Đề tài Tìm hiểu sự biến động lãi suất tín dụng thông qua cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua

Từ khi ra đời hệ thống NHTM Việt Nam cùng với hoạt động tín dụng của nó đã góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam một cách tích cực. Nó không những cung ứng vốn cho các doanh nghiệp tăng cường mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn có vai trò quan trọng trong việc tài trợ các dự án, chương trình xây dựng cơ bản, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước. Tín dụng đã đạt được một số thành tựu nhất định, chứng tỏ rõ nó là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống tín dụng ở nước ta, đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển góp phần vào quá trình xây dựng đất nước đa đất nước đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong nền cơ chế thị trường thì hoạt động tín dụng trong các NHTM vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết.

doc30 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2489 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Tìm hiểu sự biến động lãi suất tín dụng thông qua cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề tài: Tìm hiểu sự biến động lãi suất tín dụng thông qua cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua. Lời mở đầu Trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều phạm trù kinh tế tài chính, trong đó tín dụng và lãi suất tín dụng là một trong những phạm trù quan trọng. Như chúng ta đã biết, lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ trong nền kinh tế. Diễn biến của nó được đưa tin hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sự dao động của lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định của cá nhân, doanh nghiệp cũng như hoạt động của các tổ chức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế. Từ việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản về tín dụng và lãi suất, thấy rõ tầm quan trọng của lãi suất, từ đó vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam cho thấy lãi suất biến động và được điều hành dưới hình thức các chính sách lãi suất trong từng thời kỳ. Chính sách lãi suất là một công cụ quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiếm chế lạm phát, lãi suất được sử dụng linh hoạt sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế. Ngược lại lãi suất được giữ cố định có thể kích thích tăng trưởng kinh tế, nhưng sang thời kỳ khác, có thể nó trở thành vật cản cho sự phát triển kinh tế. Với tầm quan trọng như vậy của sự biến động lãi suất, chúng tôi đã lựa chọn phân tích đề tài: “Tìm hiểu sự biến động lãi suất tín dụng thông qua cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua” Phần 1. Cơ sở lí luận về lãi suất tín dụng 1.1 Những vấn đề chung về tín dụng 1.1.1 Sự ra đời và phát triển của tín dụng. Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền. Quan hệ tín dụng đầu tiên và thô sơ nhất phát sinh ngay từ khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã là tín dụng nặng lãi. Khi đó xã hội bắt đầu phân chia giai cấp, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và có hiện tượng phân hóa giàu nghèo. Những người đứng đầu các thị tộc, bộ lạc chiếm được nhiều tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng. Trong khi đó, đại bộ phận các gia đình nông nô không có hoặc có rất ít tư liệu trên. Để duy trì cuộc sống bình thường trong xã hội, tất yếu phải diễn ra quá trình điều hòa sản phẩm từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ kẻ giàu sang người nghèo. Quá trình này được thực hiện dưới hình thức vay mượn. Do sản phẩm dư thừa dùng để cho vay ít, mà số người cần vay thì nhiều, cho nên người cho vay thu lãi rất cao. Vì vậy, quan hệ tín dụng này được gọi là “tín dụng nặng lãi”. Tín dụng nặng lãi phát triển và trở thành hình thức cho vay phổ biến trong chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến. Khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành thì nền sản xuất tư bản chủ nghĩa hàng hóa lớn cũng được mở rộng và phát triển. Lúc này, tín dụng nặng lãi không còn thích hợp với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nữa. Giai cấp tư bản đã tự tạo lập cho mình một hình thức tín dụng mới – tín dụng tư bản chủ nghĩa. Tín dụng tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển từng bước đáp ứng nhu cầu về vốn của các nhà tư bản, chủ thể kinh tế, nhà nước… với mức lãi suất thấp hơn. Hơn nữa nó biểu hiện sự phân chia quyền lợi kinh tế một các bình đẳng giữa các bên tham gia vào quá trình thực hiện quan hệ tín dụng này. Ngày nay, do sự phát triển và hiện đại hóa nền kinh tế, đòi hỏi các quan hệ và các hình thức tín dụng trong kinh tế thị trường cũng phát triển đa dạng và phong phú phù hợp với yêu cầu nền kinh tế quốc dân và hội nhập kinh tế quốc tế. Lịch sử phát triển đã cho thấy tín dụng là một phạm trù kinh tế và là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Nhưng chính nó là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển. 1.1.2 Định nghĩa tín dụng + Định nghĩa - Theo nghĩa hẹp: Tín dụng là quan hệ vay mượn giữa người đi vay và người cho vay về một lượng giá trị nhất định dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật. - Theo nghĩa rộng: Tín dụng là khâu của hệ thống tài chính, là hệ thống những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình chuyển quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định từ chủ thể này sang chủ thể khác dựa trên nguyên tắc hoàn trả. + Một số đinh nghĩa khác - Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (người cho vay) chu cấp tiền hay hàng hóa dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương lai của bên kia (người đi vay) - Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. - Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định, theo thỏa thuận bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. 