hệ chức năng 5.2. Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận: - Kế toán trưởng: Chỉ đạo mọi hoạt động của phòng Tài chính- Kế toán. Là người chịu trách nhiệm vụ trước Giám đốc và Chủ tịch hội đồng thành viên. Kiểm tra chặt chẽ quá trình phát triển và bảo toàn vốn của đơn vị, hướng dẫn các kế toán viên hạch toán đầy đủ chính xác thông tin kinh tế, chỉ đạo việc lập báo cáo thống kê và quyết toán. - Kế toán vật tư, công nợ: Có nhiệm vụ theo dõi nhập, xuất, tồn kho nguyên vật liệu và giá trị. Theo dõi tình hình thanh toán khách hàng. Cuối tháng hoặc cuối kỳ lập báo cáo gửi lên ban lãnh đạo. - Kế toán tiền lương tiền mặt: Chuyên lập các chứng từ về thu chi tiền mặt, lập bảng thanh toán tiền lương cho công nhân viên trong Công ty. - Kế toán sản xuất: Là viên chức chịu sự chỉ đạo của Giám đốc sản xuất, xây dựng bảng chấm công, tính tiền lương cho công nhân và nhân viên nhà máy sản xuất, theo dõi cân đối hàng xuất nhập kho của nhà máy sản xuất. Chịu trách nhiệm theo dõi vật tư đầu vào, dự báo vật tư cần thiết cho sản xuất. - Thủ quỹ: Có nhiệm vụ quản lý tiền mặt của đơn vị, nhận tiền, chi tiền khi có phiếu thu, phiếu chi đã được kế toán trưởng, Giám đốc duyệt. Hàng ngày, tháng, quý thủ quỹ tiến hành kiểm tra đối chiếu so sánh sổ sách. 5.3. Hình thức ghi sổ kế toán áp dụng tại Công ty. Để phù hợp với đặc điểm của Công ty và thuận tiện cho việc hạch toán. Công ty đã áp dụng hình thức ghi sổ kế toán là: Chứng từ ghi sổ, trình tự hình thức chứng từ ghi sổ được thể hiện qua sơ đồ sau: Chứng từ kế toán Sổ chi tiết Sổ quỹ Bảng tổng hợp chứng từ cùng loại Bảng tổng hợp Chứng từ ghi sổ Sổ cái Bảng cân đối số phát sinh Báo cáo tài chính Sổ đăng ký chứng tư ghi sổ Sơ đồ 2.4. Trình tự ghi sổ hình thức chứng từ ghi sổ Chú thích Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Đối chiếu, kiểm tra Hiện nay các chính sách kế toán áp dụng tại đơn vị như sau: - Công ty vận dụng hệ thống tài khoản kế toán theo Quyết định số 48 của Bộ Tài chính và các biên bảng liên quan đến chế độ kế toán thống kê hiện hành. - Niên độ kế toán: Năm. - Kỳ kế toán: Qúy - Phương pháp hạch toán: Kê khai thường xuyên. - Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ - Phương pháp tính khấu hao theo phương pháp đường thẳng, chế độ khấu hao theo quy định số 206/QĐ _ BTC - Nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho: Theo nguyên tắc giá gốc. II. Phân tích hiệu qủa HĐKD tại Công ty TNHH SX & TM Inox Phước An. 1. Đánh giá khái quát hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH SX&TM Inox Phước An. Để đánh giá hiệu quả HĐKD của Công ty, bên cạnh những dữ liệu thông tin thu nhập được, chúng ta còn sử dụng chủ yếu tập trung vào hệ thống báo cáo tài chính bao gồm: 1.1. Đánh giá khái quát hiệu quả HĐKD của Công ty qua bảng cân đối kế toán. Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tổng hợp cho biết tình hình hoạt động của doanh nghiệp tại những thời điểm nhất định. Bảng 2.4. Bảng cân đối kế toán của Công ty ( Phụ lục số 1) Từ các số liệu của bảng phân tích trên ta có thể thấy quy mô tài sản của Công ty có xu hướng tăng lên qua các năm.Cụ thể, quy mô của tài sản năm 2007 so với năm 2006 tăng hơn 10,6 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ tăng là 124,98 %, năm 2008 tăng hơn 10,2 tỷ đồng đạt 15,35% so với năm 2007. Tuy nhiên, để có thể kết luận chính xác và cụ thể hơn tình hình biến động tài sản của Công ty, ta đi sâu phân tích cụ thể sự biến động và cơ cấu của từng loại tài sản: Tài sản ngắn hạn của Công ty năm 2006 là 7.536.391.701 đồng, chiếm 88,31%, năm 2007 là 10.807.136.588 đồng, chiếm 56,29% và đến năm 2008 là 17.221.707.128 đồng, chiếm 58,43% trong tổng tài sản. Như vậy, tài sản ngắn hạn năm 2007 tăng 3.271.044.887 đồng so với năm 2006, tương ứng 43,4%, năm 2008 đã tăng lên 6.414.270.504 đồng so với năm 2007, tương ứng với tỷ lệ tăng là 59,35%. Đó là do những nguyên nhân chủ yếu sau: Đối với khoản mục tiền và tương đương tiền năm 2007 giảm 2.094.843.868 đồng so với năm 2006. Nguyên nhân của sự giảm mạnh này là do trong năm 2007 Công ty đã dùng tiền để đầu tư mở rộng xây dựng mới nhà xưởng. Tuy nhiên, với sự đầu tư nhiều tiền như vậy đã làm cho khả năng thanh toán của Công ty mất tính cân đối. Nhưng đến năm 2008 khoản mục này dần tăng lên, cụ thể tăng 415.364.919 đồng, chiếm tỷ lệ 152,53% so với năm 2007. Điều này cho thấy khả năng thanh toán của Công ty dần được khôi phục và quá trình hoạt động kinh doanh của Công ty ngày càng đi lên. Đối với khoản phải thu của Công ty năm 2007 so với năm 2006 tăng 3.338.370.274 đồng, tương ứng 285,04%, năm 2008 so với năm 2007 tăng lên 2.577.563.864 đồng, tăng 57,16%. Cụ thể, năm 2007 tăng1,6 tỷ đồng so với năm 2006, nhưng con số này ở năm 2008 lại tăng hơn 2,5 tỷ đồng so với năm 2007. Nguyên nhân là do trong hai năm qua Công ty áp dụng chính sách tín dụng thương mại để kích thích tiêu thụ nên đã làm cho khoản mục này tăng lên. Điều cần quan tâm ở đây là Công ty đã để cho khách hàng chiếm dụng số vốn quá lớn, nếu với thời gian dài thì đây là một vấn đề bức xúc, nó sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của Công ty. Do vậy, Công ty cần phải quan tâm đến các biện pháp để giải quyết vấn đề này. Đối với khoản mục hàng tồn kho có xu hướng tăng lên qua các năm, cụ thể: Năm 2006 là 3.760.884.239 đồng, chiếm 44,07%; năm 2007 là 5.402.563.151 đồng, chiếm 28,14% và năm 2008 là 8.765.456.554 đồng, chiếm tỷ lệ 29,74%. Nguyên nhân của sự tăng lên này chủ yếu là do năm 2008 phân xưởng sản xất kính cao cấp đã hoàn thành và đi vào hoạt động nên có nhiều đơn đặt hàng. Do đó, nguyên vật liệu tăng lên làm cho hàng tồn kho tăng lên. Đối với TSNH khác năm 2007 tăng hơn năm 2006 là 385.839.569 đồng, tương ứng 162,7%; năm 2008 cũng tăng lên so với năm 2007 là 58.824.752 đồng tương ứng tỷ lệ tăng là 9,38%, chủ yếu là do khoản thuế GTGT được khấu trừ tăng lên, cụ thể: năm 2007 so với năm 2006 tăng 386.866.629 đồng, năm 2008 tăng 55.824.752 đồng, chiếm tỷ lệ 9,01% so với năm 2007. Sự tăng lên này là do trong hai năm 2007 và năm 2008 Công ty đã mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm nhiều máy móc thiết bị và nguyên vật liệu đầu vào để phục vụ cho quá trình sản xuất nên đã làm cho thuế GTGT được khấu trừ tăng lên. Tài sản cố định: Trong năm 2007 Công ty đã tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị nên làm cho TSCĐ tăng lên 7.393.964..81 đồng, tương ứng 741,4% và chi phí xây dựng cơ bản dở dang trong năm này cũng tăng lên 6.868.317.918 đồng so với năm 2006. Đến năm 2008 tổng TSCĐ là 12.251.775.215 đồng, chiếm 41,57%, tăng hơn năm 2007 3.860.513.491 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 46,01%; trong khi đó chi phí xây dựng cơ bản dở dang lại giảm đi 1.751.436.982 đồng, cho thấy một số công trình xây dựng cơ bản đã hoàn thành, bàn giao và Công ty đã đưa vào sử dụng nên đã làm tăng TSCĐ. Tuy nhiên, với khoản đầu tư tài chính dài hạn Công ty không mấy chú trọng; do đó, TSDH tăng cho thấy Công ty quan tâm đến đầu tư để tăng năng lực sản xuất. Đó là dấu hiệu tốt thể hiện tiềm lực sản xuất trong tương lai của Công ty. 1.2. Đánh giá khái quát hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Bảng 2.5. Bảng báo cáo kết quả hoạt động SXKD ( Phụ lục số 2) Qua bảng số liệu phân tích trên ta thấy tổng doanh thu có xu hướng tăng lên, cụ thể: năm 2007 so với năm 2006 tăng 7.003.010.148 đồng, tăng 289,36%, năm 2008 đạt 11.565.432.544 đồng so với năm 2007 tăng 2.142.281.380 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 22,74%. Việc tăng doanh thu là do Công ty đã áp dụng chính sách tín dụng thương mại và mở rộng thị trường ra nhiều khu vực trên toàn quốc. Trong sản xuất kinh doanh, gia tăng khối lượng hàng tiêu thụ là một trong những biện pháp nâng cao lợi nhuận. Giá vốn hàng bán năm 2006 là 1.875.212.275 đồng đến năm 2007 là 7.793.155.775 đồng tăng so với năm 2006 là 5.917.943.500 đồng, tương ứng 315,59%, năm 2008 là 8.543.676.545 đồng, tăng hơn so với năm 2007 là 750.520.770 đồng, tương ứng với tỷ lệ là 9,63%. Nếu giá vốn hàng bán năm 2006 chiếm 77,48% trên tổng doanh thu thì con số này năm 2007 chiếm 82,07% nhưng sang năm 2008 chỉ còn 73,87%. Điều này được giải thích là năm 2007 nền kinh tế nước ta nói riêng và thế giới nói chung đang trên đà phát triển rất mạnh mẽ, nhưng đến đầu năm 2008 nền kinh tế toàn cầu lâm vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng làm cho lượng hàng của Công ty bán ra cũng ít đi nên làm cho giá vốn hàng bán giảm xuống. Đối với khoản chi phí bán hàng năm 2007 tăng 641.210.982 đồng, tương ứng 181,05% so với năm 2006, năm 2008 tăng 902.025.046 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 90,62% so với năm 2007. Chi phí bán hàng của Công ty có tăng lên về mặt tỷ trọng, cần cố gắng hơn nữa để làm giảm chi phí, góp phần làm tăng lợi nhuận. Cùng với sự tăng lên của chi phí bán hàng thì chi phí QLDN cũng tăng lên, năm 2007 tăng hơn năm 2006 357.4693.438 đồng, ứng với 198,35%; năm 2008 so với năm 2007 tăng 441.470.008 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng là 82,1%. Bên cạnh đó, tỷ trọng so với DTT năm 2006 là 7,48%, năm 2007 hạ xuống còn 5,71% nhưng đến năm 2008 lại tăng lên 8,47%, tỷ trọng này tương đối cao. Qua đó cho thấy, quy mô hoạt động của Công ty được mở rộng nhưng Công ty cần quản lý chặt chẽ hơn các khoản chi phí này. Mục tiêu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, vì vậy kết quả kinh doanh của đơn vị cũng thể hiện thông qua phần lợi nhuận. Dựa vào bảng số liệu phân tích trên là thấy lợi nhuận sau thuế năm 2007 so với năm 2006 tăng 25.637.159 đồng, sang năm 2008 con số này tăng 35.521.725 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng là 91,83% so với năm 2007. Ở góc độ nhà tổ chức thì lợi nhuận tăng là điều mong muốn, còn ở góc độ nhà quản lý thì lợi nhuận tăng còn phải xét đến sự gia tăng của doanh thu. Vì lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận bất thường không có nên lợi nhuận sau thuế tăng là do sự tăng lên của lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh. 2. Phân tích hiệu quả kinh doanh cá biệt của Công ty. 2.1. Phân tích hiệu xuất sử dụng tài sản dài hạn. Tài sản dài hạn của Công ty hầu hết sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nên để đánh giá tình hình tài sản dài hạn thông qua chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn để phân tích. Bảng 2.6. Bảng phân tích hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn Chỉ tiêu ĐVT Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Chênh lệch 2007/2006 Chênh lệch 2008/2007 +/- % +/- % DTT Đồng 2.420.141.012 9.423.151.160 11.565.432.544 +7.003.010.148 +289,36 +2.142.281.380 +22,734 TSDH b/q Đồng 997.006.633 8.299.133.249 12.244.907.318 +7.322.126.616 +732,41 +3.945.774.061 +47,544 HTSDH Vòng/kỳ 2,427 1,135 0,945 -1,29 - 53,23 - 0,19 -16,74 NTSDH Ngày/vòng 148,31 317,18 381,15 +168,87 +113,86 +63,97 +20,168 ( Nguồn: Phòng kế toán) Qua bảng phân tích trên ta thấy, TSDH của Công ty chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng tài sản, song hiệu suất sử dụng TSDH qua ba năm lại giảm xuống mặc dù nhà máy đã có nổ lực lớn trong việc tận dụng khả năng của TSDH và có chiều hướng tăng qua các năm. Năm 2006, cứ 100 đồng TSDH đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được 2,427 đồng DTT, sang năm 2007 hạ xuống còn 1,135 đồng thấp hơn năm 2006 1,29 đồng, giảm 53,23%; con số này đến năm 2008 chỉ còn 0,945 đồng thấp hơn năm 2007 0,19 đồng tương ứng giảm 16,74%. HTSDH giảm xuống làm cho số ngày một vòng quay TSDH tăng lên, cụ thể: Năm 2006 một vòng quay của TSDH mất 148,31 ngày thì sang năm 2007 tăng lên 317,18 ngày và đến năm 2008 là 381.15 ngày/ vòng. Nguyên nhân chính của việc giảm