1.1.3 Đặc điểm của tín dụng - Tín dụng mang tính chất hoàn trả. - Trong quan hệ tín dụng có sự tách rời giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Thực tế, nó chỉ thay đổi quyền sử dụng vốn tín dụng chứ không thay đổi quyền sở hữu vốn tín dụng. Quyền sở hữu nguồn tài chính vẫn thuộc về người cho vay và quyền sử dụng thuộc về người đi vay. - Lợi tức tín dụng là loại giá cả đặc biệt, thông thường, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị, lợi tức tín dụng là biểu hiện giá trị sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định. - Thời hạn tín dụng được xác định do thỏa thuận giữa người cho vay và người đi vay. Người sở hữu vốn được nhận một phần thu nhập dưới hình thức lợi tức. 1.1.4 Phân loại tín dụng a. Căn cứ vào đối tượng cấp tín dụng + Tín dụng hàng hoá: Đối tượng là hàng hoá, thể hiện qua quan hệ mua bán chịu hàng hoá (mua nợ) + Tín dụng tiền tệ b. Căn cứ vào chủ thể cấp tín dụng + Tín dụng thương mại ( Tín dụng hàng hoá): là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các doanh nghiệp, biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu. + Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các chủ thể trong kinh tế (các doanh nghiệp, các cá nhân...) + Tín dụng nhà nước: là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế. + Tín dụng thuê mua: là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác + Tín dụng các tổ chức tài chính quản tế: là mối quan hệ tín dụng giữa các Nhà nước, giữa các cơ quan của Nhà nước với nhau, hoặc giữa các chủ thể của một nước với các chủ thể của nước khác và với các tổ chức quốc tế khi cho vay và trả nợ tiền vay theo những nguyên tắc nhất định. c. Căn cứ vào thời gian của tín dụng + Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng, thường được dùng để cho vay bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu thanh toán cho sinh hoạt cá nhân. + Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng, dùng để cho vay vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình quy mô nhỏ của các doanh nghiệp và cho vay xây dựng nhà ở hoặc mua sắm hàng tiêu dùng có giá trị lớn của cá nhân. + Tín dụng dài han: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng, được sử dụng để cho vay dự án đầu tư xây dựng mới, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. d. Căn cứ vào phạm vi phát sinh của các quan hệ tín dụng + Tín dụng trong nước: Tất cả các quan hệ tín dụng phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia như tín dụng của nhà nước, ngân hàng, tổ chức kinh doanh, cá nhân… + Tín dụng quốc tế: Là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức tín dụng quốc tế. e. Căn cứ vào cơ chế đảm bảo của tín dụng + Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng được đảm bảo bằng các loại tài sản của khách hàng, bên bảo lãnh được hình thành từ vốn vay. + Tín dụng không có đảm bảo: Dựa trên quan hệ và độ tin tưởng, được đảm bảo dưới hình thức tín chấp, cho vay theo chỉ định của Chính phủ và hộ nông dân vay vốn được bảo lãnh của các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương. f. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay + Tín dụng sản xuất: Là loại tín dụng cung cấp cho các doanh nghiệp và chủ thể kinh tế khác để tiến hành sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. + Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. 1.1.5 Vai trò của tín dụng a. Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển. Nhờ nguồn vốn tín dụng, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh không những đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh bình thường mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, đảm bảo sự phát triển liên tục của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Trong quá trình hoạt động của các chủ thể kinh tế, tín dụng đã góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, tạo điều kiện để duy trì mối liên hệ giữa sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng xã hội. Chính vì vậy, tín dụng đã làm cho lưu thông hàng hoá được mở rộng. Như vậy, tín dụng đã góp phần thúc đẩy sản xuất và làm lưu thông hàng hóa phát triển nhanh chóng, đó là điều không thể phủ nhận. b. Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. Nhà nước thường xuyên sử dụng tín dụng làm phương tiện cân đối thu chi ngân sách nhà nước, góp phần đảm bảo các nguồn lực tài chính để thực thi các chính sách kinh tế - xã hội. Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện và lãi suất tín dụng, nhà nước có thể thay đổi được quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng. Nhờ đó mà có thể thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển của một số ngành phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước. Nhà nước sử dụng tín dụng để điều tiết lưu thông tiền tệ, đảm bảo sự cân đối tiền hàng, ổn định giá cả hàng hóa. Như vậy, tín dụng vừa là nội dung, vừa là công cụ để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. c. Tín dụng góp phần quan trọng vào việc làm giảm chi phí sản xuất và lưu thông. Thông qua hoạt động tín dụng, vốn trong nền kinh tế được luân chuyển nhanh, tức là làm tăng nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ. Từ đó giảm khối lượng phát hành vào lưu thông, đồng nghĩa với việc giảm chi phí lưu thông tiền tệ. Giảm chi phí sản xuất, lưu thông của chính doanh nghiệp nhận vốn vay. Nguyên tắc của tín dụng buộc trách nhiệm hoàn trả, thúc đẩy người vay vốn sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả hơn. Bản thân chủ thể các quan hệ tín dụng phải tính toán cụ thể để hoạt động tín dụng đem lại lợi ích cao nhất và an toàn nhất. Động lực canh tranh trong nền kinh tế thị trường thúc đẩy họ giảm đến mức thấp nhất chi phí kinh doanh, kể cả chi phí xử lý rủi ro. d. Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Thông qua việc cho vay ưu đãi đối với các hộ nghèo, tổ chức kinh tế - xã hội, làm cho họ được đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất và tiêu dùng. Các hộ nông dân, cá nhân sử dụng tín dụng như một trong các phương tiện để cải thiện và nâng cao mức sống của mình. Thông qua việc vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao lợi nhuận và phân chia tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng hợp lý. 1.2 Lãi suất tín dụng 1.2.1 Khái niệm lãi suất tín dụng Lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được từ người đi vay về việc sử dụng lượng tiền vay trong một thời gian nhất định. Như vậy thực chất của lợi tức tín dụng là giá cả hàng hóa cho vay. Lãi suất tín dụng là sự cụ thể hoá của lợi tức tín dụng, nó được biểu hiện bằng tỷ lệ giữa tổng số lợi tức thu được với tổng số vốn đã cho vay trong một thời gian nhất định. 1.2.2 Các loại lãi suất tín dụng a. Phân loại theo nghiệp vụ tín dụng + Lãi suất huy động: Có thời gian và không có thời hạn. Là lãi suất ngân hàng trả cho người gửi ( lãi suất có thời hạn > không có thời hạn) + Lãi suất cho vay: Là mức lãi suất người cho vay phải trả cho ngân hàng cho việc sử dụng vốn vay của ngân hàng b. Phân loại theo giá trị thực + Lãi suất danh nghĩa: là loại lãi suất mà người cho vay được hưởng khi không tính đến sự biến động của giá trị tiền tệ + Lãi suất thực tế: Là mức lãi suất mà người cho vay được hưởng sau khi loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ (VN: lâm vào lãi suất thực âm) + Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lam phát c. Phân loại theo tiêu thức quản lý vĩ mô của nhà nước + Lãi suất trần: cao nhất quy định với việc cho vay của các ngân hàng + Lãi suất sàn: Thấp nhất quy định với mức lãi suất huy động + Lãi suất cơ bản: NHTW đưa ra để định hướng sự thay đổi của mức lãi suất 1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng a. Quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường: Đường cung tiền biểu thị NHTW muốn giữ cung tiền tệ ổn định. Khi NHTW muốn kiềm chế lạm phát sẽ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ thông qua công cụ lãi suất. LS tăng, mức đầu tư giảm, mức cầu tiền tệ giảm các nhà doanh nghiệp và các gia đình sẽ giảm lượng tiền gửi vào tài khoản của họ. Ngược lại, khi NHTW lo sắp có nguy cơ suy thoái, sẽ tăng mức cung cầu tiền tệ bằng việc bơm tiền vào lưu thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. LS có xu hướng giảm xuống. b. Tỷ lệ lạm phát Lạm phát tăng, không chỉ làm giảm độ lớn của cung mà còn kéo theo việc tăng thêm quy mô về cầu quỹ cho vay. Bởi với LS danh nghĩa cho trước khi lạm phát dự tính tăng lên chi phí thực của việc vay tiền giảm xuống kích thích người ta đi vay dẫn đến LS tăng c. Chính sách vĩ mô của nhà nước - Chính sách tài chính (gồm chi tiêu của chính phủ và thuế khoá): Khi chi tiêu của chính phủ tăng trực tiếp đồng thời chính phủ giảm thuế, tăng tổng sản phẩm, tăng lượng cầu tiền tệ, LS tăng. Ngoài ra thuế còn các tác động đến mức sản lượng tiềm năng, chẳng hạn việc giảm thuế đánh vào thu nhập của đầu tư mới, tăng đầu tư, tăng cầu tiền tệ, LS tăng. - Chính sách tiền tệ: NHTW thực hiện chính sách thị trường mở, điều hòa cung - cầu chứng khoán có giá, thông qua các NHTM tác động vào việc cung ứng tiền tệ, cung ứng tín dụng. NHTW tăng (giảm) mức dự trữ bắt buộc ở các NHTM. - Chính sách thu nhập (chính sách về giá cả, tiền lương): Nếu giá giảm (cung tiền tệ không thay đổi), giá trị của đơn vị tiền tệ theo giá trị thực tế tăng. Điều này cũng giống như ảnh hưởng của một sự tăng lên trong cung tiền tệ khi mức giá được giữ cố định, LS tăng và ngược lại. Khi tiền lương tăng, chi phí sản xuất tăng, lợi nhuận giảm, giảm nhu cầu đầu tư, cầu tiền tệ giảm, LS giảm. - Chính sách tỷ giá: Tỷ giá ngoại tệ tăng, tăng giá hàng nhập khẩu, tăng chi phí đầu vào của các mặt hàng nhập khẩu, giá hàng hoá trong nước tăng lên, lợi nhuận giảm, nhu cầu ngoại tệ tăng, cầu tiền tệ giảm, LS giảm. Mặt khác khi tỷ giá ngoại tệ tăng, lượng tiền cung ứng để đảm bảo cân đối ngoại tệ cần chuyển đổi tăng lên, LS giảm. d. Rủi ro, kì hạn lãi suất Rủi ro, trong quá trình cho vay và đi vay, khả năng thu hồi nợ rủi ro cao =>Lãi suất cao, rủi ro thấp => Lãi suất thấp Khoản vay trong kì hạn càng dài => Lãi suất càng cao e. Một số nhân tố khác Mức độ phát triên của thị trường tài chính Mức độ cạnh tranh trong hoạt động cung cấp dịch vụ tín dụng Tình hình biến động, khủng hoảng tài chính Phần 2. Thực trạng về sự biến động lãi suất tín dụng ở Việt Nam 2.1 Cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua 2.1.1 Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương thức quản lý kế hoạch hóa tập trung (trước năm 1988) Đặc trưng cơ bản của lãi suất thời kỳ thực thi chế độ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung kéo dài, đó là áp dụng chính sách lãi suất bao cấp khá nặng nề, lãi suất đựơc xây dựng thoát ly lãi suất của nền kinh tế thế giới. Dẫn đến lãi suất thực thi trong thời kỳ này với tình trạng “lãi giả và lỗ thật” làm cho ngân hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao và lãi suất thực là số âm, vì tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa.  2.1.2 Lãi suất thời kỳ nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước (từ năm 1988 đến 2006)   Nội dung cơ bản của Nghị định 53/HĐBT chủ yếu: Xóa hẳn mô hình ngân hàng một cấp và xây dựng mô hình ngân hàng hai cấp phù hợp với mô hình của ngân hàng các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Trong đó Ngân hàng Nhà nước VN thực hiện chức năng ngân hàng của các ngân hàng, quản lý hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế, còn ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, thực hiện chức năng kinh doanh trực tiếp về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trong nền kinh tế. Nhìn lại diễn biến của chính sách lãi suất qua từng thời kỳ, cho chúng ta thấy những bước phát triển của mỗi thời kỳ tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế. Quá trình tự do hóa lãi suất của Việt Nam được thể hiện tổng quát như sau:  a. Cơ chế thực thi chính sách lãi suất cố định (1989 - 5/1992):   Đây là cơ chế lãi suất đã có từ trước nhưng có sự thay đổi căn bản, theo nguyên tắc của việc xác định lãi suất là: Bảo toàn được vốn và có lãi, được áp dụng ở các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế. Cơ chế lãi suất này được điều chỉnh theo biến động của chỉ số giá, đặc biệt là lãi suất ngoại tệ được áp dụng theo mức lãi suất của thị trường tiền tệ quốc tế. Thực tế vận hành trong một thời gian (1989-1992), cơ chế lãi suất thời kỳ này đã bắt đầu phát huy tác dụng, là bước chuyển của cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương.  Ngân hàng Nhà nước (NHNN) can thiệp ở mức độ cao và trực tiếp vào lãi suất thông qua ấn định các mức lãi suất tiền gửi (LSTG) và lãi suất cho vay (LSCV). Cơ chế lãi suất âm và mang nặng tính chất bao cấp được duy trì suốt thời kỳ này với: - LSCV đối với doanh nghiệp nhà nước LSCV dài hạn; - LSTG tiết kiệm > LSTG của các tổ chức kinh tế. Tình trạng này làm cho lãi suất không thực hiện được chức năng vốn có của nó; lãi suất không còn là đòn bẩy kích thích nhu cầu gửi tiền của công chúng, phát huy tính hiệu quả trong quá trình sử dụng vốn và đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng. b. Cơ chế điều hành khung lãi suất (6/1992 - 1995):   Đặc trưng của cơ chế này là Ngân hàng Nhà nước điều hành cơ chế lãi suất theo khung lãi suất, quy định rõ sàn lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay đối với nền kinh tế. Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng căn cứ khung lãi suất của ngân hàng thương mại để đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình, thực chất là bước chuyển đổi căn bản từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương, đảm bảo cho các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng kinh doanh có hiệu quả, đây là cơ chế lãi suất khởi đầu cho quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam.  NHNN đã có nhiều bước điều chỉnh trong điều hành chính sách lãi suất: - Chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương để đảm bảo cho người dân gửi tiền và ngân hàng là người cho vay đều được lợi. - Xoá bỏ về cơ bản sự chênh lệch lãi suất cho vay giữa các thành phần kinh tế, thay vì ấn định lãi suất cụ thể bằng quản lý lãi suất theo một khung, bao gồm lãi suất tối thiểu về tiền gửi và lãi suất tối đa về tiền vay. - NHNN cho phép Ngân hàng thương mại (NHTM) được thoả thuận lãi suất với khách hàng. - Lãi suất đã bắt đầu được sử dụng như một công cụ của CSTT cùng với lãi suất tái cấp vốn được hình thành vào đầu năm 1991 khi hai Pháp lệnh ngân hàng có hiệu lực. c. Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996 – 7/2000):   Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi căn bản cơ chế điều hành linh hoạt trần lãi suất, bước đầu đã thực hiện tự do hóa lãi suất huy động (lãi suất đầu vào của ngân hàng thương mại) và linh hoạt trần lãi suất cho vay (lãi suất đầu ra). Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiền trong khu vực do có khủng hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á.  NHNN tiếp tục ấn định mức lãi suất tái cấp vốn và có những đổi mới căn bản về điều hành lãi suất: - Thay vì qui định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi - lãi suất tối đa về tiền vay, NHNN chỉ qui định các mức lãi suất “trần” theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/tháng (4,2%/năm) để khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi các doanh nghiệp lại gặp khó khăn về tài chính (khi thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận ở giai đoạn trước). - Đến cuối tháng 1/1998, NHNN xoá bỏ qui định chênh lệch lãi suất, chỉ còn qui định trần lãi suất cho vay. Cùng với nới lỏng sự kiểm soát lãi suất, NHNN liên tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng giảm cơ cấu trần và mức khống chế, đặc biệt trong năm các năm 1998, 1999. d. Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8/2000 – 5/2002):   Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ là Ngân hàng Nhà nước đã điều hành cơ chế lãi suất theo luật ngân hàng để thay thế cho cơ chế lãi suất trần. Lãi suất cơ bản và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời.  Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ. Theo cơ chế lãi suất này cho thấy Ngân hàng Nhà nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa và từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới.  