hiệu suất sử dụng TSDH là do Công ty có đầu tư mua sắm một số máy móc thiết bị xây dựng nhà xưởng. Đặc biệt năm 2008, Công ty đã đầu tư hơn 3,5 tỷ đồng để xây dựng thêm nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị sản xuất kính cao cấp. Mặc dù Công ty đã tranh thủ tận dụng khả năng của máy thiết bị vào phục vụ sản xuất kinh doanh, song năng lực của máy móc thiết bị vẫn chưa được khai thác hết, còn dư thừa. Nhưng đây cũng là một dấu hiệu tốt đối với Công ty và đầy hứa hẹn trong tương lai. Nếu trong những năm tiếp theo, tình hình sử dụng TSDH vẫn thấp thì Công ty cần xem xét lại việc sử dụng TSDH, tận dụng mọi khả năng của máy móc thiết bị để góp phần tăng doanh thu, nâng cao hiệu quả kinh doanh tại đơn vị. 2.2. Phân tích hiệu suất sử dụng TSNH. Công ty TNHH SX & TM Inox Phước An là Công ty chuyên sử dụng và cung cấp các sản phẩm Inox, gỗ và kính cao cấp phục vụ cho trang trí nội thất và xây dựng dân dụng. Do đặc điểm kinh doanh như vậy nên TSNH tại Công ty chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng tài sản. Vì vậy, việc sử dụng hợp lý TSNH có ý nghĩa hết sức quan trọng đến sự phát triển của Công ty. Hiệu suất sử dụng TSNH được đánh giá qua các chỉ tiêu: số vòng quay TSNH, số ngày một vòng quay TSNH. Công ty không có các khoản đầu tư ngắn hạn nên TSNH trong trường hợp này được xác định dựa vào khoản mục “ Tài sản ngắn hạn” trong bảng cân đối kế toán của Công ty. Dựa vào các chỉ tiêu ta lập bảng phân tích TSNH như sau: Bảng 2.7. Bảng phân tích hiệu suất sử dụng TSNH Chỉ tiêu ĐVT Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Chênh lệch 2007/2006 Chênh lệch 2008/2007 +/- % +/- % DTT Đồng 2.420.141.012 9.423.151.160 11,565,432,544 +7.003.010.148 +289,36 +2.142.281.380 +22,734 TSNH b/q Đồng 7.536.391.701 10.807.436.588 17.221.707.128 +3.271.044.879 +43,4 +6.414.270.504 +59,35 HTSNH Vòng/kỳ 0,32 0,87 0,67 +0,55 +171,88 -0,2 -22,99 NTSNH Ngày/vòng 1121,05 413,79 537,31 -707,26 -63,06 +123,52 +29,85 ( Nguồn: Phòng kế toán) Qua bảng phân tích trên ta thấy, hiệu suất sử dụng TSNH của Công ty năm 2007 có tăng hơn năm 2006 nhưng sang năm 2008 lại giảm đi, cụ thể: Nếu năm 2006, cứ một đồng TSNH bình quân đầu tư vào HĐSXKD tạo ra được 0,32 đồng DTT, đến năm 2007 con số này tăng lên 0,87 đồng, tăng 0,55 đồng so với năm 2006, nhưng đến năm 2008 giảm xuống còn 0,67 đồng, giảm 0,2 đồng, tương ứng giảm 22,99% so với năm 2007. Số vòng quay TSNH năm 2007 tăng lên đã làm cho số ngày một vòng quay giảm xuống còn 413,79 ngày/ vòng, giảm 707,26 ngày so với năm 2006. Sang năm 2008 một vòng quay TSNH lại tăng lên 531,31 ngày. Đây là dấu hiệu không tốt đối với Công ty trong HĐKD. Để thấy được các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến hiệu suất sử dụng TSNH như thế nào ta cần đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng thông qua chỉ tiêu: HTSNH = Doanh thu thuần TSNH bình quân Sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu số vòng quay TSNH. * Năm 2007 so với 2006: - DTT tăng lên 7.003.010.148 đồng làm cho HTSNH tăng lên: = + 0,93 (vòng/kỳ) _ 9.423.151.160 2.420.141.012 7.536.391.701 7.536.391.701 - TSNH tăng lên 3.271.044.879 đồng làm cho HTSNH giảm đi: 9.423.151.160= - 0,38 (vòng/kỳ) _ 9.423.151.160 10.807.436.588 7.536.391.701 Tổng mức độ ảnh hưởng của hai nhân tố DTT và TSNH đến chỉ tiêu HTSNH: (+ 0,93) + (- 0,38) = + 0,55 (vòng/kỳ) Qua đó Công ty đã tiết kiệm một lượng TSNH: ΔV = DTT1 x (NTSNH1 – NTSNH0) 360 = - 18.512.827.471 đồng 9.423.151.160 x (413,79 – 1121,05) 360 * Năm 2008 so với 2007: - DTT tăng lên 2.142.281.380 đồng làm cho HTSNH tăng lên: = + 0,198 (vòng/kỳ) _ 11.565.432.544 9.423.151.160 10.807.436.588 - TSNH tăng lên 6.414 207.504 đồng làm cho HTSNH giảm đi: = - 0,398 (vòng/kỳ) _ 11.565.432.544 10.807.436.588 Tổng mức độ ảnh hưởng của hai nhân tố DTT và TSNH đến chỉ tiêu HTSNH: (+ 0,198) + (- 0,398) = - 0,2 (vòng/kỳ) Qua đó Công ty đã lãng phí một lượng TSNH: = 3.968.228.409 (đồng) 11.565.432.544 x (537,31 – 413,79) 360 Từ các tính toán trên ta thấy: Năm 2007 so với năm 2006 do DTT tăng nhiều hơn nên tác động mạnh hơn đến HTSNH và làm cho HTSNH tăng 0,55 vòng/ kỳ. Do đó, đã tiết kiệm một lượng TSNH là 18.512.827.471 đồng. Năm 2008 so với năm 2007: Giá trị TSNH tăng nhiều hơn DTT nên tác động mạnh hơn đến HTSNH và đã làm cho HTSNH giảm 0,2 vòng/ kỳ. Trong năm 2008 Công ty đã lãng phí một số TSNH là 3.968.228.409 đồng. Như vậy, HTSNH của Công ty năm 2007 có xu hướng tăng lên so với năm 2006 nhưng đến năm 2008 chỉ tiêu nàylại giảm đi. Điều này cho thấy trong ba năm qua việc quản lý và sử dụng TSNH có chuyển biến phức tạp, đặc biệt trong khâu quản lý và sử dụng các chỉ tiêu HTK và các khoản nợ phải thu ngắn hạn. Để thấy rõ hơn hiệu quả sử dụng TSNH của Công ty, ta đi sâu và xem xét việc phân bổ trong khâu dự trữ, khả năng thu hồi nợ của Công ty qua các chỉ tiêu số vòng quay các khoản phải thu (HPT): Bảng 2.8. Bảng phân tích hiệu suất sử dụng HTK và khoản phải thu. Chỉ tiêu ĐVT Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Chênh lệch 2007/2006 Chênh lệch 2008/2007 +/- % +/- % DTT Đồng 2.420.141.012 9.423.151.160 11,565,432,544 + 7.003.010.148 +289,36 +2.142.281.380 +22,734 GVHB Đồng 1.875.212.275 7.793.155.775 8.543.676.545 +5.917.943.550 +315,59 +750.520.770 +9,63 PT b/q Đồng 1.171.198.793 4.509.569.067 7.087.132.931 +3.338.370.274 +285,04 +2.577.563.864 +57,16 HTK b/q Đồng 3.760.884.239 5.402.536.151 8.765.456.554 +1.641.678.912 +43,65 +3.362.893.403 +62,24 HPT Vòng/kỳ 2,07 2,09 1,63 +0,02 +0,97 -0,46 -22,01 NPT Ngày/vòng 174,23 172,28 220,6 -1,95 -1,12 +48,32 +28,05 HTK Vòng/kỳ 1,29 1,44 0,97 +0,15 +11,63 -0,47 -32,64 NTK Năm 278,94 249,57 369,35 -29,37 -10,53 +119,78 +47,99 ( Nguồn: Phòng kế toán) Qua bảng phân tích trên ta thấy rằng HTK và các khoản phải thu chiếm tỷ lệ rất lớn trong TSNH. Khoản phải thu năm 2006 chiếm 13,49%, năm 2007 chiếm 23,49%, đến năm 2008 chiếm 24,05% trong tổng TSNH; HTK năm 2006 chiếm tỷ lệ rất lớn 44,07%, sang năm 2007 giảm xuống còn 28,14% và năm 2008 chiếm 29,74% trong tổng TSNH. Số vòng quay của HTK và khoản phải thu Năm 2007 đều tăng so với năm 2006 nhưng tỷ lệ này rất nhỏ, cụ thể: HTK tăng 0,15 vòng/ kỳ, còn HPT tăng 0,2 vòng/ kỳ; tương ứng làm cho số ngày một vòng quay của HTK và khoản phải thu giảm xuống: NPT giảm 1,95 ngày/ vòng, còn NTK giảm 29,37 ngày/ vòng. Đây là một dấu hiệu khả quan của Công ty trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, bước sang năm 2008, nền kinh tế toàn cầu bị khủng hoảng, bên cạnh đó phân xưởng sản xuất kính cao cấp của Công ty hoàn thành đi vào hoạt động thu hút nhiều đơn đặt hàng nên lượng nguyên vật liệu mua vào tăng lên, và trong thời gian này Công ty cũng đã hoàn thành xong một số đơn đặt hàng inox quy mô lớn nên làm cho tỷ trọng HTK tăng lên đáng kể, do đó làm cho HTK giảm xuống còn 0,9 vòng/ kỳ, tương ứng số ngày một vòng quay HTK tăng lên 119,78 ngày/ vòng so với năm 2007. Đồng thời trong năm 2008, HPT cũng giảm xuống còn 1,63 vòng/ kỳ, làm cho một vòng quay khoản phải thu tăng lên 220,6 ngày, nhiều hơn năm 2007 119,78 ngày. Nguyên nhân là do Công ty đã sử dụng chính sách tín dụng thương mại để kích thích tiêu thụ làm cho tỷ trọng khoản phải thu tăng lên. Trong những năm tiếp theo, nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài thì sẽ bất lợi cho Công ty vì các khoản nợ này có thể trở thành nợ quá hạn hay nợ khó đòi, khi đó khả năng thanh toán của Công ty sẽ gặp nhiều khó khăn. Thông qua bảng cân đối kế toán của Công ty ta thấy nợ phải trả tăng lên qua các năm, từ 8.172.598.857 đồng năm 2006 lên 14.605.909.274 đồng năm 2007 và 21.817.400.464 đồng năm 2008 trong tổng nguồn vốn. Trong năm 2007 Công ty đã tăng cường vay dài hạn để đầu tư xây dựng nhà xưởng, máy móc thiết bị cho phân xưởng sản xuất kính cao cấp; sang năm 2008 Công ty đã tăng vay ngắn hạn để đáp ứng cho nhu cầu ngắn hạn tại đơn vị như: Trả lương cho công nhân viên, thanh toán các khoản nợ đến hạn, thanh toán các khoản nợ phải trả ngắn hạn khác… Để đánh giá rõ hơn tình hình công nợ và thanh toán ta đi so sánh các khoản phải trả biến động qua các năm như sau: x 100% = Tỷ lệ các khoản phải thu Tổng số nợ phải thu so với các khoản phải trả Tổng số nợ phải trả x 100% = 14,33% + Năm 2006 : 1.171.198.793 8.172.598.857 x 100% = 30,87% + Năm 2007 : 4.509.569.067 14.605.9.9.274 x 100% = 32,48% + Năm 2008 : 7.087.132.931 21.817.400.464 Tỷ lệ các khoản phải thu so với các khoản phải trả tăng lên từ 14,33% năm 2006 lên 30,87% năm 2007 và đến năm 2008 là 32,48%, điều này cho thấy khoản vốn của Công ty bị chiếm dụng có chiều hướng tăng lên, nhưng tỷ lệ này điều nhỏ hơn 100% nên số vốn của Công ty đi chiếm dụng các đơn vị khác nhiều hơn so với bị khách hàng chiếm dụng. Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét, đánh giá và phân tích dựa trên bảng cân đối kế toán thì chưa được đầy đủ, do đó cần phải xác định tính chất, thời gian, nguyên nhân các khoản nợ phải thu, phải trả cũng như biện pháp mà Công ty đang áp dụng để thu hồi nợ hoặc thanh toán nợ dựa trên cơ sở các tài liệu thực tế khác thì mới có thể đánh giá được một cách chính xác hơn. * Đối với hàng tồn kho : Số vòng quay HTK của Công ty ba qua năm là rất thấp, cụ thể năm 2006 là 1,29 vòng/ kỳ, năm 2007 tăng lên 1,44 vòng/ kỳ, nhưng đến năm 2008 hạ xuống chỉ còn 0,97 vòng/ kỳ; tương ứng làm cho số ngày một vòng quay tư 278,94 ngày/ vòng năm 2006 xuống còn 249,57 ngày/vòng, sau đó lại tăng lên 369,35 ngày/ vòng năm 2008. Đây là một dấu hiệu báo động đối với Công ty. Nguyên nhân của việc tăng HTK làm cho hiệu suất sử dụng HTK giảm là do trong năm 2008 Công ty đã tăng dự trữ nguồn vật liệu để phục vụ cho nhu cầu sản xuất. Đồng thời năm 2008 vừa qua nền kinh tế toàn cầu bị khủng hoảng nên Công ty đã bị ảnh hưởng, các đơn đặt hàng từ phía khách hàng với Công ty cũng giảm đi đáng kể nên sản phẩm làm ra không thể bán được phải nằm lại trong kho. Do đó làm cho lượng hàng tồn kho tăng lên. * Đối với khoản phải thu: HPT tương tự như HTK, cũng tăng lên ở năm 2007 sau đó hạ xuống năm 2008. Cụ thể, năm 2007 số vòng quay nợ phải thu đạt 2,09 vòng/ kỳ, tăng hơn năm 2006 0,02 vòng/ kỳ, tương ứng làm cho số ngày một vòng quay giảm 1,95 ngày/ vòng. Sang năm 2008, HPT chỉ còn 1,63 vòng/ kỳ và một vòng quay mất 220,6 ngày, tăng 48,322 ngày so với năm 2007. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do Công ty đã áp dụng chính sách tín dụng thương mại. Tuy nhiên, Công ty cần có chính sách bán hàng linh hoạt hơn như cho khách hàng hưởng chiết khấu để kích thích khách hàng thanh toán sớm và đúng thời hạn, khi đó sẽ giảm bớt các khoản phải thu. Có như vậy mới đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển HTK và các khoản phải thu, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. 3. Phân tích hiệu quả kinh doanh tổng hợp tại Công ty. 3.1. Phân tích khả năng sinh lời từ doanh thu. Để phân tích hiệu quả HĐKD trong mối quan hệ giữa chi phí và DT, người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (TL/D) để phân tích. Bảng 2.9. Bảng phân tích khả năng sinh lời từ doanh thu Chỉ tiêu DVT Năm2006 Năm 2007 Năm 2008 Chênh lệch 2007/2006 Chênh lệch2008/2007 +/- % +/- % DTT Đồng 2.420.141.012 9.423.151.160 11.565.432.544 +7.003.010.148 +289,36 +2.142.281.380 +22,734 LNTT Đồng 18.117.847 53.725.012 103.060.741 +35.607.165 +196,53 +49.335.729 +91,83 TL/D % 0,75 0,57 0,89 -0,18 +196,53 +0,32 +56,14 ( Nguồn: Phòng kế toán) Từ kết quả bảng phân tích trên ta thấy: Nếu năm 2006, cứ 100 đồng DT tạo ra được 0,75 đồng LNTT thì đến năm 2007 hạ xuống chỉ còn 0,56 đồng, giảm 0,18 đồng so với năm 2006, đến năm 2008 con số này đạt 0,89 đồng , tăng 0,32 đồng, tương ứng tăng 56,14% so với năm 2007. Tuy tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu còn thấp nhưng nó cũng đã thể hiện nổ lực của Công ty trong năm vừa qua. Đây là dấu hiệu lạc quan, thể hiện những cố gắng của Công ty trong việc tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí. Tình hình trên xuất phát từ đầu tư máy móc thiết bị, mở rộng nhà xưởng, đã góp phần tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, giảm bớt chi phí hoạt động làm tỷ trọng giá vốn hàng bán trên doanh thu giảm từ 82,7 % năm 2007 xuống còn 73,87 % năm 2008. Bên cạnh những tích cực trên, tỷ trọng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu có chiều hướng tăng đã tác động không nhỏ đến khả năng sinh lời từ HĐKD của Công ty. Mặc dù việc tăng doanh số thường kéo theo những gia tăng về chi phí bán hàng và chi phí quản lý, nhưng Công ty cần rà soát lại nội dung của từng loại chi phí để có biện pháp thích hợp. 3.2. Phân tích khả năng sinh lời từ tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời từ tài sản là biểu hiện của mối quan hệ giữa lợi nhuận trước thuế so với tổng tài sản. Để biết được mức độ đầu tư tài sản của Công ty tao ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế, ta sử dụng chỉ tiêu phân tích: Bảng 2.10. Bảng phân tích hiệu suất sử dụng HTK và khoản phải thu Chỉ tiêu ĐVT Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Chênh lệch 2007/2006 Chênh lệch2008/2007 +/- % +/- % LNTT Đồng 18.117.847 53.725.012 103.060.741 +35.607.165 +196,53 +49.335.729 +91,83 ∑TS b/q Đồng 8.533.689.339 19.198.698.307 29.473.482.343 +10.665.008.968 +124,96 +10.274.784.036 +100 HTS Lần 0,28 0,49 0,39 +0,21 -24 -0,1 -20,41 TL/D % 0,75 0,57 0,89 -0,18 +196,53 +0,32 +56,14 ROA % 0,21 0,28 0,35 +0,07 +33,33 -0,07 -25 ( Nguồn: Phòng kế toán) Khả năng sinh lời từ tài sản có xu hướng tăng lên. Nếu năm 2006, cứ 100 đồng tài sản đầu tư vào Công ty chỉ tạo ra 0,21 đồng LNTT thì năm 2007 tạo ra được 0,28 đồng, sang năm 2008 mức lợi nhuận tạo ra là 0,35 đồng. Đây là một dấu hiệu tốt. Tuy nhiên, để làm rõ cần phân tích nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời tài sản. Như đã đề cập trong phần cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời tài sản phụ thuộc vào hiệu suất sử dụng tài sản và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, qua phương trình: ROA = Hiệu suất sử dụng TS x Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu * N ăm 2007 so với năm 2006: Đối tượng phân tích : Δ ROA = 0,28 – 0,21= + 0,07 % Ảnh hưởng của nhân tố hiệu suất sử dụng tài sản: (0,49 – 0,28) x 0,75 = + 0,1575 % - Ảnh hưởng của nhân tố tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu : 0,49 x (0,57 – 0,75) = - 0,0882 % - Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của hai nhân tố HTS và TL/D đến chỉ tiêu ROA: (+0,1575) + (-0,0882) = + 0,0693 % * N ăm 2008 so với năm 2007: Đối tượng phân tích : Δ ROA = 0,35 – 0,28 = + 0,07 % Ảnh hưởng của nhân tố hiệu suất sử dụng tài sản : (0,39 – 0,49) x 0,57 = - 0,057 % - Ảnh hưởng của nhân tố tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 0,39 x (0,89 – 0,57) = + 0,1248 % - Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của hai nhân tố HTS và TL/D đến chỉ tiêu ROA: (- 0,057) + (+0,1248) = + 0,678 % Từ kết quả của việc phân tích trên ta thấy ROA của ba năm qua có những bước chuyển biến tương đồng nhau. Tuy nhiên, ROA của từng năm tăng lên là do sự tác động khác nhau của nhân tố HTS v à TL/D, cụ thể: HTS năm 2007 tăng lên 0,21 lần so với năm 2006 làm cho ROA tăng lên 0,1575%, trong khi đó TL/D giảm 0,18% làm cho ROA giảm 0,0882%. Do vậy, ROA năm 2007 so với năm 2006 tăng lên chủ yếu do sự tác động của nhân tố HTS. Ngược lại, năm 2008 so với năm 2007do TL/D tăng mạnh hơn so với việc giảm HTS nên đây là nhân tố làm cho ROA tăng. Vì vậy, trong thời gian đến Công ty nên có những biện pháp khai thác khả năng, năng lực sản xuất hiện có, đồng thời làm tốt công tác quản lý TSNH nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng TSNH thì càng có điều kiện để gia tăng khả năng sinh lời của tài sản hơn nữa. Chương III MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH SX & TM INOX PHƯỚC AN I. Những nhận xét đánh giá chung về hiệu quả HĐKD tại Công ty. 1. Những mặt mạnh mà Công ty đạt được: Công ty TNHH SX & TM Inox Phước An là Công ty chuyên sản xuất và kinh doanh các loại sản phẩm về Inox, gỗ, kính. Đặc biệt là các mặt hàng về kính cao cấp Công ty hiện đang là nhà sản xuất và kinh doanh độc quyền tại khu vực miền Trung. Bên cạnh đó, Công ty cũng có một mặt bằng kinh doanh khá lý tưởng, nhà máy sản xuất nằm trên quốc lộ 1A, siêu thị mua bán và trưng bày sản phẩm mẫu nằm tại trung tâm thành phố rất thuận tiện cho việc mua bán, vận chuyển hàng hoá, đồng thời thu hút được một lượng khách hàng khá đông. Với mặt bằng kinh doanh thoáng mát, cơ sở vật chất thiết bị hiện đại, hàng hoá phong phú, đa dạng, đảm bảo được chất lượng cao, đặc biệt là các mặt hàng cao cấp, Công ty đã tạo dược sự uy tín và đem lại sự hài lòng đối với khách hàng. Công ty TNHH SX & TM Inox Phước An đã khẳng định được vai trò và vị trí của mình trên thương trường, tốc độ phát triển của Công ty rất nhanh, cụ thể theo báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong ba năm vừa qua ta thấy, doanh thu năm 2006 đạt 2.420.141.012 đồng, sang năm 2007 đạt 9.423.151.160 đồng và dến năm 2008 doanh thu của Công ty đạt 11.565.432.544 đồng. Điều này chứng tỏ hoạt động kinh doanh của Công ty làm ăn ngày càng hiệu quả và phát triển. Nhờ năng động, linh hoạt, sáng tạo, biết nắm bắt cơ hội đầu tư kinh doanh nhằm đi tắt đón đầu, có sự phân chia định hướng tốt về lô ngành hàng, mặt hàng của ban lãnh đạo, đồng thời Công ty cũng đã tạo được nhiều mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp, trình độ cán bộ nhân viên cũng được cải thiện trong năm vừa qua nên Công ty có những bước tiến đáng kể . 