Vào tháng 8 năm 2000, NHNN đưa ra một cơ chế lãi suất mới trong đó lãi suất cho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản do NHNN. Tuy nhiên, các ngân hàng không được tính lãi suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản + 0,3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và + 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn. Cơ chế giới hạn biên độ lãi suất so với lãi suất cơ bản về bản chất không khác gì so với trần lãi suất áp dụng trước đây. Tuy nhiên, trên thực tế mức trần (lãi suất cơ bản cộng biên độ) được định ở mức cao hơn trần lãi suất theo cơ chế cũ rất nhiều. e. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6.2002 – 2006):   Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được Ngân hàng Nhà nước chuyển đổi từng bước bắt đầu từ tháng 5/2001 áp dụng cho hình thức vay bằng ngoại tệ, tiếp theo 5/2002 là áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng trong nước. Nhìn một cách tổng quát thì quá trình thực thi cơ chế tự do hóa lãi suất ở VN bước đầu đã có kết quả nhất định.  Vào tháng 11/2001, trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ, từ đó cho phép những người vay ngoại tệ trong nước có thể thương lượng lãi suất với các ngân hàng nội địa và ngân hàng nước ngoài. Vào tháng 6/2002, lãi suất được tự do hóa hoàn toàn với việc các ngân hàng được phép xác định lãi suất cho vay trên cơ sở tự thẩm định và thương lượng với khách hàng. Từ năm 2003, lãi suất cho vay cầm cố được điều chỉnh dần để đóng vai trò là lãi suất trần của thị trường liên ngân hàng. Lãi suất tái chiết khấu được qui định làm sàn của thị trường liên ngân hàng. 2.1.3 Cơ chế điều hành lãi suất của Việt Nam hiện nay Trước vận động bất lợi của thị trường chứng khoán và lạm phát tăng cao, ngay từ đầu năm 2008, NHNN thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, sử dụng đồng thời các công cụ lãi suất và hoạt động thị trường mở. Từ giữa tháng 1-2008, dự trữ bắt buộc đã tăng thêm 1% với tiền gửi nội tệ và ngoại tệ từ không kỳ hạn tới dưới 12 tháng. Tới giữa năm 2008, NHNN tiếp tục điều chỉnh lãi suất cơ bản tăng lên. Nhằm hỗ trợ các đơn vị kinh doanh vượt qua khó khăn trong bối cảnh khủng hoảng tài chính khu vực, chính sách tiền tệ được mở rộng trong các năm, từ 1997 - 1999. So với giai đoạn này, chính sách tiền tệ trong năm 2008 sử dụng nhiều công cụ với cường độ điều chỉnh mạnh hơn. Mức lãi suất thực dương cho thấy các liệu pháp tiền tệ đã phát huy tác dụng ổn định kinh tế. Chi phí lãi vay cao kết hợp với tăng giá đầu vào tạo ra áp lực lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2008. Chấp nhận chi phí đầu vào tăng cao, hạn chế mở rộng tín dụng là những dấu hiệu cho thấy hệ thống ngân hàng thương mại cũng đang gặp khó khăn với vấn đề thanh khoản. Điều này có thể là kết quả của những khoản tín dụng chất lượng thấp đã cung cấp trong thời gian trước, với tỷ lệ không nhỏ dành cho các dự án bất động sản và đầu tư tài chính. Từ cuối năm 2008 tới nay, nguy cơ lạm phát leo thang tạm thời lắng xuống. Thay vào đó, mục tiêu tăng trưởng kinh tế dường như chịu ảnh hưởng nhiều bởi giai đoạn kinh tế chao đảo trước đó. Vì vậy, để từng bước phục hồi nền kinh tế, tạo đà cho tăng trưởng GDP, Chính phủ chủ trương nới lỏng hơn CSTT và CSTK trên cơ sở bám sát theo dõi và phản ứng linh hoạt với diễn biến thị trường. Với mục tiêu đó, NHNN đã điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, và tăng cường nguồn vốn huy động, đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng của nền kinh tế. Cơ chế lãi suất thỏa thuận cho vay tiêu dùng được thực hiện đã có hiệu quá tích cực trong việc kích cầu tiêu dùng trong dân cư cũng như việc tăng nguồn thu giúp các ngân hàng giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp. NHNN cũng  phối hợp các biện pháp điều tiết cung cầu ngoại tệ trên thị trường như bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống, điều hoà ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. 2.2. Tình hình biến động lãi suất ở Việt Nam 2.2.1 Tình hình biến động lãi suất giai đoạn trước (1988 - 2002) a. Khái quát chung Năm 1988 đánh dấu đợt cải cách mạnh mẽ đầu tiên trong hệ thống tài chính – ngân hàng của Việt Nam khi Nhà nước trực tiếp tham gia vào hoạt động điều hành lãi suất. Lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng Thương mại quốc dân đều do NHNN quy định. Cũng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại duy trì các mức lãi suất cho vay khác nhau trong từng thời kỳ. Hình 1: Biến động lãi suất cho vay giai đoạn 1989 - 2001 Hình 2: Biến động của lãi suất huy động giai đoạn 1989 – 2001 b. Phân tích các giai đoạn - Giai đoạn 1988 – 1994 Hình 3: Bảng lãi suất giai đoạn 89 – 94 (%/tháng) 1989 1990 1991 1992 1993 1994 - Tiền gửi không kỳ hạn (cá nhân) 5,0 2,4 2,1 1,0 0,7 0,7 - Tiền gửi tiết kiệm 3 tháng (cá nhân & tổ chức kinh tế) 7,0 4,0 3,5 2,0 1,4 1,4 - Lãi suất cho vay + Nông nghiệp 3,7 2,4 3,3 2,5 … … + Công nghiệp & giao thông vận tải (GTVT) 3,8 2,7 3,0 2,0 … … + Thương mại & du lịch 3,9 2,9 3,7 2,7 … … + Vốn cố định … 0,8 0,8 1,8 1,2 1,7 + Vốn lưu động … … … 2,7 2,1 2,1 - Chênh lệch lãi suất -3,3 -1,3 -0,5 0,5 0,7 … - Lạm phát 2,7 7,7 4,8 1,1 1,2 0,9 - Lãi suất thực + Tiền gửi tiết kiệm 3 tháng (cá nhân) 4,3 -3,7 -1,3 0,9 0,2 … + Cho vay công nghiệp và GTVT 1,1 -5,0 -1,8 0,9 … … Các mức lãi suất huy động và cho vay giảm dần từ năm 1989 đến năm 1994. Bên cạnh đó, cho đến năm 1992, các ngân hàng thương mại duy trì các mức lãi suất cho vay khác nhau đối với cho vay nông nghiệp, công nghiệp và thương mại. Các ngành đang có xu