2. Một số điểm còn hạn chế tại Công ty. Bên cạnh những thành tích đã đạt được, Công ty còn tồn tại một số mặt hạn chế. Chính những yếu tố này đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty. Thông qua quá trình phân tích trên ta thấy: Tình hình thu hồi các khoản phải thu năm 2008 kém đi so với năm 2007 và 2006, do vậy các khoản phải trả tăng lên ở Công ty tạo áp lực trong thanh toán. Số nợ phải thu cao chủ yếu tập trung vào khoản phải thu của khách hàng, như vậy Công ty đã để cho các đối tượng bên ngoài chiếm dụng số vốn khá lớn. Trong khi đó, số nợ phải trả cho người bán cũng tăng lên, do vậy Công ty cần phải có biện pháp thu hồi số nợ còn đọng lại ở khách hàng, đồng thời tìm nguồn tài chính để trang trả cho số nợ phải trả. Hiệu suất sử dụng tài sản của Công ty chưa tốt, giá thành sản xuất sản phẩm ngày càng cao, năm 2008 giá vốn hàng bán chiếm 73,87% so với doanh thu. Vì vậy, Công ty cần có biện pháp sử dụng tài sản một cách hợp lý hơn và có giải pháp để xây dựng, thực hiện một giá thành sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường. Công tác quản lý HTK chưa thật sự hiệu quả, vẫn còn xảy ra tình trạng thiếu nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm nên làm chậm tién độ giao hàng như đã ký kết trong hợp đồng. Do đó đã làm ảnh hưởng lớn niềm tin của khách hàng đối với Công ty. II. Các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả HĐKD tại Công ty. Việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu cơ bản của mỗi doanh nghiệp. Vì đó là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để hoạt động SXKD đạt hiệu quả cao thì doanh nghiệp cần phải có những biện pháp thích hợp nhằm đem lại hiệu quả SXKD và khắc phục những mặt còn hạn chế. Trong quá trình thực tập và tìm hiểu thực tế tại Công ty TNHH SX & TM Inox Phước An tôi nhận thấy để hoạt động SXKD của Công ty đạt hiệu quả cao hơn nữa thì Công ty phải thực hiện nhiều biện pháp khác nhau trong quá trình sản xuất, cần phải giải quyết một cách đồng bộ và hợp lý những vấn đề còn tồn tại như: Mở rộng rộng quy mô hoạt động sản xuất, tăng cường công tác quản lý chất lượng sản phẩm và công tác thu hồi nợ… 1. Biện pháp 1: Mở rộng quy mô hoạt động sản xuất. Ngày nay với nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng cao nhưng quy mô hoạt động sản xuất của Công ty trong những năm qua còn nhỏ. Với sự cạnh tranh hiện nay ngày càng diễn ra gay gắt, nếu Công ty không mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ thì khó có thể phát triển mở rộng hơn nữa. Vấn đề quản lý vốn và TSDH của Công ty còn quá thấp, chưa tận dụng hết khả năng của TSDH. Như vậy cũng cần có kế hoạch sử dụng TSDH như thế nào cho hợp lý có như vậy mới khai thác được mọi khả năng của TSDH. 2. Biện pháp 2: Quản lý tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn bao gồm toàn bộ giá trị tài sản lưu động, đó là những tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt trong một chu kỳ kinh doanh của Công ty, TSNH chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Do đó, nếu quản lý không tốt thì lượng tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho ngày càng lớn nhanh làm giảm khả năng sinh lời. Trong cơ cấu TSNH tại Công ty thì nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao, điều này cho thấy nguồn tài trợ cho HĐKD ở Công ty chủ yếu là TSNH. Do đó, cơ cấu TSNH và nợ ngắn hạn quyết định đến vốn luân chuyển của Công ty, nó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và rủi ro của Công ty. Nếu xét đến TSNH ròng của Công ty trong năm 2008 thì: TSNHR = TSLĐ và đầu tư ngắn hạn - Nợ ngắn hạn TSNHR của Công ty âm điều này cho thấy nguồn vốn tạm thời không chỉ tài trợ cho TSNH mà còn thừa để tài trợ cho TSDH bị thiếu hụt. Nhưng TSNH của Công ty chủ yếu là các khoản phải thu, HTK chiếm tỷ trọng lớn trong TSNH nên cần thiết chúng ta phải xem xét đến khả năng thanh toán và nguồn tài trợ cho TSNH bằng cách nào cho hợp lý. Bảng 3.1: Bảng chỉ tiêu các hệ số thanh toán Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Chênh lệch 2007/2006 Chênh lệch 2008/2007 Khả năng thanh toán hiện hành 1,496 1,13 0,79 -0,266 -0,34 Khả năng thanh toán nhanh 0,438 0,028 0,035 -0,41 +0,007 Ta thấy khả năng thanh toán của Công ty trong ba năm qua rất thấp, Công ty chịu nhiều áp lực trong thanh toán, đồng thời dễ kéo theo sự rủi ro phá sản của Công ty sẽ cao. Vì vậy, Công ty cần phải có những biện pháp khắc phục để nâng cao khả năng thanh toán của mình. Chẳng hạn, Công ty cần thiết phải thanh toán như: Nợ trả ngay, nợ chưa cần trả phải trả, thời gian cần phải trả, trên cơ sở đó thanh toán hợp lý và đúng hạn. * Về chính sách tài trợ: Dựa trên các dự báo về tốc độ tăng trưởng nhu cầu thị trường mà Công ty có thể dự kiến tốc độ tăng doanh số, khi doanh số tăng sẽ phát sinh những nhu cầu đầu tư tài sản. Chẳng hạn, khoản phải thu, HTK tăng lên, khoản phải trả và nợ tích luỹ cũng tăng lên thậm chí còn có nhu cầu phát sinh đầu tư TSCĐ. Kết quả của dự đoán sẽ cho phép Công ty có thể dự kiến được các sự kiện có thể xảy ra mà cụ thể là xác định nhu cầu về vốn tăng thêm bên ngoài khi mà nguồn tài trợ bên trong không thể trang trải cho nhu cầu đầu tư tài sản. Như vậy, Công ty cần sử dụng phương pháp tính số phần trăm trên doanh số để xác định nhu cầu về vốn tăng lên. Đây là một phương pháp dự báo nhu cầu tài chính trong ngắn hạn, phương pháp này cũng khá đơn giản và được tiến hành qua các bước sau: Bước 1: Tính số bình quân của các khoản mục trong bảng cân đối kế toán của kỳ thực hiện. Bước 2: Chọn các khoản mục chịu sự tác động trực tiếp và có mối quan hệ chặt chẽ với doanh thu và tính tỷ lệ % các khoản mục đó so với doanh thu thực hiện được trong kỳ. Bước 3: Dùng tỷ lệ % các khoản mục được tính đó, ước tính nhu cầu về vốn kinh doanh cho năm kế hoạch trên cơ sở doanh thu dự kiến đó. Bước 4: Định hướng nguồn trang trải nhu cầu vốn kinh doanh trên cơ sở doanh thu kỳ kế hoạch. Chẳng hạn, doanh thu dự kiến năm 2009 tăng 50% so với năm 2008, nghĩa là: 11.565.432.544 x 1,5 = 17.348.148.816 (đồng) Số bình quân các khoản mục trên bảng cân đối kế toán ta thấy tất cả các khoản mục ở phần tài sản đều chịu dự tác động trực tiếp của doanh thu. Tuy nhiên, do tính chất và đặc điểm của vốn cố định nên ta có thể tách riêng ra để dự báo nhu cầu về vốn dài hạn. Phần nguồn vốn ta thấy khoản phải trả các khoản mục trên bảng cân đối kế toán năm 2008 so với doanh thu ta có thể tính số bình quân các khoản mục như sau: Bảng 3.2: Bảng bình quân công nợ so với doanh thu Chỉ tiêu ĐVT Số tiền % so với doanh thu Tiền Đồng 687.676.754 5,95 Khoản phải thu Đồng 4.543.454.277 39,28 Hàng tồn kho Đồng 8.765.456.554 75,79 TSNH khác Đồng 681.440.889 5,89 Tổng 14.678.028.474 126,91 Phải trả người bán Đồng 3.456.768.763 29,89 Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước Đồng 14.765.843 0,13 Phải trả phải nộp khác Đồng 4.565.879.542 39,48 Tổng 8.037.414.148 69,5 (Nguồn: Phòng kế toán) Qua bảng trên ta thấy: Cứ 100 đồng doanh thu tăng lên thì cần phải tăng 126,91 đồng vốn để bổ sung cho phần tài sản. Cứ 100 đồng DT tăng lên thì Công ty chiếm dụng được 69,5 đồng vốn. Như vậy, thực chất của 100 đồng tài sản tăng lên thì Công ty cần bổ sung thêm một lượng vốn để kinh doanh là: (126,91 - 69,5) = 57,41 % Vậy nhu cầu vốn lưu động bổ sung thêm cho kỳ kế hoạch là: (17.348.148.816 - 11.565.432.544) x 57,41% = 3.319.857.411(đồng) Nếu tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu của năm kế hoạch vẫn duy trì như năm 2008 thì LNTT của năm 2009 là: 17.348.148.816 x 0,89 % = 154.591.112 (đồng) Lợi nhuận sau thuế là: 154.591.112 x (1 - 28 %) = 111.305.600 ( đồng) Như vậy, nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch là 3.319.857.411 đồng có thể dùng lợi nhuận không chia sẻ của Công ty để trả là 111.305.600 đồng, phần còn lại 3.208.551.811 đồng Công ty phải huy động từ bên ngoài. 2.1. Quản lý các khoản phải thu. Khoản phải thu là khoản tiền bị khách hàng chiếm dụng, do đó bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng mong muốn khách hàng thanh toán ngay sau khi giao hàng xong. Đối với Công ty cũng vậy, nhưng qua phân tích ở chương 2 ta thấy nợ tồn đọng của Công ty rất lớn và chiếm tỷ trọng cao trong vốn lưu động. Khoản phải thu năm 2006 chiếm 13,72%, năm 2007 chiếm 23,49 % và năm 2008 chiếm 24,05 % trong tổng TSNH. Do đặc điểm của ngành nghề kinh doanh, để thu hút khách hàng cần phải xem xét rủi ro do bán chịu đem lại với khả năng sinh lời của đồng vốn, đồng thời xem xét lại các chính sách tín dụng của đơn vị có hợp lý hay không. Để khuyến khích khách hàng trả tiền trước thời hạn thì Công ty duy trì chính sách chiết khấu của mình. Hiện nay, Công ty đang áp dụng mức chiết khấu là 5% cho tất cả các đại lý. Đây là mức chiết khấu tương đối cao. Vì vậy, Công ty nên xem xét lại tỷ lệ chiết khấu đó có ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của đơen vị mình hay không. Đồng thời cũng nên công bố rộng rãi chính sách tín dụng, cũng như chính sách chiết khấu của mình cho khách hàng mọi nơi cùng biết, giải thích những mặt lợi cho khách hàng, chẳng hạn công bố trên các hợp đồng kinh tế, hoặc gửi riêng cho khách hàng vế nội dung chính sách chiết khấu của Công ty. Đối với những khách hàng không thanh toán đúng hạn thì Công ty cần đưa ra các hình thức phạt như chịu chi phí lãi vay bằng lãi suất ngân hàng tại thời điểm đó. Kết hợp với chính sách chiết khấu của Công ty cũng cần phải tổ chức quản lý nợ một cách chặt chẽ, phân loại chi tiết các khoản phải thu để theo dõi tình hình công nợ một cách chặt chẽ, liên tục có hiệu quả. Đối với chính sách thu nợ thì Công ty cũng cần thực hiện việc thu tiền với các hoá đơn hay các khoản nợ đến hạn. Biến số cơ bản của chính sách này là giá trị kỳ vọng của thủ tục thu nợ. Đó là sự cân nhắc giữa chi phí viêc thực hiện thu nợ với việc giảm tỷ lệ mất mát và rút ngắn thời hạn thu tiền. Thủ tục thu nợ bao gồm một trình tự hợp lý các giải pháp mà nó sử dụng cho các hoá đơn quá hạn. Các biện pháp có thể sử dụng như: Gửi thư yêu cầu, gọi điện nhắc nhở, viếng thăm…Sau đây là một số biện pháp cụ thể: Thời gian quá hạn Giải pháp 10 ngày Gọi điện nhắc nhở các hoá đơn đến hạn thanh toán và yêu cầu trả lời 30 ngày Gửi thư hoặc Fax kèm theo thông tin hoá đơn thúc gọi thu tiền 60 ngày Cho người đến thăm và thúc giục việc trả nợ 120 ngày Cho ngưòi đến thăm thường xuyên và khẳng định cuối cùng về việc huỷ tín dụng 150 ngày Nhờ cơ quan Nhà nước can thiệp Trên 1 năm Chuyển vào nợ khó đòi, nếu giá trị lớn thì nhờ pháp luật can thiệp Ngoài ra, Công ty cũng nhờ phương pháp uỷ nhiệm thu. Trong trường hợp thiếu vốn để kinh doanh thì có thể đem hoá đơn quá hạn thanh toán tới ngân hàng để thế chấp vay vốn kinh doanh và dĩ nhiên số vốn mà ngân hàng cho vay bao giờ cũng nhỏ hơn khoản phải thu và được xem xét kỹ lưỡng các hoá đơn đó trước khi quyết đinh có cho vay hay không. 2.2. Quản lý hàng tồn kho. Hàng tồn kho của Công ty chiếm tỷ trọng khá lớn trong TSNH, cụ thể: Năm 2006 chiếm 44,07%, năm 2007 chiếm 28,14 % và năm 2008 chiếm 29,74 % nhưng chủ yếu là nguyên vật liệu và thành phẩm tồn kho. Do vậy, nếu trong năm tới Công ty không có những biện pháp để đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng tồn kho thì sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của đơn vị. Để quản lý chặt chẽ HTK Công ty cần có những biện pháp trong việc quản lý và dự trữ tồn nguyên vật liệu. Do đặc điểm vật liệu của Công ty chủ yếu là Inox và kính chiếm tỷ trọng lớn, nên để đảm bảo duy trì cho HĐKD được liên tục thì việc dự trữ nguyên vật liệu như thế nào cho đủ số lượng, đúng chất lượng, kịp thời gian, không thiếu phải ngừng sản xuất là điều phải được cân nhắc kỹ. Để quá trình cung cấp nguyên vật liệu được đảm bảo Công ty cần có những chính sách quản lý, dự trữ hợp lý. Công ty nên sử dụng mô hình EOQ để quản trị nguyên vật liệu được tốt hơn, vì mô hình này giải quyết được hai vấn đề cơ bản mà hiện nay Công ty chưa giải quyết triệt để là: Lượng hàng cần mua tối ưu (Q*) và thời diểm đặt lại hàng (ROP), được xác định như sau: Q* = √ 2.SD/H ROP = L x d Trong đó: S: Chi phí cho một lần đặt hàng D: Nhu cầu vật tư trong năm H: Chi phí tồn trữ đơn vị hàng trong một đơn vị thời gian L: Thời gian vận chuyển D: Lượng vật tư cần dùng cho một ngày đêm 3. Biện pháp 3: Hạ giá thành sản phẩm. Giá thành là một chỉ tiêu chất lượng, phản ánh và đo lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời nó còn giữ chức năng thông tin và thẩm kiểm tra về chi phí giúp các nhà quản lý có cơ sở để ra quyết định kinh doanh đúng đắn. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả kinh doanh Công ty cần tìm ra biện pháp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thánh sản phẩm sản xuất. Công ty cần có chế độ khen thưởng cũng như phạt đối với những cá nhân, tập thể tiết kiệm hay lãng phí chi phí. Theo tôi những biện pháp để hạ giá thành là: Mở rộng mạng lưới thu mua nguyên vật liệu: Hiện nay, Công ty chủ yếu nhập nguyên vật liệu chính từ các doanh nghiệp khác trong nước nhưng ở các tỉnh, thành phố ở rất xa Công ty nên chi phí vận chuyển lớn. Vì thế, Công ty thường mua với số lượng lớn nhằm giảm giá cũng như giảm chi phí vận chuyển, điều này dẫn đến nguyên vật liệu tồn kho nhiều, làm cho hiệu quả sử dụng vốn lưu động thấp. Vì vậy, Công ty nên mở rộng mạng lưới thu mua ở các tỉnh lân cận để tiết kiệm chi phí vận chuyển, đồng thời Công ty cần có chính sách triệt để, linh hoạt về giá trước những biến động của thị trường. Bên cạnh việc giảm giá thàsnh thì Công ty cần cải thiện chất lượng sản phẩm để nâng cao hơn nữa uy tín của Công ty đối với khách hàng, từ đó làm cho doanh số bán hàng tăng lên làm cho lợi nhuận cũng tăng lên. Để giải quyết vấn đề này cần thực hiện một số biện pháp như: Tăng cường kiểm tra chất lượng sản phẩm sản xuất, quy cách mẫu mã, đóng gói, vận chuyển… Cần nâng cao trình độ tay nghề của nhân viên, thường xuyên tổ chức thi, kiểm tra tay nghề, phát động phong trào tổ, nhóm sản xuất giỏi với các hình thức khen thưởng thích hợp. Không ngừng đổi mới thiết bị, máy móc, quy trình công nghệ, nâng cao hệ thống nhà xưởng. 4. Biện pháp 4: Nghiên cứu mở rộng thị trường. Công tác nghiên cứu thị trường có tầm quan trọng trong việc định hướng phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty. Trên cơ sở những thông tin thu thập được từ nghiên cứu thị trường, Công ty có thể nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường. Bên cạnh việc duy trì mối quan hệ sản xuất kinh doanh với thị trường truyền thống, Công ty cần linh hoạt trong việc tìm kiếm thị trường để thu hút khách hàng về phía mình. Để làm được điều đó, Công ty Phước An nên tuyển thêm nhân viên chuyên nghiên cứu về thị trường để tìm ra nhu cầu mong muốn của khách hàng, của từng khu vực dân cư; nghiên cứu về giá, mẫu mã của sản phẩm để định hướng sản xuất sản phẩm. Trên đây là một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH SX & TM Inox Phước An, hy vọng những biện pháp này phần nào giúp Công ty ngày càng phát triển trong điều kiện sản xuất kinh doanh hiện nay cũng như trong tương lai. KẾT LUẬN Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đặt ra cho các doanh nghiệp nước ta nhiều cơ hội và thách thức. Đó là cơ hội thu hút vốn đầu tư, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, tiếp thu cách làm việc kinh doanh, quản lý khách hàng của nước ngoài, có cơ hội đưa sản phẩm của nước mình đến nhiều nước trên thế giới. Mặt khác, các doanh nghiệp chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt diễn ra trên thị trường phạm vi toàn cầu trong nền kinh tế thị trường một khi không có sự bảo hộ của Nhà nước. Các doanh nghiệp nước ta phải tự điều hành quản lý các hoạt động sản suất kinh doanh một cách có hiệu quả để đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển. Thông qua việc phân tích các nhà quản lý sẽ nắm được thực trạng của doanh nghiệp mình, phát hiện ra những nguyên nhân và sự ảnh hưởng của các nhân tố đến doanh thu và lợi nhuận. Từ đó chủ động đề ra các biện pháp thích hợp để khắc phục những mặt tiêu cực, phát huy những mặt tích cực của các nhân tố ảnh hưởng và huy động tối đa nguồn lực nhằm tăng lợi nhuận, doanh thu và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Sau 3 tháng thực tập tại Công ty TNHH SX & TM Inox Phước An được sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn và các anh chị trong Công ty đã giúp tôi có điều kiện tìm hiểu về công tác hạch toán kế toán và các vấn đề khác liên quan đến đề tài. Cùng với những kiến thức đã được học ở trường và thời gian tìm hiểu thực tế, tôi đã hoàn thành đề tài của mình với sự cố gắng và hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn - thầy Lê Văn Tân và các anh chị trong Công ty. Dẫu vậy, đề tài này không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định. Rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các anh chị trong Công ty. Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO TS.Trương Bá Thanh _ Phân tích hoạt động kinh doanh ( Phần II ) _NXB Giáo Dục. Ths.Nguyễn Phú Giang _ Kế toán quản trị và phân tích kinh doanh_ NXB TP Hồ Chí Minh. Huỳnh Đức Lộng _ Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp _ NXB Thống kê. Nguyễn Tấn Bình _ Phân tích hoạt động doanh nghiệp _ NXB Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh. Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân _ Giáo trình quản trị kinh doanh tổng hợp ( Tập 1, 2) _ NXB Thống kê Hà Nội _ Năm 2001. Ngô Thị Cúc _ Phân tích tài chính doanh nghiệp _ NXB Giáo Dục

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH sản xuất & thương mại Inox Phước An.doc