hướng phát triển sẽ có mức lãi suất hấp dẫn hơn để kích thích đầu tư phát triển trong từng giai đoạn. Bắt đầu từ năm 1992, lãi suất cho vay đã được nâng lên cao hơn lãi suất tiền gửi - một yêu cầu thiết yếu cho sự hoạt động thông thường của các ngân hàng. Vào năm 1993, việc phân biệt lãi suất cho vay theo khu vực kinh tế được loại bỏ và chỉ còn được phân biệt theo cho vay đầu tư cố định và cho vay vốn lưu động. Tuy vậy, lãi suất cho vay đầu tư vốn cố định lại thấp hơn lãi suất cho vay vốn lưu động, tạo ra một cơ cấu lãi suất ngược không phù hợp. Tức là, lãi suất dài hạn thấp hơn lãi suất ngắn hạn. Chính sách này làm cho các ngân hàng không hề có động cơ khuyến khích cho vay dài hạn. Lãi suất thực âm trong 2 năm 1990 – 1991 ứng với cơ chế thực thi chính sách lãi suất cố định của nhà nước, tạo bước chuyển sang lãi suất thực dương ở các giai đoạn sau. - Giai đoạn 1994 – 1997 Hình 4: Bảng lãi suất giai đoạn 94 - 97 1994 1995 1996 97-3 97-6 97-9 97-12 - Lãi suất huy động + Không kỳ hạn 1,2 8,7 6,2 6,5 6,2 4,6 4,6 + Kỳ hạn 3 tháng 18,2 18,2 9,1 10,4 9,9 7,8 8,1 - Lãi suất cho vay + Ngắn hạn 28,3 28,3 15,9 15,4 15,2 12,7 12,7 + Trung và dài hạn 22,4 22,4 17,3 16,9 16,9 14,0 14,0 + Ngoại tệ 9,0 9,5 9,5 9,5 9,5 8,5 8,5 - Chênh lệch lãi suất 10,2 10,2 6,8 5,0 5,3 4,9 4,6 - Lãi suất thực + Tiền gửi không kỳ hạn -11,1 -4,9 2,4 3,0 4,4 1,0 0,8 + Tiền gửi tkỳ hạn 3 tháng 3,7 3,5 5,2 6,7 8,0 4,1 4,1 + Cho vay ngắn hạn 12,7 12,4 11,8 11,6 13,3 8,9 8,6 + Cho vay trung và dài hạn 7,5 7,3 13,2 13,1 15,0 10,2 9,9 + Cho vay ngoại tệ -3,1 -4,9 8,1 14,2 22,2 6,0 19,8 Trong giai đoạn này, sự biến động của lãi suất là do nhà nước áp dụng các công cụ tiền tệ như trần tín dụng, tỉ lệ dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn,… Trong đó, Lãi suất tiền gửi thực của cá nhân và lãi suất cho vay thực đối với cả cho vay vốn lưu động và vốn cố định được giữ khá nhất quán là thực dương trong suốt thời kỳ cải cách, và lãi suất thực của tiền gửi của các tổ chức kinh tế đã lớn hơn 0 từ năm 1996. Thuế doanh thu đối với ngân hàng được loại bỏ vào năm 1995, nhưng được thay thế bằng giới hạn tối đa về thu nhập lãi suất ròng (tức là giới hạn chênh lệch lãi suất) ở mức 0,35%/tháng. Lãi suất cho vay ngắn hạn có mức trần 1%/tháng vào năm 1998. Lãi suất huy động không kì hạn và có kì hạn bắt đầu có sự hợp lí từ năm 1996, thay vì sự chênh lệch khá lớn ở những năm 1994, 1995. Lãi suất huy động trong giai đoạn này biến động lên xuống khá nổi bật. Lãi suất cho vay giảm dần từ năm 1994 đến 1997 và trong đó, lãi suất cho vay trong dài hạn cao hơn trong ngắn hạn bắt đầu từ năm 1996 nhằm thúc đẩy các hoạt động đầu tư quy mô lớn và lâu dài. - Giai đoạn 1998 – 2002 Chính sách lãi suất trong hai năm 1998-99 chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á. Với đồng tiền chưa có khả năng chuyển đổi, tài khoản vốn đóng, và giá trị tiền cùng với tài sản nợ tài chính (M3) còn nhỏ so với GNP, hệ thống ngân hàng của Việt Nam không phải chịu các tác động trực tiếp từ cuộc khủng hoảng châu Á. Chính vì vậy, đầu năm 1998, Ngân hàng Nhà nước đã không xiết chặt kiểm soát lãi suất mà thậm chí còn nới lỏng. Lãi suất giảm vào năm 1999: Hình 5 - 6: Biến động LS tiền gửi – LS cho vay năm 1999 Từ bảng ta dễ dàng nhận thấy lãi suất tiền gửi nội tệ giảm mạnh từ giữa năm 1999. Chênh lệch lãi suất danh nghĩa giữa đô-la Mỹ và tiền đồng gần như không còn. Như vậy, mặc dù gần như không có lạm phát trong năm 1999, nhưng gửi tiền bằng đô-la vẫn hấp dẫn khi tỷ giá hối đoái (VND/USD) tăng 3,4%. Trong giai đoạn 2 năm 1998 - 1999, sự biến động của lãi suất cho vay lại có phần ổn định hơn. Vào tháng 8 năm 2000, Ngân hàng Nhà nước đưa ra một cơ chế lãi suất mới trong đó lãi suất cho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Hình 7. Từ trần lãi suất đến lãi suất cơ bản rồi tự do hóa lãi suất, 1998-2002 Trong năm 2000 và 2001, cả hai mức lãi suất này đều giảm. Nhưng trong thời gian đó, lãi suất tiền gửi lại tăng lên. Cạnh tranh giữa các ngân hàng đã dẫn tới gia tăng lãi suất huy động vốn, nhưng lãi suất cho vay vẫn không tăng và nằm trong biên độ lãi suất cơ bản. Chênh lệch lãi suất, do vậy, đã giảm đi rõ rệt. 2.2.2 Biến động lại suất ở Việt Nam trong thời điểm hiện nay Năm 2006, lãi suất huy động các kỳ hạn của các tổ chức tín dụng (TCTD) khá ổn định, một số TCTD giảm dần hoặc cắt bỏ chi phí khuyến mại trong quá trình huy động vốn; lãi suất cho vay của các TCTD đối với khách hàng tương đối ổn định, một vài khách hàng lớn có uy tín, một số dự án đầu tư lớn có hiệu quả khi vay vốn được TCTD giảm nhẹ lãi suất cho vay bằng VND và ngoại tệ. So với cuối năm 2005, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trên thị trường tăng nhẹ, chủ yếu trong 7 tháng đầu năm, lãi suất huy động VND tăng khoảng 0,4-0,8%/năm; lãi suất cho vay VND tương đối ổn định; lãi suất huy động và cho vay USD tăng khoảng 0,2-0,6%/năm. Năm 2007, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của các TCTD tương đối ổn định, riêng lãi suất VND có xu hướng giảm nhẹ; lãi suất tiền gửi bằng USD của pháp nhân tại TCTD tăng lên mức tương ứng với lãi suất huy động từ dân cư. Hình 8: Diễn biến lãi suất trung bình giai đoạn 2003 – 2009 Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn của các Ngân hàng thương mại chiếm khoảng 40% nguồn vốn ngắn hạn. Do đó, mặt bằng lãi suất tăng cao là một nguyên nhân chính buộc các NHTM phải điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận cho năm 2008 này. Năm 2008, Sau khi đã thực hiện thành công vai trò kiềm chế lạm phát, NHNN đã từng bước nới lỏng chính sách tiền tệ và lãi suất vẫn là một công cụ hết sức quan trọng. Hình 9: Diễn biến LSCB của Việt Nam thời gian qua LSCB đã hạ dần từ đỉnh 14% xuống 13% (từ 21/10/08), 12% (từ 05/11/08) và liên tiếp được điều chỉnh tới 3 lần trong vòng 1 tháng cuối năm 2008 (11% từ 21/11/08, 10% từ 05/12/08, 8,5% từ 22/12/08) trước khi giữ ổn định ở mức 7% (từ 01/02/09) như hiện nay. Từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 7/2008, các ngân hàng thương mại gặp vấn đề về khả năng thanh khoản, dẫn tới đua nhau tăng mạnh lãi suất huy động vốn nội tệ và ngoại tệ. Lãi suất huy động VND có thời điểm vượt 20%/năm. Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, và siết chặt tín dụng. Nhờ đó, thị trường tiền tệ dần hạ nhiệt. Mặt bằng lãi suất bắt đầu giảm vào cuối tháng 7/2008. Mối lo tăng trưởng tín dụng quá nóng và liên tục duy trì ở mức cao từ đầu năm đã giảm dần. Tháng 7 và 8/2008, mức tăng này đã hạ xuống mức thấp dưới một con số, lần lượt là 0,70% và 0,56% (hình 10). Tới cuối năm 2008, tăng trưởng tín dụng cho cả năm ước tính từ 21%-22%. Hình 10: Tăng trưởng tín dụng 8 tháng đầu năm 2008 Hình 11: Tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2000 – 2008 Năm 2009, thực tế, tăng trưởng huy động vốn của khối NHTMNN tới quý I/2009 chỉ tăng 3,2% so với cuối năm 2008. Đối với khối NHTMCP, trong khi tăng trưởng huy động vốn năm 2007 là 136%, năm 2008 là 41% thì tới 3 tháng đầu năm 2009 chỉ tăng 3,04% so với cuối năm 2008. Tuy nhiên, với áp lực giải ngân vốn hỗ trợ lãi suất, huy động vốn trong quý II/2009 đã có sự tăng trưởng đáng kể và đưa tổng huy động vốn của khối trong 6 tháng đầu năm 2009 tăng 27,6% so với thời điểm cuối năm 2008. Hình 12: Diễn biến lãi suất huy động, cho vay bằng VND và lạm phát từ 2008-2009 Với lãi suất huy động cao trong hầu hết năm 2008, trong khi lãi suất cho vay bị hạn chế (do khách hàng không tiếp cận vốn khi lãi suất cao, yêu cầu từ chính sách kích cầu của Chính phủ…), do vậy tỷ lệ lãi biên của các NH tương đối thấp, chỉ dao động dưới 3%. Theo dự báo, lãi biên trong năm 2009 sẽ tiếp tục duy trì ở mức thấp, do lãi suất huy động sẽ tăng so với cuối năm 2008 để tăng khả năng huy động vốn, trong khi lãi suất cho vay sẽ giảm do gói kích cầu Chính phủ. Hình 13: Tỷ lệ lãi suất huy động và cho vay bình quân Trong năm 2009, có những thời điểm lãi suất cao và biến động bất thường, các NHTM ưu tiên huy động vốn hắn ngạn, hoạt động tín dụng giảm, tính thanh khoản của ngân hàng gặp khó khăn. Tuy nhiên, NHNN đã có những biện pháp thích hợp, như: điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thanh tra kiểm soát chặt chẽ hơn hoạt động tín dụng của các NHTM… Phần 3. Tồn tại trong hoạt động lãi suất tín dụng ở Việt Nam. Nguyên nhân và một số giải pháp nâng cao hoạt động tín dụng. 3.1 Một số tồn tại trong quá trình điều hành lãi suất tín dụng ở Việt Nam - Mối liên hệ giữa các loại lãi suất thị trường và lãi suất Ngân hàng nhà nước còn lỏng lẻo, nhiều khi tách rời nhau, biến động chưa phù hợp với cơ chế lãi suất thị trường, vai trò điều tiết lãi suất thị trường của lãi suất trên nghiệp vụ thị trường mở còn rất hạn chế. - Lãi suất chưa sát với lãi suất thị trường, từ đó lãi suất bình quân tính được chưa phản ánh được cung cầu vốn trên thị trường tại thời điểm công bố. - Thị trường tiền tệ chưa phát triển và không đồng nhất làm cho hiệu lực và tốc độ truyền dẫn của chính sách tiền tệ tác động đến lãi suất thị trường bị hạn chế. Trong thực tế các quyết định thay đổi các mức lãi suất của Ngân hàng nhà nước tác động còn yếu và thời gian trễ khá lớn - Thị trường nội tệ liên ngân hàng chưa được củng cố theo hướng tập trung các thông tin về giao dịch để phản ánh chính xác lãi suất thị trường, Ngân hàng nhà nước khó có thể thực hiện một cách hiệu quả vai trò là người cho vay cuối cùng và kiểm soát lãi suất thị trường. - Còn quá nhiều lãi suất trong nền kinh tế, một số lãi suất chưa chính xác, chưa phản ánh đúng được cung cầu vốn trên thị trường vì thế tác dụng tham chiếu của nó còn bị hạn chế. - Thông thường, tín phiếu kho bạc đóng vai trò rất quan trọng trên thị trường tiền tệ, lãi suất tín phiếu kho bạc được coi là lãi suất chuẩn và thấp nhất trên thị trường tiền tệ; tuy nhiên thực tế thời gian qua, lãi suất của tín phiếu Kho bạc chưa phù hợp với nguyên tắc này mà thường bằng hoặc lớn hơn lãi suất cùng kỳ hạn của NHTM, việc đấy thầu tín phiếu Kho bạc tại các phiên giao dịch tại Ngân hàng nhà nước chưa hoàn toàn đấu thầu lãi suất cho nên chưa phản ánh đúng lãi suất thị trường. - Lãi suất cơ bản được công bố liên tục thoát ly lãi suất cho vay bình quân của các tổ chức tín dụng. Trong khi lãi suất cho vay của TCTD luôn luôn được điều chỉnh phù hợp với quan hệ cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ thì lãi suất cơ bản vẫn ổn định hoặc có thay đổi ở mức không đáng kể. 3.2 Nguyên nhân - Tính độc quyền của các NHTM nhà nước và những ưu đãi trong cho vay chỉ định của Chỉnh phủ. Trong mảng tín dụng thì “bốn đại gia” NHTM nhà nước đã chiếm trên 70% thị phần nên chưa tránh được việc lãi suất bị các ngân hàng này chi phối. Trong khi đó, Chính phủ hạn chế việc tiếp cận thị trường ngân hàng của các Ngân hàng liên doanh và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam. Thêm vào đó, quá nhiều ưu đãi về lãi suất của Chỉnh phủ thông qua con đường cho vay chỉ định cũng làm mất đi tính thị trường của lãi suất. - Các nguyên tắc xác định lãi suất thị trường chưa được tôn trọng, còn méo mó. - Áp lực từ phía ngân hàng trong việc huy động vốn là rất lớn. Ngân hàng bắt buộc phải tăng lãi suất do sự bùng nổ bất thường của thị trường bất động sản trong từng thời kỳ nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư. - Chưa có định chế ràng buộc trách nhiệm đối với ngân hàng để xác định lãi suất bình quân. Vì chỉ quan tâm đến việc bảo đảm khả năng thanh khoản là chủ yếu nên vào những ngày không có nhu cầu giao dịch mà vẫn được yêu cầu phải chào lãi suất, các TCTD không tính toán kỹ và lãi suất đưa ra chưa mang tính thị trường. - Tác dụng của lãi suất trong điều hành chính sách tiền tệ còn bị hạn chế do Chính phủ hàng năm khống chế lượng tiền cung ứng cho mục tiêu tín dụng. - Lãi suất cơ bản chỉ mang ý nghĩa thông tin đối với các TCTD - Nợ khó đòi có xu hướng tăng. - Các loại hình trung gian tài chính trên thị trường chưa phát triển. - Các công cụ tài chính còn nghèo nàn, nhỏ bé về số lượng và thành viên tham gia giao dịch. - Chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các đơn vị, ngành, các cấp trong việc thúc đẩy hoạt động của thị trường tiền tệ. - Công nghệ thanh toán liên ngân hàng còn nhiều hạn chế. 3.3 Một số giải pháp khắc phục tồn tại và nâng cao hiệu quả hoạt động Trên đây ta đã thấy một số mặt chưa được trong hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM, để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế nước ta hiện nay cần tập trung giải quyết các vấn đề còn tồn tại theo một số giải pháp sau: - Tạo điều kiện phát triển thị trường tiền tệ, hoàn thiện cơ chế về huy động tiết kiệm của các TCTD bao gồm cả VND và ngoại tệ theo hướng làm rõ khái niệm về tiền gửi tiết kiệm, quy đinh mang tính nguyên tắc về thủ tục ủy quyền, rút tiền tiết kiếm, thừa kế, thủ tục rút tiền trong các trường hợp như mất sổ tiết kiểm, người gửi đã mất, trách nhiệm và quyền hạn của TCTD v.v… để tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD trong hoạt động huy động vốn - Mỗi NHTM cần phải xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng, xác định rõ chiến lược phát triển, xây dựng chiến lược kinh doanh trước mắt và lâu dài. - Tăng cường công tác quảng cáo, tiếp thị phù hợp với chiến lược khách hàng của từng NHTM, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Tăng cường cho vay đối với tất cả các thành phần kinh tế, đồng thời xây dựng nhiều phương thức cho vay mới, đa dạng phù hợp với nhiều loại khách hàng. - Đối với vấn đề lãi suất, nhằm khắc phục những hạn chế trong cạnh tranh lãi suất cần thực hiện một số biện pháp sau: NHNN cần ban hành lãi suất sàn trong cho vay để đảm bảo thực thi công cụ lãi suất, đem lại môi trường kinh doanh bình đẳng hơn cho cả ngân hàng và doanh nghiệp. Đẩy mạnh kích cầu qua tín dụng ngân hàng, làm đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao tỷ suất lợi nhuận trong kinh doanh nói chung; từ đó mở rộng đầu tư cho tín dụng ngân hàng, khơi thông dòng chảy tiền tệ trong nền kinh tế. - Về việc xử lý nợ xấu thì cần có giải pháp đồng bộ và hữu hiệu nhằm xử lý tốt nợ xấu của NHTM. Việc xoá bỏ nợ xấu không chỉ là nhiệm vụ của riêng hệ thống ngân hàng mà còn của cả nền kinh tế, nó không chỉ tuỳ thuộc vào các biện pháp của ngân hàng trung ương, NHTM, hay khách hàng vay mà còn tuỳ thuộc vào cả một hệ thống pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh, một môi trường kinh tế thuận lợi. - Cần tập trung tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, thủ tục pháp lý: hoàn chỉnh, bổ sung thủ tục giấy tờ đối với những tài sản bảo đảm tiền vay để có thể bán, cho thuê...Đồng thời cần thực hiện phân loại tài sản "Có" trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng; nâng cao chất lượng tín dụng của các khoản cho vay ngay từ những khâu đầu tiên của quy trình tín dụng. - Để tăng hiệu quả của tín dụng chính sách của Nhà nước cần nhanh chóng tách bạch việc cho vay thực hiện chính sách với cho vay thương mại của các ngân hàng. Các giải pháp trên tuy chưa phải là đầy đủ, tối ưu song cũng có thể để tham khảo nhằm khắc phục những vấn đề còn hạn chế và cũng là để nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng trong các NHTM. Kết luận Từ khi ra đời hệ thống NHTM Việt Nam cùng với hoạt động tín dụng của nó đã góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam một cách tích cực. Nó không những cung ứng vốn cho các doanh nghiệp tăng cường mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn có vai trò quan trọng trong việc tài trợ các dự án, chương trình xây dựng cơ bản, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước. Tín dụng đã đạt được một số thành tựu nhất định, chứng tỏ rõ nó là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống tín dụng ở nước ta, đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển góp phần vào quá trình xây dựng đất nước đa đất nước đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong nền cơ chế thị trường thì hoạt động tín dụng trong các NHTM vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Trong quá trình làm bài tập còn có nhiều hạn chế và thiếu sót, rất mong cô và các bạn tham gia đóng góp để bài tập của nhóm thêm hoàn thiện. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Nhập môn Tài chính tiền tệ - ĐH Thương Mại 2. Giáo trình Lý thuyết tiền tệ - Học viện Tài Chính 3. Cơ chế điều hành lãi suất thị trường của NHTW – NXB Thống kê 4. Lãi suất trong nên kinh tế thị trường – Nguyễn Bá Nha 5. Các trang web liên quan: - www.vnexpress.net - www.vneconomy.vn - www.ebook.edu.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTìm hiểu sự biến động lãi suất tín dụng thông qua cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua.doc
Luận văn liên quan